Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Đừng để điển hình tiên tiến trở thành “ngôi sao cô đơn sợ nói về mình”

        Thi đua là để đào tạo, rèn luyện và xây dựng con người mới, khen thưởng của người này là “cú hích” cho người khác cố gắng khắc phục khó khăn, cùng “chạy đua” để tiếp tục đi lên. Nên có thể ví thi đua là gieo trồng thì khen thưởng là gặt hái, cả hai đều là động lực thúc đẩy nhau cùng tiến bộ. Nếu chỉ thi đua mà không khen thưởng thì phong trào thi đua không thể phát triển mạnh. Vậy nên, nếu việc bầu chọn danh hiệu thi đua không đúng, không có giá trị nêu gương, sẽ hình thành tư tưởng bình quân chủ nghĩa, làm cho phong trào thi đua trở thành hình thức, không thực chất, còn những điển hình tiên tiến (ĐHTT) thì trở thành “ngôi sao cô đơn” sợ và ngại khi nói ra những thành tích của mình, vì chưa thực sự xứng đáng. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết nội bộ.

          Xuất phát từ việc “gieo trồng” chưa đúng hướng

        Việc phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng ĐHTT là biện pháp thực tiễn, lấy quần chúng để động viên quần chúng, lấy phong trào để nuôi dưỡng, thúc đẩy phong trào. Phong trào thi đua nếu không có ĐHTT thì phong trào đó không có sức sống và ngược lại, có ĐHTT mà không có phong trào thi đua thì những điển hình đó cũng không có cơ hội được tôn vinh, nhân rộng để mọi người biết và học tập. 

        Việc phát hiện, nhân rộng các ĐHTT trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội, học tập lao động sản xuất, chiến đấu… là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu không thể thiếu trong các phong trào thi đua yêu nước. 

        Tuy nhiên, do chưa nhận thức sâu sắc quan điểm này, nên vẫn còn những cấp ủy, tổ chức Đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng ĐHTT mới chỉ để ở mức tuyên dương, chứ chưa phải để mọi người noi theo mà học tập, phấn đấu vượt lên.

        Cụ thể là quan niệm về ĐHTT của nhiều địa phương, đơn vị hiện vẫn chưa rõ ràng, còn nhầm lẫn giữa điển hình với người có thành tích, giữa xây dựng điển hình với xây dựng đơn vị điểm, do vậy, có đơn vị đặt ra yêu cầu quá cao cho điển hình, cứ nghĩ điển hình thì phải toàn diện, phải liên tục đạt được Danh hiệu Chiến sĩ Thi đua, thế là cấp ủy, người cán bộ chủ trì dồn sức lãnh đạo, chỉ đạo, nhân lực, vật lực cho đơn vị được chọn, cho những cá nhân có điều kiện thuận lợi để xây dựng điển hình. 

        Nhưng thực tế của phong trào thi đua cho thấy, có thể có điển hình toàn diện, nhưng cũng có điển hình từng mặt, vì không nhất thiết phải toàn diện, điển hình không phải là tích lũy, là phép cộng tất cả các danh hiệu thi đua, khen thưởng hay thành tích.

        Cùng với đó, vẫn còn tình trạng lựa chọn điển hình chưa thật sự xứng đáng, không thực chất, nhưng vì “bó đũa chọn cột cờ”, vì thành tích chung của cơ quan, nên cố tôn lên, tô vẽ thêm cho thành điển hình, mà bỏ qua quan điểm “lấy hiệu quả công việc làm thước đo phẩm chất năng lực của tập thể, cá nhân”, thay vào đó là cả nể, cảm tính, nên thiếu sức thuyết phục. 

        Thế nên ở đâu đó, nơi này nơi kia vẫn còn hiện tượng bình bầu, khen thưởng luân phiên hoặc tập trung ưu tiên cho một số cá nhân sắp đến kỳ nâng lương trước thời hạn, mà không quan tâm đến kết quả công việc thực tế, dẫn đến nhiều cá nhân nhận Danh hiệu Chiến sĩ Thi đua xong, không muốn nhắc đến vì ngại, vì chưa thực sự xứng đáng. 

        Những tấm bằng khen được trao mang về cất kỹ, với mục tiêu “méo mó” là dùng làm báo cáo, khai hồ sơ, có ý nghĩa trong việc đề bạt, bổ nhiệm, tăng lương. Thậm chí có những đơn vị đạt được danh hiệu ĐHTT, sau một thời gian ngắn thì người đứng đầu ở đơn vị đó bị bắt do vi phạm pháp luật, như trường hợp nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội là một ví dụ.

        Với cách tổ chức phong trào thi đua rồi bình xét khen thưởng kiểu đó, thì đương nhiên là không đem lại hiệu quả, không phát hiện và nhân rộng được những “hạt giống đỏ”, không làm cho những bông hoa đẹp trong vườn hoa thi đua được nở rộ, không tạo ra động lực năng lượng tích cực cho đất nước.

        Đây cũng là nguyên nhân lý giải về câu hỏi và những băn khoăn, trăn trở của rất nhiều nhà báo, cơ quan truyền thông báo chí hiện nay là: “Tìm tòi để viết, để phê phán, đấu tranh những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống hàng ngày đã khó, nhưng để tìm viết và tuyên truyền được những ĐHTT còn khó hơn”, bởi vì họ luôn từ chối, rất sợ và ngại nói về bản thân mình, lý do không phải vì ĐHTT khiêm tốn, không muốn nói về bản thân, mà chính những hành động việc làm của ĐHTT chưa có gì nổi bật, nên dù có muốn cũng khó có cái để nói, để chia sẻ và lan tỏa rộng ra cộng đồng. 

        Chúng ta phải thừa nhận rằng thành tích là điều tốt đẹp, nên thi đua để đạt thành tích cao hơn không phải là điều xấu. Vấn đề ở chỗ, thành tích đạt được phải là thành tích thật, kết quả của những nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, những trăn trở, suy tư không ngừng nghỉ, cùng cả những hy sinh lợi ích cá nhân để đem lại lợi ích cho cộng đồng và tập thể, có như thế động lực thi đua mới nảy nở, đơm hoa kết trái bằng hành động tự giác của mỗi người. Để làm được điều đó, cần phải khắc phục được tình trạng nhân rộng ĐHTT chung chung, mà cần có kế hoạch cụ thể, cách làm bài bản, thực chất.

        Phải thực chất trong xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến

        Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác thi đua. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, 3 năm sau, trong bộn bề công việc, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn gay go, quyết liệt nhưng ngày 11/6/1948, Người đã viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”. Khoảng bốn tháng sau, tháng 10/1948, trong một phiên họp Hội đồng Chính phủ, Người nhắc nhở, trong cuộc vận động thi đua phải tránh xu hướng “bàn giấy”, “công chức hoá". 

        Người căn dặn, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua, từ đó mà phấn đấu làm tốt. Vậy nên, để tránh các biểu hiện hình thức trong thực hiện phong trào thi đua, trước tiên các cơ quan, đơn vị, địa phương phải xác định đổi mới nội dung và hình thức theo hướng thực chất hơn, trước hết các phong trào thi đua chỉ được phát động, triển khai khi đã xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, đối tượng, nội dung, biện pháp, phạm vi tổ chức phong trào. 

        Trong đó, nội dung quan trọng nhất để tổ chức phong trào thi đua là phải bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương, đơn vị để đề ra các phong trào thi đua hoàn thành toàn diện, vượt mức các nhiệm vụ, chỉ tiêu trong chương trình, kế hoạch đề ra hàng năm hoặc từng thời điểm cụ thể. Phong trào thi đua cần hướng về cơ sở và người trực tiếp công tác, học tập, lao động, sản xuất và chiến đấu, là lực lượng đông đảo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức, đơn vị. 

        Với các phong trào lớn, phong trào mới, nhiệm vụ đề ra nhiều cần nghiên cứu, xem xét việc chọn, chỉ đạo đơn vị thực hiện điểm trong thời gian nhất định, để rút kinh nghiệm từ chỉ đạo điểm trước khi nhân rộng phong trào.

        Để tổ chức phong trào thi đua đạt hiệu quả, cần coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng xây dựng các tập thể, cá nhân ĐHTT. Soi chiếu vào lời chỉ dạy của Bác để tìm những gương ĐHTT trong cuộc sống hàng ngày đâu có khó? Họ chính là những con người lao động thầm lặng, cần mẫn ngày đêm, giản dị nhưng lại làm công việc rất có ý nghĩa, tô đẹp cho bức tranh cuộc sống, như những người công nhân vệ sinh môi trường, những thầy cô giáo cần mẫn với học sinh thân yêu, những y, bác sỹ tận tụy với người bệnh, những người nông dân cần mẫn trên cánh đồng để cho mùa vàng bội thu, hay những chiến sĩ Quân đội, Công an ngày đêm chắc tay súng để bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc… rất phong phú và đa dạng, bao trùm trên tất cả các lĩnh vực các ngành nghề. 

     Tuy nhiên để phát hiện những nhân tố nổi trội, xây dựng, nhân rộng được những ĐHTT, cơ quan, đơn vị, địa phương phải gắn với các phong trào thi đua trong các lĩnh vực cụ thể, xây dựng kế hoạch rõ ràng. Nội dung của kế hoạch phải thể hiện rõ được các tiêu chuẩn, tiêu chí gương ĐHTT, như hiệu quả thực tế công việc, sự tích cực tham gia hoạt động của các tổ chức đoàn thể, chính trị-xã hội; khi đã phát hiện được cá nhân hoặc tập thể có thành tích xuất sắc, tiêu biểu, cần thường xuyên theo dõi, để bồi dưỡng điển hình. 

       Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm chứng các mô hình, nhân tố mới, kịp thời tháo gỡ, giải quyết những vấn đề phát sinh, vướng mắc; tổ chức đánh giá, lựa chọn những mô hình tiêu biểu, xuất sắc có hiệu quả cao, có sức lan tỏa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để biểu dương, khen thưởng. 

      Thường xuyên tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương để nghe ĐHTT báo cáo kinh nghiệm, phương pháp, cách làm đạt hiệu quả trong phong trào thi đua để học tập làm theo. 

         Cùng với đó, tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá đúng những kết quả đã đạt được, chỉ ra những mặt còn tồn tại, hạn chế và hướng khắc phục. Qua đó rút ra cách làm hay, kinh nghiệm tốt để bồi dưỡng, nhân rộng các ĐHTT. Có như thế, ĐHTT sẽ không trở thành những “ngôi sao cô đơn”, sợ và ngại khi nói về thành tích của bản thân mình.


Sưu tầm

CIVICUS và cái nhìn lệch lạc về xã hội dân sự ở Việt Nam

        CIVICUS là tên viết tắt của tổ chức “Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân”, một tổ chức phi chính phủ được thành lập ở Nam Phi. Những năm gần đây, CIVICUS liên tục có những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, sai lệch bản chất về vấn đề dân chủ, nhân quyền nói chung, về xã hội dân sự ở Việt Nam nói riêng. Mới đây, CIVICUS lại đưa ra cái gọi là “xếp hạng về không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ”, trong đó đánh giá lệch lạc, méo mó, thậm chí xuyên tạc vấn đề xã hội dân sự ở Việt Nam.

        Xã hội dân sự và xã hội dân sự ở Việt Nam

        Hiện nay có rất nhiều khái niệm về xã hội dân sự. Theo một số học giả và tổ chức nước ngoài, khái niệm xã hội dân sự xuất hiện sớm nhất ở nước Anh, và được hiểu là việc những con người sống trong cộng đồng. Theo lý thuyết của Scottish (thế kỷ XVIII), xã hội dân sự có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán. 

        Đến thế kỷ XIX, Hegel mô tả xã hội dân sự như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, xã hội dân sự và nhà nước, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận... Còn theo CIVICUS, xã hội dân sự là "diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung".

        Trên cơ sở quan điểm của C.Mác, cùng với sự tổng kết các quan điểm về xã hội dân sự, Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân đã khái quát về xã hội dân sự: Xã hội dân sự là tập hợp các mối quan hệ (và thiết chế tương ứng đi kèm) giữa các cá nhân trong khuôn khổ của một quốc gia-dân tộc (Nation-State), được xác định với những đặc tính cơ bản như: Tính tự nguyện, tính phi lợi nhuận và tính tự quản. Xã hội dân sự được xem là lĩnh vực nằm cạnh và độc lập với thị trường và nhà nước.

        Tuy có nhiều khái niệm khác nhau, song điểm chung của các khái niệm đó là nếu không có tổ chức phi chính phủ thì không thể hình thành xã hội dân sự. Hiện nay tại Việt Nam có 3 loại hình tổ chức phi chính phủ phổ biến là: Các tổ chức phi chính phủ mang tính quốc gia; tổ chức phi chính phủ mang tính quốc tế và tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ. Theo thống kê đến cuối năm 2022 đã có hơn 900 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ và hoạt động tại Việt Nam và hơn 101.000 tổ chức phi chính phủ Việt Nam đã và đang hoạt động.

        Ngoài ra, để đáp ứng đòi hỏi các hiệp định thương mai tự do (FTA), Việt Nam đã sửa đổi Bộ luật Lao động, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, theo đó người lao động có quyền thành lập, tham gia các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức của người lao động theo quy định của pháp luật. Điều 25 Hiến pháp quy định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện quyền này do pháp luật quy định”. 

        Để cụ thể hóa Hiến pháp và các luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, ngày 21/4/2010 về Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 93/2019/NĐ-CP, ngày 25/11/2019 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Nghị định 80/2020/NĐ-CP, ngày 08/7/2020 về Quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam; Nghị định số 58/2022/NĐ-CP, ngày 31/8/2022 về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam... 

        Như vậy, có thể thấy pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền lập hội, nếu các hội ấy thực sự vì quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và tuân thủ quy định pháp luật.

        Cái nhìn lệch lạc của CIVICUS

        Trở lại cái gọi là “xếp hạng về không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ”, trong đó CIVICUS xếp Việt Nam vào danh sách có không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ “bị đóng kín” hay “closed”. CIVICUS cho rằng: “Tại Việt Nam, hàng trăm trang web đã bị chặn và chính quyền đã gây áp lực lên các nền tảng truyền thông xã hội để tăng cường kiểm duyệt các bài đăng chống Nhà nước”. 

        Ở Việt Nam, hơn 100 các nhà bảo vệ nhân quyền vẫn đang bị giam cầm với các cáo buộc bịa đặt là “Tuyên truyền chống Nhà nước” và “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”. Gần đây hơn, điều luật “Trốn thuế” đã được sử dụng để bỏ tù những người bảo vệ nhân quyền...

        Đây thực sự là một cái nhìn lệch lạc, méo mó về xã hội dân sự ở Việt Nam. Nếu nói về xã hội dân sự ở Việt Nam thì Mặt trận Tổ quốc là tổ chức xã hội dân sự lớn nhất. 

        Cùng với đó là các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc; các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp như: Hội Luật gia Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Vô tuyến-Điện tử Việt Nam... 

        Các tổ chức này đã có nhiều đóng góp trong việc phát huy dân chủ, xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật và thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chủ động tham gia cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ cho hoạt động của Chính phủ trong việc phân phối và nâng cao chất lượng dịch vụ, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo..., góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

        Tuy nhiên, trên danh nghĩa là tổ chức nhân quyền, CIVICUS lại không quan tâm đến thực tế hoạt động của các tổ chức nói trên để từ đó có những xem xét, đánh giá chân thực, đúng đắn về xã hội dân sự ở Việt Nam, mà chỉ tập trung bảo vệ một số tổ chức, cá nhân đội lốt xã hội dân sự đã và đang có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. 

        Điển hình như phạm nhân Trương Văn Dũng bị phạt tù về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự lại được CIVICUS gắn cho cái mác là “nhà hoạt động vì quyền đất đai” cho có vẻ là xã hội dân sự. Hoặc bị cáo Phan Sơn Tùng bị tuyên phạt 6 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự nhưng CIVICUS gắn cho cái mác là nhà hoạt động. CIVICUS cũng thừa nhận Phan Sơn Tùng có “chủ trương thành lập nhóm đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền”...

        Không cho phép đội lốt xã hội dân sự để chống phá

        Có thể thấy, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc thành lập, củng cố các tổ chức đội lốt xã hội dân sự là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. 

        Mục tiêu của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề xã hội dân sự tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

        Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “xã hội dân sự độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “xã hội dân sự độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước.

        Thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “xã hội dân sự” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của xã hội dân sự, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. 

     Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “xã hội dân sự”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”...

        Để góp phần phòng, chống âm mưu lợi dụng vấn đề xã hội dân sự chống phá Đảng và Nhà nước, chúng ta cần đề cao cảnh giác, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tiến hành các hoạt động tuyên truyền về âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề xã hội dân sự để tác động chuyển hóa chính trị. Đảng, Nhà nước cần ban hành các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật phù hợp, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội phù hợp với định hướng phát triển đất nước. Tăng cường công tác quản lý các tổ chức xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng. Đặc biệt, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc xã hội dân sự.

Sưu tầm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

   Để ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực của những thủ đoạn trên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, Quân đội, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

     Một làtăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch. Nội dung cần tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về nền tảng tư tưởng, lý luận, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm cán bộ, chiến sĩ, mối quan hệ đoàn kết quân dân. Đồng thời, phân tích luận giải làm rõ thực chất đằng sau luận điệu của các thế lực thù địch; đâu là thủ đoạn mới, tính chất nguy hại của nó là gì? để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ cần tiến hành các biện pháp gì, v.v. Qua đó, tạo sức “đề kháng”, khả năng “tự miễn dịch” đối với các tổ chức và cá nhân trước các thông tin xấu độc của các thế lực thù địch; trang bị cho họ những kỹ năng nhận biết và các giải pháp cơ bản để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

     Hai làphát huy vai trò của các cơ quan chức năng cung cấp thông tin có định hướng rõ ràng. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh việc bị lợi dụng, tạo cớ, xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải “chủ động”, “tiến công” trong định hướng thông tin. Để thực hiện tốt việc này, các cơ quan tuyên giáo, thông tin truyền thông từ Trung ương đến cơ sở cần phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể Trung ương, địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí trong cung cấp, định hướng thông tin, bảo đảm thông tin một nguồn, một chiều, nhanh, chính xác, kịp thời; khắc phục “khoảng trống” hoặc sự chậm trễ trong cung cấp thông tin,… làm sao để thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời đến với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, luôn giữ vai trò chủ đạo, “dòng chủ lưu” trong định hướng dư luận xã hội.

    Ba làphát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây là biện pháp quan trọng nhằm khơi dậy tiềm năng và sức mạnh tổng lực của toàn xã hội trong tổ chức đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Để phát huy hiệu quả, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ, công cụ, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.

    Bốn làkết hợp chặt chẽ các nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức đấu tranh phù hợp với thực tiễn tình hình. Đây là biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các loại hình đấu tranh nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. Để làm được điều đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh công khai trên báo chí với đấu tranh trực diện trên in-tơ-nét, mạng xã hội; đấu tranh trên báo chí, mạng xã hội với đấu tranh trên thực địa; giữa đấu tranh ngăn chặn sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài với giữ vững sự ổn định từ bên trong nội bộ; giữa đấu tranh chính trị với sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, bóc gỡ, vô hiệu hóa một số trang mạng, blog, Facebook phản động,… nhằm tạo ra một thế trận vững chắc trong tổ chức đấu tranh trên không gian mạng hiện nay.

     Mỗi nhiệm vụ, giải pháp nêu trên có vị trí, vai trò, nội dung và yêu cầu thực hiện khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Do vậy, trong chỉ đạo tổ chức đấu tranh, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ tham mưu giúp việc cần có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh giá tình hình, tổ chức đấu tranh hiệu quả nhất, kịp thời nhận diện và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, giữ vững ổn định đời sống xã hội.

THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn chống phá khác nhau: Tiến hành phân rã về tư tưởng, lý luận bằng cách đan cài những quan điểm mác xít và giả danh mác xít, đúng sai lẫn lộn làm cho người đọc mất phương hướng, không phân biệt được “đúng – sai, thiện – ác” móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng.

Phát tán tài liệu có nội dung sai trái, viết thư xuyên tạc về tình hình thực tế ở Việt Nam gửi các tổ chức quốc tế; trả lời phỏng vấn đài, báo nước ngoài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, cổ xúy cho đấu tranh tự do; điều trần về tình hình tự do kiểu phương Tây; giới thiệu sách báo, hồi ký, phát tán các video clip có nội dung xấu độc, nhằm xuyên tạc tình hình chính trị, công tác đấu tranh, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép với Việt Nam, kích động nhân dân, nhất là giáo dân đòi “tự do”, “dân chủ”; gây dựng nhiều tổ chức như: Tổ chức phản động Việt Tân, Đảng Đại Việt ở nước ngoài câu kết với một số linh lục phản động; mạng lưới blogger Việt Nam, Liên đoàn Quốc tế vì nhân quyền (FIDH), một số nhân vật cực hữu trong Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, các nhân vật cực hữu trong các chính phủ của một số nước; các đài phát thanh VOA, BBC,RFI… để chống phá cách mạng ta.

Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; xuyên tạc về bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn them đường dẫn link, đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu, độc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ, mất cảm giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội.

Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội. Lợi dụng, khoét những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.

Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền. Một số phần tử cơ hội trong nước và nước ngoài đã soạn thảo các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngõ”, “thu góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh) để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Bằng các câu từ có tính thuyết phục mà thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là “những ý kiến tâm huyết”, “những góp ý chân thành”, các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thống tin thất thiệt, tuyên truyền, xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh, trật tự, kích động bạo loạn. Từ không gian mạng, các đối tượng phản động hướng dẫn cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, phát trực tiếp (livestream) các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện đông người,.. để kêu gọi cộng đồng mạng và những đối tượng cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, tạo điểm nóng.

ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Âm mưu chống phá cơ bản và lâu dài của các thế lực thù địch là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận nhằm đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống tinh thần của nhân dân ta, tiến tới xay chuyển quỹ đạo phát triển của Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là âm mưu nguy hiểm, thâm độc liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

NHẬN THỨC VỀ THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Các thế lực thù địch là “tất cả những ai, cá nhân hay tổ chức, nhà nước hay tổ chức phi chính phủ, hợp pháp hay bất hợp pháp, ở trong nước hay nước ngoài… với mục đích chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hoạt động chống phá ta trên lĩnh vực tư ưởng, chính trị,… Các thế lực thù địch trên thực tế là những phần tử hiếu chiến ở phương Tây, ngoài ra còn bao gồm cả một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài,…”

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

 Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

KHẲNG ĐỊNH BẢN SẮC VÀ NÂNG TẦM ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM

 Lần đầu tiên, Liên hoan phim quốc tế TP. Hồ Chí Minh (HIFF) sẽ được tổ chức vào năm 2024; sự kiện này hướng tới đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành thành phố điện ảnh, đồng thời kỳ vọng góp phần nâng tầm “nghệ thuật thứ bảy" của Việt Nam.

Hướng tới thành phố điện ảnh
Liên hoan phim quốc tế thành phố Hồ Chí Minh (HIFF) lần thứ nhất - năm 2024 sẽ diễn ra từ ngày 6 - 13.4.2024, do UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, Sở Văn hóa và Thể thao thành phố phối hợp với các đơn vị thực hiện. HIFF 2024 là sự kiện quan trọng, không chỉ đối với thành phố Hồ Chí Minh mà còn đối với điện ảnh Việt Nam, bởi đây là trung tâm điện ảnh sôi động của cả nước, với hơn 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Theo số liệu của Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2022, thành phố có 56 rạp, cụm rạp chiếu phim, trong đó có 5 doanh nghiệp dẫn đầu và nắm giữ 98% thị phần chiếu phim Việt Nam. Đây cũng là địa phương chiếm thị phần phim ảnh lớn nhất nước với khoảng 40%. Hệ thống phim trường, phương tiện kỹ thuật của nhà nước và tư nhân tương đối đáp ứng điều kiện làm phim… Những năm gần đây xuất hiện một số nhà làm phim trẻ khẳng định được năng lực sáng tạo, khả năng tiếp nhận chuyển giao thế hệ thông qua những bộ phim được giới chuyên môn đánh giá cao, được công chúng đón nhận.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Thanh Thúy cho biết: Ban Tổ chức mong muốn HIFF 2024 sẽ là cầu nối cho các nhà làm phim, diễn viên, khán giả trong và ngoài nước giao lưu, học hỏi và hợp tác về điện ảnh. HIFF 2024 cũng là cơ hội giới thiệu các tác phẩm điện ảnh Việt Nam có chất lượng và giàu sáng tạo; khẳng định vị thế và uy tín của điện ảnh Việt Nam nói chung, TP. Hồ Chí Minh nói riêng trên bản đồ điện ảnh thế giới.
Với định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, TP. Hồ Chí Minh hướng tới tập trung đầu tư cho điện ảnh, trong đó có HIFF, với tham vọng trở thành trung tâm điện ảnh của Đông Nam Á, thu hút đầu tư vào lĩnh vực này. Đặc biệt là sau lứa đạo diễn Việt kiều về nước, chúng ta đang có “thế hệ vàng” của điện ảnh Việt Nam gồm các đạo diễn, nhà sản xuất phát triển ở trong nước. Theo Giám đốc điều hành HIFF 2024 Phạm Minh Toàn, HIFF nằm trong chiến lược đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành thành phố điện ảnh (Film City), gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO (UCCN) vào năm 2025.
Gieo mầm và nâng đỡ tài năng điện ảnh
HIFF gồm 5 hạng mục tranh giải chính và các giải thưởng khác, trong đó có hạng mục Phim về đề tài TP. Hồ Chí Minh hay nhất. Liên hoan cũng sẽ được tổ chức như một lễ hội ở nhiều địa điểm tại TP. Hồ Chí Minh, gồm lễ khai mạc, lễ trao giải; triển lãm công nghiệp nội dung và công nghiệp điện ảnh; các hội thảo chuyên đề; giao lưu với người hâm mộ; các show điện ảnh (cine show)...
Với nhiều người làm việc trong lĩnh vực điện ảnh, HIFF là sự kiện được mong chờ và kỳ vọng. Theo nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm, “trên thế giới có nhiều liên hoan phim. HIFF sinh sau đẻ muộn nhưng có cơ hội tham khảo, rút kinh nghiệm từ các liên hoan phim trong nước và quốc tế để tìm ra tiếng nói, bản sắc, câu chuyện riêng, cạnh tranh, tìm vị thế cho mình. Nếu chỉ là một lễ hội vui đem phim đến chiếu rồi lẫn trong vô vàn liên hoan phim khác, không để lại dấu ấn gì thì sẽ rất lãng phí”.
Còn Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh (TPD) Nguyễn Hoàng Phương kỳ vọng HIFF sẽ là nơi gieo mầm tài năng, nâng đỡ những nhà làm phim trẻ, tạo cho họ cơ hội làm phim, từ đó góp phần phát triển điện ảnh Việt Nam. "Việt Nam đang thiếu sân chơi cho các nhà làm phim trẻ, phim ngắn. Thế hệ làm phim trẻ năng động gửi tác phẩm đến các liên hoan phim quôc tế nhiều, tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có liên hoan phim dành cho phim ngắn, việc hỗ trợ tôn vinh nhà làm phim trẻ cũng còn hạn chế".
Cùng ý kiến, đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp mong muốn: “Liên hoan phim cần mang lại lợi ích cho người làm phim và công chúng yêu điện ảnh. Các liên hoan phim lớn có thể mang lại nguồn thu lớn về kinh tế, nhưng nếu chạy theo mục đích kinh tế để định vị bản thân chưa chắc đã phù hợp”.
Thế giới có tới 10.000 liên hoan phim, bởi vậy, theo đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp, quan trọng chúng ta nhìn vào nội lực để thấy cần làm gì cho nền điện ảnh, chứ không phải vì Việt Nam cần có một liên hoan! Dưới góc độ nhà làm phim, liên hoan phim là nơi có thể giới thiệu, bán phim; tìm kiếm cơ hội hợp tác nội địa, khu vực và thế giới. Không chỉ nhà làm phim trẻ mới cần cơ hội cất lên tiếng nói, nhà làm phim kỳ cựu cũng cần điều đó để đi tiếp...
Kết nối nhà làm phim và khán giả
Mỗi liên hoan phim quốc tế được coi là sự kiện có giá trị lớn giúp giới làm phim và khán giả được sống trong bầu không khí điện ảnh, mở rộng phạm vi thưởng lãm những bộ phim chất lượng được tuyển chọn từ nhiều quốc gia. Khán giả được gặp gỡ trực tiếp diễn viên và nhà làm phim, từ đó hiểu hơn công việc của những người đứng phía sau màn ảnh.
Đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp cho rằng, liên hoan phim phải làm cho người làm nghề tự hào về công việc và có cơ hội đi tiếp, làm cho công chúng yêu điện ảnh hơn. Không chỉ được chiếu phim, được hợp tác, người làm phim còn cần khán giả. Vì vậy, liên hoan phim thu hút càng đông khán giả, công chúng càng tốt.
Tuy vậy, để thu hút khán giả đến rạp chiếu là thách thức của các liên hoan phim hiện nay. Sau Covid-19, khán giả đã mất dần thói quen tới rạp, có xu hướng xem phim tại nhà qua ti vi hay thiết bị thông minh, doanh thu phòng vé một số quốc gia giảm tới 50% so với trước đại dịch. Bởi thế, liên hoan phim còn có vai trò góp phần kích cầu, xây dựng lại thói quen đến rạp của khán giả
Những khán giả đến liên hoan phim sẵn sàng bỏ tiền mua vé mong muốn được xem phim hay, chất lượng, được gặp gỡ nhà làm phim, diễn viên họ yêu mến. Bởi vậy, theo ông Phạm Minh Toàn, để thu hút khán giả, câu chuyện đặt ra vẫn phải là tuyển chọn được những phim tốt và tập trung truyền thông. Ban Tổ chức HIFF dự định tổ chức các câu lạc bộ nhà phê bình phim trẻ, tình nguyện viên là những người yêu phim, giúp quảng bá, kết nối khán giả với điện ảnh. Bên cạnh vé mời dành cho người làm trong nghề, khán giả đại chúng sẽ trả mức phí tượng trưng, có hình thức ưu đãi nhằm thu hút công chúng tham dự…
“Khi chúng tôi làm tốt, đủ uy tín thì các nhà làm phim Việt Nam sẽ lựa chọn HIFF để quảng bá phim của mình thay vì tổ chức hoạt động phát hành phim riêng hay tham dự các liên hoan phim khác…” - ông Phạm Minh Toàn lạc quan./.
ST

NHẬN DIỆN ĐÚNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HỆN NAY

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang diễn ra ở nước ta và là một trong những vấn đề đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như sự lãnh đạo của Đảng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra một cách âm thầm trong mỗi cá nhân, con người cán bộ, đảng viên, khó nhận thấy. Vì thế, nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên cần tập trung và hướng đến cách thức phòng, chống là cơ bản.

Một là, nhận diện đúng nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Về nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên mang tính tổng hợp, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính. Sự xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên là do tác động từ khách quan, bên ngoài, đặc biệt là từ mặt trái cơ chế, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự mua chuộc, lôi kéo, v.v., của các thế lực thù địch hoặc những người mất mãn chính trị, v.v.. Vốn từ cái khách quan tác động, mà chủ quan của cán bộ, đảng viên không đủ sức đẩy lùi, loại bỏ diễn ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Không ít cán bộ, đảng viên vốn là trung kiên cách mạng trong chiến tranh, trong gian khổ, hết lòng vì Đảng, vì dân, nhưng trước tác động từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường không cưỡng lại được và rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cống hiến được bao nhiêu, nhưng với mục đích, động cơ cá nhân chủ động thực hiện tham nhũng, tiêu cực…và trượt dài, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cũng có những trường hợp, cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, thậm chí là bị khống chế, đe dọa khi đã vướng vào đường dây tham nhũng và cũng trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trường hợp Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) nhận hối lộ 253 lần với tổng số tiền là 42,6 tỷ đồng là một ví dụ điển hình của sự suy thoái, tha hóa, biến chất người cán bộ, đảng viên.
Với các nội dung trên cho thấy nguyên nhân chủ quan là chủ yếu và tập trung nhất là ở động cơ chạy theo lợi ích cá nhân. Bởi vì, tác động từ khách quan đến tất cả cán bộ, đảng viên, nhưng không phải ai cũng bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những cán bộ, đảng viên không vượt lên, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, sự cám dỗ của lợi ích cá nhân; coi lương tâm, danh dự là dẻ mạt thì sẽ trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, cách thức phòng, chống cũng tập trung vào giải quyết vấn đề nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong đó suy đến cùng là vấn đề gạt bỏ lợi ích cá nhân, ham muốn vật chất tầm thường.
Hai là, nhận diện đúng hiện tượng và bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay là phản ánh tính chất đấu tranh gay go, phức tạp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra bên trong mỗi của cán bộ, đảng viên một cách “thầm kín, khó nhận thấy” do được che giấu, ngụy trang che mắt rất kỹ. Giữa “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất. Hai mặt này quan hệ với nhau với nghĩa là cùng trong quá trình vận động. Sự khác nhau là ở “tự diễn biến” phải đến một mức độ nhất định mới xuất hiện “tự chuyển hóa”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”.
Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh giằng xé rất quyết liệt để giải quyết mâu thuẫn bên trong bản thân họ. Mâu thuẫn giữa giữ vững lương tâm trong sáng, danh dự với chấp nhận đánh mất danh dự mâu thuẫn giữa kiên định giữ vững mục tiêu, lý tưởng là cống hiến cho Đảng, cho nhân dân với chấp nhận xa rời, từ bỏ lý tưởng sống; mâu thuẫn giữa giữ vững, phát huy vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ, cống hiến của người công bộc của dân (cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh) với sự cám dỗ của hưởng thụ, sa đọa. Những mâu thuẫn trên trong tính chỉnh thể thống nhất và cùng là biểu hiện mâu thuẫn cơ bản giữa lợi ích xã hội, tập thể, cộng đồng với lợi ích cá nhân như trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đã xác định: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen…vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân”.
Ba là, nhận diện quá trình vận động từ thay đổi dần về lượng đến thay đổi về chất của “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình vận động đi từ thấp lên cao. Quá trình đó đi từ sự đơn giản trong nhận thức đến sự thỏa hiệp, nhượng bộ; đến động cơ có tính chủ đích vì lợi ích cá nhân; đến hành vi suy thoái, thậm chí là làm tay sai cho các thế lực thù địch phản lại Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Quá trình này đi từ đơn giản trong nhận thức về nhận quà biếu; ăn chia vặt đến chủ động liên thủ giữa các thành viên thực hiện lợi ích lớn hơn và hình thành “thói quen nhận phong bì”, bảo vệ lợi ích nhóm có chủ đích bằng các hình thức khác nhau và đến bị ràng buộc “cùng thuyền”, “có lợi mới làm” trong thực hiện tham nhũng.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lĩnh vực chính trị, xã hội thường bắt đầu từ chạy cấp, chạy chức, chạy nơi công tác, thậm chí chạy bằng, cấp đào tạo đến tham nhũng quyền lực và đến thực hiện lợi ích cá nhân bù đắp lại những chi phí tiêu cực trước đó. Ngoài ra, còn biểu hiện từ sự mất mãn chính trị, sự kèn cựa, đố kỵ cá nhân đến bắt mối, tiếp tay với những người tiêu cực, thậm chí còn tiếp tay cho thế lực thù địch để chống chế độ xã hội chủ nghĩa, chống Đảng, Nhà nước.
Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở lĩnh vực tư tưởng, văn hóa thường đi từ đơn giản trong tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội đến sự hoài nghi, dao động trong tư tưởng đến tiếp tay tuyên truyền không công cho địch bằng cách nói xấu Đảng, chế độ,v.v và đến bị ràng buộc, bị khống chế làm việc cho thế lực thù địch chống chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, nhận diện, đánh giá đúng tính chất phức tạp, nguy hiểm của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất khó phát hiện ra. Khi phát hiện ra thì quá muộn, bắt buộc phải xử lý theo đúng pháp luật của Nhà nước; kỷ luật của Đảng. Vì thế “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất nguy hiểm, một trong những nội dung then chốt của nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam; của sự nghiệp đổi mới; sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tổng hợp những nội dung trên tạo nên đặc điểm cũng như tính chất phức tạp của quá trình vận động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặc dù điểm xuất phát cho quá tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ nhận thức đến tình cảm, thái độ, niềm tin bị phai nhạt, đến hành vi tiêu cực, tham nhũng thực hiện lợi ích cá nhân, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta./.
ST

ANH HY SINH VÀO NGÀY 01 TẾT

 Đêm 30, rạng sáng 31/1/1968 (tức đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân), cả Sài Gòn rung chuyển bởi cuộc tấn công chớp nhoáng, thần tốc của các chiến sỹ Biệt động Sài Gòn – Gia Định do Bộ Chỉ huy miền Nam lãnh đạo.

Trong khi các đội của lực lượng Biệt động thành đang tấn công dữ dội vào Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ tổng tham mưu thì các tướng lĩnh của Việt Nam Cộng Hòa mới ráo riết chống trả, phòng bị.
Bộ Tư lệnh Hải quân được Bộ Chỉ huy xác định là một trong những mục tiêu trọng yếu. Do vậy, trước giờ ra trận, toàn bộ 16 đội viên của Đội 3 Biệt động Sài Gòn – Gia Định do ông Nguyễn Văn Lém (tự là Bảy Lốp) cùng nguyện chiến đấu cảm tử để giành thắng lợi cho cách mạng.
Sau khi chớp nhoáng dùng bộc phá đánh sập lô-cốt đầu tiên, toàn đội xung phong đánh chiếm các ngôi nhà bên trong Bộ tư lệnh Hải quân. Dù bất ngờ nhưng địch nhanh chóng chống trả quyết liệt, dùng tiểu pháo 20 ly, trung liên 12,7 ly, M79 bắn tới tấp vào các chiến sĩ Biệt động.
Do trục trặc trong việc truyền khẩu lệnh vào những phút chót, quân ta không có đủ vũ khí, rơi vào thế bị bao vây cả vòng trong vòng ngoài. Đến sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, 14 chiến sỹ của Đội 3 Biệt động thành vĩnh viễn nằm lại. Trong đó, đội trưởng Bảy Lốp là người hy sinh cuối cùng.
Theo những thông tin chúng tôi tìm hiểu được, ông Bảy Lốp không hy sinh ngay mà bị quân địch bắt giữ, sau đó giải đến đến Bộ Tư lệnh Cảnh sát dã chiến Việt Nam Cộng hòa. Đây cũng chính là thời điểm bức ảnh “hành quyết tại Sài Gòn” được chụp và công bố cho thế giới không lâu sau đó.
Theo một số tư liệu ghi lại, khi đến đường số 20 cũ (nay là đường Lý Thái Tổ, Ngã Bảy), Nguyễn Ngọc Loan lúc này là người điều động lực lượng Cảnh sát trong nội thành Sài Gòn cầm khăn lau mặt, vẫy tay ra hiệu cho lính tránh đường. Không nói một lời, ông ta đến bên chiến sỹ biệt động bị trói 2 tay, quăng điếu thuốc xuống đường rồi rút súng nhắm thẳng vào thái dương người tù binh.
Tác giả Eddie Adams từng chia sẻ: “Ông ta (Tướng Loan) rút một khẩu súng lục ra khỏi bao và nâng lên. Tôi không hề nghĩ là ông ta sẽ bắn. Người ta thường chĩa súng vào đầu người tù khi hỏi cung. Do đó tôi chuẩn bị chụp ảnh về sự đe dọa cuộc thẩm vấn.
Nhưng nó đã không xảy ra. Người đàn ông chỉ rút một khẩu súng lục ra, chĩa vào đầu người Việt Cộng và bắn vào thái dương anh ta. Đúng lúc đó tôi chụp bức ảnh…”.
Ngay sau khi được công bố trên báo chí, bức ảnh không chỉ gây chấn động trên toàn thế giới, mà nhiều giả thuyết khác nhau về ai là người bị Nguyễn Ngọc Loan bắn cũng được đưa ra…
Một số tờ báo nước ngoài cho biết người bị bắn là Đại úy Biệt động thành Nguyễn Văn Lém (tự Bảy Lốp). Nhưng một số khác chỉ nói về người bắn là Nguyễn Ngọc Loan, mà không nhắc đến danh tính của người bị bắn. Chính vì vậy, tất cả những thông tin liên quan đến bức ảnh như ai là người bị bắn, thời gian, địa điểm,… chỉ được cả thế giới biết một cách mơ hồ. Kể cả ông Eddie Adams, chủ nhân bức ảnh cũng không biết người bị bắn trong bức ảnh chính xác là ai.
Chỉ đến 30 năm sau cuộc chiến Tết Mậu Thận 1968, Hãng phim Giải Phóng thực hiện bộ phim “Từ một tấm ảnh” để tìm hiểu về người chiến sỹ bị bắn chết.
Lúc này, danh tính của người chiến sỹ bị bắn dần hé lộ. Đại tá Nam Hà (Bộ tư lệnh TP.HCM) xác nhận người trong bức ảnh “hành quyết tại Sài Gòn” giống Đại úy Nguyễn Văn Lém. Trong khi đó, theo bà Nguyễn Thị Lớp (vợ Đại úy Nguyễn Văn Lém), thì người bị bắn có áo carô bị đứt nút mới khâu và giống chồng mình.
Ngoài ra, Đại tá Nguyễn Phương Nam, nguyên cán bộ Sở Ngoại vụ TP.HCM, người có nhiều quan hệ với đặc công từng tìm hiểu và thông tin trong bộ phim “từ một bức ảnh”, thì ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, sau khi tấn công thất bại vào Bộ tư lệnh Hải quân, Bảy Lốp bị bắt và bị đưa đến Bộ Tư lệnh Cảnh sát dã chiến Việt Nam Cộng hòa.
Kết hợp với tin của phóng viên người Nhật lúc đó, người bị cảnh sát dã chiến đưa đến đường 20 cũ (đường Lý Thái Tổ hiện nay) và bị bắn. Những thông tin này trùng khớp về thời gian và địa điểm mà bức ảnh được chụp lại.
Tuy nhiên, cũng trong bộ phim tài liệu “từ một bức ảnh”, nhiều người từng là lãnh đạo Quận 5 lại khẳng định Lê Công Nà (tự Bảy Nà) chính là người trong bức ảnh. Ông Nà là chính trị viên quận đội, kiêm phó chỉ huy Quận 5, TP Sài Gòn - Gia Định của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.
Các nhân vật lên tiếng khẳng định ông Nà là người bị bắn gồm bà Phạm Thị Sứ, nguyên bí thư Quận ủy Quận 5; Ông Nguyễn Văn Tứ, nguyên thường vụ Quận ủy Quận 5; Bà Vũ Xuân Lý, nguyên phó bí thư Quận ủy Quận 5;…
Đặc biệt, trong nhận định của mình, bà Ông Bích Liên, cán bộ quận 5, bạn chiến đấu cũ của Bảy Nà cho biết, thời điểm năm 1968, khi bà và các đồng đội xem báo miền Nam đã nhận ra Bảy Nà bị tướng Loan bắn, ai cũng khóc thương đồng đội.
Còn bà Sứ thì xác nhận, sáng mồng 2 Tết, bà đã thấy Lê Công Nà mặc áo carô, hai bên có cười chào hỏi nhưng không kịp nói chuyện… Riêng ông Lê Công Tứ (anh ruột của Lê Công Nà) thì khẳng định, người trong ảnh là em trai ông vì 2 anh em rất giống nhau.
Song từ nhiều năm nay, người ta đều cho rằng Đại úy Bảy Lớp mới chính là chiến sỹ bị bắn. Vào ngày 17/4/2010, nhân dịp kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các thành viên đội 3, 4, 11 biệt động Sài Gòn – Gia Định, trong đó có liệt sỹ Bảy Lém đều được phong tặng danh hiệu Anh hùnglực lượng vũ trang nhân dân.
Đến nay, dù danh tính người bị bắn vẫn còn là một điều bí ẩn, khó lý giải với lịch sử thì một giai đoạn hào hùng, với những chiến sỹ Biệt động anh dũng mãi là tượng đài bất tử trong phong trào đấu tranh của dân tộc.
Sau này, khi chiến tranh đã lùi vào quá khứ, gia đình những anh hùng liệt sỹ như Đại úy Nguyễn Văn Lém bắt đầu được đông đảo người dân quan tâm. Từ thắc mắc này, câu chuyện về cuộc sống hiện tại của những đứa con Biệt động Sài Gòn ngày nào dần hé mở…
St