Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Phát triển ​vùng đồng bằng sông Hồng tương xứng với tiềm năng và lợi thế vượt trội của vùng

 Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đồng thời định hướng phát triển vùng theo hướng "Khai thác tốt hơn và phát huy tốt nhất các lợi thế của mỗi vùng về kết cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế - chính trị, nguồn nhân lực và tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo không gian phát triển mới..."

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng, chủ trì Hội nghị Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng lần thứ nhất _ Ảnh: VGP

Trong năm 2022, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành sáu Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh sáu vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, gồm Trung du, miền núi Bắc Bộ; đồng bằng sông Cửu Long; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ; vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng. Mỗi vùng đều có những đặc điểm, tiềm năng, lợi thế cũng như khó khăn, thách thức mang tính đặc thù riêng. Để phát huy được tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng và cả nước, bên cạnh những chủ trương, chính sách phát triển chung cho cả nước cũng cần phải có các chủ trương, chính sách phát triển cụ thể, sát hợp, phù hợp với từng vùng. Bộ Chính trị các khóa trước đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề về phát triển vùng.

Điểm chung của sáu nghị quyết về phát triển các vùng lần này đã nêu yêu cầu phải phù hợp với các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, bảo đảm thống nhất với quy hoạch quốc gia, phù hợp với Chiến lược phát triển bền vững, Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia, thích ứng với biến đổi khí hậu... Vùng đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được phân thành 2 tiểu vùng là: Tiểu vùng Bắc đồng bằng sông Hồng (đồng thời cũng là Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ), gồm 7 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên; và Tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng, gồm 4 tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX và Kết luận số 13-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XI, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng”, một số địa phương đã phát triển bứt phá, trở thành điểm sáng của vùng và cả nước. Kinh tế vùng tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 - 2020 đạt 7,94%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước; quy mô kinh tế tăng nhanh, năm 2020 chiếm 29,4% GDP cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt 103,6 triệu đồng/năm, gấp 1,3 lần bình quân cả nước...

Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, nêu rõ, về mục tiêu của Nghị quyết số 30, có thể xem đây là nội dung hoàn toàn mới, đến năm 2030, đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ hiện đại và nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, xanh, tuần hoàn có giá trị kinh tế cao; trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao của cả nước; đi đầu về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số; có hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh, có tính kết nối cao.

Tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng cơ bản được giải quyết. Tổ chức đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường; quốc phòng, an ninh được giữ vững; quan hệ đối ngoại mở rộng, hội nhập quốc tế hiệu quả. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, dẫn đầu cả nước. Xây dựng Thủ đô Hà Nội "Văn hiến-Văn minh-Hiện đại," trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng và cả nước, phấn đấu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Đến năm 2045, đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái; là trung tâm kinh tế, tài chính lớn mang tầm khu vực và thế giới; trung tâm hàng đầu của cả nước về văn hoá, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, hiện đại, thông minh. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới, thông minh, xanh, bền vững. Người dân có thu nhập cao, cuộc sống thịnh vượng, hạnh phúc. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc. Các tổ chức đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố kết nối toàn cầu, ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và thế giới.

Phát triển vùng là một chủ trương xuyêt suốt và nhất quán của Đảng ta trong quá trình phát triển đất nước nhằm khai thác, phát huy cao nhất các tiềm năng, lợi thế của các vùng và các địa phương trong cả nước để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Ngay sau khi ban hành các nghị quyết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức các hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện đến các ban, bộ, ngành, địa phương; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm chính trị của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên nhằm triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển vùng. Trong các hội nghị triển khai các nghị quyết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh Nghị quyết ban hành là rất quan trọng, nhưng hơn hết phải thấm nhuần và thực hiện tốt, biến tư tưởng chỉ đạo, chính sách, chủ trương thành hiện thực sinh động, ra của cải vật chất. Lúc đó mới là thực hiện thành công nghị quyết.

Để tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm. Trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm của cả nước, của toàn vùng, của từng địa phương trong vùng, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Xác định rõ đây là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, chứ không chỉ là nhiệm vụ riêng của vùng và các địa phương trong vùng. Đồng thời, phải nhận thức thật đúng và giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa phát triển Vùng và phát triển chung của cả nước, "cả nước vì vùng và vùng vì cả nước". Tạo sự thống nhất cao trong nhận thức ở tất cả các cấp, các ngành về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Vùng và liên kết vùng. Liên kết vùng phải trở thành tư duy chủ đạo dẫn dắt sự phát triển toàn vùng và từng địa phương trong vùng...

Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện 6 nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là hết sức cần thiết, đúng đắn, góp phần thiết thực vào việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Phấn đấu đến năm 2030 nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao và phù hợp với bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực và trong nước.

Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, xác định, tiếp tục khơi dậy tiềm năng, lợi thế và cơ hội phát triển, đổi mới và tăng cường liên kết vùng để tạo động lực phát triển cho các địa phương và toàn vùng; khai thác hiệu quả vị trí đặc biệt của vùng để tiếp cận, hình thành các thị trường lớn, tham gia sâu hơn các chuỗi cung ứng, sản xuất toàn cầu; giữ gìn bản sắc văn hóa Đồng bằng sông Hồng.

Vùng đồng bằng sông Hồng là một trong 6 vùng kinh tế - xã hội của cả nước, là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và là một trong 4 vùng động lực phát triển kinh tế gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được phân thành 2 tiểu vùng là: Tiểu vùng Bắc đồng bằng sông Hồng gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên; Tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng gồm 4 tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Là vùng đất màu mỡ và giàu tiềm năng phát triển, có truyền thống lịch sử văn hiến, cách mạng, anh hùng, Vùng đồng bằng sông Hồng có nền văn hóa lâu đời, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể quý giá. Đồng thời, đây cũng là trung tâm hàng đầu về y tế, giáo dục-đào tạo, khoa học - công nghệ với đội ngũ trí thức giỏi và đông đảo lực lượng lao động có chất lượng cao; là cái nôi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho cả nước với nhiều trường đại học, trung tâm nghiên cứu có uy tín. Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng, ngày 14-9-2005, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW; ngày 28-10-2011, Bộ Chính trị khóa XI ban hành Kết luận số 13-KL/TW về phương hướng phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và thời kỳ 2011 - 2020.

Qua 17 năm thực hiện Nghị quyết và Kết luận của Bộ Chính trị các khóa IX và XI, các cấp ủy đảng, chính quyền, nhân dân trong vùng đã phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng, anh hùng vẻ vang và những tiềm năng, lợi thế vượt trội, nhất là về nguồn nhân lực, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, liên tục phấn đấu đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng. Quy mô kinh tế của vùng luôn được mở rộng; tỉ trọng đóng góp vào GDP cả nước tăng từ 26,9% năm 2010 lên 29,4% năm 2020. Thu nhập bình quân đầu người cao hơn 1,3 lần so với bình quân chung cả nước. Tổng thu ngân sách nhà nước của vùng chiếm tới 32,7% tổng thu ngân sách của cả nước, tốc độ tăng thu bình quân là 16,7%/năm. Tổng vốn đầu tư xã hội gấp 19,7 lần năm 2005 và chiếm 35,1%, đứng đầu cả nước. Số lượng đô thị vùng tăng nhanh, tỉ lệ đô thị hóa của vùng đến năm 2021 đạt 41%.

Mỗi tỉnh, thành phố trong vùng đã nhận diện và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế vượt trội của địa phương, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội và mọi mặt đời sống xã hội; đồng thời nỗ lực hướng tới các mục tiêu phát triển cao hơn, toàn diện hơn. Với tiềm năng lớn, là trung tâm “đầu não” về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học giáo dục của cả nước, Hà Nội đã xác định vai trò là đầu tàu kinh tế, động lực tăng trưởng của cả nước, luôn tiên phong với những mô hình kinh tế mới, cách làm sáng tạo. 

Mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước; GRDP giai đoạn 2026 - 2030 tăng 8,0-8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000 - 13.000 USD. Tầm nhìn đến năm 2045: Thủ đô Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết và Kết luận của Bộ Chính trị lần này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm của cả nước, của toàn vùng, của từng địa phương trong vùng, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Xác định rõ đây là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, chứ không phải chỉ là nhiệm vụ riêng của vùng và các địa phương trong vùng. Đồng thời, phải nhận thức thật đúng và giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa phát triển vùng và phát triển chung của cả nước: Cả nước vì vùng và vùng vì cả nước. Theo đó, nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; phát triển kinh tế vùng; phát triển hệ thống đô thị bền vững và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ hai, phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Thứ ba, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội cần sớm ban hành cơ chế điều phối liên kết phát triển vùng; thí điểm một số mô hình, cơ chế, chính sách mới vượt trội, có tính cạnh tranh quốc tế cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng cũng như tam giác động lực tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Thứ tư, các ban, bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm rà soát, đánh giá các chính sách thi hành Luật Thủ đô, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù trong quá trình xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng như Quy hoạch Thủ đô và điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đang trong quá trình xây dựng.

Thứ năm, cần có cơ chế chỉ đạo, phối hợp, thống nhất quan điểm phát triển toàn diện, bền vững cho cả vùng. Từ đó tạo sự liên kết trong xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển của từng tỉnh, thành phố, phát huy thế mạnh riêng, tạo sức mạnh chung, bảo đảm đồng bộ, hài hòa, hiệu quả, không xung đột, chia cắt, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của các tỉnh, thành phố thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng. 

Thứ sáu, cần quán triệt các quan điểm lớn, từ đó nhận diện sâu sắc hơn về những tiềm năng thế mạnh văn hóa của vùng. Theo đó, sản phẩm du lịch phải mang tầm dầu ấn văn hóa. Tập trung xác định Thủ đô sẽ là trung tâm để kết nối, liên kết vùng để phát triển, liên kết các sản phẩm du lịch.

Thứ bảy, tiếp tục phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế vượt trội của vùng. Ban hành các cơ chế, chính sách có tính đột phá, khả thi để đẩy mạnh phát triển công nghiệp vùng theo hướng hiện đại, công nghệ cao, ít phát thải khí nhà kính, có khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng cao, tham gia sâu, toàn diện vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu.

Nghị quyết số 30-NQ/TW là sản phẩm kết tinh từ trí tuệ tập thể, là kết quả tổng hợp từ các Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của 11 địa phương trong vùng và 20 bộ, ngành. Nghị quyết cũng là cơ sở, căn cứ chính trị quan trọng để các bộ, ngành và các địa phương trong Vùng đồng bằng sông Hồng ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm khai thác tốt hơn nữa các tiềm năng, lợi thế, điều chỉnh, bổ sung nguồn lực, tạo ra những “cú hích” phát triển bứt phá mạnh mẽ hơn nữa./.

Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay

 Ngày 12-10-2023, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay”.

Chủ trì hội thảo có các đồng chí: PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản.

Dự hội thảo có các đồng Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo ba cơ quan phối hợp tổ chức hội thảo, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành trung ương và một số địa phương, các nhà trường, học viện, các chuyên gia, nhà khoa học.

PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo _  Ảnh: Quang Hanh

Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khẳng định, trong hơn 36 năm đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; thành tựu đó có nguyên nhân là do Đảng luôn kiên định dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh nhân dân và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tiễn đã minh chứng, phải thường xuyên củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức thì mới có khả năng quy tụ lực lượng, cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo nên động lực, nguồn lực và sức mạnh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự vững chắc của khối liên minh này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cơ sở và bảo đảm cho sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh, hội thảo bàn tới những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay là dịp để bàn thảo, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy vai trò to lớn của nhân dân, đặc biệt là làm rõ hơn những vấn đề mới đặt ra, từ đó, đề xuất những giải pháp phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân để phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản phát biểu đề dẫn hội thảo _ Ảnh: Quang Hanh

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu 5 bài học kinh nghiệm được tổng kết từ những thành công và cả từ những hạn chế, trong đó có 2 bài học kinh nghiệm quan trọng là: Thứ nhất, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước. Thứ hai, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết, đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Thực tiễn hơn 36 năm đổi mới ngày càng khẳng định việc dựa vào nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nhân dân là đường lối chiến lược, là nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định, là nhân tố bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp cao cả đó, mọi động lực phát triển đều có vai trò quan trọng, cần được phát huy, nhưng đoàn kết toàn dân là động lực chủ yếu và phát huy sức mạnh nhân dân để phát triển đất nước là một luận điểm mang tầm chiến lược, vì xét đến cùng, con người là nhân tố trung tâm, quyết định, có tiềm năng vô tận, bền vững nhất…, một khi được tổ chức và đoàn kết lại sẽ tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn. Chính vì vậy, phát huy sức mạnh nhân dân đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được vận dụng để khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.

Theo đó, các tham luận hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận làm rõ các nội dung chính sau:

Một là, về vai trò của nhân dân, sức mạnh nhân dân; chủ thể, nội dung, phương thức, cơ chế phát huy vai trò và sức mạnh nhân dân - đây là những vấn đề vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần được làm sáng tỏ để cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Một số tham luận đi sâu phân tích, làm rõ vấn đề lý luận cơ bản về “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân”, những thành tố cấu thành, cội nguồn sức mạnh của nhân dân, ý nghĩa của việc phát huy sức mạnh nhân dân trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo.

Các đại biểu phát biểu tại Hội thảo khoa học “Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay”_ Ảnh: Quang Hanh

Hai là, tập trung thảo luận, làm rõ những vấn đề mới đang đặt ra hiện nay về phát huy sức mạnh nhân dân nói chung và trong từng lĩnh vực, địa bàn cụ thể nói riêng; việc làm rõ những vấn đề đặt ra có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ chỉ khi nhận diện được đúng và trúng những vấn đề đặt ra thì chúng ta mới có đủ căn cứ xác đáng để đề xuất những quan điểm, giải pháp, biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hạn chế và thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này.

Ba là, nhiều tham luận hội thảo đã đề xuất quan điểm và những giải pháp đồng bộ, khả thi để phát huy tốt hơn, nhiều hơn, hiệu quả hơn nữa sức mạnh nhân dân trong thời gian tới; đặc biệt là, đã trao đổi, thảo luận chuyên sâu để đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế phát huy vai trò, vị trí và sức mạnh của mỗi người dân, cơ chế phát huy vai trò, vị trí và sức mạnh của mọi tầng lớp xã hội, giai tầng, giai cấp… trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta.

Ban Tổ chức hội thảo đã nhận được gần 50 tham luận tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và nhà lãnh đạo, quản lý, hoạt động thực tiễn, thể hiện sự quan tâm, tập trung làm rõ nhiều nội dung liên quan tới vị trí, vai trò, ý nghĩa của sức mạnh nhân dân và phát huy sức mạnh nhân dân trong bối cảnh mới. Có 11 tham luận được phát biểu tại hội thảo đã đề cập tới nhiều vấn đề rất sâu sắc, phong phú.

Hội thảo góp phần tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương phát biểu kết luận hội thảo _  Ảnh: Quang Hanh

Kết luận hội thảo, TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương nhấn mạnh, cần tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò to lớn của nhân dân và nội hàm phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn hiện nay, hướng tới mục tiêu phát đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Các báo cáo tham luận đã bàn sâu nội dung lý luận và thực tiễn mới về đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc để phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, làm rõ nội dung phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong công tác dân vận, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước ta hiện nay.

Đặc biệt, nhiều vấn đề mới đặt ra từ kinh nghiệm thực tiễn phát huy sức mạnh nhân dân của một số địa phương đã cung cấp những luận cứ thực tiễn quan trọng về phương thức, cách làm để qua đó, góp phần hoàn thiện lý luận về vấn đề phát huy mạnh mẽ hơn nữa sức mạnh nhân dân trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Nhiều tham luận đã tổng kết quá trình thực hiện nội dung, quan điểm mang tính chiến lược của Đảng về phát huy sức mạnh nhân dân trong thời gian qua; chỉ ra những kết quả đạt được, cần tiếp tục phát huy và những hạn chế, yếu kém cần nhanh chóng khắc phục trong thời gian tới.

Qua những tham luận tại hội thảo, chúng ta càng có đủ cả cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn để khẳng định rằng, phát huy sức mạnh nhân dân đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bài học kinh nghiệm này còn nguyên giá trị, cần tiếp tục vận dụng nhằm khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước./.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng đại biểu dân cử hiện nay

 Ngày nay, trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ và trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là phải: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”(11) thì tất yếu phải tiếp tục nâng trình độ của đại biểu nhân dân lên một tầm cao mới theo quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tuân thủ tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng; cụ thể là:

Nhân rộng kiến thức - nâng tầm trí tuệ của đại biểu

Như đã biết, tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp (Quốc hội) và cơ quan hành pháp (Chính phủ) hoàn toàn khác nhau. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ hiện nay gồm các bộ, cơ quan ngang bộ. Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công; Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Còn hoạt động của Quốc hội - cơ quan lập pháp - thì không chỉ tập trung riêng vào một lĩnh vực nào, mà phải bao quát toàn bộ lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội, bám sát toàn bộ hoạt động (chuyển động) của đất nước. Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số; do đó, bất kỳ vấn đề gì, thuộc lĩnh vực nào cũng yêu cầu đại biểu có ý kiến đóng góp, có chính kiến (chứ không phải ngồi chờ, khi nào có việc nào đúng với chuyên môn, nghiệp vụ của mình thì mới tham gia phát biểu). Cơ cấu đại biểu theo trình độ học vấn (cấp độ được đào tạo) của đại biểu Quốc hội khóa XV do Hội đồng bầu cử quốc gia công bố tại Báo cáo số 783/BC-HĐBCQG, ngày 14-7-2021: Trình độ trên Đại học có 392 đại biểu (78,56%), trong đó Tiến sĩ là 144 đại biểu, Thạc sĩ là 248 đại biểu; trình độ Đại học có 106 đại biểu (21,24%); dưới Đại học, duy nhất chỉ có 1 đại biểu (0,2%); về chức danh, có 12 Giáo sư, 20 Phó Giáo sư. Khóa này có tới 181 đại biểu có kiến thức luật học (36,3%), cao hơn nhiều so với nhiều khóa trước. Tuy nhiên, các số liệu đó mới chỉ nói lên tiềm năng của Quốc hội, chứ chưa thể khẳng định điều gì về kết quả hay hiệu quả hoạt động. Vì thực tế cho thấy, tuyệt đại bộ phận đại biểu chỉ được đào tạo, có kiến thức về một chuyên môn, thậm chí là một chuyên môn hẹp; rất ít đại biểu nắm vững hai, ba chuyên môn. Trong khi đó, về tất cả vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, khoa học, kỹ thuật, chính trị, xã hội... đều cần đại biểu có ý kiến, đóng góp trí tuệ. Đây là một thách thức cực lớn đối với đại biểu, nhất là đối với số 65 - 70% trong tổng số là những đại biểu mới tham gia Quốc hội lần đầu.

Các đại biểu Quốc hội trao đổi bên hành lang hội trường Diên Hồng tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XV _Ảnh: Tư liệu

Bởi vậy, việc mỗi đại biểu cần nhanh chóng mở rộng sự hiểu biết của bản thân sang các lĩnh vực chưa biết, chưa được đào tạo là vô cùng cấp thiết. Xin lưu ý rằng, đây không phải là vấn đề mới. Năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc còn gay go, điều kiện học tập còn vô vàn khó khăn, nhưng Bác Hồ vẫn yêu cầu đội ngũ cán bộ: “ai lãnh đạo trong ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn về ngành ấy... có thế lãnh đạo mới sát”(12). Đến giai đoạn miền Bắc thực thi hai nhiệm vụ chiến lược, Người lại yêu cầu việc học tập phải ở mức độ cao hơn. Ngày 18-1-1967, tại một lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, Người nói, cán bộ, đảng viên phải “chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống của nhân dân ngày càng no ấm, tươi vui”(13). Nghĩa là, cán bộ, đảng viên không nên chỉ biết một chuyên môn, mà còn phải biết mở rộng kiến thức sang nhiều chuyên môn, lĩnh vực khác. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay đã hơn 55 năm, nhưng vẫn còn vẹn nguyên giá trị, càng trở nên thiết thực, cấp bách đối với đại biểu Quốc hội hiện nay. Hoạt động ở Quốc hội cần có kiến thức về pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ...; mỗi lĩnh vực lại có rất nhiều chuyên ngành cụ thể, chuyên môn sâu. Do vậy, đại biểu phải có ý thức tự học, tự đào tạo theo phương thức: Học ngay từ những ngày đầu hoạt động Quốc hội; học quy trình, thủ tục các hoạt động của Quốc hội; biết kinh tế rồi thì học pháp luật; biết pháp luật rồi thì học các vấn đề xã hội, học sang các lĩnh vực khác; học phương pháp tổng hợp kiến thức, phương pháp diễn đạt, cách thức đối thoại... Trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số hiện nay, đại biểu phải nhanh chóng trang bị, cập nhật kiến thức mới thì mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Đại biểu càng hiểu biết rộng càng tốt, càng có kiến thức chuyên sâu càng hay; có như thế, mới có thể đóng góp hữu ích, thiết thực cho Quốc hội.

Rèn luyện, phấn đấu nâng cao bản lĩnh của người đại biểu

Đảng ta đang tập trung “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(14). Đại biểu Quốc hội là chính trị gia thì cũng thuộc đội ngũ cán bộ này. Và đó cũng là nội hàm cơ bản của khái niệm bản lĩnh mà hiện nay, Đảng ta đã khái quát lại thành “7 dám”. Bản lĩnh của đại biểu Quốc hội cũng chi phối toàn bộ 5 tiêu chuẩn của đại biểu dân cử ở các cấp độ, phạm vi khác nhau.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch liên tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta bằng mọi thủ đoạn thâm độc, đặc biệt là thủ đoạn công phá nền tảng tư tưởng, thì khi có bản lĩnh chính trị kiên trung sẽ giúp cho đại biểu Quốc hội vững vàng thực hiện tiêu chuẩn số 1 với hiệu quả cao nhất, đó là luôn luôn “Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Có bản lĩnh, đại biểu sẽ không bao giờ dao động, lung lay, nao núng, nghiêng ngả trước mọi luận điệu xuyên tạc trắng trợn hay những đòn tâm lý thâm độc của các thế lực thù địch và như thế, sẽ không rơi vào tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Có bản lĩnh thì đại biểu mới hun đúc, rèn luyện và giữ gìn được phẩm chất, đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - điều mà Bác Hồ đặt ở vị trí hàng đầu, với mỗi đại biểu nhân dân là tiêu chuẩn số 2. Có bản lĩnh thì người đại biểu mới có gan kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Cử tri coi thái độ trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là thước đo phẩm giá, đạo đức, nhân cách của người đại biểu của họ.

Muốn giữ vững và phát huy cao độ bản lĩnh thì người đại biểu nhân dân phải thường xuyên phấn đấu không ngừng, giữ gìn bản thân và gia đình mãi mãi trong sạch, đặc biệt là phải “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Họ phải luôn tâm niệm lời dạy của Bác Hồ: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(15).

Đại biểu dân cử phải là người hoạt động thực tiễn, có kinh nghiệm và uy tín

Trong 5 tiêu chuẩn của đại biểu nhân dân, có rất nhiều yêu cầu cụ thể đối với đại biểu, trong đó có 3 yêu cầu rất quan trọng mang tính thời sự, đó là kinh nghiệm, uy tín và tín nhiệm của người đại biểu. Cụ thể là, đại biểu phải, “có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội” (tiêu chuẩn số 3) và “Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm” (tiêu chuẩn số 4). Tiêu chuẩn đại biểu hiện hành là như thế, song những yêu cầu này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng rất sớm, ngay từ tháng 10-1947. Về kinh nghiệm, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người dành cả Chương II- Mấy điều kinh nghiệm để dạy cán bộ (đương nhiên trong đó có đại biểu Quốc hội). Trong 6 nhóm kinh nghiệm thì có các kinh nghiệm lớn: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”; “Chính sách thì đúng, cách làm thì sai”; “Không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc” và phải “Sát quần chúng, hợp quần chúng”... Về uy tín và tín nhiệm, trong Chương IV- Vấn đề cán bộ, Bác Hồ dạy các vị lãnh đạo, các nhà làm công tác tổ chức và cán bộ những yêu cầu rất cụ thể, thiết thực, đó là: “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không”(16).  Ứng vào việc lựa chọn đại biểu dân cử ngày nay, thì đó là một bài học kinh nghiệm thực tiễn sống động, vô cùng sâu sắc. Kinh nghiệm, không phải sinh ra là đã có, mà phải trải qua một thời gian hoạt động, làm việc đủ lâu, đủ sâu mới tích lũy được. Uy tín, tín nhiệm, không chỉ phụ thuộc vào độ dài thời gian hoạt động thực tiễn, mà còn lệ thuộc vào trí tuệ, năng lực, trình độ công tác, kết quả công việc, và còn phải gắn chặt với phẩm chất, đạo đức, lối sống của mỗi người nói chung và của mỗi đại biểu dân cử nói riêng. Nghĩa là, khi đề cử, lựa chọn đại biểu dân cử thì phải đánh giá được “quá khứ gần cho đến thực tại”, chứ không chỉ nhìn vào hiện tại với bản sơ yếu lý lịch có nhiều chức vụ quan trọng, có đủ cả chức danh, học vị bậc cao.

Tiêu chuẩn số 4 đối với đại biểu là, phải “Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm”. Cách viết tiêu chuẩn này là theo văn phong pháp luật, ngôn ngữ hiện đại, còn năm 1947 thì Bác Hồ đã chọn cách viết để làm sao cho người đọc dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất. Vì vậy, không ai là không hiểu tường tận câu nói của Người, “người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không”. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là nội dung của lời dạy, nội hàm của tiêu chuẩn: Người cán bộ, người đại biểu nhân dân có sống cuộc sống của nhân dân không? có lo nỗi lo của nhân dân không? có trăn trở cái trăn trở của nhân dân không? và có làm tròn trách nhiệm phản ánh ý nguyện của nhân dân đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không?

Chúng ta phải luôn nhớ rằng, việc cán bộ, đảng viên phải thật sự gắn bó với nhân dân, phục vụ nhân dân đã được Bác Hồ dạy từ trước Cách mạng Tháng Tám và trong Di chúc, Người vẫn nhắc lại quan điểm này. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong tất cả văn kiện Đại hội các khóa và trong tất cả Nghị quyết Trung ương, Đảng ta đều nhấn mạnh vấn đề then chốt đó. Đặc biệt, khi sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội năm 2020, Bộ Chính trị đã cho ý kiến rất chặt chẽ về từng tiêu chuẩn của đại biểu, và lưu ý đầy đủ đến tiêu chuẩn “liên hệ chặt chẽ với Nhân dân”./.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và tư cách của người đại biểu nhân dân

 Vai trò và tư cách của đại biểu Quốc dân Đại hội Tân Trào - hiện thân tiêu biểu cho vai trò, tư cách của người đại biểu nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nghiền ngẫm, tổng kết cả một “Tổng kho tri thức cách mạng”, trong đó có “kho tàng tri thức” về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Ngay từ tháng 10-1944, Người đã chỉ rõ rằng, muốn lập nên một Nội các (Chính phủ) thì về trình tự là phải thành lập Nghị viện (Quốc hội) trước đã. Trong điều kiện chưa giành được chính quyền thì phải có một tổ chức tương đồng. Người nói: “... chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc toàn quốc đại biểu đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”(1). Cơ cấu đó chính là Quốc dân Đại hội Tân Trào - Tiền thân Quốc hội, với vai trò một Quốc hội lâm thời của đất nước, được Đảng ta do Người đứng đầu, tiến hành tổ chức vào các ngày trung tuần tháng 8-1945.

Quốc dân Đại hội Tân Trào chỉ có hơn 60 đại biểu, nhưng tư cách, phẩm chất của các đại biểu hoàn toàn xứng đáng với vai trò đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, cả về cơ cấu vùng, miền, đoàn thể, cơ cấu theo đảng phái chính trị cũng như đại diện cho các giới và các tầng lớp xã hội... Có thể nói, trong Quốc dân Đại hội Tân Trào, đại biểu vùng, miền, trí thức, công, nông, thanh, phụ, dân tộc đều có mặt đầy đủ, hoàn toàn đáp ứng yêu cầu một cuộc toàn quốc đại biểu đại hội. Trong điều kiện giao thông liên lạc đầy khó khăn, việc đi lại qua các vùng địch kiểm soát gắt gao, hết sức phức tạp và nguy hiểm, thì việc Bác Hồ và Tổng bộ Việt Minh xây dựng được cơ cấu thực tế của Đại hội như vậy là nỗ lực rất lớn. Tất cả đều có chung một ý chí, sẵn sàng phấn đấu, hy sinh quên mình vì sự nghiệp lớn, giải phóng dân tộc, giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “trên nền tảng hoàn toàn độc lập”. Đó cũng chính là vai trò, thể hiện trọng trách và tư cách lớn lao của các đại biểu Quốc dân Đại hội Tân Trào. Như vậy, vai trò và tư cách của người đại biểu nhân dân đã được xác lập ngay từ “đêm trước” của Cách mạng Tháng Tám.

Quốc dân Đại hội Tân Trào xác định 10 chính sách lớn của Việt Minh được ghi trong Nghị quyết của Đại hội ngày 16, 17-8-1945(2). Cũng cần phải nói thêm rằng, 10 chính sách lớn của Việt Minh có giá trị như một bản Hiến pháp tạm thời để Mặt trận dân tộc giải phóng (Chính phủ lâm thời) sau khi Cách mạng thành công, giành được chính quyền thì căn cứ vào đó mà hành động. Mười chính sách của Việt Minh nói chung, vai trò và tư cách của đại biểu Quốc dân Đại hội nói riêng đều thấm đẫm tư tưởng, trí tuệ mẫn tiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Và sau này, Người cũng nhắc lại nhiều lần các tiêu chí này của người đại biểu nhân dân trong hoạt động ở Quốc hội.

Đại biểu nhân dân phải một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

 Ngày 5-1-1946, trong đợt tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu” và “Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng”(3).

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, hòa bình được lập lại trên miền Bắc. Ngày 26-4-1960, phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa II tại Hà Nội ra mắt cử tri, Người nói: “Quốc hội khóa I là Quốc hội chiến đấu. Quốc hội đã đoàn kết nhân dân và giúp đỡ Chính phủ đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang... Quốc hội khóa II phải là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Vì vậy, Quốc hội phải có những đại biểu thật xứng đáng, những đại biểu một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và phục vụ chủ nghĩa xã hội... Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”(4).

Sau đó, phát biểu tại lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa III, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi xin hứa với Quốc hội rằng: Vì Tổ quốc, vì nhân dân, chúng tôi sẽ luôn luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình, quyết không phụ lòng tin cậy của đồng bào và Quốc hội.

Về phần tôi,

Bảy mươi tư tuổi vẫn không già,
Cố gắng làm tròn nhiệm vụ ta.
Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng(5).

Ngày 20-5-1968, dịp khai mạc Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa III, Người đọc mấy câu thơ:

Bảy mươi tám tuổi, chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước! Ta cùng con em ta(6).

Như vậy, Người đại biểu nhân dân Hồ Chí Minh luôn trăn trở, thường xuyên nghĩ đến trách nhiệm cao cả của mình, đó là phải vững vàng “hai vai việc nước nhà”.

Đại biểu nhân dân phải là người dũng cảm chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu

Suốt 24 năm (1945 - 1969), là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, người đại biểu nhân dân mẫu mực nhất, bao giờ Bác Hồ cũng quan tâm tới thực tiễn chiến đấu, sản xuất, dựng xây phải đi đôi với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô, tham nhũng và Người là người thực hành điều đó triệt để nhất. Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, Người tuyên bố: “Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”(7). Ngày 27-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ từ 5 năm đến 20 năm khổ sai và kẻ nhận hối lộ phải nộp phạt số tiền gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Người dạy rằng, pháp luật của ta phải “... thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(8). Người giải thích, phải nghiêm trị như thế vì “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”(9). Như chúng ta đã biết, kể từ khi tuyên bố điều đó cho đến khi “đi vào cõi vĩnh hằng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang thực hiện hết sức nghiêm túc, có hiệu quả cao công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Đại biểu nhân dân phải là người làm việc khoa học, phải biết chấn chỉnh lề lối làm việc, giảm dần nạn giấy tờ

Lề lối làm việc khoa học, sắp xếp giấy tờ gọn gàng và hợp lý là yêu cầu được Bác Hồ đặt ra ngay từ đầu tháng 3-1954. Người đã phê bình rất nghiêm khắc nạn giấy tờ dài dòng, tình trạng làm việc luộm thuộm, thiếu tính khoa học ở nhiều cơ quan nhà nước. Người thẳng thắn chỉ rõ: “Từ các bộ ở Trung ương đến cơ quan các xã, nạn giấy tờ rất nặng, làm hại rất nhiều.

... - Giấy tờ quá nhiều, quá dài

... - Quá chậm trễ: Chỉ thị của Bộ về việc giữ gìn cho trâu bò khỏi rét: mùa rét đã qua lâu rồi, chỉ thị mới đến. Bộ viết giấy xin giống nấm, Thứ trưởng ký rồi, sau một tháng giấy vẫn còn nằm ở Văn phòng của Bộ.

Không đúng nguyên tắc: có những công văn gửi lên Ban Kinh tế Trung ương, mà Bí thư ký tên; công văn gửi cho ủy ban các liên khu, mà Giám đốc ký tên. Những công văn ấy phải do Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng ký tên mới đúng.

Cách làm luộm thuộm: Như chương trình sản xuất, đánh máy luộm thuộm, đến nỗi Quốc hội xem không được, phải gửi trả lại.

Kém giữ bí mật: Bộ dùng điện thoại đánh điện, phải kinh qua nhiều trạm chuyển, mà nói cả những điều cần giữ bí mật...”(10).

Qua một vài dẫn chứng trên cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rất chi tiết, tường tận, thấu đáo cung cách điều hành, xử lý công việc ở từng cơ quan trong bộ máy chính phủ, trong khi lãnh đạo các cơ quan đó chưa chắc đã biết tường tận tình trạng công việc của cơ quan mình. Quan điểm, tư tưởng của Người về lĩnh vực này chính là cơ sở thực tiễn, là căn cứ định hướng cho công cuộc cải cách hành chính ngày nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh đạo cao nhất tại Quốc dân Đại hội Tân Trào, đồng thời cũng là một đại biểu của Đại hội. Từ khi có Quốc hội chính thức đầu năm 1946, với sự tín nhiệm đặc biệt của cử tri, Người liên tiếp làm nhiệm vụ đại biểu cho đến khi “về cõi vĩnh hằng” ngày 2-9-1969 (23 năm). Tất cả quan điểm, tư tưởng của Người về vai trò, sứ mệnh và tư cách, nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân được coi là chuẩn mực, là thước đo, tiêu chuẩn để chỉ đạo việc lựa chọn những người có tài, có đức làm đại biểu của nhân dân trong tất cả cuộc bầu cử sau này. Nội dung cốt lõi của quan điểm, tư tưởng đó là: Đoàn kết, đấu tranh giành độc lập và kiên quyết bảo vệ, giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc; ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó vừa là nội hàm của vai trò, tư cách người đại biểu nhân dân, vừa là sự thể hiện đức, tài, trí tuệ, bản lĩnh và phong cách làm việc của người đại biểu ở bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng. Nội dung, bản chất của vai trò và tư cách người đại biểu nhân dân được xác lập đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn nguyên giá trị trong các giai đoạn phát triển của đất nước ta. Những nội dung này đều được ghi trong các Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 do chính Người trực tiếp chỉ đạo soạn thảo. Các Hiến pháp năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều kế thừa nội dung các điều khoản đó. Các điều này được thể hiện cụ thể trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (nay là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân).

Riêng đối với đại biểu Quốc hội, từ Luật Tổ chức Quốc hội (năm 2014) đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội (năm 2020) đã quy định thành một chương gồm 24 điều; trong đó, Điều 21 quy định về vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội; Điều 22 quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, được cụ thể hóa thành 5 tiêu chuẩn của đại biểu. Vai trò và tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân cũng được ghi tại Điều 6 và Điều 7 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (năm 2015), chỉ khác là đại biểu Hội đồng nhân dân thực thi nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi địa phương của đại biểu.

Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, ở nhiều đơn vị bầu cử, cử tri đã yêu cầu từng ứng cử viên báo cáo cụ thể từng tiêu chuẩn, đạt được đến mức độ nào, ưu điểm, khuyết điểm ra sao...  Đây quả là một cuộc “sát hạch” thực sự đối với các ứng cử viên đại biểu dân cử.

Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của vai trò và tư cách người đại biểu nhân dân hội tụ lại trong hai thuật ngữ “đức” và “tài”, mà đức là gốc. Vai trò và tư cách đó thể hiện rõ ở bản lĩnh và trí tuệ cùng cách thức (phong cách) làm việc của đại biểu.

Lễ ra mắt cuốn sách: “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Ngày 18-11-2023, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức buổi lễ ra mắt cuốn sách: “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến phát biểu tại lễ ra mắt sách_Nguồn: daidoanket.vn

Tham dự lễ ra mắt có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lâm Thị Phương Thanh, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Hà Thị Nga, Thứ trưởng Bộ Công an Trung tướng Lê Quốc Hùng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai; PGS, TS Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành trung ương và thành phố Hà Nội; đại diện các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lễ ra mắt được tổ chức trang trọng, nhằm thông tin về mục đích, ý nghĩa của việc biên soạn cuốn sách; giới thiệu những nội dung cơ bản của cuốn sách, giúp các cơ quan, các tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền, quán triệt, học tập góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn hệ thống chính trị trong công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, là kết tinh của các giá trị cao quý và thiêng liêng, được hình thành qua quá trình dựng nước và giữ nước. Quần chúng nhân dân với ý chí quật cường, khát vọng cao cả, tập hợp tạo nên sức mạnh chung của dân tộc Việt Nam là khởi nguồn của khối đại đoàn kết. Đại đoàn kết toàn dân tộc từ truyền thống trở thành triết lý chính trị thân dân của ông cha ta với quan điểm “Quốc dĩ dân vi bản”, tức là nước phải lấy dân làm gốc (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Triết lý thân dân có nhiều yếu tố tiến bộ, là cội nguồn tạo thành sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, trường tồn trước những biến thiên của lịch sử, để “Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Non sông nghìn thuở vững âu vàng) như khẳng định của vua Trần Nhân Tông.

Đoàn kết cũng là cơ sở để huy động sức mạnh toàn dân tộc, là mục tiêu cho sự phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đoàn kết là nguồn sức mạnh to lớn, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn quyết định của lịch sử và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của đất nước qua từng chặng đường phát triển. 

Đảng ta từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng luôn xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết chính là sức mạnh để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Nhờ đại đoàn kết toàn dân tộc mà toàn Đảng, toàn dân ta bước vào sự nghiệp đổi mới, vượt qua các khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, giúp đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Có thể khẳng định, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại huy hoàng bậc nhất của đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến cùng các đại biểu tham quan khu trưng bày cuốn  sách "Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc" của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng"_Nguồn: daidoanket.vn.

Công trình được xuất bản là kết quả của sự chuẩn bị công phu, bài bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Cuốn sách có độ dày 748 trang, là một “cẩm nang” về khoa học lãnh đạo, để các ngành, các cấp, địa phương, cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân thuộc các giai tầng, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, nắm vững những nội dung của đại đoàn kết, vai trò lãnh đạo của Đảng, nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các tổ chức chính trị - xã hội trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hành đại đoàn kết dân tộc một cách hiệu quả.

Nội dung cuốn sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Đại đoàn kết toàn dân tộc - Sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phần thứ hai: Phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phần thứ ba: Phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các địa phương, đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc đổi mới đất nước.

Theo đồng chí Đỗ Văn Chiến, đây là một cuốn sách rất quý, tổng kết thực tiễn, bổ sung, nâng tầm lý luận về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, được nghiên cứu, phân tích sâu sắc, tập hợp tư liệu, hình ảnh, bài viết, bài phát biểu tiêu biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng, các tầng lớp trong xã hội. Đó là những tư tưởng vượt trội, tầm nhìn sâu rộng, biện chứng, thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Văn phong mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ, sâu lắng, đi vào lòng người. 

Cuốn sách được ra mắt đúng vào dịp kỷ niệm 93 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, có giá trị đặc biệt. Cuốn sách sẽ là "cẩm nang" lâu dài về lý luận, thực tiễn, mang tầm lịch sử, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay, qua đó giúp cho cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn; là cơ sở chính trị để quán triệt, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. 

Các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài cùng các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt cuốn sách và phát hành bản điện tử ấn phẩm: "Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc"_Ảnh: daidoanket.vn

Đồng thời, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ chỉ đạo cụ thể hóa vào nghị quyết đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp nhiệm kỳ 2024 - 2029; khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước ta phát triển hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như của Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong ước: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết -Thành công, thành công, đại thành công".

Theo Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Thanh Mai, cuốn sách quý của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tổ chức xuất bản và giới thiệu đến bạn đọc cả nước sẽ góp phần quan trọng củng cố niềm tin, khí thế, động lực, là niềm khích lệ, động viên to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. 

Để lan tỏa ý nghĩa, giá trị to lớn, sâu sắc của cuốn sách, đồng chí Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị ngay sau buổi lễ hôm nay, các cơ quan báo chí chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, chương trình tuyên truyền đậm nét về nội dung cuốn sách ở phiên bản điện tử và phiên bản giấy truyền thống; mở các chuyên trang, chuyên mục, các bài xã luận, chuyên luận, nghiên cứu, lan tỏa giá trị nội dung cuốn sách đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. 

Đồng chí Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương mong muốn các tổ chức thành viên của Mặt trận, nòng cốt là cơ quan tuyên giáo, cần tổ chức cho cán bộ, đảng viên đọc, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung cuốn sách; đưa vào nội dung sinh hoạt chi bộ, trong đó làm rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc, những giải pháp nhằm phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ngày càng hạnh phúc./.

Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

 Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả phong trào thi đua “dân vận khéo”; nhân rộng những mô hình dân vận điển hình, hiệu quả nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong toàn xã hội. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay tại cơ sở kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vấn đề bức xúc xã hội nổi cộm, các vụ việc phức tạp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại, giải quyết thực chất, dứt điểm các vụ việc phức tạp; đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(11). Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(12). Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước(14). Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toà