Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

 Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Phát huy giá trị tinh thần, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, góp phần giữ vững sự ổn định, hòa bình, tạo động lực trong phát triển

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở, suy tư về nhiệm vụ chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là vùng Tây Nguyên (nơi Người chưa có dịp trực tiếp đến thăm); đáp lại ân tình đó, đồng bào vùng Tây Nguyên luôn kính trọng, thương yêu Bác Hồ. Thời gian tới, cần thực hiện nhiều chính sách, biện pháp nhằm cải thiện đời sống người dân vùng Tây Nguyên theo đúng tinh thần, tâm nguyện của Bác, qua đó góp phần nâng cao sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên

Có thể khẳng định, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguyên tắc giữ gìn sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo. Người khẳng định, như một lẽ tự nhiên, “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc”(1); đồng thời, các dân tộc anh em trong đất nước luôn “gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp”(2). Theo đó, trong nhiều bài viết, bài nói chuyện, Người luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên tinh thần “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”(3).

Mặt khác, Người lý giải ngọn nguồn sức mạnh xuyên suốt cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, tự do và bảo vệ Tổ quốc là “nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc”(4), bởi vậy, Người chủ trương tất cả dân tộc “đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”(5); đồng thời, chính sách dân tộc phải hướng đến mục đích “thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6).

Đặc biệt, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có dịp đến thăm trực tiếp, nhưng Người luôn lo lắng, trăn trở, suy tư một cách bao quát, toàn diện nhiều vấn đề, trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh, hướng tới hoàn thành nhiệm vụ nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào gắn với công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh chính sau:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đồng bào vùng Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; đồng thời, đánh giá cao tinh thần đoàn kết và ý chí cách mạng bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.

Sinh thời, Người nhiều lần khẳng định đồng bào các dân tộc là những người anh em trong cùng một nhà; đồng thời, luôn căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chú trọng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc cả nước nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói riêng. Năm 1946, trong “Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Playcu” (lá thư được dịch ra nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên), Người cho rằng: “Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(7).

Trong một số văn bản, Người nhất quán dùng từ đồng bào (cùng bào thai) để gọi các dân tộc vùng Tây Nguyên, qua đó gợi nhớ đến truyền thuyết nguồn gốc “con Lạc - cháu Hồng”, “con Rồng - cháu Tiên” để gửi đến nhân dân vùng Tây Nguyên thông điệp về tinh thần đoàn kết với nội dung: Dù đồng bào ở Tây Nguyên là người Thượng hay người xuôi lên, dù Nam hay Bắc đều là con một nhà, chung một mẹ Việt Nam; chính vì vậy, phải yêu thương đoàn kết lẫn nhau, chỉ có đoàn kết mới chiến thắng giặc ngoại xâm, mới xây dựng và bảo vệ quốc gia - dân tộc bền vững. Những từ “ta”, “chúng ta” được Người lặp đi, lặp lại nhiều lần như để khẳng định và nhấn mạnh một đặc điểm chung, một chân lý hiển nhiên rằng đất nước Việt Nam luôn thuộc về tất cả dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, Người cho rằng, quân và dân các tỉnh vùng Tây Nguyên, từ già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đều có tinh thần nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn, rẫy,... góp phần to lớn cùng đồng bào cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Đồng thời, Người “nhiệt liệt khen ngợi các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng, cán bộ, chiến sĩ và toàn thể đồng bào Tây Nguyên đã dũng cảm chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, phục vụ tiền tuyến, lập công vẻ vang”(8).

Thứ hai, Người xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời, chủ trương phát huy mạnh mẽ giá trị tinh thần đoàn kết các dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đời sống mới.

Người luôn nêu cao tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc và vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân, đế quốc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân; căn dặn đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh đập tan âm mưu, thủ đoạn của thực dân, đế quốc, góp phần bảo vệ chính quyền, giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Riêng với đồng bào Tây Nguyên, Người kêu gọi “Đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên đã đoàn kết càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch”(9).

Có thể nói, vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ đã sản sinh không ít người con ưu tú, anh hùng, có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mà nhiều người trong số họ may mắn được diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, như ông Y Ngông Niê Kđăm, anh hùng Núp, Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin... Các cá nhân từng được gặp Bác đều mang trong mình nhiều ấn tượng tốt đẹp, luôn ghi nhớ, trân trọng tình cảm cũng như sự quan tâm của Người với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Như lời kể của cụ Y Ngông Niê Kđăm: “Lời Bác nói đến đâu thấm đến đó. Tôi thấy Bác gần gũi với các dân tộc Tây Nguyên quá. Bác như một nhân vật hiện ra từ giấc mơ của các dân tộc Tây Nguyên”(10); với cương vị công tác của mình, ông còn vinh dự được gặp Bác trong nhiều dịp khác, đối với ông, từng khoảnh khắc được gặp Bác là từng kỷ niệm sâu sắc, ý nghĩa, hằn sâu trong trái tim xuyên suốt sự nghiệp làm cách mạng của bản thân. Trong những lần gặp gỡ những người con ưu tú từ vùng Tây Nguyên, Bác đều ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình đời sống đồng bào Tây Nguyên và căn dặn phải không ngừng nêu cao tinh thần đoàn kết cùng đánh đuổi thực dân Pháp để bảo vệ độc lập; luôn coi Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất.

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tình cảm sâu đậm cùng những trăn trở, khát khao của mình với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, đó là sự quan tâm, yêu mến, thiết tha, mong muốn mảnh đất Tây Nguyên ngày càng được phát triển, mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường vươn lên, đoàn kết gắn bó keo sơn trên mảnh đất Việt Nam. Mặt khác, Người cũng thể hiện tư tưởng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo đó không chỉ riêng các dân tộc Tây Nguyên, mà ở đâu là con dân nước Việt đều không phân biệt giai cấp, thành phần dân tộc, tôn giáo và luôn có vị trí đặc biệt trong trái tim và tư tưởng của Người - đó chính là nét đẹp cao quý trong tầm vóc lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

Tình cảm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhằm hưởng ứng, ủng hộ lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như thực hiện chủ trương, chỉ đạo sâu sát của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào vùng Tây Nguyên đã nỗ lực phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất để cùng kề vai, sát cánh, anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đem hết sức mình xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng, lập nên những chiến công vang dội; cống hiến cho đất nước những người con ưu tú, xả thân vì Tổ quốc và vun đắp cho mối tình đoàn kết, keo sơn giữa các dân tộc, tiêu biểu như Đinh Núp (dân tộc Ba-na), Y Buông, A Tranh (dân tộc Xơ-đăng), N’Trang Lơng (dân tộc Mơ-nông) hoặc các vị cách mạng tiền bối, như Y Ngông Niê Kđăm, Y Bih Alêô (dân tộc Ê-đê), Nay Đer (dân tộc Gia-rai), Pi Năng Tắc (dân tộc Ra Glai),...

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu trút hơi thở cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào cả nước. Thời khắc đó, chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Thường vụ Khu ủy khu V, từ ngày 4 đến ngày 10-9-1969, tại vùng giải phóng các tỉnh vùng Tây Nguyên, các ban tang lễ được thành lập để tổ chức lễ tang và truy điệu Người. Đồng bào Tây Nguyên, kể cả đồng bào trong vùng địch tạm chiếm ai nấy đều tiếc thương, đau buồn khi nghe tin Người mất, như trong câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”! Bằng mọi hình thức công khai hay bí mật, nhiều đồng bào đã tiến hành để tang Người trong 7 ngày, có nơi tới tận 9 ngày... Riêng anh hùng dân tộc Ba-na, Đinh Núp tự mình để tang Người trọn vẹn 100 ngày, đồng thời nhiều làng đánh chiêng tang báo tin cho nhau...; từ trẻ em đến cụ già đều tỏ lòng đau thương vô hạn.

Điều tiếc nuối nhất, lúc sinh thời, do bối cảnh đất nước bị chiến tranh, điều kiện đi lại khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể thực hiện được niềm mong mỏi vào thăm miền Nam. Hàng vạn đồng bào Tây Nguyên không có may mắn được trực tiếp gặp Người như người dân những địa phương mà Người đã đặt chân đến, nhưng đồng bào vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm của Người đối với mình. Đồng bào Tây Nguyên đáp lại tấm ân tình đó bằng niềm tin yêu, lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc và sự ủng hộ chân thành. Điều này đã được cụ Y Bih Alêô, từng là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định: “Tình cảm của Bác đối với Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, nó luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Ea Đrăng... Chúng tôi nhớ lời Bác và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”(11).

Tình cảm của đồng bào vùng Tây Nguyên đối với Bác thật sâu sắc, thậm chí, đã hóa thân vào nếp sống sinh hoạt tinh thần, văn hóa hằng ngày trong kho tàng ca dao, tục ngữ nơi đây, tiêu biểu trong số đó, có thể nhắc đến một số câu ca dao nổi bật, thường xuyên xuất hiện, như “Người Êđê chưa gặp mặt Bác Hồ/ Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ” (Ca dao dân tộc Ê-đê); “Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc/ Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương” (Ca dao dân tộc Mơ-nông); hay “Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ” (Đồng bào H-rê). Thêm vào đó, đồng bào Ê-đê, Gia-rai, Ba-na cũng thường hát: “Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh”; trong ngôn ngữ dân tộc mình, người Ê-đê gọi Hồ Chủ tịch là Awa Hồ, người Ba-na gọi là Bok Hồ, người Gia-rai gọi là “Ơi”... Ở tỉnh Kon Tum, gần như gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nào cũng treo ảnh Bác Hồ ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, việc được tặng ảnh Bác Hồ cũng là món quà vô cùng quý giá đối với đồng bào.

Tiếp thu tình cảm, tư tưởng cũng như trí tuệ, tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn sát cánh cùng đồng bào cả nước, một lòng theo Đảng, tin theo cách mạng quyết tâm đánh giặc, xây dựng làng chiến đấu, góp lương thực nuôi bộ đội, nuôi giấu cán bộ...; vượt qua gian nan, thử thách để dần xóa đói, giảm nghèo, xây dựng buôn, làng hạnh phúc, ấm no; hình ảnh Bác Hồ như đang hiện hữu làm điểm tựa tinh thần và cổ vũ đồng bào. Cụ Y Bih Alêô đã khẳng định: “Người Tây Nguyên chưa được tận mắt nhìn con người thật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Bác đi vào lòng đồng bào Tây Nguyên như gió mùa xuân luồn vào rừng già thấm mát và bền vững. Ai cũng thấy mình là người con trai, con gái của Bác Hồ”(12); còn bác sĩ nổi tiếng Y Ngông bày tỏ: “Lòng kính yêu Bác Hồ của nhân dân Tây Nguyên nhiều như cây rừng, cao như núi đá, dài như nước suối”(13).

Vào ngày 11-4-1978, ở thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thay mặt Đảng, Nhà nước phát biểu rằng: “Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên và đồng bào tỉnh Đắk Lắk. Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời nhớ ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên(14).

Nhựa sống được ươm mầm, sinh sôi từ tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo động lực cho mảnh đất Tây Nguyên nỗ lực phấn đấu, vươn lên, cống hiến ngày càng lớn vào công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước

Tây Nguyên là vùng đất trải dài từ Kon Tum tới Lâm Đồng, bao gồm 5 tỉnh, với diện tích trên 54 nghìn km2 và dân số 5,5 triệu người (chiếm 1/6 diện tích cả nước; lớn thứ ba trong 6 vùng kinh tế - xã hội); được coi là “phên giậu phía tây của Tổ quốc”, là “nóc nhà của Đông Dương”; bao gồm 52 dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ khoảng 36% dân số toàn vùng), mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự giàu có, đa dạng bản sắc(15). Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trong phát triển, giữ vai trò tâm điểm trong kết nối Đông - Tây; có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh đối với cả nước...

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh. Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Một số thành quả tại vùng đã được ghi nhận, như các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai thực hiện hiệu quả, đời sống vật chất, tinh thần của người dân từng bước được cải thiện, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt, khơi dậy và nâng cao ý thức đoàn kết, tính tự lực, tự cường trong việc phát triển sản xuất, giảm nghèo; giá trị văn hóa các dân tộc được bảo tồn, kế thừa và phát huy, một số di tích văn hóa, lịch sử được tu bổ, tôn tạo, trong đó Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là “kiệt tác truyền khẩu” và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại,...

Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng phát triển_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên hiện nay còn một số khó khăn, bất cập, như khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân tộc chậm được thu hẹp, sự thụ hưởng lợi ích từ các chính sách chưa đồng đều; đất sản xuất, đất ở của đồng bào chậm được giải quyết; tâm lý ỷ lại vẫn còn ở một số nhóm người; ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ở một số bộ phận người dân còn mờ nhạt,... Đặc biệt, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp đất đai còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai,... để kích động, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam(16).

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và kịp thời giải quyết hạn chế, khó khăn, vướng mắc, hướng tới đẩy mạnh phát triển “nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên”(17), cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ gìn và phát huy tinh thần đại đoàn kết dựa trên chỉ dẫn, quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh, xem đó là truyền thống quý báu, sức mạnh nội sinh không thể thay thế, đồng thời, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, hướng tới xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, từ đó, tạo cơ sở, điều kiện thuận lợi nhất cho các địa phương vùng Tây Nguyên phát triển bền vững. Có thể khẳng định, nhiệm vụ thực hiện đoàn kết dân tộc ở vùng Tây Nguyên hiện nay là củng cố tình đoàn kết, gắn bó giữa người Kinh với các dân tộc khác; đoàn kết các dân tộc thiểu số trong vùng với nhau; đoàn kết người dân các dân tộc tại chỗ và di cư từ nơi khác đến. Bên cạnh đó, nghiêm túc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước(18) trong phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, thiết thực.

Hai là, thực hiện tốt chính sách dân tộc đặt trong mối quan hệ đồng bộ, hài hòa với chính sách phát triển kinh tế - xã hội; khắc phục bất cập, hạn chế, thiếu sót đặt ra trong thực tiễn thực thi chính sách, không ngừng nâng cao hiệu quả triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch trong thực tế; giải quyết tốt các vấn đề lịch sử có liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đất đai trên toàn vùng. Mặt khác, các dân tộc vùng Tây Nguyên cần phát huy hơn nữa tinh thần tự lực, tự cường, tránh để các thế lực phản động, thù địch gây chia rẽ, kích động, gây hận thù,... để sẵn sàng cùng đồng bào cả nước tương trợ lẫn nhau, nỗ lực vượt qua gian nan, thử thách, hướng tới xây dựng cuộc sống ấm no, bình yên và hạnh phúc trên tinh thần “Cả nước vì Tây Nguyên; Tây Nguyên vượt khó vươn lên cùng cả nước và vì cả nước!”(19).

Ba là, trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển đời sống, cần thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ, “xây” và “chống”, cụ thể: 1- Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cơ sở; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở vùng Tây Nguyên bằng các luận điểm khoa học, các kết quả nghiên cứu thực tiễn; 2- Cảnh giác, phòng ngừa, kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch tiến hành tại vùng Tây Nguyên, nhất là đối với các lực lượng đã lộ diện; ngăn chặn từ xa đối với các nguy cơ tiềm ẩn bằng việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở và chú trọng xây dựng thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc./.

Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

 Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và thông tin đem lại nhiều cơ hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và người có uy tín nói riêng trong hoạt động giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... giữa các vùng, miền trong nước, khu vực và thế giới. Đồng thời, cũng đặt ra nhiều thách thức, tác động chi phối, ảnh hưởng từ bên ngoài đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý dân tộc, các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người có uy tín nói riêng. Các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn để lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm can thiệp, thực hiện âm mư­­u chia rẽ dân tộc, nhất là chia rẽ các dân tộc thiểu số với ngư­­ời Kinh, chia rẽ nhân dân các dân tộc với Đảng, Nhà nư­­ớc; phá vỡ sự ổn định chính trị - xã hội và khối đại đoàn kết dân tộc. Người có uy tín cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung tác động móc nối, lôi kéo, nhất là ở các khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, như ở Tây Bắc, Tây Nam bộ và khu vực Tây Nguyên để tạo dựng “ngọn cờ” lập cái gọi là “nhà nư­­ớc tự trị”, kích động ly khai, tự trị dân tộc... hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong tình hình hiện nay, để phát huy vai trò, ảnh hưởng của đội ngũ người có uy tín thực sự là những người tiêu biểu, gương mẫu, là điểm tựa cho mọi điểm tựa khác trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị cần quan tâm xây dựng, thực hiện đồng bộ và quyết liệt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của người có uy tín và công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín phục vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Để phát huy vai trò của người có uy tín, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương cần quán triệt sâu sắc, toàn diện quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò và công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhận thức của cả hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên cơ sở thống nhất nhận thức để thống nhất trong phối hợp thực hiện hiệu quả công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự ở địa phương.

Hai là, công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền các cấp, có sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành chức năng, trong đó cơ quan công an, dân tộc, dân vận, mặt trận làm nòng cốt.

Người có uy tín trong dân tộc thiểu số thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, có người là già làng, trưởng bản, có người là cán bộ, trí thức; nhiều người có chức sắc trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng... do đó mỗi người có thế mạnh riêng trong vận động quần chúng dân tộc thiểu số, trong phát triển kinh tế - xã hội, trong xóa đói, giảm nghèo, trong cảm hóa, giáo dục phần tử xấu, tiêu cực, chậm tiến trong xã hội... Do vậy, mỗi vùng, mỗi dân tộc và tùy theo yêu cầu cụ thểcác cấp, các ngành cần sử dụng linh hoạt các hình thức vận động, phát huy vai trò của người có uy tín trên các lĩnh vực của đời sống xã hội gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương.

Thực tiễn cho thấy, nơi nào cấp ủy, chính quyền, đoàn thể quan tâm chỉ đạo, chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người có uy tín thì nơi đó phát huy tốt vai trò tích cực của người có uy tín tham gia các hoạt động, góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả. Do vậy, để phát huy vai trò của người có uy tín, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tăng cường lãnh đạo, quản lý của chính quyền, huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể các cấp trong thực hiện chính sách và công tác vận động, phát huy vai trò người có uy tín. Nâng cao hiệu quả phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan trong quản lý và tổ chức thực hiện chính sách và công tác vận động, phát huy vai trò của người có uy tín. Thường xuyên đổi mới nội dung, đa dạng, linh hoạt hình thức vận động phù hợp với đặc điểm tâm lý, môi trường hoạt động, điều kiện hoàn cảnh khác nhau của người có uy tín để huy động tốt nhất sự tham gia của họ vào các hoạt động của địa phương. 

Ba là, thường xuyên quan tâm và thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách cho người có uy tín, như cập nhật thông tin, tập huấn, bồi dưỡng trang bị kiến thức; thăm hỏi, gặp gỡ, tiếp đón, tặng quà nhân các ngày lễ, tết; hỗ trợ vật chất khi ốm đau, gặp khó khăn, hoạn nạn; tham quan học tập kinh nghiệm; biểu dương khen thưởng người có uy tín tiêu biểu... bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, kịp thời, đúng người, đúng chế độ nhằm động viên người có uy tín tham gia hoạt động, phát huy vai trò của họ với cộng đồng. Tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện chính sách đối với người có uy tín.

Bốn là, chăm lo xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung, đội ngũ cán bộ làm công tác vận động người có uy tín nói riêng. Đội ngũ cán bộ làm công tác vận động người có uy tín có vai trò, vị trí hết sức cần thiết, có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả công tác này, họ là những người thực sự có năng lực nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kết nối Đảng và Nhà nước với người dân mật thiết hơn thông qua đội ngũ người có uy tín; có kiến thức, am hiểu về dân tộc thiểu số, phong tục, tập quán, có kiến thức về chính sách dân tộc, có kinh nghiệm và có tinh thần hy sinh, chịu đựng gian khổ, gần gũi với đồng bào dân tộc thiểu số, được người dân tin tưởng... là điều kiện rất quan trọng trong công tác vận động người có uy tín.

Thực tiễn cách mạng nước ta đã khẳng định người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số ở bất kỳ giai đoạn nào cũng luôn có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Do vậy, để phát huy vai trò của lực lượng quần chúng đặc biệt này, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ người có uy tín thực sự là những người tiêu biểu, gương mẫu, là điểm tựa gắn kết giữa các dân tộc, là cầu nối giữa ý Đảng và lòng dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(4)./.

Vai trò và đóng góp của lực lượng quần chúng đặc biệt

 Từ khi thành lập Đảng và trong suốt quá trình lịch sử cách mạng của dân tộc, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ta là: “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn linh hoạt trong vận động và phát huy vai trò của những người có ảnh hưởng trong đồng bào dân tộc thiểu số và đã đem lại hiệu quả thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ cách mạng.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta có chính sách vận động, phát huy vai trò đầu tàu của lớp người tiêu biểu, có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và họ đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp giành lại chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc và xây dựng đất nước sau chiến tranh. Trong giai đoạn 1930 - 1945, để huy động mọi lực lượng yêu nước của dân tộc đấu tranh giành lại chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, Đảng ta đã có chính sách đối với tầng lớp tù trưởng, quan lang trong xã hội cổ truyền một số dân tộc thiểu số và miền núi phía Bắc nhằm kêu gọi, tập hợp những người có uy tín trong các dân tộc thiểu số vì lợi ích của dân tộc để vận động đồng bào tham gia kháng chiến và đã có những đóng góp vào sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Giai đoạn 1945 - 1975, Đảng ta vận động, phát huy vai trò của các Thổ ty ở vùng đồng bào dân tộc Tày, Lang đạo ở vùng đồng bào dân tộc Mường, Phìa tạo ở vùng đồng bào dân tộc Thái và lớp người trên có ảnh hưởng trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc cũng như các già làng, trưởng phum, sóc... ở Tây Nguyên, ven biển miền Trung, Nam bộ nhằm khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc để họ tham gia và vận động quần chúng đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.

Trong công cuộc xây dựng, đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều văn bản trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó có chính sách chăm lo xây dựng, phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng năm 1996 Đảng ta xác định cần: Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, “Về công tác dân tộc” đặt ra nhiệm vụ: Có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiĐánh giá cao vị trí, vai trò của đội ngũ người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Kết luận số 57-KL/TW, ngày 3-11-2009, Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới” và trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng yêu cầu cần tiếp tục: Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số.

Hiện nay, cả nước ta có gần 30.000 người có uy tín trong cộng đồng. Đó là những người được thôn bản, buôn làng, phum sóc bình chọn, suy tôn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(2)và sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, trong những năm qua đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu là già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Với vai trò tiên phong, gương mẫu, người có uy tín thực sự là cầu nối quan trọng của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số noi theo, làm theo, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương; tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường, tôn trọng sinh thái... góp phần quan trọng trong việc tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hiện nay, ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều kênh thông tin, như truyền thông qua hệ thống thông tin đại chúng: sách, báo, đài, ti-vi; truyền thông trực tiếp qua kênh của già làng, trưởng bản,... Tuy nhiên, chất lượng và trình độ nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Do đó, ở những nơi này việc tuyên truyền, vận động của các già làng, trưởng bản, người có uy tín và trưởng các ban, ngành đoàn thể ở cơ sở đóng vai trò quan trọng. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì: “Tai nghe không bằng mắt thấy, miệng nói không bằng tay làm”. Người có uy tín, trước hết bằng uy tín và am hiểu thực tiễn địa phương, gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua nhiều cách tuyên truyền chính sách dân tộc thiết thực, cụ thể như tuyên truyền trực tiếp đến từng hộ gia đình trong thôn bản, tuyên truyền bằng việc làm cụ thể, tiên phong hướng dẫn các gia đình thực hiện phương thức làm giàu trên mảnh đất quê hương; tích cực, gương mẫu để gia đình, dòng họ, thôn bản, cộng đồng noi gương và làm theo nên việc tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương đã đem lại hiệu quả rất thiết thực.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, nhiều người có uy tín là tấm gương sáng, có nhiều đóng góp tích cực công sức, tiền của, như ngày công lao động, hiến đất... cho địa phương để xây dựng trường học, nhà văn hóa, làm đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà tình nghĩa(3)... Nhiều mô hình làm kinh tế hiệu quả được nhiều người học tập, làm theo; tích cực vận động, giúp đỡ đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình, tham gia các phong trào xây dựng nông thôn mới. Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số có trên 500 mô hình phát triển kinh tế có thu nhập ổn định từ 50 - 100 triệu đồng/năm, một số mô hình tiêu biểu, như mô hình trồng cam cho giá trị và năng suất cao ở các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Con Cuông tỉnh Nghệ An; mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở các huyện Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu tỉnh Nghệ An; mô hình trồng gừng, khoai dong riềng, mận tam hoa hiệu quả ở huyện miền núi cao Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; mô hình trồng dứa huyện Nghĩa Đàn; mô hình nuôi bò lai Sind, gà đen, nhím, nuôi cá, ba ba ở các huyện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Nghệ An...

Lưu giữ nghề truyền thống (tác giả: Lê Hữu Thiết) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở các thôn bản vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thì hệ thống luật tục mang đậm nét bản sắc dân tộc, chi phối, tác động ảnh hưởng rất mạnh đến đời sống sinh hoạt của người dân và cả cộng đồng dân cư. Người có uy tín thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, bằng hành động, việc làm cụ thể để làm gương và tích cực vận động, giáo dục con cháu, trong dòng họ và cộng đồng tham gia bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, vận động đồng bào xây dựng nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa; giữ gìn, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, các lễ hội truyền thống của các dân tộc, xóa bỏ hủ tục; vận động nhân dân không tin, không nghe theo các đạo lạ gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa bàn. Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, lễ hội truyền thống được người có uy tín lưu giữ và phát huy bản sắc, điển hình, như Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông, hát Then của dân tộc Tày, hát Song Hao của dân tộc Nùng, hát Sình Ca của Dân tộc Cao Lan, dân ca Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu, nhà Gươl của dân tộc Cơ tu ở tỉnh Thừa Thiên Huế, lễ hội Chợ tình Khâu Vai của dân tộc Nùng, lễ hội cầu mưa của dân tộc Lô Lô ở Hà Giang, lễ ra tháng của người Sán Chỉ, lễ cấp sắc của người Dao, lễ hội Ka tê của dân tộc Chăm ở Bình Thuận, lễ hội Cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo, Tết Chôl Ch-năm Th-mây của dân tộc Khơ-me...

Ở vùng biên giới, người có uy tín là nòng cốt cùng Bộ đội Biên phòng vận động quần chúng thực hiện các phong trào: “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”, “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh, trật tự thôn, bản khu vực biên giới”... Sự đóng góp của những người có uy tín trong công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tập hợp quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện thông qua các hoạt động, như tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào nâng cao cảnh giác, không nghe lời kẻ xấu; vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian vừa qua; tích cực tham gia giải quyết những vụ việc phức tạp phát sinh từ cơ sở, hoà giải mâu thuẫn trong nhân dân; tham gia và vận động quần chúng thực hiện các phong trào: “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “giữ gìn an ninh trật tự ở khu dân cư”; “Quần chúng tham gia tự bảo quản đường biên, cột mốc quốc gia và an ninh trật tự khu vực biên giới”; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận Biên phòng toàn dân vững chắc. Cùng với lực lượng biên phòng và cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, người có uy tín ở các xã biên giới tham gia hiệu quả trong công tác phân giới cắm mốc, tham gia giải quyết việc xâm cư, xâm canh; tích cực tham gia tố giác, đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vận động đồng bào tuần tra biên giới, tham gia bảo vệ đường biên và mốc giới, kịp thời nắm bắt tình hình, phát hiện, cung cấp nhiều thông tin có giá trị giúp các ngành chức năng và chính quyền địa phương đấu tranh, ngăn chặn nhiều hoạt động trái pháp luật, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn an ninh, trật tự ở khu dân cư và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, người có uy tín là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với người dân, tích cực tham gia các hoạt động xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Các đợt tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, người có uy tín có nhiều ý kiến phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời tham gia ý kiến đóng góp thiết thực vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đặc biệt là tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể tại địa phương. Nhiều người có uy tín tuy tuổi cao, nhưng vẫn nhiệt tình tham gia công tác ở cơ sở, đảm nhiệm các chức vụ, như bí thư chi bộ, trưởng thôn bản, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng ban công tác mặt trận và các đoàn thể; tham gia làm tổ trưởng, tổ hòa giải, tổ an ninh; là hội viên mẫu mực của các tổ chức xã hội. Người có uy tín tích cực vận động con cháu, dòng họ và mọi người dân tham gia vào các tổ chức đoàn thể, khuyến khích con cháu phấn đấu được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Thông qua việc xây dựng quy ước, hương ước trong thôn bản, tổ dân phố, các vị già làng, trưởng dòng họ, người có uy tín đã động viên gia đình con cháu, dòng họ và người dân phát huy dân chủ, thực hiện quy chế tự quản, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư. Người có uy tín đã cùng với ban giám sát cộng đồng, ban công tác mặt trận thực hiện việc giám sát, tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh do hội đồng nhân dân cấp xã bầu, giúp đỡ cán bộ dân cử hoàn thành nhiệm vụ. Những cố gắng của người có uy tín góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh ngày một vững mạnh. Trong các đợt tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, người có uy tín có nhiều ý kiến phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời tham gia ý kiến đóng góp thiết thực vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đặc biệt là công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp, góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh ngày một vững mạnh.

Bộ đội Biên phòng cùng đồng bào tuần tra biên giới _Nguồn: laodong.vn

Nhận thức đúng về người có uy tín trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

 Trong xã hội truyền thống, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn có vị trí, vai trò quan trọng đối với gia đình, dòng họ, dòng tộc, cộng đồng dân cư và ảnh hưởng quyết định đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: trong sinh hoạt, lao động, sản xuất, thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng, bảo vệ, giữ gìn an ninh, trật tự làng bản khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp... Trong mỗi gia đình của các dân tộc thiểu số, mọi sinh hoạt đời sống, quan hệ xã hội và lao động, sản xuất luôn được điều chỉnh và chi phối bởi người có uy tín nhất trong gia đình. Trong từng dòng họ của các dân tộc, dù lớn hay nhỏ đều có người đứng đầu là Trưởng tộc hay Trưởng họ để duy trì các hoạt động của dòng họ, nhất là trong sinh hoạt tín ngưỡng để nhớ về tổ tiên, cội nguồn; duy trì tôn ti, trật tự và quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của gia đình đối với dòng họ, làng bản và cộng đồng. Trong đời sống cộng đồng, người có uy tín giữ vai trò đầu tàu bảo đảm sự vận hành của cộng đồng thông qua việc duy trì phong tục, tập quán, ổn định trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất, giải quyết mối quan hệ với các cộng đồng khác và với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước ở địa phương.

Ở các bản làng ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, trưởng thôn, bản có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Đối với dân tộc Mông, trưởng dòng họ và bà cô là những người có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mông. Đối với các dân tộc Dao, Mường, Thái và một số dân tộc thiểu số khác ở các tỉnh miền núi phía Bắc thì những người thực hiện nghi lễ tín ngưỡng, cầu cúng cho gia đình, dòng họ hoặc bản, làng có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của các dân tộc. Với các buôn làng vùng rừng núi Trường Sơn - Tây Nguyên, già làng là trụ cột quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển cuộc sống mới trong cộng đồng: “Già làng nói - dân làng nghe, Già làng hô - dân làng hưởng ứng, Già làng làm - dân làng làm theo”. Già làng chính là cây cổ thụ tỏa bóng mát cho các thế hệ trong buôn làng, là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng, bởi vậy tất cả việc lớn, hệ trọng của cộng đồng và của mỗi gia đình từ lễ hội, cưới hỏi, ma chay đến làm nhà mới, đầy tháng cho trẻ, lễ trưởng thành... đều phải có sự đứng ra “làm chủ” của già làng. Trong khi đó ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các vị sư sãi thuộc Phật giáo Nam Tông ở các chùa Khơ-me có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống dân cư của đồng bào dân tộc Khơ-me. Các chức sắc tôn giáo thuộc đạo Hồi và đạo Bà-la-môn có một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Chăm ở nước ta.

Trong xã hội hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, việc sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì kinh nghiệm sản xuất cổ truyền mà già làng, trưởng bản tích lũy được bị hạn chế về trình độ, về kỹ thuật, về khoa học và công nghệ nên vai trò sản xuất dần chuyển sang lớp trẻ. Theo tiến trình đô thị hóa và phát triển nông thôn miền núi, việc xây dựng buôn làng không còn tuân theo lối cũ. Những ngôi nhà gọn gàng cho một tiểu gia đình ngày càng phổ biến. Những dụng cụ tiện ích trong sinh hoạt gia đình, trong trang phục cá nhân, phương tiện đi lại cũng dần được hiện đại hóa. Trong hôn nhân, tang ma cũng có xu hướng đơn giản hóa, giảm bớt tập tục tín ngưỡng mê tín dị đoan, các nghi lễ cũng được giảm bớt tính phức tạp hơn và hôn nhân ngoại tộc được mở rộng. Trong sinh đẻ, ngày càng có nhiều người mẹ sinh con ở cơ sở y tế công lập, giảm dần phạm vi ảnh hưởng của các bà đỡ truyền thống. Việc chăm sóc sức khỏe trước đây nằm trong tay các thầy mo, thầy cúng, dùng y học dân gian kết hợp với ma thuật chữa trị, nay đang dần chuyển sang hình thức Đông- Tây y kết hợp. Lớp trẻ có điều kiện tiếp nhận thành tựu khoa học kỹ thuật, đồng thời được tiếp thu kinh nghiệm của tổ tiên và các thế hệ trước qua gia phả, tộc phả và truyền miệng nên vai trò của lớp trẻ đang ngày càng được nâng cao.

Các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng trong dân tộc vẫn tiếp tục được duy trì, nhưng theo xu hướng tinh giảm phần lễ, mở rộng phần hội... Trong điều kiện như vậy, vai trò của một số già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín, tiêu biểu trong xã hội truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có sự thay đổi, dần chuyển giao cho lớp người tiêu biểu mới có trình độ học vấn, am hiểu khoa học kỹ thuật, mạnh dạn đi đầu trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, biết cách làm giàu và hướng dẫn quần chúng trong việc phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng... Đó là tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, thầy thuốc, người sản xuất, kinh doanh giỏi, cán bộ lãnh đạo các cấp có uy tín ở Trung ương và địa phương đã nghỉ hưu. Những người tiêu biểu, có uy tín này có thể là người ở địa phương, ở các buôn làng truyền thống, nhưng cũng có thể là người từ một địa phương khác đến sinh sống hoặc được phân công công tác tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được đồng bào tín nhiệm, suy tôn và trở thành người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.