Thứ Năm, 28 tháng 12, 2023

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG PHẨM CHẤT LIÊM, CHÍNH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm, yêu cầu về liêm, chính đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trên nhiều bình diện, ở nhiều tầng bậc; qua đó, thể hiện một trí tuệ uyên bác, tầm nhìn chiến lược sâu rộng, phẩm chất đạo đức mẫu mực của một lãnh tụ kiệt xuất. Hiện nay, những chỉ dẫn đó của Người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm, chính

Thứ nhất, trên bình diện văn hóa - xã hội, liêm, chính là chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng.

Khi bàn về đức liêm, chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự kế thừa sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống của người phương Đông và phát triển nó lên một tầm cao mới gắn với thời đại mới. Người nhìn nhận liêm, chính trong tổng thể các giá trị đạo đức ở một con người, luôn đồng hành cùng cần, kiệm. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Người nhấn mạnh, cần - kiệm - liêm - chính có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau; muốn có liêm, chính thì phải thực hành cần, kiệm; không rèn luyện cần, kiệm, sống buông thả, xa hoa thì ắt sẽ mất đi sự liêm, chính. Vậy nên, trong cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính” luôn làm thành một cụm từ cố định. Hay nói cách khác, nội hàm của liêm, chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã bao gồm cả đức cần, kiệm; và theo đó, một người liêm, chính nhất thiết phải có sự cần cù, chịu khó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giữ mình liêm khiết, trong sạch, đúng mực trong các mối quan hệ, luôn hướng tới sự đúng đắn trong mọi phương diện của đời sống. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính vừa là con đường thực hành đạo đức, vừa là đích đến trong rèn luyện đạo đức truyền thống của người Á Đông.

Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nâng tầm, vận dụng quan điểm truyền thống về liêm, chính vào thời đại mới và khẳng định: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới”. Người nhấn mạnh, liêm, chính là chuẩn mực đạo đức của con người thời đại mới, là thước đo cho mọi giá trị, danh hiệu trong đời sống xã hội mới. Người phân tích: “Ai là anh hùng?... Anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính”; “Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính”; “Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nghiêm khắc mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động với tư cách là một công dân của xã hội mới “phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể”.

Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác nhằm bảo vệ những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất rõ ràng, những người cần, kiệm, liêm, chính là những người thuộc phe thiện, tiên phong, tiến bộ; còn những kẻ bất liêm, bất chính, bất nhân là những người thuộc phe ác; phe thiện phải có sứ mệnh đánh bại phe ác, làm cho điều thiện được lan tỏa, trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống xã hội. Người nêu rõ: “Nếu mình cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đấy là phe thiện. Nếu tham ô, hủ hóa, cầu danh, cầu lợi là phe ác. Phe thiện trong mình mà đánh thắng được phe ác, thì ảnh hưởng đến phe thiện trong nước đánh thắng được phe ác, phe thiện thế giới đánh thắng được phe ác”.

Thứ hai, trên bình diện xây dựng Đảng, liêm, chính là đặc trưng bảo đảm bản chất tốt đẹp, “là đạo đức, là văn minh” của Đảng ta; có liêm, chính thì Đảng mới trong sạch, vững mạnh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính không chỉ là đạo đức của cá nhân, của xã hội, mà cao hơn nữa, là đạo đức của Đảng, là sự phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng ta. Người coi đạo đức là bản chất hàng đầu của Đảng ta, và định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Vậy nên, xây dựng liêm, chính trong Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, chính trực, vì nhân dân phục vụ, là góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa, trí tuệ.

Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chăm lo và coi trọng việc rèn luyện đạo đức liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Theo Người, nếu như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” thì đạo đức chính là gốc của người cán bộ. Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức, xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự liêm, chính. Một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cần đi đầu trong “quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí” để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. 

Mặt khác, xây dựng liêm, chính trong nội bộ Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp là nền tảng để bảo đảm an ninh tư tưởng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Có thể thấy, qua quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liêm, chính được xem là nền tảng để các chính đảng mác-xít duy trì sự trong sạch, vững mạnh; đạo đức liêm, chính là cơ sở để cán bộ, đảng viên trung thực, liêm khiết. Trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người vẫn đau đáu về mối quan hệ mật thiết giữa đạo đức cách mạng (trong đó có đặc trưng liêm, chính) với sứ mệnh cao cả của Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ ba, trên bình diện xây dựng nền hành chính quốc gia, liêm, chính là điều kiện, yêu cầu của việc xây dựng Chính phủ tiến bộ, phát triển.

Ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở Việt Nam (tháng 9-1945), liêm, chính là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ mới, và vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước Quốc hội, quốc dân và thế giới tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I rằng: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”. Đó là một Chính phủ mà tất thảy cán bộ, công chức phải liêm khiết, chính trực; phải hết sức tiết kiệm, minh bạch, phải có trách nhiệm, có cái tâm trong sáng, không bòn rút của dân, không vụ lợi, vị kỷ và phải cải tạo lòng mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Bất kể ai trong hệ thống công quyền cũng đều phải thực hành liêm, chính, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khuyến cáo, nếu cán bộ không giữ được mình trong sạch, sẽ sa vào hưởng thụ, tham lam, tham nhũng, tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, lộng quyền, rồi thoái hóa, biến chất; như vậy là có tội với nước, với dân: “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”; “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ... dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”.  Để răn đe, ngăn chặn những hành vi bất liêm, bất chính, ngày 26-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh, trong đó quy định tội trộm cắp của công phải bị tử hình, giống như tội phản quốc.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính là linh hồn, là văn hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống chính trị đất nước, mà đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân”. Chính vì lẽ đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành liêm, chính trong công việc, trong sử dụng quyền lực nhà nước, trong tu dưỡng bản thân và ứng xử với nhân dân. Đây chính là những lời răn dạy rất thấm thía, sâu sắc mà Người đã để lại cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. 

Xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những định hướng giáo dục về đức liêm, chính cũng như những cảnh báo về sự bất liêm, bất chính, tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, vẫn mang tính thời sự và đậm chất nhân văn. Điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đang diễn ra sôi động với đầy rẫy những cám dỗ về vật chất, tiền bạc cũng như sự du nhập của không ít yếu tố văn hóa ngoại lai, trong đó có lối sống ưa hưởng thụ, ham muốn quyền lực, xa hoa, phô trương, hình thức... Trong bối cảnh đó, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thực sự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, không thường xuyên thực hành liêm, chính thì dễ dẫn đến suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đánh mất sự trong sạch của hệ thống chính trị và làm suy giảm uy tín, năng lực, đạo đức, sức chiến đấu của bản thân cán bộ, đảng viên cũng như bản chất tốt đẹp của một chính đảng cách mạng tiên phong.

Chính vì lẽ đó, thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, nhất là sự liêm, chính của cán bộ, đảng viên, Đảng ta luôn đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi trọng việc tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; yêu cầu nghiêm túc thực hành “cần, kiệm, liêm, chính”, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm, uy tín của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu liêm, chính trên cả ba cấp độ: 1- Đối với đội ngũ cán bộ; 2- Đối với các cấp ủy và cơ quan nội chính; 3- Đối với bộ máy nhà nước. Cụ thể là: Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”(18); yêu cầu các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng “kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động”(19); yêu cầu bộ máy nhà nước phải “tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”(20).

Muốn thực hiện được những định hướng đó nhằm mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, thì việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm, mang tính quyết định và cần phải chú trọng trên các phương diện cụ thể sau:

Thứ nhất, cần xác định rõ liêm, chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực bắt buộc đối với người cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, thúc đẩy, hướng dẫn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, là trụ cột của việc điều hành và phát triển đất nước. Trong công cuộc xây dựng đời sống chính trị liêm, chính thời kỳ mới, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là lực lượng chủ lực, tiên phong, chiếm vị trí chủ đạo. Phẩm chất liêm, chính của người cán bộ, đảng viên cần được thể hiện đầy đủ trên tất cả phương diện, trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày. Theo đó, họ cần phải hiểu biết sâu sắc về đạo đức chính trị, tuân theo đạo đức công vụ, nghiêm túc về đạo đức cá nhân, luôn có ý thức tu thân bằng đạo đức, tu tài bằng tri thức, thuyết phục người khác bằng sự liêm, chính, trong sạch của bản thân. 

Để có đạo đức chính trị liêm, chính thì mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện lý tưởng và niềm tin vững vàng, có tính đảng mạnh mẽ, sâu sắc, biết phân biệt và kiên định trước những điều đúng - sai, không sợ hãi khi đối mặt với thử thách và gian khổ, đứng vững trước những cám dỗ của đời sống.

Đạo đức công vụ liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là hết lòng phục vụ nhân dân, triệt để thấm nhuần và chấp hành quan điểm phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; luôn có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có ý chí tự lực, tự cường. 

Đạo đức cá nhân liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là nghiêm khắc, kỷ luật, đúng mực trong mọi lời nói, hành vi, cách cư xử; sẵn sàng hy sinh nhu cầu, lợi ích bản thân để phục vụ quần chúng nhân dân, sử dụng quyền lực được nhân dân giao phó đúng chức năng, nhiệm vụ; tăng cường tự tu dưỡng, rèn luyện, tự kiểm tra, tự giám sát; suy nghĩ trung thực, công - tư phân minh.

Thứ hai, cần khẳng định việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thời gian qua, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất mà đánh mất lòng chính trực, sự liêm khiết của bản thân, gây ra không ít sai phạm trong các cơ quan công quyền; không ít cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí phải xử lý hình sự, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; làm suy giảm danh dự, uy tín của hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, để quản trị nội bộ Đảng một cách nghiêm minh và toàn diện, chúng ta không chỉ cần dựa vào việc “điều trị” các triệu chứng, biểu hiện của tham nhũng, lãng phí và các loại tiêu cực, mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân của các loại “bệnh” này, đó là do thiếu tu dưỡng, thiếu “gốc” đạo đức, văn hóa, trong đó chủ yếu là do không ít cán bộ, đảng viên các cấp bất liêm, bất chính. Vì vậy, việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng sự liêm, chính của Đảng và hệ thống chính trị. Kể từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI với việc ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm và ý chí chưa từng có trong việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương châm không khoan nhượng, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật, thể chế, cơ chế trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cần phải làm cho liêm, chính trở thành thước đo về đạo đức, sự tuân thủ pháp luật tuyệt đối, để cán bộ, đảng viên không dám, không thể, không muốn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây chính là gốc rễ, nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thứ ba, cần nâng tầm liêm, chính lên thành “văn hóa liêm, chính” trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Cần xem việc xây dựng văn hóa liêm, chính là một bộ phận quan trọng của văn hóa chính trị và là bộ phận không thể thiếu của văn hóa xã hội trong thời kỳ mới. Văn hóa liêm, chính cần được triển khai trên mọi phương diện, ở nhiều cấp độ, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm xây dựng nên “tuyến phòng thủ” đạo đức chống lại tham nhũng, lãng phí và tiêu cực; thiết lập quy tắc ứng xử tôn vinh đạo đức trong sáng, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái chính trị và xã hội văn minh, tiến bộ.

Văn hóa chính trị cần được hướng dẫn bởi lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lấy văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến làm chủ đạo và thể hiện đầy đủ tính đảng, tính nhân dân. Một mặt, cần giữ gìn phẩm chất chính trị trong sạch, bản lĩnh chính trị vững vàng, phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh, trong sạch, liêm, chính; mặt khác, cần tăng cường đẩy mạnh xây dựng văn hóa liêm, chính trong mọi tầng lớp xã hội, không chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà còn phải chú trọng đến sự chuyển hóa của cả môi trường và bầu không khí xã hội. Chỉ khi có sự tương tác và chung tay xây dựng văn hóa xã hội liêm, chính và văn hóa chính trị liêm, chính thì mới có thể thúc đẩy tâm lý không khoan nhượng, “không có vùng cấm” của xã hội đối với các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cần đi đầu trong xây dựng và phát huy phẩm chất liêm, chính, nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải đi đầu trong việc xây dựng phẩm chất liêm, chính thời đại mới, phải rèn luyện, thực hành liêm, chính từ trong tư tưởng đến hành động, có ý thức thực hiện liêm, chính trong công vụ, trong sử dụng quyền lực, trong tự tu dưỡng, rèn luyện, trong lối sống cá nhân, gia đình... Cán bộ, đảng viên phải giữ vững sứ mệnh, trách nhiệm, giữ vững niềm say mê cống hiến cho lý tưởng và niềm tin cách mạng, tri thức phải gắn với thực tiễn, lời nói phải đi đôi với hành động để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, giàu mạnh. Cụ thể là:

Trước hết, để nuôi dưỡng phẩm chất liêm, chính, trong sạch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải củng cố niềm tin và lý tưởng cách mạng.

Đây chính là trụ cột tinh thần để người cộng sản có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách. Một khi đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp lung lay niềm tin, mất tính đảng, mất mục đích chính trị, mất sự trong sáng về lý tưởng, đạo đức cách mạng thì có thể bị sa vào vòng “chệch hướng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất. Chỉ bằng cách chăm chỉ vun đắp gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin, người cán bộ, đảng viên mới ngăn chặn, vượt qua được sự cám dỗ của những lợi ích vật chất tầm thường và tránh được thói xa hoa, hình thức. Chỉ khi có lý tưởng và niềm tin vững vàng, tầm vóc của những người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo mới cao hơn, tầm nhìn mới bao quát hơn, trí tuệ mới rộng mở hơn; từ đó, kiên định đường lối chính trị đúng đắn, vững vàng trước những thử thách, khó khăn, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống và mãi mãi giữ vững bản lĩnh chính trị của người cộng sản chân chính.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương liêm khiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Cần nâng cao nhận thức toàn diện về lịch sử của Đảng ta, củng cố ý thức về truyền thống của Đảng và lòng tự hào về Đảng, tăng cường tính liên kết, hiệu quả và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn xác định hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là mục đích, sứ mệnh của Đảng; coi liêm, chính là yêu cầu cơ bản đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị. Đảng luôn đặt việc thực hiện kỷ luật đảng ở vị trí quan trọng; chính vì thế, hệ thống quy định về liêm, chính cần được coi là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng nhằm tạo nên kỷ luật nghiêm minh trong Đảng và kỷ cương trong toàn hệ thống chính trị.

Đảng ta xác định rằng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay là vấn đề sinh tử của Đảng và chế độ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một hiện tượng toàn cầu, là một căn bệnh nhức nhối, dai dẳng. Vì vậy, việc xây dựng một nền chính trị trong sạch cũng là một vấn đề thực tế, là mục tiêu mà mọi quốc gia và chế độ phải hướng tới. Trong những năm gần đây, một số đảng chính trị trên thế giới mất vị trí cầm quyền, hầu hết đều liên quan đến việc đảng chính trị mất đi sự trong sạch và bản chất tiên tiến, do xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và tiến bộ xã hội, không kiên cường củng cố, xây dựng nội bộ, đánh mất khả năng đối phó, giải quyết các vấn đề phức tạp, và cuối cùng là đánh mất lòng dân. Thực tiễn sinh động này là bài học sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng, lòng dân như nước, bởi thế nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền. Chính vì lẽ đó, phát triển văn hóa chính trị trong sạch, nêu gương liêm khiết, trung thực, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là kinh nghiệm và bài học vô cùng quý báu mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lãnh đạo xã hội, đất nước; đồng thời, cần gắn với phát huy và lan tỏa giá trị của sự liêm, chính thẩm thấu vào hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và mọi tầng lớp nhân dân.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm.

Là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo thì phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phải nắm bắt, triển khai công việc đến cùng và làm cho tốt, cho có hiệu lực, hiệu quả. Để có đủ dũng khí, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm trong công việc, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm những vấn đề nảy sinh; đồng thời, cần có động cơ trong sáng, có tinh thần thượng tôn pháp luật, định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình. Đây chính là “nguồn gốc”, điều kiện để trở thành tấm gương của sự trung thực và liêm, chính. 

Quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên là do Đảng và nhân dân giao phó. Điều lệ Đảng và Hiến pháp đều quy định rõ cán bộ, đảng viên phải thực hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức; hành động theo pháp luật; trung thực, liêm khiết, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng, giữ mình, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc, quản lý thật chặt chẽ, nghiêm túc đời sống bản thân, gia đình, cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa. 

Xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa là một bộ phận quan trọng của việc xây dựng phong cách, lề lối làm việc của người cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là yêu cầu cơ bản để tăng cường xây dựng phẩm chất liêm, chính của họ. Thực tiễn hiện nay cho thấy, có một bộ phận cán bộ, đảng viên vì gánh nặng tình cảm gia đình mà trượt chân xuống vực sâu của tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Do đó, một yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là mọi cán bộ, đảng viên không chỉ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn phải quản lý tốt gia đình, nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa, văn minh.

Cán bộ, đảng viên trước hết phải quản trị tốt bản thân, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý thức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; làm người trong sạch, làm việc trong sáng. Bên cạnh đó, mỗi người cần nghiêm khắc yêu cầu vợ, chồng, con cái và người thân không được phép đặc quyền, đặc lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích cá nhân và có những hành vi bất chính. Việc vợ, chồng, con cái và người thân của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, tuân thủ hay không tuân thủ đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức gia đình thường được xã hội hết sức quan tâm, liên quan đến hình ảnh, uy tín của bản thân người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự đánh giá cũng như niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Do vậy, các cán bộ, đảng viên cần quan tâm hơn nữa đến vợ, chồng, con cái và người thân của mình, giám sát, hướng dẫn họ giữ gìn sự tự trọng; kế thừa và tiếp nối những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp, nền nếp gia phong của các bậc tiền bối cách mạng, nêu gương về tuân thủ pháp luật, giữ gìn liêm, chính, xây dựng văn hóa gia đình và nếp sống tốt đẹp thông qua tự tu dưỡng, rèn luyện./.

TỈNH TÁO, NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

 Thủ đoạn tinh vi, khó lường

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...".

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị - xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị - xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.

Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục

Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị - xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua./.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã xây dựng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, với hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, trên 400 báo, tạp chí... sản xuất hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai sự thật để phát tán vào trong nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm phê phán chế độ, kích động chống Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong, hoạt động chống phá Việt Nam ngày càng quyết liệt.

Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, nhất là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra các thông tin, ghép các hình ảnh giả để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Mục tiêu mà chúng hướng đến là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tức là, phủ định hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam, ca ngợi, cổ súy hệ tư tưởng tư sản; tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vệt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; gây mất ổn định về chính trị; làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, áp đặt về kinh tế; chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây; “phi chính trị hóa” quân đội để vô hiệu hóa lực lượng vũ trang.

Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.

DÂN CHỦ PHẢI TRONG KHUÔN KHỔ CỦA PHÁP LUẬT

 

Từ khi thành lập Đảng (năm 1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, lãnh đạo đất nước qua những thời kỳ đấu tranh cách mạng giành độc lập, hòa bình, thống nhất, đổi mới, hội nhập. Nước ta có cơ đồ, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay không thể không kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng. Trong lịch sử hơn 90 năm qua, hình ảnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tấm gương của đảng viên, đặc biệt là tấm gương đạo đức, tác phong và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành hình ảnh được toàn dân yêu quý và tin tưởng. Những luận điệu xuyên tạc Đảng đứng trên Quốc hội, đứng trên Hiến pháp là hoàn toàn xằng bậy. Trong Điều 4 của Hiến pháp đã hiến định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo pháp luật. Các đảng viên là ĐBQH có quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ pháp luật, có quyền biểu quyết tán thành hoặc không tán thành những dự án luật, chủ trương, chính sách, những vấn đề mà Quốc hội xin ý kiến.

Đảng và Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền dân chủ, đây là quyền bình đẳng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng tận dụng được dân chủ vì phải có trình độ nhận thức, năng lực để thực hành dân chủ. Để thực hiện đúng, đủ quyền dân chủ là một quá trình chứ không phải nói đến dân chủ thì muốn làm gì cũng được. Dân chủ phải tuân theo pháp luật, kỷ cương và sự tôn trọng lợi ích quốc gia, đặt lợi ích của mình trong tổng thể. Vì vậy, mỗi người dân phải học tập, rèn luyện, hiểu và thực hiện dân chủ theo khuôn khổ của pháp luật chứ không phải dân chủ quá trớn hay dân chủ vô chính phủ.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH, NGĂN NGỪA NHỮNG THÔNG TIN LỆCH CHUẨN VĂN HÓA

 

 Có thể nói trong thời gian qua, câu chuyện về một bộ phận thanh thiếu niên "tung hô" và bày tỏ “ngưỡng mộ” đối với một đối tượng từng có tiền án, tiền sự, đánh bạc, ghi đề, sử dụng ma túy và có những lời nói, hành vi phản giáo dục trên mạng xã hội (MXH), khiến nhiều người không khỏi giật mình về sự lệch chuẩn văn hóa của một bộ phận giới trẻ hiện nay rất đáng báo động. Nếu không ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc này sẽ khiến nhiều chủ nhân tương lai của đất nước mất phương hướng, động cơ phấn đấu tích cực, xa rời những chuẩn mực văn hóa, từ đó “phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”-một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể xem thường. Không ai phủ nhận những ưu thế, tiện ích nhiều mặt mà MXH đã mang lại cho con người. Điều đáng quan tâm hiện nay là làm thế nào để khai thác tối ưu những mặt tích cực từ MXH, đồng thời có thể phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực từ không gian ảo xuyên biên giới này? Để giải đáp thấu đáo vấn đề đó, trước hết đòi hỏi mỗi người trẻ phải hết sức tỉnh táo, không bị lôi cuốn, a dua bởi những trào lưu thiếu văn hóa xuất hiện trên mạng, kiên quyết không tiếp tay, cổ vũ cho những động thái câu “like” giật gân, những lời chia sẻ, bình luận thiếu văn hóa. Nhưng giới trẻ có đặc điểm chung là tâm lý chưa ổn định, thiếu kiềm chế, dễ bị “dẫn dắt, chi phối” bởi “tâm lý đám đông” trên MXH. Do vậy, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, các cán bộ đội thiếu niên, đoàn thanh niên, hội sinh viên... cần thường xuyên gần gũi, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các em được tham gia những hoạt động văn hóa tinh thần hấp dẫn, các sân chơi lành mạnh. Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, trong đó có việc lợi dụng MXH để thực hiện âm mưu làm “đứt gãy” và xung đột giữa các thế hệ, tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ văn hóa độc hại, cổ xúy lối sống lai căng, tư tưởng lệch lạc nhằm “lái” giới trẻ “quay lưng” với truyền thống, lãng quên lịch sử, xa rời mục tiêu lý tưởng tốt đẹp, chúng ta càng phải quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên có đủ đức, tài, niềm tin, khát vọng để xứng đáng với vị thế, trọng trách cao cả của mình đối với dân tộc và Tổ quốc. Trách nhiệm này không riêng của tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên, hội sinh viên mà là trách nhiệm chung của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, các ngành, các cấp và toàn xã hội.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỨNG TRÊN HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bằng những thủ đoạn rất thâm hiểm.

​Trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tiếp tục rêu rao những luận điệu cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc đoán, chuyên quyền”, “Đảng tiếm quyền nhà nước” hoặc “Đảng làm thay nhà nước”... Trong đó, chúng cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” với mưu đồ đen tối nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta “Đảng lãnh đạo - nhà nước quản lý, điều hành xã hội - Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ mật thiết giữa Ðảng với Nhân dân, Nhân dân với Nhà nước; làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học nhằm phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và gây đối lập, tạo mâu thuẫn giữa Đảng và Nhà nước, giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chúng viện dẫn quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - thượng tôn pháp luật, để ngụy biện rằng “Đảng không có vai trò lãnh đạo nhà nước”, “nếu Đảng lãnh đạo nhà nước là đứng trên Hiến pháp và pháp luật”! Chúng đã ngộ nhận và đánh tráo khái niệm một cách thô thiển giữa “nhà nước pháp quyền” nói chung với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền tư sản”. Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật - điều đó đúng. Nhưng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, quyền lực nhà nước và xã hội thuộc về Nhân dân - khác hoàn toàn về chất so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử. Đó là nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Như vậy, chúng đã cố tình cắt xén vấn đề cốt yếu nhất của nhà nước là quyền lực thuộc về Nhân dân trong bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Mặt khác, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị: “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Trong mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Về vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với Nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước. Đồng thời, hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chứ không có cái gọi là “Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, Đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.  

Thực tiễn hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng và 78 năm cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hiện nay, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đồng thời, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của Nhân dân… Thực tiễn đó càng cho thấy luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là hoàn toàn bịa đặt và sai trái!

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước nói chung, luận điệu “Đảng đứng trên Hiến pháp và pháp luật” nói riêng, góp phần giữ vững tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, chúng ta cần phải:

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, về Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, tiếp tục thấm nhuần sâu sắc và thực hiện có hiệu quả lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”.

Nghiên cứu, quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 28-NQ/TW, về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong tình hình mới” và Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới” của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII). Trong đó, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị nói chung, đối với các cơ quan nhà nước nói riêng.

Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay, phải tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ và không ngừng hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; tăng cường kiểm soát quyền lực Nhà nước, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí thật sự hiệu quả nhằm xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Như vậy, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, sai trái, không đúng thực tế, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ, dã tâm của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng, khẳng định rõ và luôn tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và toàn xã hội./. 

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Ngày nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Chúng đưa ra các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta để làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là sự nghiệp cách mạng đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan; đồng thời, phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại.

Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, việc phát tán các quan điểm sai trái, thù địch trở nên rất dễ dàng, vì vậy công tác đấu tranh phản bác các quan điểm này cũng là nhiệm vụ được đặt ngang hàng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chấp hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, trong thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Nhiều đảng viên tham gia chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức của Nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin, bài đấu tranh, phản bác có chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Tuy nhiên, khi đất nước ngày càng phát triển thì các thế lực thù địch, phản động lại càng tìm mọi cách để chống phá. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ tất yếu chúng ta phải làm và nhất định phải làm thật tốt. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong bối cảnh hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt, vừa mang tính trước mắt, thường xuyên, vừa mang tính chiến lược, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó đội ngũ đảng viên phải là lực lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu đi đầu. Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một vấn đề thuộc về tiêu chuẩn, tư cách người cộng sản, là trách nhiệm chính trị. Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đó, đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực hiện tốt những nội dung, biện pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng, gắn với việc phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết 35 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”…

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, lý luận theo hướng khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng lấy gương “người tốt, việc tốt”, “điển hình tiên tiến” để tuyên truyền, giáo dục, tạo hiệu ứng tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các vi phạm chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đồng thời cổ vũ, biểu dương các tấm gương đạo đức để tạo ảnh hưởng lan tỏa trong Đảng và xã hội.

Thứ tư, không ngừng đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho mọi tầng lớp Nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên nhận rõ mục tiêu sâu xa của các quan điểm sai trái. Tích cực chống lại các luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhằm phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, bài bản, đi vào chiều sâu.

Thứ năm, chủ động nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội; xử lý kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Mặt khác, mỗi cơ quan, đơn vị cần duy trì và phát triển lực lượng chuyên trách (LL47) đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”.

Thứ sáu, tăng cường trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; bảo đảm việc học tập các môn lý luận chính trị được tiến hành một cách thực chất, để người học nắm được những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá thấu đáo các vấn đề chính trị – xã hội diễn ra trong đời sống hiện thực. Mặt khác, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định của Ðảng.

Thực tiễn hơn 93 năm qua đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Sự kiên trì, kiên định và kiên quyết ấy chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cho mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta quán triệt sâu sắc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng. Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam; thấm đượm tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa, vai trò quan trọng góp phần trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo đảm quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; là nhân tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Hiện nay, Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong khi đó, các thế lực thù địch lại ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá việc triển khai, thực hiện Nghị quyết, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu.

Trong đó, việc xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hạ thấp vai trò của quân đội được chúng sử dụng như một công cụ chủ đạo. Khi đề cập đến bộ đội, chúng cho rằng là một nghề được gọi là lương cao, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội thời nay chẳng phải sương gió, không có đớn đau, không phải hy sinh. Với tầm nhìn hạn hẹp, chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng “bộ đội bây giờ lương cao”, “được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy”; “bộ đội bây giờ không còn vất vả, không phải hy sinh”.

Chúng tiếp tục “vơ đũa cả nắm”, từ hiện tượng một số quân nhân vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, chúng tung tin, đồn thổi rằng “quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, mà thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình” nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Chưa hết, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch từ xuyên tạc các giá trị cao quý của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, để đi đến xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phủ nhận những giá trị truyền thống tốt đẹp của Quân đội. Âm mưu của chúng chẳng những phủ định giá trị lịch sử, chà đạp lên sự yêu quý, ngưỡng mộ và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Chúng còn phủ nhận những khó nhăn, gian khổ, thiệt thòi, hy sinh, mất mát và đổ máu trong thời chiến cũng như trong thời bình mà những cán bộ, chiến sĩ, gia đình các quân nhân đã và đang phải gánh chịu.

Âm mưu của chúng còn rắp tâm cướp đi sức mạnh, niềm tin của nhân dân đối với “Bộ đội Cụ Hồ”, phủ nhận mối quan hệ máu thịt, “cá với nước” của quân và dân ta; phủ nhận nguồn gốc, bản chất, truyền thống của Quân đội. Chúng không muốn thế hệ trẻ kế thừa sự nghiệp của cha anh, không muốn thế hệ chủ nhân của đất nước hiểu rằng “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng và gửi gắm niềm tin vào Quân đội ta.

Mặt khác, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các cơ quan, đơn vị, gây mất đoàn kết trong nội bộ, chia rẽ Quân đội với nhân dân; làm cho Quân đội phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; mất đi bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Chúng âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng, trở thành những người lính “đánh thuê”, đội quân nhà nghề “ô hợp”, không còn sự thôi thúc hoàn thành nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim, sự tự nguyện, tự giác phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh. Chiều sâu của tội ác là cái đích cuối cùng của chúng hướng đến là thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội, biến Quân đội ta trở thành quân đội chung chung cho mọi giai cấp.

Với thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu độc, nhằm tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Để tăng phần hấp dẫn, thu hút những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong các hoạt động giúp đỡ nhân dân. Mặc dù chúng đã ngụy trang, che đậy rất kín đáo, nhưng “cái đuôi xảo trá, phản động vẫn lòi ra”. Chúng lợi dụng đời sống riêng tư của các cá nhân, gia đình các quân nhân hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Chúng lợi dụng mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, “châm lửa” thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ... Mặt khác, chúng làm mọi cách từ hỗ trợ tiền bạc, cung cấp thông tin, tạo các nhóm chống đối, từ cách giật tít các bài viết, tung các hình ảnh “nhạy cảm”, đến các giọng điệu lừa bịp, ngụy tạo để thu hút sự quan tâm “tò mò” của cư dân mạng, tìm kiếm sự chia sẻ, a dua, cùng vào hùa chống phá phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội. Xuyên tạc phẩm chất, bôi đen hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đã bị phơi bày. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu thâm độc ấy và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi hành vi chống phá, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Thực tiễn hơn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam đã khẳng định: Dù ở điều kiện hoàn cảnh nào, Quân đội vẫn luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội đều son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và cuộc sống của mình cho cách mạng. Không bao giờ “buông súng”, sa ngã, “lạc đường, chệch hướng” chỉ vì gian khổ, khó khăn, hy sinh.

Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội không bao giờ quên lời hứa thiêng liêng đã khắc ghi trong tim mình trước Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự tự nguyện dâng hiến, tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân. Cán bộ, chiến sĩ luôn phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước. Những hình ảnh bộ đội giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; cùng nhân dân vượt qua thảm họa thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, làm tròn nghĩa vụ quốc tế..., còn đọng mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, làm tỏa sáng hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Với những chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, đã khẳng định sự tuyệt đối trung thành, niềm tin, danh dự và lẽ sống cao quý của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, người lính “Bộ đội Cụ Hồ” với tinh thần, nhiệt huyết, luôn sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần, dù ở nơi biển, đảo, biên cương xa xôi, hay có mặt tại các điểm nóng của tâm dịch Covid-19 hoặc dầm mình trong bão lũ miền Trung thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, thậm chí nhịn đói khát, chịu nóng bức, hy sinh; đằng đẵng xa gia đình, người thân để thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, giúp nhân dân Nam Phi, Nam Sudan vượt qua hoạn nạn, giành lại quyền sống làm người.

Những việc làm thầm lặng ấy thật vẻ vang, tự hào; những cống hiến, hy sinh cao cả ấy thật to lớn. Vì vậy, không có kẻ thù nào có thể xâm phạm, hủy hoại được những hành động, những việc làm thiêng liêng ấy; không thế lực nào có thể xâm phạm được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; làm hoen ố được bản chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch hiện nay cần phải đi đôi với gìn giữ và phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” gắn với kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết 847-NQ/QUTW về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

 

SỰ THẬT ĐẰNG SAU CÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

 Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng tổng lực, toàn diện các phương thức tiến công, với phương châm lấy chính trị làm đột phá, kinh tế làm mũi nhọn, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ, quốc phòng, an ninh là then chốt, ngoại giao là hỗ trợ. Những năm gần đây, các thế lực thù địch luôn cố tình vu khống, xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Những hoạt động tôn giáo ở Việt Nam đã được nhìn nhận qua lăng kính của những kẻ có dụng ý xấu, muốn đưa Việt Nam vào trạng thái bất ổn, chia rẽ. Những ý đồ và hành động đó đã đi ngược lại lợi ích của toàn dân cũng như nguyện vọng của những tín đồ, giáo dân vốn luôn hướng thiện theo những điều luật của Giáo hội.

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và có gần 1/5 dân số theo tôn giáo. Hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, được pháp luật bảo vệ và hoạt động trong khuôn khổ của luật pháp. Tuy nhiên, trong thời gian qua, lợi dụng quá trình giao lưu, hội nhập, mở cửa của nước ta, cũng như sự phát triển nhanh chóng của Internet và gia tăng số lượng người dùng các trang mạng xã hội, nhiều thế lực xấu đã liên tục đưa ra những nhận định xuyên tạc trắng trợn tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Chúng lớn tiếng cho rằng, “Ở Việt Nam không có tự do tôn giáo”. Đây là nhận định không có cơ sở.

Bởi lẽ, không phải bây giờ, mà ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta đã khẳng định: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rất rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Đó là những cơ sở pháp lý minh chứng cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo.

Trên phương diện thực tiễn, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến nay, Việt Nam có 15 tôn giáo với hơn 40 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, cả nước có trên 27 nghìn cơ sở thờ tự với hơn 25 triệu tín đồ, giáo dân, chiếm gần 30% dân số cả nước. Nhiều nhà chức sắc, tu hành là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Một nghiên cứu về đa dạng tôn giáo gần đây do Trung tâm Nghiên cứu Pew của Mỹ thực hiện, đã xếp hạng Việt Nam là quốc gia đứng thứ ba trên thế giới về mức độ đa dạng tôn giáo, chỉ sau Singapore và Đài Loan. Nghiên cứu về đa dạng tôn giáo ở phạm vi toàn cầu nói trên cũng cho thấy, các quốc gia như Australia, Canada, Mỹ và các nước châu Âu không được xếp vào nhóm 12 quốc gia có sự đa dạng tôn giáo ở mức độ cao. Đây là minh chứng khách quan, xác thực nhất phủ nhận những cái nhìn thiển cận, sai lệch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Còn quan điểm cho rằng, Nhà nước Việt Nam không được can thiệp vào các hoạt động tôn giáo, đó lại là một quan điểm mơ hồ, ảo tưởng và phi lý. Phi lý bởi lẽ, tôn giáo là một hoạt động, một tổ chức xã hội mà đã là một tổ chức xã hội thì phải chịu sự quản lý của Nhà nước, tuân theo các quy định của luật pháp. Thực tế cũng cho thấy, không có một quốc gia nào để cho các hoạt động tôn giáo hoạt động mà nằm ngoài vòng của luật pháp. Ngay như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16/12/1966, trong Điều 18 ghi rõ: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo...

Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Hoặc như trong Luật ngày 9/12/1905 của nước Cộng hòa Pháp, tại Điều 26 cũng quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của cơ quan chính quyền. Cấm hội họp có tính chất chính trị ở nơi chuyên dùng vào việc thờ cúng và thực hành nghi lễ tôn giáo”… Như vậy, có thể thấy rằng, để xã hội và đời sống tôn giáo phát triển ổn định, đúng hướng thì bất cứ quốc gia nào cũng phải có những quy định để quản lý và điều chỉnh.

Còn ở Việt Nam, có thể nói, chưa bao giờ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lại sôi nổi, mạnh mẽ và được quan tâm như hiện nay. Và chưa thời kỳ nào mà Đảng, Nhà nước ta lại xây dựng được hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đầy đủ và hoàn thiện như hiện nay. Điều đó chứng tỏ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm toàn diện trên thực tế. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, chưa bao giờ có chủ trương cản trở hoạt động tôn giáo bình thường của nhân dân, lại càng không hề có sự kỳ thị, chèn ép, phân biệt đối xử, cấm đoán quyền tự do tôn giáo của công dân. Tất cả các tín đồ tôn giáo, chức sắc, chức việc, các giáo hội, giáo phận ở Việt Nam đều thừa nhận quyền tự do này luôn được Nhà nước tôn trọng. Đây là một thực tế không thể xuyên tạc.

Tuy nhiên, với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm ngòi nổ để tiến hành can thiệp lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Hành động đó không những vi phạm luật pháp Việt Nam, mà còn vi phạm luật pháp quốc tế, làm trái với giáo luật của giáo hội. Bởi, suy cho cùng, tôn giáo nào cũng hướng con người đến điều thiện, làm việc có ích cho cộng đồng, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho con người. Vì thế, ngay bản thân các tôn giáo cũng sẽ không chấp nhận những hành động cố ý, cố tình lợi dụng tôn giáo để kích động, chia rẽ đoàn kết, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân.

Cũng vì lẽ đó, cùng với các tổ chức chính trị xã hội, cán bộ, chiến sĩ trong QĐND Việt Nam cần thực hiện tốt hơn nữa chức năng đội quân công tác, quan tâm, chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn giáo, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xã hội đi liền với vận động, tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo và hiểu rõ hơn bản chất, âm mưu nham hiểm của các thế lực thù địch. Qua đó, củng cố lòng tin và gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng tình đoàn kết quân dân bền chặt, gắn bó, không để kẻ xấu lợi dụng, xuyên tạc chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG KẺ “CƠ HỘI CHÍNH TRỊ”

 

“Cơ hội chính trị” là một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng, mang danh cán bộ, đảng viên cộng sản để tìm cơ hội “thăng quan tiến chức”. Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc để đạt danh vọng, làm giàu cho bản thân và gia đình. Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, xun xoe, nịnh bợ cấp trên; đe nẹt, chèn ép cấp dưới. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, dựa vào các mối quan hệ thân thiết, tiền bạc để tìm cách chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi, chạy chỗ, chạy bằng cấp, chạy tuổi... Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người “cùng cánh” vào nắm những chức vụ quan trọng trong cơ quan, đơn vị mà không chịu chọn những người có đức, có tài, đủ tâm, đủ tầm vào vị trí xứng đáng, thậm chí họ sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên, vì lợi ích cá nhân mà bất chấp lợi ích tập thể; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; không gương mẫu trong công tác; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó. Từ đó, họ dần từ bỏ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không còn là “công bộc” của dân, trở thành những “ông quan” cách mạng, đục khoét tiền bạc, của cải của nước, của dân.

Ngoài những kẻ cơ hội trên thì còn phải kể đến những đối tượng cơ hội chính trị cực đoan. Nhóm này thường bộc lộ công khai tư tưởng bất mãn, chống đối. Họ triệt để khai thác các khiếm khuyết của cơ chế, chính sách, lợi dụng những người có địa vị, uy tín cá nhân nhưng bất mãn hoặc đã từng bị xử lý, nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, công kích chính diện vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của chế độ ta với động cơ và mục đích không lành mạnh, gieo rắc tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn, chống đối, phục vụ cho mưu đồ bạo loạn, lật đổ khi có đủ các điều kiện. Hay có những đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin từ những kênh không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng, đứng trước các sự kiện phức tạp về chính trị xã hội thường tỏ ra dao động, thiếu tự chủ, mất niềm tin, mất phương hướng, hành động lệch chuẩn, gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch. Bộ phận khác do “công thần”, sống vụ lợi ích kỷ, thiếu tu dưỡng rèn luyện, khi lợi ích cá nhân không được đáp ứng, thể hiện và biểu lộ công khai quan điểm bất mãn. Họ thường nói và là trái với quan điểm của Đảng, gây xáo trộn và phân tâm trong xã hội, tạo môi trường xấu…

Có thể khẳng định, những kẻ cơ hội chính trị có nhiều cấp độ biểu hiện, có nhiều dạng và tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau, nó là những con “sâu”, con “mọt” đang ngày đêm đục khoét phá hoại Đảng ta và chế độ XHCN ở nước ta, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay.

Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta.

Cùng với đó, thực hiện kiên quyết, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải quán triệt, cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật, thành kế hoạch, đề án cụ thể; đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì trong nêu gương thực hiện Nghị quyết, nêu gương trong lời nói, hành động, công việc, đời sống riêng và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-201 của Bộ Chính trị về “Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó, kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền và hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Xây dựng các tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vững mạnh, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo chuyển biến rõ rệt về ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, đảng viên. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội chính trị. Đặc biệt, thường xuyên nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng để tạo sức “đề kháng” trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với kẻ cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ.