Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Không làm ngơ trước biểu hiện suy thoái “thích được đề cao, ca ngợi”

        Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

        Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa

        Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

        Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

        Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

        “Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

        Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay

        Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

        Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.

        Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.

        Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. 

        Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực

        Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

        Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!

        Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.

        Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.

        Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.

        Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Sưu tầm

Tránh xa những kẻ đặt điều!

    Ông Hậu đang ngồi quan sát cháu đích tôn làm bài tập tiếng Anh thì bà Tươi hớt hải chạy về gọi to: - Duy Anh ơi, cháu đang làm gì đấy?- Cháu nó đang học tiếng Anh chứ còn làm gì nữa? Bà tưởng ông cháu tôi ngồi tán gẫu như bà chắc? - Ông Hậu trả lời với giọng có vẻ trách móc vợ.

    - Ôi cháu ơi, từ nay không phải học tiếng Anh nữa. Bỏ ngay thôi. Người ta bắt bỏ tiếng Anh để chuyển sang học tiếng Trung hết rồi, hai ông cháu không biết gì à?

    Nghe vợ nói vậy, ông Hậu nghiêm giọng:

    - Bà lại nghe thông tin vớ vẩn ở đâu rồi về nói năng linh tinh thế! Để yên cho cháu nó tập trung học bài!

    Bé Duy Anh cũng dừng bút, quay ra cười nói:

    - Ông nói đúng đấy! Chắc bà nội lại nghe mấy bà ở đầu ngõ “buôn dưa lê” đấy mà! Cô giáo cháu bảo rồi, không có chuyện cấm học tiếng Anh đâu bà nhé!

    - Bà nghe cô Tình nói đấy. Cô này hiểu biết, có nhiều thông tin “hot” lắm, không sai được đâu.

    Thấy vợ nhắc đến nhân vật tên Tình, ông Hậu hốt hoảng:

    - Bà giờ còn giao du với cả người như vậy à? Bà có biết đó là đối tượng từng bị phạt hành chính về tội thông tin, tuyên truyền sai sự thật, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân không? Cô ta đang nằm trong diện theo dõi của cơ quan an ninh đấy! Tôi còn lạ gì cái nhà cô này, hễ mở miệng ra là xuyên tạc, nói xấu chế độ, quy chụp, xúc phạm người khác. Hôm trước ông tổ trưởng dân phố mở trang “phây búc” của cô ấy cho tôi xem, gớm, toàn giọng điệu bất mãn. Bà nên tránh xa cô ta ra càng nhanh càng tốt cho tôi!

    Vừa nói, ông Hậu vừa với tay cầm điều khiển bật ti vi. Đúng lúc bà Tươi định phản bác lại thì trên chương trình thời sự phát thông tin cảnh báo về việc trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin giả, cố tình xuyên tạc, gây dư luận hiểu sai về quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xem xong thông tin, ông Hậu quay sang bà Tươi:

     - Bà thấy chưa? Vừa rồi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định về việc phê duyệt sách giáo khoa các môn học, hoạt động giáo dục lớp 5 và sách giáo khoa môn tiếng Trung lớp 3, lớp 4 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông. Có thông tin nào nói rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định bỏ tiếng Anh để bắt học sinh học tiếng Trung đâu? May cho bà là mới nói chuyện ở nhà nhé. Bà đi ra ngoài mà tuyên truyền vớ vẩn như vậy là bị xử lý đấy!

    Đến lúc này, bà Tươi mới ngớ người ra, mặt đỏ ửng vì xấu hổ với chồng và cháu nội. Một lát sau bà mới thẽ thọt:

    - Thông tin như vậy mà cái nhà cô Tình kia cũng xuyên tạc, đặt điều được. Chắc cô ta có ý đồ xấu rồi, chứ bình thường ai người ta dám đi tuyên truyền lệch lạc thế? Từ nay tôi sẽ tránh xa những người ấy ra ông ạ. Muốn biết thông tin gì thì cứ tìm hiểu ở các báo, đài chính thống, ông nhỉ!

Sưu tầm

Có Đảng lãnh đạo cách mạng mới thành công

     Một trong những nội dung quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị chính là về Đảng và xây dựng Đảng. Thực tế, những chỉ dẫn cụ thể của Người trong 2 tác phẩm này vẫn vẹn nguyên giá trị; không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong

    ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

    Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua đã chứng minh nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh năm 1927. Đồng thời, thực tiễn cũng đã khẳng định lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo” như Người viết trong mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị.

    Bởi rằng, theo Người thì “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” và “sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm cái xã hội mới, ấy là rất khó (Đường Cách mệnh), cho nên, “cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng” (mục 31Thường thức chính trị). Hơn nữa, “cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ” (Đường Cách mệnh). Cho nên, để tiến hành thắng lợi sự nghiệp cách mạng thì “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi”(mục 31Thường thức chính trị). Đồng thời, hiện thực cách mạng Việt Nam cũng cho thấy “cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn” và để  “cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” (mục 31Thường thức chính trị)…

    Có thể nói, những tri thức phổ thông nhưng quan trọng và cần thiết này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày rất giản dị, cụ thể, rõ ràng trong Mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị không chỉ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu được, hiểu đúng về Đảng Cộng sản và vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn khẳng định Đảng chính là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.

    Minh chứng sinh động nhất chính là ngay từ khi mới ra đời, với đường lối, chủ trương đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định được vai trò của mình; đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Song, đứng trước dã tâm quay trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp và để bảo vệ nền độc lập vừa giành được cũng như kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào, chiến sĩ cả nước lại tiếp tục cuộc trường chinh vừa kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vừa xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội… Đó chính là thực hiện sự nghiệp vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa xây dựng, bảo vệ vừa phát triển đất nước theo con đường đã chọn.

    Vì thế, để Đảng luôn giữ vững được vị thế của mình, hoàn thành được trọng trách trước Tổ quốc và nhân dân, thì trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, Cộng sản Việt Nam  phải là một tổ chức của những con người ưu tú. Đó là: 1) “Đảng là bộ đội tiền tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”; 2) “Toàn thể đảng viên phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phải phục tùng sự lãnh đạo và chấp hành những nghị quyết của Đảng”; 3) “Đảng phải lãnh đạo tất cả những tổ chức khác của nhân dân lao động”; 4) “Đảng phải liên lạc thật chặt chẽ với quần chúng”; 5) “Đảng phải tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung”; 6) Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản”… Đây chính là 6 điều cơ bản, nền tảng tổ chức của Đảng để Đảng “thật mạnh mẽ, trong sạch, sáng suốt, thống nhất”(mục 32Thường thức chính trị).

    Đặc biệt, không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” và “cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(Đường Cách mệnh) mà ở trong mục 32 của tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu. Mỗi đảng viên đều phải thật thà tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi”; đồng thời yêu cầu “đảng viên phải toàn tâm, toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác kháng chiến và kiến quốc”.

    Tiếp đó, để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng giác ngộ giai cấp công nhân rành mạch, lập trường giai cấp dứt khoát, tác phong giai cấp đúng đắn”, mà còn khẳng định: “Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân” (mục 33Thường thức chính trị). Để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, “Đảng có Chính cương rõ rệt: Hiện nay thì giai cấp công nhân lãnh đạo toàn dân chống đế quốc và phong kiến, để giải phóng dân tộc và thực hiện dân chủ mới. Ngày sau thì tiến đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”. Đồng thời, “Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ… Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát, lung lay” và “Đảng phải luôn giáo dục đảng viên về lý luận cách mạng” cũng như “Đảng phải ra sức cải tạo tư tưởng” cho những đảng viên xuất thân là trí thức, tiểu tư sản, nông dân để các đồng chí ấy “thành những chiến sĩ của giai cấp công nhân”(mục 33Thường thức chính trị).

    Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) đến Thường thức chính trị (1953) đã được quán triệt, triển khai nghiêm túc, đảm bảo để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất trong tư tưởng và hành động từ Trung ương đến địa phương, từ Ban Chấp hành Trung ương đến từng tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn cả nước; đảm bảo để Đảng luôn được mạnh khỏe, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với trọng trách “kép”- vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐẢNG PHẢI THƯỜNG XUYÊN CHỈNH ĐỐN VÀ ĐỔI MỚI, XỨNG ĐÁNG VỚI VAI TRÒ TIỀN PHONG

    Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc của một Đảng Mácxít Lêninnít kiểu mới, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhu cầu mà còn là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên để Đảng ngày càng hoàn thiện mình. Thực tế, từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ đứng trước những yêu cầu mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã và đang bước vào giai đoạn chuẩn bị tổng phản công để “đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi”, mà còn phải tự chỉnh đốn và đổi mới để Đảng “mạnh khỏe, chắc chắn”, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

    Thời kỳ này, cùng với việc bị tinh thần và lực lượng (kinh tế, quân sự, chính trị, cán bộ,v.v..) để tổng phản công, vấn đề “coi công tác chỉnh Đảng chỉnh quân là công tác trung tâm về xây dựng Đảng và xây dựng quân đội” nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kháng chiến theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa II (22-28/4/1952) đã được triển khai. Thông qua đó, “đề cao trình độ tư tưởng và ý thức chính trị của đảng viên, làm cho toàn Đảng thống nhất tư tưởng và hành động. Nâng cao tổ chức tính, kỷ luật tính, làm cho tổ chức của Đảng được trong sạch, tác phong của Đảng được đúng đắn, khiến Đảng đủ sức lãnh đạo toàn dân tiến lên giành thắng lợi cuối cùng”. Thực tế, Đảng đã “truyền bá lý luận Mác - Lênin vào trong nhân dân” vì “lý luận rất quan trọng. Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm. Lý luận làm cho quần chúng giác ngộ, bày cho quần chúng tổ chức, động viên quần chúng để đấu tranh cho đúng. Nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch…) và trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn “đã kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam”, “đã áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lênin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách mạng Việt Nam”(mục 34Thường thức chính trị).

    Song vì “Đảng có trách nhiệm vô cùng to lớn”, cho nên Đảng cần phải căn cứ vào tình hình trong nước và trên thế giới để không chỉ linh hoạt, chủ động “đề ra những khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh”, mà còn phải đồng thời “quy định ở giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, đoàn kết lực lượng nào, cô lập và phân hóa lực lượng nào, để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân”. Điều đó cũng có nghĩa là việc đề ra “khẩu hiệu chính trị đúng, thì toàn dân thấy rõ phương hướng, nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng, để đánh thắng kẻ thù của cách mạng”. Tuy nhiên, cũng theo chỉ dẫn của Người thì “có khẩu hiệu chung, cũng chưa đủ, Đảng còn phải căn cứ theo lợi ích của nhân dân trong giai đoạn đó, đề ra những khẩu hiệu mới, để động viên quần chúng, để làm mục đích và vạch đường lối cho quần chúng đấu tranh; đồng thời để huấn luyện, giáo dục quần chúng” (mục 35Thường thức chính trị). Đồng thời, để Đảng xứng đáng với vị thế của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định “xây dựng Đảng là một nhiệm vụ quan trọng”, mà Người còn nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng viên và cán bộ là “nhất định phải làm cho quần chúng thấm nhuần tư tưởng cách mạng… Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc. Nhất định phải vào sâu trong quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”(mục 35Thường thức chính trị). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, “đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu” và “phải nắm vững chính sách của Đảng và của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng” thì “mới xứng đáng là đảng viên và cán bộ của Đảng, như thế mới lãnh đạo được quần chúng”(mục 35Thường thức chính trị).

    Là một Đảng lãnh đạo, Đảng cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng. Việc hiểu rõ, hiểu đúng về Đảng, về mục đích của xây dựng và “chỉnh Đảng” chính là nhằm nâng cao tư tưởng, trình độ chính trị, đạo đức cách mạng của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản. Vì thế, trong mục 36, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng Đảng, có ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức”, cho nên Đảng “phải nâng cao trình độ độ lý luận và chính trị của đảng viên. Phải tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của đảng viên. Phải phát triển tính hăng hái và hoạt động chính trị của đảng viên”(mục 38). Cụ thể, “Đảng cần phải phát triển và củng cố. Cần phải phát triển thêm thành phần công nhân. Cần phải giáo dục đảng viên mới. Cần phải cải tạo tư tưởng cho đảng viên nông dân và tiểu tư sản”; trong đó, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” vì “không phải chỉ học thuộc lòng vài bộ sách Mác - Lênin mà làm được”. Theo Người, công tác “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” và “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”. Đồng thời, “mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình. Đảng thì dung cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên” vì “nâng cao trình độ lý luận chính trị, cải tạo mình là một việc trường kỳ và gian khổ” (mục 37Thường thức chính trị)

    Cũng trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”, cho nên” Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động”/phải “lựa chọn đảng viên” đúng tiêu chuẩn, vì đó là “nền tảng của tổ chức Đảng” (mục 38). Đồng thời, nguyên tắc của Đảng là toàn thể các cấp ủy các cấp, toàn thể đảng viên đều phải tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc thống nhất - Đó chính là “dân chủ tập trung”- là “tập trung trên nền tảng dân chủ” và “dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung” và “để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật” (mục 42). Điều đó cũng có nghĩa là, để đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công, thì Đảng không chỉ phải “có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức”, mà còn luôn “phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn”…

    Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ cần: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể” như yêu cầu trong tác phẩm Đường Cách mệnh, mà còn phải thực hiện “kỷ luật nghiêm khắc, thật thà tự phê bình và phê bình”; đồng thời “liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh” như Người chỉ rõ tại mục 37 và phải “ra sức phụng sự nhân dân, củng cố mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, kịp thời cho Đảng biết những nhu cầu của nhân dân, giải thích cho nhân dân thấm nhuần và thực hiện chính sách của Đảng” (mục 40Thường thức chính trị) để được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, đi theo, góp ý kiến...

    Tư tưởng và những chỉ dẫn trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những điều căn cốt về Đảng, về vai trò lãnh đạo của Đảng và xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đứcThực hiện theo đúng những chỉ dẫn của Người, Đảng Cộng sản đã không chỉ chú trọng xây dựng Đảng về mọi mặt mà còn thường xuyên chỉnh đốn để “sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Quyết tâm vượt khó khăn gian khổ, làm tròn nhiệm vụ” để xứng đáng là một Đảng cách mạng chân chính, “là đạo đức, là văn minh”; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013!

Sưu tầm

Thầy cô sính ngoại - nguy hại khôn lường

        Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giúp những người làm công tác giáo dục ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội đi nước ngoài giao lưu, học tập, nghiên cứu để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu thêm kho tri thức của bản thân, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy.

Tuy nhiên, do “sức đề kháng” kém nên không ít người đã quay lưng, trở nên tôn sùng, ngợi ca một cách chủ quan những giá trị bề ngoài, hào nhoáng của xã hội, lối sống của nước sở tại, quay lại chê bai đất nước, nhất là ở trên bục giảng, với học trò của mình. Tuy chỉ là số ít nhưng sự nguy hại từ những thầy cô sính ngoại này là rất lớn vì thông qua bài giảng của mình, họ có thể tiêm nhiễm, "đầu độc" tư tưởng sùng ngoại tới hàng trăm, hàng nghìn học sinh, sinh viên...

Sùng ngoại - bài nội

Thầy, cô giáo sính ngoại vì nhiều lý do: Có người do nhận thức chính trị, thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết nên bị lợi dụng, kích động; có người chỉ là vô tình; nhưng cũng có người có tư tưởng phản động, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa... Dù vô tình hay cố ý, những thầy, cô giáo sính ngoại đều chẳng khác nào là trung gian tiếp sức, “nối giáo cho giặc”, giúp các thế lực thù địch, phản động thực hiện những chiến dịch tuyên truyền, chống phá, hủy hoại thế hệ tương lai của nước nhà.

Biểu hiện chung của thầy, cô giáo mắc bệnh sính ngoại là: Muốn khoe khoang, chứng tỏ ta đây học rộng biết nhiều, được đi đây đi đó... nên quá trình giảng bài, họ thường kể về những điều được thấy, được trải nghiệm ở nước ngoài như phát hiện mới về một nền văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người với giọng điệu đầy tán dương, ca ngợi, thán phục. Nhằm thuyết phục thêm, họ lại chỉ lấy những ví dụ và đề cập đến một số hạn chế, bất cập về tình hình kinh tế-xã hội đất nước bằng giọng chê bai, chế giễu hoặc buông một câu lấp lửng “Việt Nam ta thì...” với thái độ bất mãn, tiêu cực. Nhiều người còn ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Từ đó từng bước nhồi nhét, cài đặt tư tưởng sùng ngoại, bài nội, dần tác động thay đổi tận gốc nhân cách, tạo ra một tầng lớp trí thức mới đề cao chủ nghĩa tư bản, lối sống phương Tây, lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.

        PGS, TS Hà Huy Phượng, giảng viên cao cấp Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Đây là “căn bệnh” không chỉ của riêng một số ít thầy, cô giáo khi được ra nước ngoài học tập, công tác. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức được cơ quan cử đi học tập, công tác nước ngoài cũng dễ “nhiễm bệnh” sính ngoại. Họ dễ bị choáng ngợp với những giá trị công cộng mà nước họ đến đạt được, rồi đem so sánh với đất nước mình và chê bai đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và những thành tựu từ mồ hôi, xương máu của nhân dân. Nguyên nhân lớn nhất để nảy sinh "căn bệnh" sính ngoại lại bắt đầu từ khâu tổ chức các đoàn cán bộ đi công tác. Thường thì có những đoàn cán bộ khi đi nước ngoài chỉ họp đoàn bàn về nội dung chương trình, việc ăn ở, đi lại chứ ít quan tâm quán triệt những vấn đề liên quan đến tư tưởng chính trị, văn hóa... cho các thành viên khi đi ra nước ngoài, nên chuyện phát ngôn chưa chuẩn mực hoặc bị nhiễm “bệnh” sùng ngoại xảy ra là điều dễ hiểu...”.

        Chính vì sùng bái, mải mê ca ngợi một chiều các giá trị bề nổi, hào nhoáng của xã hội tư bản nên những thầy cô này chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”; họ không giúp học sinh, sinh viên thấy rõ những điều còn hạn chế của nước ngoài, nhất là ở các nước tư bản như sự bất công trong xã hội, khoảng cách giàu-nghèo...; họ cũng chưa thấy hết những thành quả, thành tựu đổi mới, xây dựng và phát triển của đất nước; vai trò, sự lãnh đạo của Đảng; chưa phân tích rõ những mặt tích cực, tiêu cực và nguyên nhân của nó; chưa nghiên cứu kỹ các chủ trương, giải pháp của Đảng trong khắc phục, giải quyết những vấn đề còn hạn chế, yếu kém... để từ đó giúp học sinh, sinh viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm trước những vấn đề thời cuộc và với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Rơi vào tay những người thầy này thì ít hay nhiều, sớm hay muộn học sinh, sinh viên cũng dễ bị gieo rắc, "đầu độc" và có thể hình thành tư tưởng thực dụng, quay lưng với lịch sử, truyền thống dân tộc, chạy theo những cám dỗ vật chất tầm thường. Nguy hiểm hơn nữa là những học sinh, sinh viên bị tiêm nhiễm tư tưởng xấu sẽ lây nhiễm suy nghĩ, cái nhìn lệch lạc tới bạn bè, người thân như vết dầu loang rất khó phòng ngừa. Xin dẫn chứng một vài trường hợp:

        Đó là một giáo sư, tiến sĩ từng giảng dạy trong lĩnh vực xây dựng, nhưng khi về hưu, ông này đã viết, tán phát nhiều bài viết trên các trang mạng hải ngoại, cá nhân, núp bóng chiêu bài “phản biện” các chính sách để chống Đảng, phủ nhận những thành quả từ sự lãnh đạo của Đảng, phê phán Chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Song, đó chỉ là bề nổi, điều mà nhiều người quan tâm, lo ngại qua trường hợp này là liệu có phải chỉ sau khi nghỉ hưu ông này mới có những tư tưởng, quan điểm lệch lạc này hay nó đã nảy sinh, tích tụ từ bao giờ? Và suốt thời gian đứng trên bục giảng, ông này có “lồng ghép”, truyền bá những suy nghĩ lệch lạch của mình vào các bài giảng hay không? 

        Một trường hợp nữa là giáo viên âm nhạc ở tỉnh Đắk Lắk vừa bị Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên y án 8 năm tù giam và 4 năm quản chế về tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Được biết đến là thầy giáo dạy nhạc hát hay và có kiến thức tốt về âm nhạc, thế nhưng thay vì vận dụng kiến thức, hiểu biết đã học được để truyền tải những lời hay ý đẹp, kiến thức âm nhạc cho các thế hệ học trò thì ông này lại lợi dụng ngay cả diễn đàn dạy học để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, đả kích chế độ.

        Tu tài phải gắn chặt với dưỡng đức

        Hội nhập giáo dục là một phần tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta. Nó mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít nguy cơ, thách thức. Thực tế là đã có những âm mưu lợi dụng hợp tác quốc tế về giáo dục-đào tạo để hòng tạo ra một lớp người Việt Nam có quan điểm, tư tưởng không phù hợp với những đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Chiêu trò này nhằm vào đối tượng là thanh niên, sinh viên để tiêm nhiễm, kích động tư tưởng chống đối trong giới trẻ thông qua đội ngũ giáo viên, giảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị. Vì vậy, người làm công tác giảng dạy cần thấy được vinh dự lớn của bản thân khi được tổ chức tin tưởng, tín nhiệm cử đi giao lưu, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; lấy đó làm động lực để nỗ lực phấn đấu, trách nhiệm hơn với công việc của mình, của đơn vị mình; ra sức học tập, nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu hơn kho tri thức của bản thân, từ đó phụng sự sự nghiệp giáo dục-đào tạo của đất nước. Chỉ có không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tiếp thu tri thức thì người thầy mới có cái nhìn toàn diện, sâu sắc; mới phân biệt rõ cái hay, cái dở để từ đó có thái độ ứng xử phù hợp, nhân rộng cái hay, thu hẹp cái dở, giúp học sinh, sinh viên của mình luôn có cái nhìn tiến bộ, tích cực.

        Thời nào cũng vậy, thanh niên, học sinh, sinh viên luôn là thành phần tiên phong trong tiếp thu cái mới, hăng hái, nhiệt tình trong hoạt động thực tiễn. Họ cũng là đội ngũ có kiến thức nên càng năng động, nhạy cảm với cái mới, khát khao đổi mới. Thế nhưng họ lại chưa đủ "độ chín" về tư tưởng chính trị, dễ bị cảm xúc lấn át nên thường thiếu sâu sắc khi phân tích, nhận định những vấn đề về chính trị-xã hội, cái tích cực-tiêu cực trong xã hội đa chiều, phức tạp. Vì vậy, nếu không được định hướng kỹ càng, sâu sát, rất có thể họ sẽ phạm sai lầm trong nhận thức và hành động. Do đó, họ rất cần được những người thầy vừa có tâm trong sáng vừa có tầm cao trình độ kiến thức dìu dắt, định hướng để thực sự trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.

Sưu tầm

Đâu phải chọn bên!

          Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?

Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:

- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...

 - Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!

Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:

- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.

Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.

- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:

- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:

- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.

Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:

- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.

Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:

- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.

Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:

- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé! 

Sưu tầm