Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

CHẤN HƯNG VĂN HÓA LÀ SỰ NGHIỆP CỦA TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN

 

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh cho quá trình phát triển đất nước. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn, khai thác và phát triển các giá trị văn hóa có nhiều thuận lợi, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Thực tế đất nước, cho thấy, chấn hưng và phát triển văn hóa vừa là khát vọng nhưng đồng thời cũng là nhiệm vụ chính trị cấp thiết của chúng ta hiện nay.

Văn hóa là những gì tinh túy của nhân loại trong quá trình phát triển. Với mỗi quốc gia, dân tộc, văn hóa là thành quả lao động, sáng tạo của toàn thể nhân dân. Những biểu hiện của văn hóa là vô cùng đa dạng, tinh tế, sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn con người, tạo ra cốt cách của một dân tộc. Văn hóa là gương mặt, là hình ảnh, là bản lĩnh, vị thế của một dân tộc khi bước chân vào dòng chảy hội nhập. Chính vì vậy đầu tư cho văn hóa luôn được nhiều quốc gia chú trọng, thậm chí đặt lên ưu tiên hàng đầu.

Việt Nam là đất nước có nền văn hóa đa dạng, đặc sắc. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, văn hóa dân tộc luôn là thành tố quan trọng góp phần làm nên những kỳ tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ rất sớm, Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vai trò quan trọng của văn hóa. Ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng văn hóa phải “soi đường cho quốc dân đi”.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề này được Đảng ta đặc biệt chú trọng.

Tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Đảng ta nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa”.

Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 tiếp tục đề ra những mục tiêu cụ thể nhằm xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam toàn diện, phù hợp xu thế thời đại.

Bài phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc một lần nữa nhấn mạnh, cần phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn, chấn hưng nền văn hóa dân tộc bảo đảm cho sự phát triển bền vững đất nước.

Người đứng đầu Đảng ta cũng nêu ra 6 nhiệm vụ cụ thể trong phát triển văn hóa, đồng thời khẳng định: “Đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần”, “động lực phát triển” và “soi đường cho quốc dân đi”, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”.

Như vậy có thể nói, chấn hưng văn hóa dân tộc - làm cho văn hóa hưng thịnh hơn vừa là khát vọng nhưng đồng thời cũng là nhiệm vụ chính trị cấp thiết, là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược để đẩy mạnh quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Bên cạnh đó, yêu cầu chấn hưng văn hóa dân tộc còn xuất phát từ thực tiễn phát triển văn hóa trong thời gian qua. Sự phát triển văn hóa vẫn chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế, chính trị, chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Thực tế những năm qua cho thấy bên cạnh những thành tựu đáng tự hào, thì lĩnh vực văn hóa cũng nảy sinh không ít bất cập, nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy vẫn còn tình trạng văn hóa chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với kinh tế, chính trị; tình trạng chức năng giải trí có xu hướng quá đà trong khi lại bỏ quên chức năng giáo dục, tính khoa học của văn hóa, có nguy cơ lan rộng; nhiều giá trị truyền thống dần bị mai một, trong khi nhiều yếu tố lai căng từ phương Tây được tiếp thu sống sượng, thậm chí không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm văn hóa chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại.

Hưởng thụ văn hóa ở các vùng miền, giữa nông thôn và đô thị còn nhiều chênh lệch. Công tác giới thiệu, quảng bá văn hóa ra nước ngoài còn hạn chế. Đầu tư cho văn hóa có lúc, có nơi vẫn nặng về hình thức, thiếu thực chất, không hiệu quả dẫn đến những hệ lụy tiêu cực. Bạo lực, tội phạm, tệ nạn xã hội gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có lý do các cá nhân thiếu sự trau dồi, giáo dục về văn hóa. Mê tín dị đoan, xây dựng đình chùa với mục đích kinh doanh, sùng bái thánh thần… có dấu hiệu gia tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ bên cạnh những mặt tích cực đồng thời kéo theo nhiều hệ lụy khó lường.

Môi trường mạng đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho những phát ngôn thiếu thiện chí, thiếu tính xây dựng, thậm chí phá hoại môi trường văn hóa, ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách của giới trẻ. Một bộ phận dân chúng, đặc biệt là người trẻ chạy theo các trào lưu, xu hướng phản cảm từ bên ngoài, đặt nặng các giá trị vật chất, đề cao sự hưởng thụ. Nguy cơ băng hoại đạo đức lối sống, quay lưng với những giá trị truyền thống của dân tộc ở một số nhóm người trong xã hội đang đặt ra những dấu hiệu cảnh báo cần được giải quyết, xử lý kịp thời.

Những hạn chế, bất cập đó đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta kịp thời định hướng, chỉ đạo, đề ra những chương trình hành động nhằm mục đích chấn hưng, xây dựng và phát triển văn hóa, từ đó hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã được đề ra. Nhằm cụ thể hóa Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam với mục tiêu tổng quát là tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trong văn hóa.

Huy động và tập trung các nguồn lực đầu tư cho văn hóa để văn hóa xứng với vai trò, vị trí hàng đầu trong phát triển đất nước. Cụ thể, phấn đấu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% vào GDP và đầu tư cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm.

Ở tầm nhìn đến năm 2035, Chương trình Mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam phấn đấu 100% thư viện được bảo đảm điều kiện hoạt động, 100% công chức, viên chức thuộc đơn vị công lập được đào tạo, nâng cao về chuyên môn, 100% các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật được trang bị đầy đủ, đồng bộ cơ sở vật chất, có năm trường đại học và hai viện nghiên cứu được đầu tư trở thành cơ sở trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực: âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh và văn hóa, ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Với những mục tiêu cụ thể như vậy, chương trình hành động được đánh giá là sẽ mang lại hiệu quả tích cực, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ đề ra. Đầu tư cho xây dựng các cơ sở hạ tầng văn hóa một cách đồng bộ chính là cơ sở quan trọng, cần thiết để gìn giữ, khai thác, phát triển văn hóa.

Đây chính là điều kiện cần để người dân có thể tiếp cận, hưởng thụ, sinh hoạt và sáng tạo văn hóa.

Nhìn vào thực tế từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đặc biệt sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 11/2021 đến nay đã có một sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, tư duy, hành động của các nhà quản lý và đại đa số nhân dân về giữ gìn, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Các địa phương đã chú trọng tăng cường nguồn lực đầu tư cho văn hóa, nhiều di sản văn hóa được tu bổ, tôn tạo gắn kết với du lịch mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao đời sống của người dân.

Công tác xây dựng môi trường văn hóa cơ sở được triển khai sâu rộng, từ thôn xóm, xã phường đến các công sở, doanh nghiệp... Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục. Đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được quan tâm nhiều hơn trong hưởng thụ văn hóa. Công nghiệp hóa văn hóa bắt đầu có những thành tựu, không chỉ mang lại lợi ích tinh thần mà còn có hiệu quả kinh tế cao, giúp nâng cao đời sống của một bộ phận người dân.

Tuy nhiên bên cạnh sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, thời gian qua xuất hiện những ý kiến tiêu cực về các chương trình hành động nhằm mục tiêu chấn hưng văn hóa.

Trên một số diễn đàn và trên các trang cá nhân, một số người tỏ thái độ thiếu thiện chí, cực đoan về vấn đề này. Những phát ngôn thiếu tính xây dựng, thậm chí công kích các cá nhân, phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước, ngành văn hóa trong thời gian qua phần nào cho thấy nhận thức của một bộ phận người dân về vai trò, vị thế của văn hóa chưa đúng mực.

Những phát ngôn cực đoan này không chỉ làm vẩn đục môi trường mạng, mà còn bộc lộ, thể hiện thái độ thiếu văn minh, thiếu sự tự tôn và tự hào của một số người Việt dành cho văn hóa dân tộc mình. Tình trạng này đang trở thành một trong những rào cản nguy cơ ảnh hưởng đến các mục tiêu trong thực thi các chính sách về văn hóa cần sớm được xử lý, chấn chỉnh.

Thực tế này cũng phần nào cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư cho nhân tố con người trong Chiến lược phát triển văn hóa.

Con người là trung tâm, là chủ thể của văn hóa, phát triển, chấn hưng văn hóa cần chú trọng đến yếu tố con người. Một trong những nhiệm vụ quan trọng để chấn hưng văn hóa mà người đứng đầu Đảng ta đã nêu ra trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 11/2021 là xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia-dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại.

Có thể thấy rằng con người tạo ra các giá trị văn hóa đồng thời cũng là đối tượng thụ hưởng văn hóa, giữ gìn và phát triển văn hóa, do đó, con người phải mang những phẩm chất cao đẹp của văn hóa. Và chấn hưng văn hóa không phải chỉ là việc của ngành văn hóa, mà nó chính là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, với sự chung sức đồng lòng của cả cộng đồng.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀM CHO CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG NGÀY CÀNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Trong suốt 93 năm qua, Đảng ta đã rất chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, coi đây là nhiệm vụ quan trọng có tính chiến lược lâu dài.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được hiểu là các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ; đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội...

Thực tế cho thấy trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng tìm mọi âm mưu, thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng tăng cường xuyên tạc bản chất của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng ta. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, lý tưởng, niềm tin của nhân dân với Đảng, với đội ngũ cán bộ, đến trật tự an ninh xã hội và lâu dài là sự tồn vong của chế độ.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để duy trì vai trò độc tôn của Đảng, duy trì địa vị và quyền lợi của một bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không phải là vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Các đối tượng chống phá cố tình không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ đơn thuần là công tác để bảo vệ Đảng mà còn là để làm trong sạch Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, loại trừ các yếu tố tiêu cực nảy sinh trong nội bộ đảng làm cản trở sự phát triển của đảng, góp phần làm cho các tổ chức đảng ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Với bản chất của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc bảo vệ Đảng, làm cho Đảng trở nên trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng cũng chính là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Song không chỉ dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn cố tình suy diễn cho rằng, sở dĩ Đảng ta phải tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ là để “ngụy trang”, “che đậy” cho những “phức tạp không nhỏ” diễn ra trong nội bộ như: sự mất đoàn kết; sự tranh giành địa vị, phe nhóm, bè phái; sự suy thoái về lý tưởng, niềm tin, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ; hay tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... đang ngày càng tăng lên trong nội bộ Đảng.

Đáng buồn là những luận điệu sai trái này không chỉ được tuyên truyền bởi các thế lực chống phá, phản động mà còn được sự tiếp tay của một số cá nhân, trong đó có cả những người từng có uy tín, công lao nhất định với đất nước, nhưng do bị suy thoái về tư tưởng, sai lầm về nhận thức nên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên bất mãn, thù hằn chế độ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội. Hiện tượng này cần phải được nhận diện, thông tin kịp thời giúp người dân hiểu rõ, không để các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ, hoặc tin nghe theo những luận điệu sai trái, thù địch.

Có thể thấy rằng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ thì vấn đề về cán bộ và công tác cán bộ hiện đang bị các thế lực thù địch lợi dụng khai thác triệt để. Một mặt, chúng lợi dụng những yếu kém, hạn chế, sai lầm của một bộ phận cán bộ dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát tài sản công, quản lý kém hiệu quả… trong thời gian qua để tuyên truyền, xuyên tạc hòng khoét sâu thêm những bức xúc của nhân dân.

Mặt khác, khi Đảng ta tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng một cách quyết liệt, với quan điểm “không có vùng cấm” trong xử lý vi phạm của đội ngũ cán bộ với hàng loạt các vụ đại án từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ban, ngành đến các doanh nghiệp tư nhân,... thì chúng lại bóp méo, xuyên tạc rằng đó thực chất là việc “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”, là “các phe cánh triệt tiêu nhau”. Việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cũng bị chúng bóp méo cho rằng đó chỉ là hình thức, nhằm phục vụ “lợi ích nhóm”...

Thẳng thắn nhìn nhận thì trong nội bộ Đảng hiện có tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng đó chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt góp phần làm trong sạch bộ máy.

Cho nên, sự quyết liệt trong công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay tuyệt đối không phải là việc đấu đá, thanh trừng nội bộ, bè phái mà chính là thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong, lãnh đạo vì lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân.

Quan điểm của Đảng ta trong công tác cán bộ được xác định rõ: không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ và “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Do đó, việc thực hiện quyết liệt trong đấu tranh chống tham nhũng và đổi mới, công khai, nghiêm túc trong công tác cán bộ ở nước ta thời gian qua cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bên cạnh đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là phong trào thi đua “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Đảng ta cũng đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc cho rằng, cuộc vận động và phong trào thi đua đó đã diễn ra hàng chục năm nay nhưng chỉ là hình thức mang tính “phong trào” chứ không đi vào thực chất, không hiệu quả.

Những luận điệu này không chỉ là sự bóp méo về chức năng, nhiệm vụ của công tác chính trị nội bộ, mà còn cố tình phủ định sạch trơn những cố gắng, quyết tâm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng mà chúng ta đang thực hiện.

Những kết quả tích cực suốt hàng chục năm qua mà Đảng, Nhà nước cùng với nhân dân ta đã đạt được qua cuộc vận động và phong trào thi đua học và làm theo Bác Hồ là minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trên khắp cả nước tích cực thi đua không ngừng để “học và làm theo Bác” từ những việc làm thiết thực, cụ thể.

Tiêu biểu như công cuộc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm theo lối sống giản dị của Bác “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với phương châm “phục vụ nhân dân”, gần dân, sát dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “phê bình và tự phê bình”; đề cao trách nhiệm nêu gương; tự tu dưỡng, tự rèn luyện,...

Qua hàng loạt các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho thấy mục đích duy nhất của chúng là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chính vì vậy, cho dù ở bất cứ lĩnh vực nào, ở bất cứ đâu, chúng ta cũng phải luôn tỉnh táo, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng và nhận thức khoa học đầy đủ, đúng đắn để tỉnh táo nhận diện được những luận điệu, thủ đoạn thâm độc, khó lường của các thế lực thù địch.

Để làm được điều đó mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; gắn kết chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị.

Đồng thời cấp ủy, chính quyền các cấp phải kịp thời nắm bắt tình hình tại cơ quan, đơn vị mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự,…; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để nắm bắt tình hình, giải quyết những tình huống phát sinh, những vụ việc gây bức xúc, tố giác, khiếu kiện… theo đúng quy định, minh bạch, khách quan, tránh để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, vu khống. Tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan, đơn vị, triển khai công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, phát huy mạnh mẽ vai trò của từng cán bộ, đảng viên và tập thể.

Đây là những yêu cầu cần thiết để chủ động phòng và kịp thời đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ, hạ thấp uy tín của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 

Trong giai đoạn hiện nay, một thủ đoạn mới mang tên “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch sử dụng nhằm tăng cường“diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận diện thủ đoạn “bất tuân dân sự” ở Việt Nam hiện nay để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ sự ổn định chính trị-xã hội là hết sức cần thiết.

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” bắt nguồn lần đầu tiên trong tập tiểu luận của tác giả người Mỹ Henry David Thoreau với tiêu đề “Dân sự bất hợp tác” viết vào tháng 5/1849. Nhằm bào chữa cho việc phải ngồi tù vì tội không đóng thuế ở Massachusetts, Henry David Thoreau viết tập tiểu luận để khẳng định rằng cá nhân (hoặc một bộ phận thiểu số công dân) không cần tuân thủ và phục tùng nhà nước, thậm chí có thể chống lại việc thực thi luật pháp của nhà nước nếu thấy không phù hợp.

Thực chất, đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ, tiềm tàng nguy cơ bất ổn cho xã hội. Sau này, “bất tuân dân sự” dần được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế sử dụng thành thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, âm mưu làm thay đổi chế độ chính trị ở những quốc gia tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng. Dù bề ngoài có vẻ ôn hòa, núp bóng “dân sự”, không bạo lực vũ trang, nhưng phong trào “bất tuân dân sự” đem lại những hiểm họa khôn lường cho xã hội.

Hiện nay, “bất tuân dân sự” được hiểu là hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc cố ý vi phạm với một số quy định pháp luật của nhà nước với những lý do không chính đáng. Về cơ bản, những hành động “bất tuân dân sự” là hình thức phản kháng ôn hòa, bất bạo động nhưng lại thể hiện rõ ràng sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đặc biệt, với chiến lược “diễn biến hòa bình” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc xây dựng tư tưởng chủ đạo muốn chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa bởi vậy “bất tuân dân sự” dần trở thành phương thức thủ đoạn có sự liên hệ chặt chẽ các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các đối tượng cơ hội chính trị, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy cho “bất tuân dân sự”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia; “cách mạng cam” ở Ucraina; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả Rập) ở các nước Trung Đông và Bắc Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) hay các cuộc biểu tình phản đối sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019, năm 2020… đều có dấu ấn của “bất tuân dân sự”. Điểm chung của các phong trào này là nhằm gây trở ngại cho hoạt động thực thi công lý, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây khủng hoảng toàn diện cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Ở Việt Nam, thủ đoạn “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch triệt để sử dụng dựa trên các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, bất cập, hạn chế trong triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, đối ngoại... Các đối tượng chống phá lợi dụng một số sai phạm, yếu kém của tổ chức, cá nhân để rêu rao Việt Nam vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, từ đó kích động lôi kéo người dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, tập dượt kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho những bước chống phá cao hơn. Các đối tượng không ngừng tuyên truyền cho rằng: “Lối thoát cho Việt Nam là bất tuân dân sự”, hay “Bất tuân dân sự là con đường tự do cho Việt Nam”.

Trong những năm gần đây diễn ra hàng loạt vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự” như khi giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Đắk Nông, Gia Lai, một số đối tượng đã “bất tuân cưỡng chế”, chống lại cơ quan thực thi pháp luật; hay “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) để lập các tổ chức dân sự nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền như “hội văn đoàn độc lập”, “hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “hội anh em dân chủ”, “hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam”, “hội phụ nữ nhân quyền”… lập ra để phản đối các bộ luật ở nước ta. Vụ việc phức tạp tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội tháng 1/2020 là điển hình của việc coi thường pháp luật, vi phạm các quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luật hết sức bất bình.

Hậu quả của hoạt động “bất tuân dân sự” rất nặng nề, tác động tiêu cực cả về kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các đối tượng kích động người dân tụ tập, gây cản trở giao thông, đập phá trụ sở chính quyền, đốt phá tài sản nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nhiều cán bộ thực hiện nhiệm vụ bị thương, hoạt động của cơ quan nhiều nơi bị ngưng trệ.

Đồng thời các đối tượng tìm mọi thủ đoạn hòng móc nối, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân phản đối, gây sức ép thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật, lĩnh vực tư pháp để chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cần khẳng định rằng các hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”.

Chúng kêu gọi và thổi phồng rằng người dân cần phải được “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “ý thức pháp luật”, lên tiếng để thay đổi luật pháp cho phù hợp với ý chí của cá nhân, và kêu gọi rằng không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh cho một số đạo luật, và muốn bảo đảm “thượng tôn pháp luật” phải thực hiện đa nguyên đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây.

Về bản chất, hoạt động “bất tuân dân sự” là tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; không ngừng sử dụng luận điệu kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập”; thúc đẩy, kích động tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...

Trước những âm mưu, thủ đoạn “bất tuân dân sự” hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm xã hội, chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của các đối tượng chống phá để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh, kịp thời xử lý một cách linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả những tình huống phức tạp.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các cá nhân và tổ chức ở Việt Nam. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được thường xuyên đổi mới, phù hợp với thực tế, đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán… để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, các tổ chức và người dân cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội; dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để chống phá đất nước, xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Nếu để những hoạt động “bất tuân dân sự”, những âm mưu, thủ đoạn coi thường pháp luật xảy ra kéo dài thì hậu quả để lại rất nặng nề, không chỉ ảnh hưởng về kinh tế-xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền.

Từ đây cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường…

Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, pháp luật của Nhà nước. Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, là một biểu hiện cho tiến bộ, phát triển của xã hội nhưng tuyệt đối không thể là sự tự do “vô chính phủ”. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm nhằm đồng nhất “quyền dân tộc tự quyết” với “quyền dân tộc thiểu số” để chống phá Đảng, Nhà nước cũng như khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần nhận thức và thực hành đúng đắn quyền dân tộc tự quyết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Mặc dù có liên hệ mật thiết với nhau song “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau. Theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các quốc gia-dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội theo con đường mình lựa chọn trên cơ sở thiết lập chủ quyền quốc gia. Một trong những mục đích, tôn chỉ hoạt động được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đó là: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới”.

Năm 1966, lần đầu tiên “quyền dân tộc tự quyết” được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đó là Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị, Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Đặc biệt tại Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết 2625 (XXV) năm 1970 đã chỉ rõ nội hàm của “quyền dân tộc tự quyết” (hay còn gọi là nguyên tắc tự quyết của các dân tộc) với các điểm mấu chốt như sau:

Một là “tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài”.

Hai là “việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy”.

Ba là “không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc”…

Liên quan “quyền dân tộc thiểu số”, tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Đại hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 1948 khẳng định rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1) và “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2).

Đồng thời tại Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định những người thuộc dân tộc thiểu số ở bất kỳ quốc gia-dân tộc nào cũng có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như những người thuộc dân tộc đa số ở chính các quốc gia-dân tộc đó, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

Như vậy, có thể khẳng định “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau, liên quan các đối tượng khác nhau. Khi đề cập về “quyền dân tộc tự quyết” là muốn nói đến quyền lợi của một quốc gia-dân tộc so với các quốc gia-dân tộc khác trên thế giới.

Cụ thể, khi một quốc gia có nguy cơ bị các quốc gia khác xâm hại hoặc cản trở việc thực hiện quyền này thì toàn thể các dân tộc tại quốc gia đó phải đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ “quyền dân tộc tự quyết” của mình. Còn khi đề cập “quyền dân tộc thiểu số” là nói đến quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong nội bộ của một quốc gia độc lập, thống nhất. Theo đó, các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số sinh sống tại quốc gia mình được hưởng đầy đủ các quyền “dân tộc thiểu số” phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, luật pháp của quốc gia.

Tuy nhiên, lợi dụng thực tế Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, còn lại là dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc chiếm 13% dân số), cùng với đó là sự nhận thức chưa đầy đủ về “quyền dân tộc tự quyết” của nhiều người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế-xã hội còn kém phát triển và trình độ dân trí chưa cao, các thế lực thù địch, phản động đã tìm cách đánh tráo nhằm đồng nhất hai khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số”. Mục đích mà chúng muốn hướng đến là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” bằng cách ly khai, bạo loạn, đòi quyền tự trị, tự quản với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng những chủ trương, chính sách đúng đắn, đời sống của người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện về mọi mặt, theo đúng phương châm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số… Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trên thực tế tại một số địa phương việc giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định với các biểu hiện: Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở một số địa phương còn yếu kém; công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở, chưa gần dân, sát dân, chưa kịp thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; chậm phát hiện và xử lý các vụ việc phức tạp trên địa bàn…

Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, phản động đã phủ nhận toàn bộ những thành tựu to lớn của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ép người đồng bào dân tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hóa truyền thống” để hòa nhập với “cuộc sống văn minh, tiến bộ” của người Kinh; tuyên truyền sai lệch về quyền dân tộc tự quyết để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, từ đó từng bước làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Để phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả những thủ đoạn lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá đất nước, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao cảnh giác, hiểu đúng, hiểu rõ và thực hành đúng “quyền dân tộc tự quyết” theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam. Khi người dân đã hiểu đúng về “quyền dân tộc tự quyết” thì sẽ không còn cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các hoạt động “từ thiện”, “nhân đạo” trá hình để tuyên truyền sai lệch về vấn đề thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” từ đó mua chuộc, vận động, thậm chí ép buộc người đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi gây rối, bạo loạn, đòi ly khai, tự trị. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đòi hòi chính đáng và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố niềm tin của họ với Đảng, Nhà nước.

Song song đó, phải tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách này góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện một cách đầy đủ, trên nguyên tắc các dân tộc thật sự bình đẳng, đề cao tinh thần thống nhất và khối đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng những điểm khác biệt của các dân tộc về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…

Đồng thời, cần tăng cường thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo đa chiều bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo còn đặc biệt khó khăn. Chỉ khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa người miền xuôi và người miền núi, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh thì mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, tiến bộ của xã hội, giải quyết triệt để, hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá của các thế lực phản động, thù địch./.

(Nguồn: Báo Nhân dân)

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM - MỘT THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC

 

Thời gian gần đây, lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân tộc thiểu số thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, hải đảo đời sống gặp nhiều khó khăn, các đối tượng xấu đã mua chuộc, dụ dỗ họ tham gia vào nhiều hoạt động phi pháp núp bóng tôn giáo, hoặc các hội nhóm mang danh “xã hội dân sự” đấu tranh “vì quyền lợi cho các dân tộc ít người”.

Thực chất, thông qua các hoạt động này, những phần tử chống phá nhen nhóm tư tưởng ly khai trong cộng đồng dân tộc thiểu số, kích động người dân đòi quyền dân tộc tự quyết, lập nên nhà nước riêng, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, đe dọa gây ra những hậu quả khó lường.

Như ở khu vực miền núi phía bắc, sự xuất hiện của tà đạo Giê Sùa và Bà cô Dợ đã gây ra những bất ổn trong đời sống dân cư, đặc biệt là vấn đề an ninh, trật tự. Dù đã được chính quyền cùng các cơ quan chức năng cảnh báo, vận động, thuyết phục song không ít người dân vẫn bị dụ dỗ, mê muội tin theo các tà đạo. Tà đạo Giê Sùa (còn được gọi là “Hội thánh Giê Sùa”) chỉ mới xuất hiện chưa đến 10 năm song với nhiều thủ đoạn tiếp cận tinh vi nhằm thuyết phục, mua chuộc người dân nên đã nhanh chóng lan ra một số tỉnh, thành phố, như: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Người sáng lập ra “Hội thánh Giê Sùa” là Hờ Chá Sùng (còn gọi là David Her), người H’Mông, gốc Lào đang sống tại bang California, Mỹ.

Hờ Chá Sùng đã tận dụng “mác” người H’Mông để chiếm cảm tình cũng như lòng tin của một số bà con dân tộc thiểu số. Bất chấp việc không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, “Hội thánh Giê Sùa” tuyên truyền tà đạo chỉ dựa vào những câu chữ được cóp nhặt, vay mượn từ Kinh thánh và một số tài liệu do Hờ Chá Sùng tự soạn thảo. Mặt khác, Hờ Chá Sùng tán phát các tài liệu tuyên truyền tà đạo trên mạng internet, thông qua kênh YouTube và trang thông tin điện tử phản động bằng tiếng H’Mông. Không chỉ bác bỏ và xuyên tạc các tôn giáo chính thống, Hờ Chá Sùng còn tự tin cho rằng “Hội thánh Giê Sùa” là tôn giáo chính thống của người H’Mông, đồng thời phong cho mình làm “Vua của dân tộc H’Mông”, ai tin tưởng đi theo thì có được đất nước riêng của người H’Mông, cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc. Qua quá trình hoạt động, Hờ Chá Sùng đã bộc lộ mưu đồ thật sự của mình từ việc lập ra một tổ chức tôn giáo bất hợp pháp là nhằm kích động, kêu gọi người H’Mông, thành lập “nhà nước H’Mông” tự trị với lý lẽ sai trái rằng, đó là thực hành quyền dân tộc tự quyết.

Nhằm thực hiện âm mưu “phá từ trong phá ra”, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc quyền dân tộc tự quyết nhằm chia rẽ cộng đồng người dân tộc thiểu số với người Kinh, làm cho nội bộ đất nước rối ren, khối đại đoàn kết dân tộc bị suy yếu. Thực tiễn cho thấy không chỉ ở địa bàn Tây Bắc mà tại một số địa phương khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, diễn biến của vấn đề này cũng hết sức phức tạp. Các đối tượng phản động ở hải ngoại tăng cường cấu kết với các phần tử chống phá ở trong nước, sẵn sàng cung cấp tiền bạc, tài liệu,… phục vụ cho việc “xây dựng lực lượng”, tuyên truyền, dụ dỗ, kích động một số người dân thiếu thông tin hoặc nhẹ dạ, cả tin đứng lên đòi hỏi “xác lập vị thế, quyền dân tộc”. Nổi cộm tại khu vực Tây Nguyên thời gian qua, các đối tượng phản động trong nước và nước ngoài cấu kết với nhau, hô hào kêu gọi thành lập cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”. Mục đích của chúng là nhằm ly khai khu vực Tây Nguyên nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền, chia cắt sự toàn vẹn và thống nhất của đất nước cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S, thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền, làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cái gọi là “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập” thực chất là một tổ chức “ma” mà những kẻ theo FULRO (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức) lập ra vào cuối năm 1999, do Ksor Kơk cầm đầu. Để thực hiện mưu đồ đen tối, Ksor Kơk xuyên tạc rằng “mỗi dân tộc phải có một lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán riêng, đất của người Thượng phải do người Thượng quản lý, sử dụng”. Nhằm chiếm được lòng tin và thao túng tâm lý của người dân, chúng đẩy mạnh phương thức tuyên truyền qua tôn giáo.

Giữa năm 2000, Ksor Kơk từ Mỹ đã chỉ đạo một số tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số mà y đã tuyển mộ từ trước đó lên tiếng đòi tự do tôn giáo, tách Tin lành người Thượng ra khỏi Hội thánh Tin lành Việt Nam, lập nên tà đạo “Hội thánh Tin lành Đê ga” làm hậu thuẫn cho “Nhà nước Đê ga độc lập”.

Dù mang danh nghĩa là tổ chức tôn giáo, song “Hội thánh Tin lành Đê ga” đẩy mạnh các hoạt động mang màu sắc chính trị như việc xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực tôn giáo, dân tộc. Các đối tượng kích động các tín đồ Tin lành đuổi người Kinh về xuôi với lý lẽ là “đòi lại đất đai cho người Thượng”, xây dựng cơ sở tôn giáo trái phép, tiến hành các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp, kêu gọi thành lập “Nhà nước Tin lành Đê ga độc lập”…

Để thực hiện mưu đồ đen tối của mình, các đối tượng chống phá thường xuyên vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí ở nước ngoài.

Trong các năm 2001, 2004, 2008 ở Tây Nguyên, “Hội thánh Tin lành Đê ga” dưới sự giật dây, chỉ đạo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch từ hải ngoại đã kích động người dân gây ra các vụ bạo loạn khiến dư luận vô cùng phẫn nộ. Gần đây vụ tấn công liều lĩnh, manh động vào trụ sở Ủy ban nhân dân hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk rạng sáng 11/6/2023 làm 9 người chết, được đánh giá là hoạt động khủng bố chống chính quyền với sự tiếp tay, chỉ đạo từ nước ngoài.

Tại khu vực Tây Nam Bộ, sự chống phá, can thiệp của các tổ chức phản động ở nước ngoài cũng lộ rõ. Biểu hiện rõ nhất là tại một số diễn đàn quốc tế, những năm qua, Tổ chức “Liên đoàn Khmer Kampuchea Krom” (Mỹ) luôn tìm mọi cách tiếp cận các chính trị gia các nước để vu cáo, cung cấp thông tin thất thiệt, sai sự thật về vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.

Tại “Diễn đàn thường trực Liên hợp quốc về các vấn đề dân tộc bản địa (UNPFII) lần thứ 14”, “Diễn đàn nhân dân ASEAN 2015”, tổ chức này còn yêu cầu Việt Nam, Campuchia chấm dứt phân biệt đối xử với người “Khmer Krom”; đề nghị Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và các nước thành viên ASEAN can thiệp; yêu cầu thành lập Văn phòng nhân quyền bảo vệ quyền lợi cho người “Khmer Krom” tại Việt Nam...

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện một số đối tượng cộm cán từ bên ngoài thường xuyên tác động, chỉ đạo, tài trợ, hướng dẫn các phần tử cực đoan sống tại địa phương thu thập tin tức bí mật chuyển ra ngoài, đồng thời lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm để xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, kích động quần chúng gây rối, biểu tình đòi ly khai, tự trị.

Cơ quan chức năng cũng đã phát hiện, thu giữ hàng nghìn tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ, cho rằng, đất Nam Bộ là của người “Khmer Krom” bị Việt Nam xâm chiếm, dựng lên cái gọi là “lễ kỷ niệm ngày mất đất”. Mặt khác, các đối tượng chống phá còn sử dụng Tuyên ngôn về quyền của người bản địa của Liên hợp quốc, để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đối với dân tộc Khmer.

Mới đây, vào tháng 7/2023, lợi dụng việc cổng chào của tỉnh Trà Vinh phải phá dỡ do bị hư hỏng nặng, có thể gây nguy hiểm cho người dân, các đối tượng chống phá lập tức rêu rao rằng “cổng chào của tỉnh Trà Vinh (cũ) là của dân tộc Khmer, có kiến trúc văn hóa của cha ông để lại”, từ đó xuyên tạc việc tháo dỡ cổng chào là “chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer, muốn thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Khmer”.

Diễn biến của tình hình cho thấy mức độ nguy hiểm, phức tạp, khó lường của mưu đồ thực hiện diễn biến hòa bình dưới chiêu bài quyền dân tộc tự quyết trong tình hình hiện nay.

Dù được thực hiện với nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau song có thể nhận diện những điểm chung là: Các đối tượng chống phá triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, ngành trong việc triển khai chính sách dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc.

Cùng với đó, các đối tượng chống phá tiếp tục lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người dân tộc thiểu số, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn.

Nguy hiểm hơn, các thế lực phản động tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để dẫn dụ, kích động, lôi kéo người dân đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, tỉnh táo nhận diện những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch thực hiện dưới danh nghĩa quyền dân tộc tự quyết để có những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả.

CẢNH GIÁC VỚI MẶT TRÁI CỦA CÁC NỀN TẢNG VIDEO NGẮN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Mặc dù một số nền tảng video ngắn đã cải tiến thuật toán nhằm ngăn ngừa các nội dung độc hại tiếp cận người dùng nhưng các nỗ lực này dường như mới chỉ nhằm xoa dịu dư luận và đối phó với các cơ quan chức năng. Thực tế cho thấy, một số lượng không nhỏ các video xấu vẫn tràn ngập trên các nền tảng TikTok, YouTube Short, Facebook Reel, Bigo Bar, Instagram, Likee… tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi người sử dụng mạng xã hội.

Không phải ngẫu nhiên, các phương tiện truyền thông đại chúng đều có chung nhận định đây là thời kỳ trỗi dậy của nền tảng nội dung ngắn. Sau thành công của TikTok, các nền tảng mạng xã hội lớn mà điển hình là YouTube và Facebook đã lao vào phát triển ứng dụng phát và chia sẻ video ngắn (short video), bất chấp một thực tế là hai mạng xã hội này vốn chứa hàng tỷ video clip có thời lượng dưới 1 phút.

Ðiểm mới của TikTok là nền tảng này cung cấp cho người dùng hàng loạt các tính năng như ghép nhạc, thêm hiệu ứng (filter) hình ảnh và âm thanh, cách thức để video hiện lên trên xu hướng (trending). TikTok cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút người dùng mới và tăng thời lượng sử dụng mạng xã hội này như: nhận tiền hoa hồng với lời mời bạn bè đăng ký tài khoản mới, nhận tiền để truy cập và theo dõi video liên tục 10 phút trong 14 ngày.

Trong tháng 9, số tiền mà người dùng Việt Nam có thể nhận được từ việc mời người quen đăng ký mới tài khoản TikTok lên tới 8 triệu đồng. Bằng cách thức này, TikTok đã thu hút được lượng người dùng khổng lồ với hơn 1,1 tỷ người. Trong danh sách các nền tảng video ngắn, TikTok chỉ đứng sau Instagram về lượng người tương tác thường xuyên nhưng được đánh giá là ứng dụng tạo ra thu nhập tốt nhất cho các nhà sáng tạo nội dung. Tính riêng tại thị trường Việt Nam, có khoảng gần 50 triệu người sử dụng TikTok.

Song thành công của TikTok được tạo dựng bởi các thuật toán bị nhiều chuyên gia, nhà khoa học cảnh báo là có nguy cơ gây nghiện cho người sử dụng. Mặt khác sự xuất hiện tràn lan các video ngắn tác động không nhỏ đến vấn đề tiếp nhận, dần dần làm thay đổi thói quen, hành vi của người dùng mạng, như việc đọc hiểu hời hợt lệ thuộc sự dẫn dắt của video ngắn thay cho sự tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề của đời sống.

Bên cạnh đó TikTok cũng không hiệu quả trong việc ngăn chặn các video có nội dung độc hại, nhảm nhí, thậm chí cả tin giả. Mới đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố hàng loạt sai phạm của TikTok trong việc cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam như thông tin giả mạo, xuyên tạc, kích động bạo lực, kích động tệ nạn xã hội; thông tin gây hại cho trẻ em...

Theo nhận định của cơ quan chức năng, quy trình kiểm duyệt nội dung của TikTok chưa hiệu quả, để lọt nhiều nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam. Cách thức phân phối, đề xuất nội dung của TikTok dựa trên sự tương tác, sở thích, mối quan tâm của người dùng dễ dẫn đến việc nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam được lan truyền với tốc độ nhanh chóng nếu được nhiều người dùng tương tác quan tâm... Ở chiều ngược lại, TikTok cũng thừa nhận các hành vi vi phạm tại Việt Nam và có biện pháp khắc phục cụ thể qua việc chặn, gỡ tài khoản, kênh theo yêu cầu của cơ quan quản lý đồng thời cải tiến một số thuật toán.

Dù TikTok đã có một số thay đổi trong thuật toán nhằm ngăn chặn các nội dung chống phá Ðảng, Nhà nước Việt Nam tuy nhiên để đối phó với bộ lọc của TikTok, một vài đối tượng xấu bắt đầu sử dụng chiêu trò soạn thảo các văn bản chống phá chế độ, bôi nhọ lãnh tụ trên nền video thay vì lồng ghép hình ảnh, âm thanh hay thể hiện ở phần ghi chú nội dung như trước đây. Do đó, số lượng video chống phá tuy có chiều hướng giảm nhưng chưa thực sự triệt để. Bên cạnh đó, TikTok chưa có động thái trong việc ngăn chặn, giảm các luồng thông tin tiêu cực. Các thuật toán liên tục gợi ý hàng loạt xu hướng video nhảm nhí phản cảm. Nhiều video có hình ảnh, nội dung, chứa bình luận xâm phạm quyền trẻ em cũng liên tục được chia sẻ trên mạng xã hội này.

Ðáng chú ý, hiện tượng đăng tải và chia sẻ các video ngắn chứa nội dung xấu, độc không chỉ xuất hiện trên nền tảng TikTok mà lan rộng sang nhiều nền tảng Facebook Reel, YouTube Short, Instagram Reel. Trong đó, một phần nguyên nhân đến từ việc các ứng dụng video ngắn này có rất nhiều tính năng, công cụ, thuật toán tương đồng với TikTok, thậm chí cho phép người dùng đăng tải, chia sẻ đồng thời trên nhiều nền tảng. Một số mạng xã hội lớn không hề giấu giếm việc họ đang phát triển các thuật toán gây nghiện giống như TikTok.

Ðiều đáng nói là phần lớn ứng dụng video ngắn trên không gian mạng hiện nay có chính sách và biện pháp quản lý vô cùng lỏng lẻo. Trong đó, có thể điểm tên một số ứng dụng như Bigo Live, Likee. Cả hai ứng dụng video ngắn này đều bị cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia cáo buộc chứa các nội dung không phù hợp với trẻ em, bên cạnh các rủi ro về dữ liệu cá nhân.

Bên cạnh đó, các kho phần mềm trực tuyến còn chứa rất nhiều ứng dụng video ngắn đến từ các nhà phát triển không rõ nguồn gốc. Trong số này, có không ít ứng dụng ngang nhiên quảng cáo các tính năng khiêu dâm, gợi dục để câu kéo người sử dụng. Số khác thu hút người dùng ứng dụng bằng chiêu trò xem video ngắn để nhận tiền ảo, có thể quy đổi ra tiền mặt. Không chỉ vậy, một số nhà phát triển của bên thứ ba cũng cung cấp các phần mềm, ứng dụng cho phép tải về các video ngắn từ mạng xã hội. Ðây được xem là công cụ giúp đối tượng xấu có thể nhanh chóng lưu trữ các video độc hại, vi phạm bản quyền trước khi nhà cung cấp dịch vụ phát hiện và xóa bỏ những nội dung này.

Hầu hết các ứng dụng video ngắn đều là các nền tảng xuyên biên giới nên rất khó xác định đối tượng nào trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, cung cấp các dịch vụ. Bởi lẽ công ty chủ quản, pháp nhân đại diện, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội của các nền tảng này thường được đặt tại các quốc gia khác nhau. Ðây chính là lý do khiến việc phát hiện, xử lý sai phạm đối với các nền tảng video ngắn không hề dễ dàng.

Minh chứng rõ nhất là việc Bộ Thông tin và Truyền thông phải kéo dài thời gian kiểm tra toàn diện TikTok so với dự tính ban đầu khi phát hiện đơn vị cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam là TikTok Pte.Ltd (TikTok Singapore) chứ không phải là công ty TikTok và văn phòng TikTok tại Việt Nam. Tương tự, một số ứng dụng như Likee, Bigo Live có hỗ trợ đa ngôn ngữ, bao gồm tiếng Việt và được phát hành trên nền tảng phân phối kỹ thuật số Appstore, CHPlay tại Việt Nam nhưng đơn vị cung cấp dịch vụ trực tiếp lại có trụ sở tại Singapore, còn công ty mẹ có trụ sở tại Trung Quốc. Theo chính sách của hai ứng dụng này, các vấn đề pháp lý và tranh chấp chỉ được giải quyết theo quy định của pháp luật Singapore.

Thực tiễn này cho thấy việc quản lý các nền tảng video ngắn tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Do đó, các cơ quan chức năng cần có những biện pháp tổng thể trong cấp phép và quản lý, đưa ra biện pháp phối hợp với các nền tảng video ngắn nói riêng, mạng xã hội nói chung trong ngăn chặn các nội dung xấu, độc, bao gồm các quy định pháp luật, chế tài yêu cầu các mạng xã hội phải chứng minh và cam kết không gây hại cho người sử dụng. Ðồng thời cần đưa ra các hình phạt thích đáng đối với đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội vi phạm những quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.

Mới đây, tại dự thảo Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đề xuất nhiều nội dung quan trọng, nhấn mạnh đến việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin xuyên biên giới cho người dùng tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến Việt Nam. Một điểm đáng lưu ý là dự thảo cũng đề cao quyền lợi chính đáng của người dùng mạng xã hội khi yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới phải có bộ phận chuyên trách giải quyết khiếu nại và phản hồi của người dùng mạng Việt Nam.

Theo đó, "trong thời gian 48 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại của người dùng Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp thông tin xuyên biên giới phải xử lý bằng biện pháp tạm khóa các nội dung, dịch vụ, ứng dụng bị khiếu nại có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và thực hiện gỡ bỏ nội dung, dịch vụ, ứng dụng khi có thông tin xác minh vi phạm theo quy định tại khoản 1 Ðiều 8 Luật An ninh mạng, khoản 1 Ðiều 5 Nghị định này" (điểm h, khoản 3, Ðiều 26 Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 72/2013/NÐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng và Nghị định 27/2018/NÐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 72/2013/NÐ-CP). Ðây là quy định quan trọng phù hợp với thực tế vì cho đến nay hầu hết mạng xã hội xuyên biên giới tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc tháo, gỡ các nội dung xấu, độc theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

Trong trường hợp người xem phản ánh nội dung vi phạm, các nền tảng này chỉ tiến hành ẩn video ấy với chính người dùng đó. Khi các nội dung này được hiện thực hóa, hiện tượng "né tránh pháp luật" của các mạng xã hội xuyên biên giới nói chung, ứng dụng video ngắn nói riêng chắc chắn sẽ được giải quyết triệt để. Tuy nhiên về lâu dài, chính phủ các quốc gia cần thông qua những hiệp ước, cơ chế hợp tác chung nhằm quản lý có hiệu quả các nền tảng xuyên biên giới như TikTok, Facebook, YouTube.

Ngày 25/8/2023, Ðạo luật Dịch vụ kỹ thuật số (DSA) và Ðạo luật Thị trường kỹ thuật số (DMA) của Liên minh châu Âu (EU) chính thức có hiệu lực, hướng đến mục tiêu bảo đảm an toàn cho người dùng trực tuyến và ngăn chặn việc lan truyền nội dung độc hại vừa bất hợp pháp vừa vi phạm điều khoản dịch vụ của nền tảng xuyên biên giới. Theo đó, có khoảng 20 nền tảng trực tuyến, bao gồm các ứng dụng chia sẻ video đã cam kết tuân thủ các quy định mới của EU. Ðây có thể xem là một bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và các quốc gia trong khu vực đối với việc liên kết để phòng, chống các tác hại từ nền tảng video ngắn nói riêng, mạng xã hội nói chung.

Song song với quá trình rà soát, bổ sung quy định về quản lý các nền tảng cung cấp thông tin xuyên biên giới, cần tiếp tục tuyên truyền nâng cao ý thức người dùng các ứng dụng video ngắn để tạo "sức đề kháng" trước các nội dung bẩn; khuyến khích người dùng phản ánh về các video vi phạm pháp luật nhà nước, vi phạm chính sách cộng đồng của mạng xã hội bằng cách gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến cơ quan chức năng...

(Nguồn: Báo Nhân dân)