Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 

Về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I. Lê-nin cho rằng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đây là triết lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển đất nước theo tinh thần “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” chính là quy luật của cách mạng Việt Nam. Nội dung của quy luật này gồm học thuyết giải phóng và học thuyết phát triển, trong đó chứa đựng cả hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta giành được chính quyền, trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Khi kẻ thù trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, Người kêu gọi: “Tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng dậy bảo vệ Tổ quốc”.

Hai tháng sau khi đồng bào miền Nam bước vào cuộc kháng chiến, ngày 25-11-1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”. Thực dân Pháp và các thế lực phản động đang âm mưu thôn tính nước ta, “cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng… Giai cấp vô sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”, “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”.

Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” đã thể hiện rõ tư tưởng trong khi đặt nhiệm vụ kháng chiến lên hàng đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời coi trọng nhiệm vụ xây dựng đất nước về mọi mặt; xây dựng chế độ mới phải đi đôi với bảo vệ chế độ mới; phải vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kháng chiến để đánh bại thế lực đế quốc xâm lược, kiến quốc để xóa bỏ tàn dư chế độ cũ, phát triển đất nước, củng cố hậu phương vững chắc. Hai nhiệm vụ chiến lược này được kết hợp chặt chẽ trong suốt quá trình chiến tranh cách mạng. Bên cạnh đó, Chỉ thị đề ra những nhiệm vụ cụ thể về nội chính, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, chỉ rõ những nội dung về xây dựng Đảng, cải tổ Chính phủ, về kháng chiến ở miền Nam và đoàn kết với nhân dân các nước…

Để đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào tăng gia sản xuất, “thực túc, binh cường”. Người nhấn mạnh: “Vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng. Chiến sĩ ra sức giữ gìn nước non. Nhà nông ra sức giúp đỡ chiến sĩ. Hai bên công việc khác nhau, nhưng thật ra là hợp tác. Cho nên hai bên đều có công với dân tộc, đều là anh hùng”.

Thực hiện chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, quân và dân ta đã giải quyết cả ba nhiệm vụ diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm; không ngừng củng cố và tăng cường hệ thống chính trị nhằm thúc đẩy cả hai mặt xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, vùng tự do được bảo vệ, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng; từng bước xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ mới trong vùng ta kiểm soát, thực hiện được “thực túc, binh cường” và giải quyết vấn đề vũ khí, trang bị, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Bên cạnh việc đánh và cướp vũ khí của địch, Chính phủ đã phát động nhân dân tự tạo, sắm sửa vũ khí, đồng thời xây dựng các công binh xưởng sản xuất, sửa chữa, cải tạo vũ khí. Đại hội II của Đảng (2-1951), với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương: Các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hóa đều nhằm mục đích làm cho quân sự thắng lợi, đồng thời đấu tranh quân sự phải kết hợp với đấu tranh chính trị, kinh tế.

Với tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dựng nước và giữ nước trong từng thời điểm lịch sử cụ thể, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tới thắng lợi.

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì ở miền Nam, Mỹ - Diệm trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, đàn áp dã man những người cộng sản và đồng bào yêu nước. Trong báo cáo “Tình hình mới, nhiệm vụ mới” tại Hội nghị Trung ương 6, ngày 17-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới, và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ” và “chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”. Đồng thời, Người chỉ rõ vai trò của miền Bắc trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà: “Nền có vững, nhà mới chắc; gốc có mạnh, cây mới tốt. Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của toàn dân ta, cho nên chúng ta phải làm cho nó thật vững, thật mạnh”.

Khai mạc Đại hội lần thứ III của Đảng (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”. Đại hội xác định những nhiệm vụ của cách mạng ở hai miền Nam - Bắc. Nhiệm vụ của miền Bắc là xây dựng chủ nghĩa xã hội, thuộc chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của miền Nam là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thuộc chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Song cách mạng hai miền đều có mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước. Hai nhiệm vụ chiến lược nói trên có quan hệ mật thiết, thúc đẩy lẫn nhau. Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trong đó có sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Đến đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng đã phát triển lên một trình độ mới, trở thành đường lối cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng đã vận dụng và xử lý hài hòa quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện lịch sử cụ thể.

Thực hiện đường lối trên, miền Bắc thể hiện xuất sắc vai trò của mình, đó “vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước, vừa là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu ác liệt với máy bay và tàu chiến Mỹ”. Chỉ có lập trường kiên định chống xâm lược, có chế độ chính trị ưu việt, có cách tổ chức sản xuất và tổ chức đời sống xã hội tốt, miền Bắc mới có thể làm tròn nghĩa vụ với tiền tuyến lớn, làm tròn vai trò lịch sử của mình.

Đặc biệt, trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng là việc giải quyết nhuần nhuyễn, sáng tạo quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ và kẻ thù đã đứng chân ngay trên đất nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta có miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn trong sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Như vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và bảo vệ đất nước có khác nhau.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, trong 30 năm kháng chiến, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có mối quan hệ mật thiết, bền vững, thúc đẩy lẫn nhau. Có xây dựng được vùng tự do, cụ thể là xây dựng được miền Bắc vững mạnh mới có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Ngược lại, có đánh bại được mọi âm mưu chiến lược của địch mới có thể bảo vệ vững chắc vùng tự do và hậu phương chiến lược, tiến tới giải phóng hoàn toàn Tổ quốc. Đây cũng là bài học quý báu trong thời bình. Chỉ có xây dựng đất nước giàu mạnh với chế độ tốt đẹp, chế độ xã hội chủ nghĩa, mới tạo ra được nguồn lực dồi dào cho sự nghiệp giữ nước. Và, chỉ có xây dựng được nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù thì mới giữ được hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng đất nước.

HAIVAN

Đối ngoại quốc phòng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa

 

Trong những năm qua, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng không ngừng được đẩy mạnh, có những bước phát triển đột phá cả về nhận thức và hành động; góp phần nâng cao vị thế của đất nước, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Đối ngoại quốc phòng đã trở thành một kênh quan trọng, góp phần củng cố và phát triển quan hệ của Việt Nam với các quốc gia, tổ chức, khu vực trên thế giới. Các hoạt động đối ngoại quốc phòng đã thúc đẩy củng cố lòng tin chiến lược, xây dựng quan hệ hữu nghị với các đối tác. Việt Nam đã tham gia nhiều cơ chế, diễn đàn quốc phòng, quân sự đa phương khu vực, quốc tế và có đóng góp tích cực, quan trọng vào các cơ chế, diễn đàn này. Qua đó, vị thế, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày càng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có đầy đủ năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thiết lập Tùy viên quốc phòng tại hơn 30 nước và đã có hơn 40 nước thiết lập Tùy viên quốc phòng tại Việt Nam.

Trong khu vực, với việc chủ động, tích cực tham gia các cơ chế quốc phòng, quân sự của ASEAN ngay từ những ngày đầu thành lập, Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong các hoạt động hợp tác quốc phòng, quân sự của ASEAN, đặc biệt trong cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Thành công nhất khi tham gia các cơ chế này là Việt Nam đã chuyển từ tham gia thuần túy sang chủ động làm chủ “cuộc chơi”, xây dựng và thiết kế “luật chơi”; trở thành một thành viên có tiếng nói quan trọng tại các diễn đàn. Các đề xuất, sáng kiến hợp tác của Việt Nam luôn được các nước đánh giá cao và đã chứng minh được hiệu quả khi triển khai trên thực tế. Việt Nam đã xây dựng được hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, chủ động, tích cực trong hợp tác quốc phòng, quân sự ASEAN.

Trên trường quốc tế, với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang khẳng định được vị thế, uy tín, hình ảnh của một quốc gia có tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế. Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một trong những trụ cột của đối ngoại quốc phòng, là điểm sáng trong quan hệ đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm gần đây. Đáng chú ý, để tạo hành lang pháp lý cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ngày 13-11-2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, khẳng định sự tham gia lâu dài của Việt Nam đối với sứ mệnh gìn giữ và kiến tạo hòa bình ở khu vực và trên thế giới, phù hợp với chủ trương đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những chiến sĩ mũ nồi xanh của Việt Nam đã giành được sự ủng hộ của nhân dân các nước nơi mà chúng ta đặt chân tới và lan tỏa sự ủng hộ lòng yêu mến dân tộc Việt Nam tới nhân dân các nước khác. Đây là một tài sản tinh thần quý báu góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sớm, từ xa.

Những kết quả đạt được trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng cùng với thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao không chỉ phát triển cả về bề rộng, mà còn phát triển cả về chiều sâu đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; là tiền đề quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa, tạo động lực mới để chúng ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Quán triệt sâu sắc các luận điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục và nỗ lực cố gắng hiện thực hóa mục tiêu “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực hiện định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam sẽ tích cực đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế cả trên bình diện song phương và đa phương hiệu quả, thiết thực, góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung, quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế, tiếp tục lan tỏa hình ảnh và phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ra toàn thế giới.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, thành tựu nổi bật nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước”. Đối ngoại quốc phòng là bộ phận của đối ngoại quốc gia đã góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, thuận lợi và thách thức, cơ hội và nguy cơ đan xen; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn bị đe dọa, nhiệm vụ đặt ra cho Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, để thực hiện “kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình”, góp phần củng cố vững chắc “tuyến phòng thủ đầu tiên”, đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục thực hiện phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, không ngừng đổi mới, tham mưu hiệu quả cho Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực liên quan để có đối sách kịp thời, giành thắng lợi to lớn trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng để góp phần củng cố nội lực, tranh thủ nguồn lực và sự hỗ trợ từ bên ngoài về cả vật chất và tinh thần để xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo thế và lực, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

HAIVAN

Đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng nhiều biện pháp khác nhau: một mặt, xây dựng quan hệ bang giao, hòa hiếu, hữu nghị với các nước láng giềng; mặt khác, chủ động xây dựng lực lượng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và căn dặn toàn dân, toàn quân Việt Nam: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Kế thừa quan điểm, tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý báu ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là cần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đồng thời triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực, phương diện của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, để thực hiện được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nhiệm vụ là chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ rõ: “nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”. Điều này thể hiện sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng ta, đồng thời cũng cho thấy vai trò của công tác đối ngoại và hoạt động đối ngoại quốc phòng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong đó, ngoại giao được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và quân đội được coi là lực lượng then chốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cụ thể:

Một là, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện thông qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII). Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới về tư duy đối ngoại, tạo bước chuyển trong mọi hoạt động hợp tác quốc phòng, chuyển từ tình trạng “đối đầu” sang “đối thoại”, “thêm bạn, bớt thù”, “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”. Đại hội VII đã đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Đại hội VIII khẳng định “Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế”; “đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” với phương châm “muốn là bạn của tất cả các nước”.

Năm 2003, Đảng ta đề ra Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thay đổi quan niệm bạn - thù sang linh hoạt xác định đối tác, đối tượng; lĩnh vực hợp tác quốc phòng đã được đề cập cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội. Đại hội IX xác định “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng quan hệ đối tác và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong quan hệ quốc tế. Với tinh thần này, đối ngoại và hợp tác quốc phòng được triển khai mạnh mẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, cả trên bình diện song phương và đa phương. Đại hội X khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. Đại hội XI bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đáng chú ý, lần đầu tiên trong các kỳ Đại hội của Đảng, công tác đối ngoại quốc phòng được khẳng định rõ ràng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ quan trọng “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, trong đó nhấn mạnh, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là định hướng, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc. Đây là định hướng cơ bản, tạo nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XII tiếp tục khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đại hội XIII chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 là “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”. Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế”, trong đó lần đầu tiên nêu rõ những định hướng hội nhập quốc phòng, gồm: “Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương về quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống” và “Chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ đạo”.

Có thể thấy, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã được hoàn thiện sâu sắc hơn qua các kỳ Đại hội, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước qua từng thời kỳ. Đặc biệt, đối ngoại và hợp tác quốc phòng ngày càng được coi trọng và được coi là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Sự đổi mới về tư duy đối ngoại này của Đảng đã góp phần thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế về quốc phòng ngày càng sâu rộng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.

Hai là, sự nhất quán trong chủ trương, mục tiêu hợp tác quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 xác định, chủ trương đối ngoại quốc phòng là “thiết lập và phát triển quan hệ giao lưu, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau với lực lượng vũ trang các nước khác”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh: “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước”; “sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển” trên tinh thần “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”  và “Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”. Với mong muốn “thêm bạn, bớt thù”, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và đa phương với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, cùng có lợi, sẵn sàng tham gia giải quyết những thách thức an ninh chung trên cơ sở tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế, như Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 xác định: “Việt Nam xem xét tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia”.

Có thể thấy, chủ trương đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Việt Nam đã thể hiện rõ bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là yêu hòa bình, vì hòa bình, chiến đấu để bảo vệ hòa bình, mang tính chất tự vệ để bảo vệ chính nghĩa.

Với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, năng động, sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng và chức năng nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang, mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là “góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình và an ninh ở khu vực và trên thế giới”. Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, xác định đối ngoại quốc phòng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình; tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, đối ngoại quốc phòng còn nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới; thể hiện trách nhiệm trước các vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế.

HAIVAN

Đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực

 

Để kiểm soát quyền lực, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ chế; theo đó, hoàn thiện hệ giải pháp đồng bộ, phù hợp và khả thi, với các thể chế và định chế, theo phương châm “dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra”. 

Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, ngày 16-10-2016, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, pháp luật”(6). Nói một cách hình tượng, “lồng cơ chế” đó chính là sự tổng hòa hệ thống kỷ luật của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đó là Quốc pháp và Đảng cương. Nhưng, trung tâm của Quốc pháp và Đảng cương là sự tín nhiệm của nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước, mà thước đo là lòng dân đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược. Ba nhân tố rường cột này hợp thành cơ chế kiểm soát quyền lực.

Có thể khẳng định ở đây, quá trình đổi mới và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất là quá trình vạch ra những “độ” tồn tại của quyền lực, với những giới hạn cho phép về mặt lịch sử, mà người được ủy quyền hoặc được trao quyền lực không được phép vượt qua theo thẩm quyền và trách nhiệm, trong bất cứ hoàn cảnh, cả điều kiện trên nền tảng pháp lý và đạo lý, để bảo đảm quyền lực được kiểm soát, cân bằng. Vì vậy, cần lưu ý rằng, việc đổi mới, sáng tạo cơ chế kiểm soát quyền lực chính là việc xác định hệ thống chỉnh thể bao gồm toàn thể các yếu tố (chính trị, pháp luật, đạo đức...) có liên quan tác động lẫn nhau một cách tự nhiên và tất yếu để nhằm đạt mục đích, còn cơ chế chính là cấu trúc vận hành, nhằm truyền nối động cơ giúp vận hành toàn bộ hệ thống, từ bên trong tới bên ngoài, từ chủ thể tới khách thể; nếu một yếu tố nào đó không có giá trị trong chỉnh thể và không bảo đảm tính thống nhất thì hệ thống đó không tồn tại, dẫn đến cơ chế sẽ bị phá vỡ.

Do đó, để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với các nhân tố cấu thành cơ chế (điều kiện cần và đủ, phương thức thực thi, các công cụ và điều kiện hỗ trợ...), phải có đủ ba nhân tố căn bản, có tính rường cột hợp thành và chi phối cơ chế kiểm soát quyền lực, đó là: Quốc pháp - Đảng cương - Sự tín nhiệm của nhân dân. Nếu thiếu đi một trong ba nhân tố căn bản này, nhất định sẽ không có bất cứ một cơ chế kiểm soát quyền lực nào tương thích và hữu hiệu đáp ứng với tình hình hiện nay.

Các giải pháp căn bản và chủ yếu thực thi kiểm soát quyền lực

Một là, định lượng hóa và cụ thể hóa trách nhiệm theo thẩm quyền trên từng phương diện, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng... và từng vị trí, chức vụ bảo đảm đúng quyền, rõ quyền, đủ quyền và thực quyền; theo đó, định lượng hóa để cụ thể hóa những biểu hiện tha hóa, thoái hóa quyền lực với phương châm “xây kết hợp với chống”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, không thể dung nạp những “quyền lực ngoài quyền lực”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực đen”... Những cá nhân, tổ chức được giao quyền, ủy quyền, phải tự kiểm soát mình bởi pháp luật và kỷ luật. Đây là việc rất khó, vì điều khó khăn nhất đối với mỗi con người chính là chiến thắng được chính bản thân mình.

Đồng thời, tiếp tục đổi mới và định rõ mối quan hệ giữa người đứng đầu với tập thể lãnh đạo, quản lý; giữa thẩm quyền các bên; giữa cấp trên với cấp dưới; giữa bên trong tập thể lãnh đạo, quản lý với bên ngoài, trong hệ thống và ngoài hệ thống; giữa cơ quan kiểm soát quyền lực với người và tổ chức được trao hoặc ủy thác quyền lực trong một chỉnh thể hữu cơ, không cắt khúc, không khép kín, không ngoại lệ, trên cơ sở trách nhiệm giải trình công khai và dân chủ. Việc buông lỏng quyền lực hay quyền lực bị tha hóa, thoái hóa - cả hai đều nguy hiểm như nhau; theo đó, muốn hạn chế, đẩy lùi tình trạng trên, đội ngũ cán bộ cần được đào tạo một cách đầy đủ về pháp luật, khoa học tổ chức, khoa học hành chính ngang tầm trọng trách.

Hai là, đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn song hành và gắn với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát và kiểm soát nghiêm ngặt các cơ quan kiểm soát quyền lực. Đổi mới và hoàn thiện, bảo đảm thống nhất các quy định của Đảng với hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách toàn diện, đồng bộ và cụ thể. Cần nhấn mạnh, tiếp tục hiến định và luật định hóa quyền lực của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực quốc gia - trong việc kiểm soát quyền lực được nhân dân ủy quyền, giao phó cho người đứng đầu trong bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước và bộ máy của cả hệ thống chính trị.   

Trên cơ sở định lượng hóa và cụ thể hóa về thẩm quyền, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế về cá thể hóa trách nhiệm trong việc chất vấn, giải trình, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch đối với người được giao và giữ quyền lực (người, tổ chức và công việc); đồng thời, có định chế minh bạch về nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, quản lý, quản trị (gồm các cá nhân thành viên ban lãnh đạo với vị trí công vụ của mỗi người), theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm dựa trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ một cách thống nhất, thông suốt. Gắn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước, giám sát của nhân dân trong việc kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, thống nhất, liên thông và chặt chẽ. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Công khai hóa, minh bạch hóa là con đường ngắn nhất, là phương pháp tốt nhất để giám sát, kiểm soát quyền lực của cá nhân hay tập thể. Định vị cơ chế thưởng - phạt một cách dân chủ, minh bạch, chính xác, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có giới hạn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực.

Ba là, đổi mới và xây dựng bộ máy thực thi công việc kiểm soát quyền lực (kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát...) trong tổng thể tiến trình đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị các cấp theo hướng liên thông, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn đội ngũ cán bộ giữ chức năng, nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi quyền lực là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, là nhân tố quyết định thành bại của việc kiểm soát quyền lực. Do đó, những người được trao trọng trách kiểm soát quyền lực trong các cơ quan có thẩm quyền phải là những người trung thành, tinh nhuệ, liêm chính, mẫn cán, dũng cảm, hành động công vụ theo kỷ luật và pháp luật một cách nhân văn. Đặc biệt, trước yêu cầu cấp bách hiện nay, càng cần phải thực thi kiểm soát quyền lực một cách nghiêm ngặt ở các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực.

Bốn là, xây dựng và phát triển môi trường chính trị - xã hội bảo đảm kiểm soát quyền lực một cách bao trùm, rộng khắp và chặt chẽ. Trọng tâm của công việc đổi mới thể chế là bảo vệ vô điều kiện sự tham gia và phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông xã hội trong giám sát, phát hiện, tố cáo sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của cá nhân và tổ chức được ủy thác hoặc được trao quyền lực.

Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức là một môi trường kiểm soát quyền lực trực tiếp, dân chủ, công khai, cụ thể thông qua các định chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, kỷ luật đảng, Hiến pháp và pháp luật. Đây là công việc bảo đảm kiểm soát từ ngoài vào, từ dưới lên... cả về phương diện pháp lý lẫn bình diện đạo lý xã hội và dư luận xã hội (hiện đang bị ngăn trở bởi không ít “cục nghẽn mạch” về thể chế cần được dỡ bỏ). Đây là công việc quan trọng, vẫn đang còn không ít “khoảng trống” cần phải nhanh chóng được lấp đầy để thực thi và bảo vệ quyền lực của nhân dân có hiệu quả. Bởi lẽ, chỉ cần nhìn trong 10 năm qua, có tới 75% số vụ việc liên quan tới vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực dưới mọi hình thức và mức độ là do nhân dân và công luận phát hiện. Hơn lúc nào hết, hiện nay, chính trị phải là sự thanh khiết từ to đến nhỏ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói; và lòng tin của nhân dân, sức mạnh của công luận có vai trò vô cùng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.     

Năm là, đổi mới và thống nhất các công cụ khác trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực. Tiếp tục đổi mới tư duy, thực hiện hiến định và luật định về quyền thông tin và được thông tin (về cá nhân, tổ chức và thẩm quyền của họ theo luật định); về quyền và trách nhiệm giám sát, về phương thức kiểm tra, giám sát, kiểm soát; về quyền được trưng cầu ý kiến, lựa chọn và bãi miễn của nhân dân đối với cá nhân và tổ chức. Tất cả nhằm khắc phục sự chồng lấn, không minh bạch giữa trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể, ngăn chặn nạn nhân danh tập thể để mưu đồ lợi ích cá nhân hoặc “ẩn nấp” trong danh nghĩa tập thể để che giấu, trốn tránh, rũ bỏ trách nhiệm cá nhân, làm cho quyền lực nằm ngoài vòng giám sát, kiểm soát; nhân danh “tổ chức kiểm soát quyền lực” mà dung túng, bao che cho hành vi lợi dụng quyền lực, thậm chí cả những “quyền lực đen”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực trong bóng tối”... Theo đó, cần xác định rõ quyền lực tối thượng của nhân dân trên phương diện này và quyền lực ấy phải tiếp tục được luật hóa một cách cấp thiết.

Sáu là, tiến hành việc gắn kiểm soát quyền lực cá nhân và tổ chức ở trong nước với kiểm soát họ ở ngoài nước (khi công tác và hoạt động ở ngoài nước), chủ động tăng cường hợp tác, trao đổi, tham chiếu kinh nghiệm với nước ngoài trong việc kiểm soát quyền lực. Cần tiếp thu, tiếp biến kinh nghiệm cầm quyền của các đảng cầm quyền và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, một cách cầu thị, không kỳ thị, không xa lánh; đồng thời, hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới, là công việc cần thiết và rất quan trọng.

Thực tiễn vừa qua đã vạch rõ những mưu đồ gây rối việc kiểm soát quyền lực đối với những cá nhân và tổ chức liên quan với nước ngoài; đồng thời, tạo nên những “vùng trắng”, “vùng trống”, biến đây thành những “lỗ hổng thoát tội”, “vùng tránh”, “vùng né”, “vùng trốn”, nơi tẩu tán “nhân sự”, tẩu tán tài sản trong thực thi kiểm soát quyền lực đối với sự tha hóa và thoái hóa quyền lực. Và trước mắt, với bao nhiêu công việc và từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, khi Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển, thì càng cần phải tăng cường kiểm soát quyền lực và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực một cách thực chất, hiệu quả.

HAIVAN.

Sự buông lỏng hoặc tha hóa, thoái hóa quyền lực


 Thực tiễn đã và đang chỉ rõ, mọi sự tha hóa, thoái hóa quyền lực đều là tham nhũng dưới mọi thủ đoạn, hình thức và mức độ, từ tham nhũng kinh tế tới tham nhũng chính sách. Những người tha hóa quyền lực cấu kết với nhau rất tinh vi, chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; họ lợi dụng các “khoảng trống” pháp luật, việc thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để trục lợi; bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chà đạp lên luân thường đạo lý, cốt chiếm đoạt mọi thứ vì cá nhân và phe nhóm. Những hành động đó phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây xáo trộn, làm rối loạn kỷ cương và xã hội.

Sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, “ăn cắp” và “buôn bán” quyền lực dưới mọi hình thức, cấp độ làm xuất hiện những “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, có nguy cơ nảy nở những “sứ quân”, biến những người được trao quyền thành những “ông tướng, bà tướng” tự tung tự tác, trong “những bầu trời riêng”; đồng thời, gây chia rẽ nội bộ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, làm suy yếu nền chính trị của đất nước. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện từ việc dùng thẩm quyền của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực, nhằm trục lợi cho mình và “nhóm lợi ích”, cũng như trong việc quyết định các chủ trương, chính sách, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, như cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ... Đặc biệt, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực vừa công khai, vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ ngang - dọc, trên - dưới, trong - ngoài... bằng những “luật ngầm” đã xuất hiện trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nơi, đã và đang gây nên những hậu họa khôn lường.

Đáng lo ngại là sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của không ít người rất đa dạng, tinh vi; họ núp sau tấm bình phong tập thể, cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa, thoái hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp; vì nó thường gắn với người có chức vụ, quyền lực lớn, nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng và không ít trường hợp còn được bao che, thậm chí dùng cả tổ chức quyền lực phản kích quyết liệt, chống lại các lực lượng kiểm tra, thanh tra, giám sát, các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, làm cho tình hình ở không ít nơi diễn ra rất phức tạp. 

Ngay từ tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm). Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM. Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”, “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””. 

Thực tiễn cách mạng chỉ rõ, giải quyết có hiệu quả, không để xảy ra tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực, trước hết là năng lực chính trị và pháp luật, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng pháp luật là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ranh giới giữa thẩm quyền được giao với sự năng động, sáng tạo vốn rất mong manh nhưng rất đa dạng, phong phú... và trong một số hoàn cảnh lại là điều kiện thuận lợi cho những kẻ rắp tâm lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân. Điều đó dẫn tới sự rối loạn hệ giá trị trong đánh giá, thẩm định, vượt ngoài khuôn khổ cho phép và làm rối loạn kỷ cương, kỷ luật ở không ít nơi. Những trường hợp đó âm mưu sở hữu quyền lực một cách “vô pháp vô thiên”, rắp mưu hoành hành quyền lợi cá nhân, phe nhóm, phường hội. Nếu không nghiêm túc giải quyết tình trạng trên, dễ dẫn tới nạn rũ bỏ, trốn tránh trách nhiệm theo thẩm quyền, chia cắt kỷ luật và khoanh vùng kỷ luật và pháp luật, nguy cơ biến kỷ luật và pháp luật thành những “thanh kiếm phường chèo”(!). Qua các vụ đại án về tha hóa, thoái hóa quyền lực của nhiều cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực đã được xét xử gần đây cho thấy rõ tính nguy hại của vấn nạn trên; đồng thời, cảnh báo nghiêm khắc sự thiếu tôn trọng pháp luật hoặc cố tình giẫm đạp lên luật pháp đều dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm đó.

Nhưng điều đáng sợ hơn là, khi bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”, tệ “cát cứ phường hội”, băm nhỏ lợi ích quốc gia... tất sẽ dẫn đến tình trạng thật giả lẫn lộn, phải trái bất minh, “chụp mũ” những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung hoặc tấn công những người có dũng khí đấu tranh chống lại nạn lạm quyền, lộng quyền, hoặc cố ý làm trái; đồng thời, làm thui chột, thậm chí phá vỡ động lực phát triển, làm rạn vỡ đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; xuất hiện nguy cơ làm băng hoại không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị.

HAIVAN

Vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lực

 

Thực tiễn cách mạng nước ta yêu cầu: “Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, hơn bao giờ hết đang “Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các đồng chí Ủy viên Trung ương, bí thư tỉnh, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác phải tự giác rèn luyện, nêu gương cho cấp dưới về sự giác ngộ chính trị, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, sự hy sinh phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân”; “quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị”.

Theo nghĩa rộng thông thường, quyền lực là năng lực, khả năng của một cá nhân hay tổ chức tác động đến những cá nhân, tổ chức khác, buộc họ phải thực hiện ý chí của mình thông qua các hình thức thể hiện trên phương diện chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,...; trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý. Trong giai đoạn hiện nay, cá nhân và tổ chức phải được trao hoặc ủy quyền đủ để thực thi quyền lực theo pháp luật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Khi một cá nhân hay một tổ chức, dù lớn hay nhỏ, sẵn lòng ủy quyền, trao quyền cho người thể hiện được tài năng, đạo đức, sức lôi cuốn các cá nhân, để dẫn dắt cộng đồng thì việc giám sát sự thi hành thẩm quyền tự nó đã trở thành trách nhiệm đối với người trao quyền hoặc ủy quyền của cộng đồng, của quốc gia, theo pháp luật. Vì vậy, theo nghĩa nào đó, nếu thẩm quyền không gắn với trách nhiệm thì thẩm quyền hoặc bị buông lỏng, trở nên vô tác dụng hoặc bị tha hóa, thoái hóa trở nên không giới hạn. Và khi đó, sự mất cân bằng quyền lực sẽ xảy ra, tạo nên tình trạng quyền lực vô tác dụng, hoặc bị biến thành vật sở hữu của cá nhân, của phe nhóm, gây rối loạn xã hội.

Điều cần cảnh báo là, khi quyền lực đạt tới trình độ tuyệt đối, mặt đối lập của tình trạng này nhất định sẽ dẫn tới tha hóa tuyệt đối, nếu thẩm quyền không được khắc chế và kiểm soát bằng đạo đức, bằng pháp luật và các công cụ kiểm soát khác, thông qua đề cao trách nhiệm cá nhân. Nói một cách hình ảnh, nếu biết ra lệnh thì chỉ là quan chức, còn biết truyền cảm hứng và chủ động chịu trách nhiệm thì đó là người lãnh đạo, quản lý đúng nghĩa. Một trong những thử thách của sự lãnh đạo, quản lý chiến lược là khả năng giải quyết vấn đề một cách khoa học và dân chủ, đó cũng là mấu chốt đối với công việc kiểm soát quyền lực.

V.I. Lê-nin đã chỉ rõ rằng: “Lý do tồn tại của tổ chức đảng, và của các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng và nhiều mặt của tất cả những đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, kinh nghiệm cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm - là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp”. Điều đó cho thấy rằng, sự nhạy bén chính trị cũng như việc kiểm soát quyền lực là những khâu quan trọng trong công cuộc lãnh đạo, cầm quyền của đảng cộng sản. Quyền lực được nhân dân ủy thác và giao phó cho Nhà nước; đến lượt mình, Nhà nước quản lý mang tầm chiến lược, chủ động đón nhận sự ủy thác quyền lực từ nhân dân và hoàn thành việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách xứng đáng, theo phương châm minh bạch, dân chủ và đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định một cách thống nhất. Điều đó sẽ bảo đảm vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, nhằm kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác vận động, tuyên truyền

 

Quốc hội thông qua cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là vận động nhân dân thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, Đảng chú ý lắng nghe ý kiến, tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân. Để đổi mới hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác vận động, tuyên truyền, mỗi đảng viên tham gia Quốc hội phải ra sức rèn luyện đạo đức gắn với học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... để có phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Thứ hai, đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa cử tri và Quốc hội, lắng nghe tiếng nói của cử tri về những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tập hợp những ý kiến đó, chuyển tải đến Đảng; đồng thời, tập hợp, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, hội đồng, các ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ tham vấn minh bạch đối với nhu cầu, ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân về các chủ trương, đường lối và chính sách, đánh giá tác động của chính sách, pháp luật trong chương trình pháp luật, đánh giá thực hiện chính sách, tác động chính sách; từ đó, tham mưu với Đảng hoạch định “đúng” và “trúng”, kịp thời những vấn đề phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong bối cảnh mới.

Thứ tư, công tác dân nguyện không chỉ tham mưu thực hiện tốt công tác dân nguyện của Quốc hội, mà còn chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn, thư của công dân, đi sâu phân tích, đánh giá kiến nghị cử tri, đôn đốc các cơ quan giải quyết kiến nghị của cử tri; từng bước khắc phục được tình trạng chuyển đơn, thư qua lại giữa các cơ quan của Quốc hội, thực hiện khẩn trương, hiệu quả hơn việc trả lời và thực hiện kiến nghị của cử tri. Chú trọng nắm bắt tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời chuyển tải đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ năm, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần phải ra sức học tập đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện “nói đi đôi với làm”, trở thành tấm gương sáng trong cơ quan và bên ngoài xã hội; từ đó, tạo uy tín, sức hút tự nhiên đối với các tầng lớp nhân dân trong xã hội.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác tổ chức cán bộ

 

Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó có quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Báo cáo chính trị của Đại hội VI chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật... Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã đề cập thêm một nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Nhiệm vụ đặt ra với Quốc hội là kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, đổi mới quy trình ban hành luật. Quốc hội cần làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã thực hiện nhiều quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và công tác tổ chức cán bộ của Quốc hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những nhiệm kỳ vừa qua, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội về công tác tổ chức cán bộ như sau:

Một là, trước mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội xây dựng đề án công phu về các nội dung lớn của cuộc bầu cử, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến; đồng thời, triển khai nghiêm túc kết luận của Bộ Chính trị về đề án bầu cử. Tuy nhiên, Đảng không làm thay, cụ thể là không ấn định về cơ cấu đại biểu, không quy định cơ cấu “cứng” phân bổ cho cơ quan, tổ chức. Thời gian qua, hầu hết người giới thiệu ứng cử trong cơ cấu “cứng” là lãnh đạo cơ quan, tổ chức làm cho tỷ lệ đại biểu là nhà khoa học và các giới, các ngành chưa cao, dẫn đến việc tỷ lệ không nhỏ đại biểu Quốc hội “gánh nhiều cơ cấu”. Xu hướng tăng dần đại biểu Quốc hội chuyên trách từ khoảng 5 - 6% tổng số đại biểu Quốc hội đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX lên 25,1% ở Quốc hội khóa XI, khoảng 35 - 40% ở Quốc hội khóa XIII và tăng khoảng 5% ở mỗi nhiệm kỳ tiếp theo là tín hiệu tốt; bởi vì, việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách sẽ giúp Quốc hội hoạt động hiệu quả, chất lượng hơn.

Hai là, đổi mới công tác cán bộ, lựa chọn người đủ đức, đủ tài tham gia vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân sự cấp chiến lược phải chịu trách nhiệm trước Đảng về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tức là gắn việc lựa chọn nhân sự cấp chiến lược với thực hiện chính sách; nói cách khác là tích hợp phương thức lãnh đạo bằng công tác cán bộ với phương thức lãnh đạo bằng chính sách. Nhân sự cơ cấu vào các ủy ban của Quốc hội như hiện nay về cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự kết nối giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có 3 cơ quan giúp việc về các lĩnh vực công tác đại biểu, dân nguyện, lập pháp. Đặc biệt, Ban Công tác đại biểu làm tốt công tác tham mưu, việc phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đi vào nền nếp; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Trong thời gian qua, Đảng đã lãnh đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân công Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ba là, cần có cơ chế tăng cường vai trò, sự tham gia của Đảng đoàn Quốc hội và tổ chức đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội từ sớm, từ xa trong tham mưu với Đảng để quyết định chủ trương, đường lối, chính sách; có quy định về sự phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội và cơ quan trình nội dung nghị quyết ra Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm tạo sự đồng thuận trong hoạt động của Quốc hội. Đề cao vai trò của Bí thư, Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả hoạt động của Quốc hội, mở rộng thêm phạm vi đánh giá và cụ thể hóa bằng việc đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng đã hoạch định.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo qua các tổ chức đảng trong Quốc hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng Dân tộc và 9 ủy ban (từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII) thông qua các tổ chức đảng tại đây. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban có thường trực, gồm chủ tịch/chủ nhiệm, phó chủ tịch/phó chủ nhiệm và ủy viên hoạt động chuyên trách. Cần sớm hoàn thiện tổ chức đảng trong Quốc hội để gắn kết, quản lý chặt chẽ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định rõ vai trò của tổ chức đảng ở Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong lãnh đạo cơ quan tương ứng của Quốc hội; có mô hình tổ chức đảng đặc thù trong Quốc hội khi tăng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Năm là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, tập trung vào các đại biểu Quốc hội chuyên trách, giúp Đoàn đại biểu Quốc hội phát huy được vai trò là cầu nối giữa đại biểu và công dân cử tri, cung cấp thêm nhiều thông tin, dữ liệu minh bạch hơn cho hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, giúp đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ.

Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng qua tìm kiếm, lựa chọn nhân tài là nhân sự cấp chiến lược vào bộ phận hỗ trợ, tham mưu cho Quốc hội, điển hình như vị trí Tổng Thư ký Quốc hội và tăng cường kỷ cương hành chính, mục tiêu cải cách hành chính đối với Văn phòng Quốc hội.

HAIVAN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách lớn

 

Trong thời gian qua, Quốc hội đã làm tốt nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành luật và nghị quyết của Quốc hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định nội dung thẩm tra bắt buộc về sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng đoàn Quốc hội đã phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Các chủ trương, chính sách lớn, phức tạp đều được kịp thời báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư để có phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả. Đảng đoàn Quốc hội luôn thực hiện nghiêm túc việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những định hướng lớn về nội dung các hoạt động của Quốc hội, những vấn đề chủ yếu của một số dự án luật, pháp lệnh quan trọng, có tác động và ảnh hưởng đến tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân.

Quốc hội kịp thời phản ánh với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xây dựng đất nước nhằm góp phần vào việc định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội đã có nhiều đổi mới trong việc xin ý kiến Bộ Chính trị. Các nội dung báo cáo xin ý kiến được phân thành nhóm vấn đề, để vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vừa phát huy dân chủ trong thảo luận của Quốc hội, bao gồm vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo cụ thể, vấn đề báo cáo để Bộ Chính trị nắm thông tin và xin được trình Quốc hội xem xét, thảo luận.

Kế thừa những kết quả trong thời gian qua, trong giai đoạn tiếp theo cần đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối chính trị để giúp Đảng lãnh đạo Nhà nước toàn diện, trong đó có lãnh đạo Quốc hội. Với vai trò của mình, Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện đường lối chính trị được tuyên ngôn trong Cương lĩnh và những chủ trương lớn của Đảng. Đường lối chính trị được xác định cụ thể trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng và cụ thể hóa tại các hội nghị Trung ương bằng các nghị quyết chuyên đề xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thảo luận về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, ban hành kịp thời nghị quyết; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, gợi ý giải pháp và công cụ chính sách phù hợp để Nhà nước thực hiện. Một mặt, Quốc hội là một thành tố trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính sách này; mặt khác, là cơ quan thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, có sức cạnh tranh quốc tế theo yêu cầu, định hướng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các mục tiêu chính sách trong các lĩnh vực, ngành trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã được hoạch định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm Đảng không làm thay Nhà nước, trong đó có Quốc hội, trong việc tổ chức thực hiện chính sách trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời, trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách lớn, Đảng lãnh đạo Nhà nước, trong đó có Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách qua các chức năng của Quốc hội, như ban hành các nghị quyết, chương trình pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng, giám sát tối cao... Các mục tiêu chính sách cần được đo lường cụ thể bằng các chỉ số, các tiêu chí định lượng để thuận lợi cho việc thực hiện, giám sát đánh giá.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Quốc hội thực hiện chính sách bằng chương trình pháp luật (thông qua các luật) và chương trình giám sát, thực hiện chính sách thông qua các quyết định quan trọng; trong đó, quá trình thực hiện ngân sách Quốc hội cũng là việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, từ việc phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, qua các hoạt động của Quốc hội đều gắn với việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng với tư cách là thành tố cốt lõi lãnh đạo hệ thống chính trị đã hoạch định và xây dựng. Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng gắn liền với đổi mới hoạt động của Quốc hội, tạo thành xung lực lớn thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Thời gian qua, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, như giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phòng, chống tham nhũng, ứng phó với biến đổi khí hậu, tự chủ và xã hội hóa cung ứng dịch vụ công, giáo dục - y tế, phòng, chống đại dịch COVID-19,... đều gắn với chương trình pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng, như quyết định ngân sách, quyết định đầu tư công phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ ban hành luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.

Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền trách nhiệm kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách. Nhà nước, trong đó có Quốc hội, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách thông qua chương trình pháp luật, thông qua các luật, bảo đảm hiệu lực các luật và hệ thống pháp luật, sự tuân thủ pháp luật thông qua hoạt động giám sát, căn cứ vào các mục tiêu chính sách của từng lĩnh vực, từng ngành với các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chính sách, tác động chính sách (sau thực hiện), thông qua sơ kết, tổng kết các nghị quyết được ban hành vào giữa nhiệm kỳ hoặc kết thúc nhiệm kỳ của Nhà nước, Quốc hội, để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện, tác động của các chủ trương, chính sách một cách đầy đủ nhất.   

Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm tăng cường chất lượng phân tích chính sách, tham vấn chính sách, bảo đảm các mục tiêu chính sách phù hợp, đồng thuận đối với Nhà nước, nhất là Quốc hội với cộng đồng xã hội. Mấu chốt của việc đổi mới ở đây là, trên cơ sở đường lối chính trị thể hiện trong Cương lĩnh, các nghị quyết được ban hành “đúng” và “trúng”, nhất là các nghị quyết chuyên đề, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội tổ chức thực hiện. 

Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tạo sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động lập pháp đối với một số chủ trương, đường lối, chính sách mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định khung để Quốc hội thảo luận, quyết định cụ thể trong phạm vi chủ trương của Đảng; đồng thời, giúp Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh các nội dung chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề quan trọng, mà qua thảo luận tại Quốc hội còn có ý kiến khác nhau. Với từng nhiệm kỳ Quốc hội, Đảng có định hướng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ.

HAIVAN

Quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

 

Quan điểm, nguyên tắc:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo Cương lĩnh và các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức, hoạt động của Quốc hội; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Hiến pháp, pháp luật quy định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi đôi với đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo phương châm thực hiện từng bước, có lộ trình hợp lý, phù hợp.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tuân thủ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo đảm phát triển bền vững trong tương lai.

Mục tiêu:

Mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhằm xây dựng Quốc hội vì nhân dân, thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, khoa học, tăng tính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045; cụ thể là:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vừa bảo đảm phát huy vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vừa bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội. Tăng tính chuyên nghiệp, phát huy dân chủ, tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong khuôn khổ Hiến pháp; xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động, trách nhiệm, chuyên sâu, chuyên nghiệp, tăng tính nghiên cứu khoa học, nhạy bén, bao quát được hiệu lực hoạt động, đề xuất được sáng kiến nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Chất lượng hoạt động lập pháp được nâng cao, đổi mới quy trình, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thực chất hơn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát. Tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm thực hiện chức năng đại diện của nhân dân; đổi mới hình thức hoạt động của Quốc hội; xây dựng Quốc hội điện tử. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện bộ máy giúp việc khoa học, chủ động, chuyên nghiệp, chuyên sâu.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Quốc hội khoa học, hiện đại, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, hướng tới hoạt động thường xuyên, thực sự vì nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện đầy đủ, chuyên nghiệp chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của các cơ quan nhà nước, hiến định vị trí, vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, của cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Phát huy vị trí, vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, đồng bộ, thống nhất, ổn định, khả thi, công khai, minh bạch, thúc đẩy sáng tạo, bền vững, ứng phó kịp thời trước những chuyển biến nhanh của thực tiễn và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo đảm giữ vững quốc phòng - an ninh trong điều kiện mới.

HAIVAN