Cổ kim đông tây từng đúc
kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung
thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh
nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh
mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan
nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể
làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một
trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4,
khóa XII của Đảng đã chỉ ra.
Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người
xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống
“vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong
kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo
ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời
nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà
chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu
nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của
bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn
hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ
nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ
đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ
trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và
khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh
liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều
chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn
An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên
nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm
tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp
thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường
của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại
thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa
triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý
kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn
tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu
này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt
đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại
suy vong”.
“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay
Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích
khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động
viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục
tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là
phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá
trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ
tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời
“ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt,
ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của
cán bộ, đảng viên.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò
chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng
lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ
trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính
quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới
mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình;
nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của
những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được
việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay
nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là
lời khen thật sự ý nghĩa.
Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo
chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy
cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có
quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng”
một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi
cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực
Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là
cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của
những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp
dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ
đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong
thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra
“uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức
sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa
thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền
lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những
người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh
của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau:
“Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta,
những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án
thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng
10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác
sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen
ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có
lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt
bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng
đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.
Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị
được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện
nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức
tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê
hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào
cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là
điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần
tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức
học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm
không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể
nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.
Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ
chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy
trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự
phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng
thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt;
phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu
nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa
giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi
trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét