Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa, khoa học và hiện đại

 Một trong các quan điểm được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh là “Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(1). Kiên định thực thi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng dựa trên nền tảng văn hóa, khoa học và hiện đại là yêu cầu có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Trong suốt 91 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, tự phê bình và phê bình, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật(2).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân thôn Kon Rơ Bàng 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum_Ảnh: TTXVN

Trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, các nguyên tắc xây dựng Đảng đều luôn được coi trọng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ta, gắn liền với sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước.

Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động đủ sức gánh vác và hoàn thành trọng trách là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta đang quyết tâm, quyết liệt xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện(3), thì việc kiên định và thực hiện các nguyên tắc này là cơ sở quan trọng để giữ vững kỷ luật Đảng, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước.

Thứ nhất, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa là thực hành văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ.

Từ năm 1943, Đề cương Văn hóa Việt Nam đã khẳng định tính dân tộc, khoa học, đại chúng của văn hóa Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, tính dân tộc, khoa học, đại chúng ngày càng hòa quyện và được chuyển hóa mạnh mẽ vào văn hóa chính trị, trở thành yêu cầu, đòi hỏi đối với văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ. Cùng với những nhận thức mới về văn hóa, văn hóa lãnh đạo không chỉ là những giá trị vô hình, khó đong đếm, mang tính tinh thần, phi trực quan…, mà còn thể hiện rõ nét thông qua từng hoạt động cụ thể của cá nhân và tổ chức. Do đó, thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa chính trị cũng phải thực chất; các hành vi chính trị mạo danh văn hóa, núp bóng văn hóa cho dù tinh vi đến đâu cũng khó lòng qua mắt được quần chúng.

Thực hành các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa thực chất là nâng cao chất lượng, trình độ văn hóa trong tổ chức, hoạt động chính trị của Đảng trên tất cả các mặt về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong hai nhiệm kỳ 2011 - 2016, 2016 - 2021, Đảng ta đã ban hành hai nghị quyết quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10- 2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, trong đó không những chỉ ra các biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, mà còn khẳng định quyết tâm chủ động đẩy lùi các biểu hiện này. Điều này cũng có nghĩa việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa chính trị ngày càng được coi trọng, củng cố.

Cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, quản lý thực hành các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa không được để bệnh cá nhân chủ nghĩa lấn át, không được quan liêu, độc đoán, chuyên quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý. Giải quyết mọi vấn đề phải trên nguyên tắc công tâm, công bằng, công khai, vì lợi ích tập thể. Có ý thức cầu thị và có kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, không ngừng tự trau dồi, rèn luyện bản thân, ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, chủ động, đi đầu thúc đẩy dân chủ trong tổ chức, quan tâm lãnh đạo xây dựng môi trường văn hóa công vụ... Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức thực hành các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa, bảo đảm văn hóa Đảng không ngừng được xây dựng và thực hành rộng rãi, từ đó lan tỏa các giá trị văn hóa ra toàn xã hội.

Mỗi cán bộ, đảng viên thực hành các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng văn hóa là ở bất kỳ vị trí công tác nào, từng cán bộ, đảng viên phải luôn có ý thức hoàn thành công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao; gương mẫu trong công việc, trong lối sống, trong ứng xử, trong việc gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân; luôn có ý thức thực hiện trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, thẳng thắn, tự giác tự phê bình và phê bình tạo đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức đảng.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La tuyên truyền về tầm quan trọng của việc khám, chữa bệnh cho đồng bào vùng biên giới_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng khoa học

Xét về nội hàm, các nguyên tắc xây dựng Đảng luôn mang bản chất khoa học. Thực hiện nghiêm từng nguyên tắc chính là giải quyết hài hòa, khoa học mối quan hệ giữa các nguyên tắc. Hơn 91 năm qua, đặc biệt trong hơn 35 năm đổi mới, nhờ kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng và cầm quyền bảo đảm tính dân chủ, khoa học, hiệu quả, theo pháp luật…, Đảng ta đã giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc, khẳng định tính chính đáng, chính danh cầm quyền, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng vẫn có lúc, có nơi, tính khoa học chưa thực sự được coi trọng. Nhiều quyết sách chính trị được ban hành xuất phát từ ý chí chủ quan cá nhân người lãnh đạo, quản lý, chưa được thảo luận dân chủ, thiếu tính khoa học, tính hiệu quả.

Tính khoa học phải được thể hiện trước hết từ đường lối lãnh đạo của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”(4). Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở khoa học quan trọng nhất để Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối chính trị. Tính khoa học còn thể hiện ở việc Đảng ta coi trọng việc nắm vững và xử lý tốt mười mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội(5), tức nắm vững và xử lý tốt những vấn đề có tính quy luật về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, từ đó vận dụng vào chỉ đạo và tổ chức thực hiện công cuộc đổi mới ở nước ta trong từng giai đoạn cách mạng phù hợp với quy luật phát triển và xu thế của thời đại. Tính khoa học còn thể hiện ở cách thức, mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các cơ quan đảng, hệ thống chính trị một cách hợp lý, khoa học cả theo chiều dọc (từ trung ương đến cơ sở) và chiều ngang (các bộ, ngành, địa phương…); có cơ chế, quy trình hoạt động hợp lý, hiệu quả, không trùng chéo về chức năng, nhiệm vụ, có sự phân cấp, phân quyền trên cơ sở pháp lý rõ ràng. Tính khoa học còn thể hiện ở những cá nhân có phong cách làm việc chuyên nghiệp, khoa học, hiệu quả, dù là cán bộ, đảng viên hoạt động chuyên môn hay cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý. Tính chuyên nghiệp chính là biểu hiện cao, là sự hội tụ của tính khoa học. Ngoài ra, tiềm lực khoa học mạnh của quốc gia, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng là yếu tố thúc đẩy tính khoa học trong thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng khoa học đặt ra các yêu cầu đối với từng cán bộ, đảng viên:

Cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, quản lý thực hiện nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng khoa học chính là thực hành lãnh đạo một cách khoa học. Các quyết sách chính trị được ban hành có cơ sở khoa học và thực tiễn, không tùy tiện, chủ quan duy ý chí; phát huy tối đa năng lực làm việc, giải phóng sức sáng tạo của cấp dưới, lấy hiệu quả công việc là thước đo chủ yếu trong đánh giá cán bộ…

Từng cán bộ, đảng viên bên cạnh năng lực chuyên môn, tính nhanh nhạy và sức sáng tạo…, cần có tác phong, phương pháp làm việc khoa học (trong xử lý công việc, tổ chức cuộc sống hằng ngày...), được đánh giá, rèn luyện thường xuyên thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Cán bộ, nhân viên Trung tâm hành chính công tỉnh Bình Thuận hướng dẫn người dân, doanh nghiệp giải quyết các thủ tục hành chính_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng hiện đại

Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng hiện đại phải đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại, yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh mới, trên nền tảng công nghệ hiện đại, thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực và uy tín.

Trước hết, thực hành các nguyên tắc xây dựng Đảng phải đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Thời kỳ cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, các quốc gia đều đang hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, khoa học - công nghệ trở thành “thước đo” trình độ phát triển, định vị vị thế quốc gia…, đặt ra yêu cầu các nguyên tắc xây dựng Đảng phải được thực hiện công khai, minh bạch, trên nền tảng công nghệ hiện đại. Hiệu quả công việc của từng cán bộ, đảng viên phụ thuộc vào môi trường và điều kiện làm việc. Do đó, hệ thống trang thiết bị hiện đại, khả năng kết nối quốc tế trên nền tảng công nghệ sẽ là nhân tố quan trọng để đội ngũ cán bộ thực hành “làm việc trong môi trường quốc tế” ngay tại Việt Nam.

Hai là, các nguyên tắc xây dựng Đảng phải được thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ, năng lực chuyên môn, am hiểu công nghệ, ngoại ngữ và đặc biệt luôn giữ vững lý tưởng, có niềm tin tuyệt đối vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đối với nước ta, những năm tới là “giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau(6) thì càng cần coi trọng nhân tố con ngườiNghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã nhấn mạnh các yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ các cấp, cho thấy, Đảng ta đã có tầm nhìn xa về xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận có đủ năng lực trình độ, phẩm chất, uy tín, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Cán bộ, đảng viên là lãnh đạo, quản lý phải thực sự tiêu biểu, là tấm gương thường xuyên tự học hỏi, nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, kỹ năng quản lý, khả năng sử dụng công nghệ, ngoại ngữ… Bên cạnh đó, phải luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn; có khả năng chuyển tải niềm tin đó đến đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý.

Từng cán bộ, đảng viên phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể về năng lực, trình độ và các phẩm chất theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, coi đó là những phẩm chất nền tảng để người cán bộ, đảng viênđược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.

Tiếp tục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

 Ý thức pháp luật hình thành từ sự tự giác của cán bộ, công chức, viên chức; nhưng tiền đề, điều kiện để xây dựng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức là cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền; nâng cao năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra(6). Cùng với nâng cao năng lực xây dựng thể chế, cần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong thực thi chức trách, nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải giữ vững nguyên tắc luật định, có kỹ năng sử dụng pháp luật, chọn lọc, tiếp thu và phản biện, vận dụng sáng tạo và áp dụng linh hoạt pháp luật để vừa đạt được mục đích trong giải quyết công việc nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp của quá trình ra quyết định.

Cần bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật để công lý và trật tự pháp quyền được thực thi; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Pháp luật nghiêm minh tạo niềm tin và sự tôn trọng của cán bộ, công chức, viên chức đối với pháp luật; đồng thời răn đe, phòng ngừa làm cho họ không dám vi phạm pháp luật. Sự nghiêm minh của pháp luật đòi hỏi các hành vi vi phạm cần được xử lý kịp thời, triệt để, xác định đúng người, đúng hành vi vi phạm, không có ngoại lệ và vùng cấm, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức.

Để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức, viên chức phải tự trang bị cho mình kiến thức, tri thức nền tảng, trong đó có tri thức, hiểu biết về pháp luật, kiến thức, tri thức theo ngành, lĩnh vực chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ được giao. Đổi mới giáo dục, đào tạo pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp lý theo yêu cầu đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, có ý thức trách nhiệm công dân và trách nhiệm xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tôn trọng và chấp hành pháp luật. Nhiệm vụ giảng dạy pháp luật, bồi dưỡng pháp lý không chỉ giúp người học hiểu rõ, hiểu đúng pháp luật mà còn trang bị cho người học phương pháp, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề pháp lý, cách tư duy lô-gíc, hệ thống, sáng tạo và liên ngành. Thu hút sự tham gia giảng dạy của các nhà khoa học, luật sư, luật gia, người làm thực tiễn. Trong nội dung đào tạo pháp luật cần tăng hàm lượng tri thức về pháp luật quốc tế, cung cấp cho người học tư duy sáng tạo ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng phó với biến đổi xã hội do tác động của đại dịch COVID-19 và chủ động định hình quá trình chuyển đổi của xã hội, chuyển đổi số. Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội, tôn trọng và chấp hành pháp luật, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại, đồng thời chú trọng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của hoạt động bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp(7).

Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của các sở, ban, ngành và nhân dân tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng chính trị và ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, để tăng cường ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức thì cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Phong cách lãnh đạo, quản lý, điều hành, đạo đức, văn hóa ứng xử của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Nếu người đứng đầu biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến tham mưu, tư vấn đúng pháp luật, những ý kiến phản biện hợp lý có tính xây dựng, biết đánh giá đúng năng lực, sở trường của cán bộ, công chức, viên chức, biết động viên, khích lệ, tạo thuận lợi cho họ cống hiến, quan tâm lợi ích và công bằng trong đãi ngộ thì sẽ phát huy được năng lực, sở trường của họ; ngược lại sẽ khiến giảm sút động lực phấn đấu. Nếu người đứng đầu tôn trọng và làm việc đúng pháp luật thì sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho cộng sự và cả hệ thống giúp việc. Vì vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong tôn trọng, chấp hành, tuân thủ và bảo vệ pháp luật, duy trì kỷ luật lao động, nội quy cơ quan, văn hóa công sở.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa công sở văn minh, lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn.

Văn hóa tác động rất lớn đến tâm lý pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng môi trường làm việc văn minh, lành mạnh, kỷ luật, dân chủ, đoàn kết, chân thành, thân thiện, mọi người tự giác làm việc, tôn trọng, tin cậy, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ giá trị và phấn đấu vì mục tiêu chung giúp cho cán bộ, công chức, viên chức có tâm lý thoải mái, yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan, đơn vị. Ngược lại, nếu trong cơ quan có cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật lao động, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín đối với quần chúng nhưng không bị xử lý kịp thời thì sẽ gây ra phản ứng tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức, giảm niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật và ảnh hưởng không tốt đến tâm lý pháp luật của họ.

Nhà nước pháp quyền cần có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có ý thức thượng tôn pháp luật. Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân thủ pháp luật vừa là trách nhiệm, sự rèn luyện của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của các cấp ủy, chính quyền các cấp. Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, chiến lược pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới cần rất quan tâm nội dung về tăng cường ý thức pháp luật nói chung, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức nói riêng./.

Thực trạng ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức

 Một là, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Tư tưởng pháp luật là tiền đề, ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xây dựng pháp luật bao gồm nhiều bước với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của họ về nội dung của chính sách, về cách thức và kỹ thuật xây dựng pháp luật, về nội dung điều chỉnh của pháp luật và sử dụng các nguồn luật. Hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay ngày càng được hoàn thiện, do ý thức pháp quyền ngày càng nâng cao và sự nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tích cực tham gia xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng pháp luật cũng còn một số hạn chế nhất định, như một số nội dung trong chủ trương của Đảng về công tác cán bộ chưa được thể chế hóa kịp thời; một số quy định trong hệ thống pháp luật thiếu thống nhất với nhau, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn... Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm nêu trên, trong đó có sự nhận thức chưa sâu sắc, thiếu thống nhất một số chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng còn hạn chế…(3).

Hai là, ý thức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện pháp luật.

Ý thức thi hành (chấp hành), áp dụng, sử dụng, tuân thủ pháp luật là nội dung quan trọng nhất trong ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Ý thức pháp luật thấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu quả thực hiện pháp luật thấp. Thông qua hành động thực hiện pháp luật của họ, pháp luật đã hiện thực và phát huy vai trò trong cuộc sống. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức nhận thức rõ nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, có ý thức tổ chức kỷ luật. Ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong thời gian qua đã có chuyển biến tích cực. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước có nơi còn bị xem nhẹ. Công tác thông tin, tuyên truyền một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa phong phú, thường xuyên, kịp thời. Ý thức chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật vẫn còn hạn chế. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước(4).

Ba là, ý thức bảo vệ pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức.

Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước đều hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, có ý thức bảo vệ pháp luật. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của tổ chức, cá nhân. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, hạn chế các trường hợp khởi tố oan và bỏ lọt tội phạm là đáng ghi nhận. Qua đó cho thấy, các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, tạm giữ, tạm giam, thi hành án ngày càng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật(5). An ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Những kết quả đó phản ánh sự cố gắng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp trong công tác bảo vệ pháp luật.

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa tuyên án tại một phiên tòa_Ảnh: TTXVN

Cùng với các thành tựu nêu trên, cũng còn một số hạn chế trong ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật. Đó là việc xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Công tác tuyên truyền, phòng ngừa tội phạm một số nơi còn hình thức. Một số cán bộ thực thi pháp luật có ý thức kỷ luật kém, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Vẫn còn một số quyết định không khởi tố vụ án bị hủy, quyết định khởi tố vụ án thiếu căn cứ pháp luật, bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng. Một số trường hợp oan, kháng nghị phúc thẩm có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận. Những khuyết điểm nêu trên một phần do nhận thức, đánh giá không đúng về hành vi, mức độ phạm tội, sai sót trong áp dụng pháp luật và do cố ý, với động cơ vụ lợi của một số cán bộ tư pháp.  

Yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong Nhà nước pháp quyền

 Theo quan niệm phổ biến, ý thức pháp luật là hệ thống tri thức, quan điểm, học thuyết về pháp luật thể hiện qua nhận thức, tư tưởng, ý chí, tình cảm, niềm tin, thái độ, sự đánh giá của con người (cá nhân, tổ chức, xã hội) về sự cần có của pháp luật, về bản chất và giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, công bằng của pháp luật trong quá khứ, của pháp luật hiện hành và pháp luật cần phải có, về các mối quan hệ giữa pháp luật với hành vi của các chủ thể pháp luật trong các quan hệ pháp luật cụ thể(1). Ý thức pháp luật phản ánh quan điểm, trình độ nhận thức, sự hiểu biết, hệ thống tri thức về pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật cũng như thái độ, phản ứng của chủ thể đối với việc thực hiện pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác. Ý thức pháp luật bao gồm tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Tư tưởng pháp luật phản ánh thông qua quan điểm, quan niệm, sự hiểu biết, nhận thức của cá nhân về pháp luật. Tâm lý pháp luật biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác(2).

Để Nhà nước tổ chức và hoạt động, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật (khoản 1, Điều 8, Hiến pháp năm 2013), ngoài yêu cầu phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thì đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần hội đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân vì sự phát triển bền vững của đất nước; tôn trọng pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tự giác và nghiêm túc chấp hành, tuân thủ, bảo vệ pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi coi thường và vi phạm pháp luật, thể hiện tâm lý pháp luật tích cực. Ngược lại, nếu cán bộ, công chức, viên chức không có niềm tin, không đồng tình với pháp luật hoặc không ủng hộ giải quyết vấn đề theo pháp luật thì sẽ phản ứng tiêu cực bằng cách không hành động hoặc phản đối, không tôn trọng pháp luật, người đại diện có thẩm quyền thực thi pháp luật. Nếu thiếu kiến thức pháp luật thì cán bộ, công chức, viên chức khó có thể hướng dẫn, tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.

Lãnh đạo Bộ Công an kiểm tra việc triển khai cấp căn cước công dân lưu động trên địa bàn thành phố Hà Nội, tháng 12-2020_Ảnh: TTXVN

Ý thức pháp luật đối với người lãnh đạo, quản lý rất quan trọng. Người càng có nhiều mối quan hệ xã hội thì càng bị ràng buộc bởi nhiều quy tắc xử sự. Quyền hạn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn. Đằng sau mỗi quyết sách chính trị, công vụ là sự ràng buộc, trách nhiệm và rủi ro pháp lý. An toàn pháp lý trong quản lý chỉ có được khi người quản lý hành động và quyết định một cách hợp pháp. Việc xử lý hậu quả sẽ phức tạp và mất thời gian hơn nhiều so với thực hiện pháp luật ngay từ đầu một cách hợp pháp. Hơn nữa, khi vi phạm, người cán bộ bị giảm sút uy tín và mất niềm tin của nhân dân. Vì vậy, muốn tránh được các rủi ro pháp lý thì người cán bộ, công chức, viên chức phải có ý thức pháp luật, tôn trọng, nghiêm túc thực hiện, chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Kế thừa và phát triển các giá trị pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 Kế thừa và phát triển các giá trị pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng kết hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước và đề ra phương hướng cho giai đoạn tới, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Xác định rõ hơn vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(11). Theo đó, cần phải tạo ra sự chuyển biến tích cực trên một số mặt sau đây:

Thứ nhất, nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc về bản chất và vai trò của Hiến pháp như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm trong xây dựng Hiến pháp năm 1946.

Trong mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực xô-viết với nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu bao cấp, Hiến pháp cũng như pháp luật được quan niệm là của Nhà nước, do Nhà nước đặt ra, trước hết và chủ yếu là để quản lý xã hội, mà không phải là phương tiện trước hết và chủ yếu để tổ chức quyền lực nhà nước, quản lý bản thân Nhà nước và để giới hạn quyền lực nhà nước. Tuy đã có sự đổi mới một cách căn bản trong Hiến pháp năm 2013, nhưng những tư duy pháp lý này vẫn còn tồn tại trong thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật. Theo đó, Hiến pháp cũng như pháp luật hiện hành chưa thật sự được xem trước hết và chủ yếu là để tổ chức và quản lý bản thân Nhà nước, bảo đảm cho “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; không bị tha hóa sau khi nhân dân giao quyền và ủy quyền, đồng thời để bảo đảm và tạo điều kiện cho các quyền con người, quyền công dân được phát huy trong thực tiễn.

Những nhận thức chưa đầy đủ về Hiến pháp không những không phát huy được toàn vẹn vai trò của nó là phương tiện để nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước của mình, thiết lập nên quyền lực nhà nước, mà còn thể hiện nhận thức chưa sâu sắc quyền lập hiến cao hơn quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nên nhân dân chưa được xem là chủ thể thực sự của quyền lập hiến, chủ thể phân công quyền lực nhà nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm khi xây dựng Hiến pháp năm 1946. Vì thế, Hiến pháp chưa được coi là phương tiện để giới hạn quyền lực nhà nước, để ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Chừng nào chưa có nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc quyền lực nhà nước là của nhân dân, thì Nhà nước vẫn còn tìm cách làm lợi cho mình, mà trên thực tế là lợi ích của con người, của công dân vẫn còn bị vi phạm. Vì thế, phải thường xuyên nâng cao ý thức thượng tôn Hiến pháp như “thần linh pháp quyền” của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong đời sống Nhà nước và đời sống xã hội.

Thứ hai, cần nhận thức một cách đúng đắn việc phân công quyền lực.

Từ “tập quyền” sang “phân công quyền lực nhà nước” là một bước tiến mới về chất trong tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền, được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo trong tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta theo Hiến pháp năm 1946 và được Đảng và Nhà nước ta kế thừa và phát triển thành một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nguyên tắc này chưa thật sự đầy đủ và sâu sắc, sức ỳ của nguyên tắc “tập quyền” và lợi ích cục bộ còn cản trở việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “phân công quyền lực nhà nước”, việc phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động còn hạn chế.

Mặc dù, tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta đã theo nguyên tắc mới nói trên, nhưng nhiều người vẫn còn chịu ảnh hưởng của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa trong mô hình nhà nước kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp, mà nội dung cốt lõi của nguyên tắc này là “tất cả quyền lực nhà nước tập trung, thống nhất ở Quốc hội”. Theo đó, Quốc hội là cơ quan có toàn quyền, tổ chức quyền lực nhà nước không coi trọng việc phân công quyền lực giữa các quyền. Nếu có phân công thì cũng chỉ là sự phân công mang tính nội bộ do Quốc hội phân công cho Chính phủ và cho tòa án, nhằm mục đích thống nhất quyền lực nhà nước mà không phải phân công để đề cao trách nhiệm, để kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì thế, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa không phù hợp với nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo tinh thần Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp năm 2013. Thật ra, tính thống nhất của quyền lực nhà nước là một thuộc tính cơ bản của bất kỳ một nhà nước nào, dù đó là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tập quyền hay nguyên tắc phân quyền. Bởi, tập quyền hay phân quyền là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và không phải nhằm mục đích bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Thực tiễn chỉ ra rằng, dẫu phân quyền một cách cứng rắn như ở nước Mỹ, thì giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp chế ước và đối trọng nhau một cách quyết liệt, nhưng cuối cùng giữa các nhánh quyền lực cũng phải tìm cách thỏa hiệp để đi đến thống nhất. Quyền lực nhà nước không thống nhất thì xã hội rối loạn, Nhà nước sẽ sụp đổ, điều mà giai cấp cầm quyền cũng như xã hội không mong muốn. Phân công quyền lực nhà nước một cách hợp lý là cơ sở để kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền con người, quyền công dân không bị xâm hại từ phía Nhà nước, do bị lợi dụng và lạm dụng quyền lực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Giáo dục pháp luật để văn hóa thượng tôn Hiến pháp, pháp luật thẩm thấu đến mọi tầng lớp nhân dân là yếu tố quan trọng giúp xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (Trong ảnh: Học sinh Trường Trung học cơ sở Phan Chu Trinh (quận Ba Đình, Hà Nội) giao lưu tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ)_Ảnh: TTXVN

Hiện nay, ở nước ta (và hầu hết các nước dân chủ và pháp quyền) trên 90% dự án luật là do Chính phủ soạn thảo trình Quốc hội xem xét thông qua. Mặc dù, Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp nhưng vẫn còn quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Vì thế, nhiều người vẫn còn quan niệm Chính phủ được Quốc hội giao nhiệm vụ giúp Quốc hội soạn thảo dự án luật mà không phải xuất phát từ nhu cầu và đòi hỏi của bản thân quyền hành pháp là đề xuất, soạn thảo và đưa trình chính sách quốc gia của Nhà nước dưới dạng các dự án luật để Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân kiểm tra tính phù hợp và tính khả thi của các chính sách. Đồng thời, thông qua đó mà Quốc hội đánh giá trách nhiệm và năng lực của Chính phủ, kiểm soát hoạt động của Chính phủ, đặc biệt là kiểm soát các định hướng, chính sách của Chính phủ trong các dự án luật. Chính vì chưa nhận thức một cách sâu sắc, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, là nơi ra chính sách, mà chỉ nhấn mạnh một chiều tính chấp hành Quốc hội có thể làm cho Chính phủ dựa dẫm, ỷ lại Quốc hội, không coi trọng đúng mức một trong những quyền hạn và nhiệm vụ hàng đầu là soạn thảo dự án luật, dẫn đến chất lượng các dự án luật đưa trình Quốc hội không cao.

Đối với quyền tư pháp, mặc dù tại Điều 102, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định, tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Nhưng trong mối quan hệ với quyền lập pháp vẫn còn có những nhận thức không đầy đủ, vẫn còn chịu ảnh hưởng của nguyên tắc tập quyền nên tính “trội” vẫn thuộc về quyền lập pháp, chỉ Quốc hội mới có quyền giám sát tối cao đối với quyền tư pháp mà ngược lại, tòa án không có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật của Quốc hội. Trong mối quan hệ với quyền hành pháp, tòa án mới chỉ có quyền xem xét và tài phán đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính mà chưa có quyền tài phán đối với các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ và các bộ ban hành. Vì vậy, cần sớm hình thành cơ chế tài phán tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.

Thứ ba, tiếp tục nâng cao nhận thức và tổ chức thực tiễn việc kiểm soát quyền lực nhà nước.

Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã quy định thành nguyên tắc “kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, nhưng nhìn chung, những người thực thi quyền lực nhà nước chưa có nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc. Theo Hiến pháp năm 2013, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bao gồm: giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 70); kiểm tra, thanh tra trong bộ máy hành chính (Điều 96); thanh tra, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới (Điều 74, Điều 98 và Điều 112); giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án (Điều 104) và xét xử các quyết định hành chính và hành vi hành chính của các cấp tòa án; kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động tư pháp và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 9). Tuy nhiên, do nhận thức chưa thực sự đầy đủ nên các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước do Hiến pháp quy định nói trên chưa phát huy đầy đủ, hiệu lực và hiệu quả. Ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức theo nguyên tắc pháp quyền chưa như mong muốn. Một số người có chức, có quyền còn lo kiểm soát quyền lực nhà nước ảnh hưởng đến tính thống nhất, nên kiểm soát quyền lực nhà nước nửa vời, không làm quyết liệt, đến cùng. Ngược lại, kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa xuất phát từ quyền lực nhà nước là của nhân dân, kiểm soát quyền lực nhà nước là để bảo đảm quyền lực nhà nước không bị tha hóa, luôn luôn thuộc về nhân dân.

Theo đó, kiểm soát quyền lực nhà nước trước  hết là những phương thức, những quy trình, quy định mà dựa vào đó, xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động sai trái với Hiến pháp và pháp luật của các thiết chế, các cá nhân có thẩm quyền, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực thi đúng mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất. Vì thế, kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải là một tổng thể bao gồm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài do các chủ thể không phải là Nhà nước thực hiện (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận, các phương tiện thông tin đại chúng, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và cá nhân công dân); cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau. Đồng thời, phải hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước một cách chuyên trách, độc lập do luật định (theo khoản 2, Điều 19, Hiến pháp năm 2013). Có như vậy, vấn đề cơ bản của kiểm soát quyền lực nhà nước là làm cho bộ máy nhà nước vừa có khả năng kiểm soát được xã hội, vừa không kém phần quan trọng là buộc Nhà nước phải tự kiểm soát được chính mình thì mới giải quyết được vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước một cách đầy đủ, trọn vẹn./.

Giá trị pháp quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 Trong số các tài sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, thì quan điểm lập hiến và bản Hiến pháp năm 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, thể hiện rất sâu sắc tư tưởng pháp quyền - thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta.

Trước hết, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi nước đã độc lập, quốc gia có chủ quyền thì phải sớm ban hành Hiến pháp để khẳng định về mặt pháp lý một nhà nước độc lập, có chủ quyền và là phương tiện chính trị - pháp lý cao nhất để bảo vệ độc  lập và chủ quyền của đất nước.

Trong những năm tháng bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nhận thức một cách sâu sắc nỗi nhục của cảnh mất nước và giá trị cao quý của một nhà nước độc lập và có chủ quyền. Vì thế, khẩu hiệu lập hiến của Người trước khi có nhà nước kiểu mới sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là khẩu hiệu lập hiến mang tính chất đấu tranh. Trong “Bản yêu sách gửi cho Hội Vạn quốc” có ghi: Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi sắp đặt một nền Hiến pháp... Nếu không đáp ứng thì dân chúng tôi sẽ khởi nghĩa.

Khi nước đã được độc lập, dân có chủ quyền, thể hiện nhất quán trong tư tưởng lập hiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải tổ chức tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội càng sớm càng tốt, mặc dù lúc đó, thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc. Thực hiện quyết tâm đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc ta (ngày 6-1-1946) đã bầu ra Quốc hội khóa I. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền. Hiến pháp năm 1946 đã mở ra một trang sử mới của dân tộc ta với một hệ thống chính quyền thống nhất, hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Ðúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được”(2). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và Hiến pháp của Nhà nước có mối quan hệ không thể tách rời. Nước không được độc lập, quốc gia chưa có chủ quyền thì chưa có điều kiện để xây dựng và ban hành Hiến pháp. Khi nước đã độc lập, quốc gia có chủ quyền thì phải sớm ban hành Hiến pháp để tuyên bố về mặt pháp lý với nhân dân trong nước và thế giới một nhà nước độc lập có chủ quyền và là phương tiện để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

Hai là, Hiến pháp phải là một “Hiến pháp dân chủ” do nhân dân làm chủ.

Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa _Ảnh: Tư liệu

Tư tưởng lập hiến phải là một “hiến pháp dân chủ” do nhân dân làm chủ, được thể hiện xuyên suốt trong tất cả các tác phẩm của Người. Trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919 do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo gồm tám điểm, trong đó điểm thứ hai Người yêu cầu: “Cải cách nền pháp lý ở Ðông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu”(3). Và trong một yêu sách khác gửi cho Hội Vạn quốc đề nghị: Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi: sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo như những lý tưởng dân quyền(4).

Những yêu sách nói trên vừa thể hiện tư tưởng về một bản Hiến pháp mà nội dung là “sắp đặt một nền Hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội theo như những lý tưởng dân quyền (lý tưởng người dân làm chủ), vừa là phương tiện “bảo đảm về mặt pháp lý” để nhân dân được hưởng quyền như người châu Âu. Nhất quán với những tư tưởng đó, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Ðộc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”(5).

“Hiến pháp dân chủ” trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi dân chủ phải là điều kiện để cho sự ra đời của một bản Hiến pháp. Các yếu tố độc lập, có chủ quyền nói ở phần trên là các điều kiện cần nhưng chưa đủ để có một hiến pháp dân chủ. Ðiều kiện đủ để có một “hiến pháp dân chủ” đó chính là một chế độ dân chủ. Vì thế, trong Tuyên ngôn Ðộc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vua Bảo Ðại thoái vị... Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”(6). Nhờ chế độ dân chủ cộng hòa mà có điều kiện cho sự ra đời của một bản hiến pháp dân chủ.

Tóm lại, Hiến pháp và dân chủ trong tư tưởng pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai yếu tố không tách rời nhau. “Hiến pháp dân chủ” phải là một bản hiến pháp do nhân dân làm chủ có nội dung và cách thức ban hành dân chủ. Ðồng thời là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do, dân chủ. Ngược lại, dân chủ là điều kiện cần và đủ cho một bản “hiến pháp dân chủ” ra đời, tồn tại và phát huy giá trị.

Ba là, Hiến pháp là phương tiện tổ chức và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Sức mạnh “thần linh pháp quyền” chính là sức mạnh của Hiến pháp. Sức mạnh đó trước hết là sức mạnh của tổ chức quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp và tuân thủ Hiến pháp. Bởi theo quan niệm của Người: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” . Vì thế, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước cũng tức là chủ thể tối cao của quyền lập hiến. Thông qua quyền này, nhân dân giao quyền, nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước của mình cho các cơ quan nhà nước. Bằng phương thức đó mà tổ chức quyền lực nhà nước mang sức mạnh của nhân dân; làm cho quyền lực nhà nước được hình thành một cách chính thức, cầm quyền một cách chính đáng và buộc quyền lực nhà nước phải tổ chức và hoạt động trong giới hạn Hiến pháp cho phép. Đây chính là cơ sở chính trị - pháp lý cao nhất để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước và buộc nhà nước phải chịu sự kiểm soát của nhân dân mà cụ thể là cán bộ, công chức nhà nước phải hoạt động trong giới hạn của Hiến pháp và pháp luật cho phép và phải chịu sự kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước mà nhân dân giao cho. Chính vì thế, với tư cách là Trưởng ban khởi thảo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” bằng quy định, thành nguyên tắc và nội dung cơ bản của Hiến pháp, như Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định.

Bốn là, cần phải có Hiến pháp để nhân dân được hưởng quyền tự do, dân chủ.

Tư tưởng về quyền con người, quyền công dân có mối quan hệ mật thiết không tách rời với một bản Hiến pháp dân chủ ra đời từ nhận thức sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về thân phận của người dân sống trong nhà nước quân chủ chuyên chế và trong nhà nước thực dân xâm lược. Ở đó, không có Hiến pháp nên không có hiến định về quyền con người, quyền công dân, không có các định chế về Hiến pháp, về tổ chức quyền lực nhà nước để ràng buộc và đề cao trách nhiệm của nhà nước trong mối quan hệ với việc thực thi quyền con người, quyền công dân. Ðồng thời, xuất phát từ đạo lý được thừa nhận chung, như một giá trị tiến bộ của nhân loại là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Ðộc lập - nền móng của Hiến pháp năm 1946 đã rút ra kết luận khoa học rằng: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(7). Như vậy, quyền con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là quyền của cá nhân con người như trong Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Mỹ, mà còn là quyền độc lập, quyền tự quyết của một dân tộc. Tư tưởng vĩ đại của Hồ Chí Minh về quyền con người được thể hiện thành nguyên tắc “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”(8) và Chương II: “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” trong Hiến pháp năm 1946. Đúng như phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phiên bế mạc kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, ngày 9-11-1946: “Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp. Sau khi nước nhà được tự do 14 tháng, đã làm thành bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”(9).

Năm là, Hiến pháp - phương tiện phân công, phân nhiệm quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước.

Có thể nói Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo đã vận dụng học thuyết phân quyền về phương diện kỹ thuật một cách sáng tạo và độc đáo phù hợp với đặc thù và tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền nhà nước non trẻ lúc bấy giờ. Ngày nay, xem xét dưới phương diện kiểm soát quyền lực nhà nước có thể rút ra được rất nhiều điều bổ ích về việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện mới - xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Theo Hiến pháp năm 1946, quyền lực nhà nước được tổ chức thành ba quyền, gồm: “Nghị viện nhân dân (lập pháp) là cơ quan có quyền cao nhất... do công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần” (Điều 22, Điều 24), có nhiệm vụ: “giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài” (Điều 23); “Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc” (Điều 43), có nhiệm vụ trực tiếp quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong cả nước (Điều 52), “Tòa án là cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 63), có nhiệm vụ xét xử. Đặc biệt chế định Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu nhà nước (nguyên thủ quốc gia), vừa là người đứng đầu Chính phủ (hành pháp) được Hiến pháp giao nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn: “có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại luật của Nghị viện. Những luật đã được Nghị viện biểu quyết Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất là mười hôm sau khi nhận được thông tri” (Điều 31) và “Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” (Điều 50). Ngược lại, “Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:... kiểm soát và phê bình Chính phủ” (khoản c, Điều 36); “Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó Chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập ra một tòa án đặc biệt để xét xử” (Điều 51). Đây chính là chế định pháp lý hiến định góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nghiên cứu các quy định của Hiến pháp năm 1946 có thể thấy, Hiến pháp không quy định nguyên tắc phân quyền, nhưng việc phân công quyền lực nhà nước rất rõ ràng, minh bạch, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết tương đối (yêu cầu thảo luận lại luật trong vòng 10 ngày) và được miễn trừ trách nhiệm nhưng Nghị viện có quyền bất tín nhiệm đối với nội các, truy tố Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước hay nhân viên nội các về tội phản quốc. Các quy định này góp phần định hình cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

Ngoài cơ chế kiểm soát giữa các quyền; thanh tra, kiểm tra, tự phê bình và phê bình là các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý. Người nói: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”(10). Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến vai trò của cơ quan chuyên trách của Nhà nước trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Đó là các ban thanh tra trong bộ máy nhà nước. Đồng thời, Người còn nhấn mạnh tính độc lập của các cơ quan này. Ngay trong Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23-11-1945, đã quy định rất rõ quyền hạn của Ban thanh tra đặc biệt trong việc “đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay Chính phủ đã phạm tội” và “sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Tòa án đặc biệt để xử những nhân viên của các Ủy ban nhân dân hay các cơ quan Chính phủ do Ban thanh tra truy tố”. Những quy định trong Sắc lệnh số 64/SL ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền non trẻ mới ra đời có mấy tháng thể hiện sâu sắc quan điểm xây dựng một bộ máy nhà nước kiểu mới trong sạch, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, mà cốt lõi là quan điểm công bằng về cơ hội phát triển, tiếp tục định hướng cho đường lối phát triển của Việt Nam, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú trung học cơ sở Định Hóa (xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái nguyên)_Ảnh: TTXVN

Quan điểm của Đảng về động lực và mục tiêu phát triển đất nước luôn dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội. Cùng với sự tổng kết quá trình phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới cả về lý luận và thực tiễn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta khái quát: “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển”(21). Nhằm thực hiện công bằng về cơ hội phát triển, Đảng ta luôn nhấn mạnh về mục tiêu “kép” của công bằng xã hội, cả về phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, đều tập trung cho mục tiêu phát triển con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người,... phải làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn, phải quan tâm đến đời sống quần chúng và giáo dục quần chúng. Để đạt được “mục tiêu kép” của công bằng về cơ hội phát triển, Đại hội XIII của Đảng không chỉ nhấn mạnh tới vai trò của Nhà nước, mà còn coi trọng: “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường. Xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái”(22). Những nội dung về thực hiện công bằng xã hội được Đại hội XIII của Đảng đề cập cũng chính là quan điểm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ từ rất sớm: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”(23). Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta phấn đấu sớm hoàn thành các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòa nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng phát triển”(24).

Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển, cần: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”(25). Đồng thời, phải dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, để từ đó xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước; đồng thời, xử lý hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát sự phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, trên cơ sở gắn với mục tiêu phát triển toàn diện con người và lấy nhân dân làm trung tâm, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức”(26).

Thăm khám bệnh đồng bào các dân tộc thiểu số _Ảnh: Tư liệu

Có thể khẳng định, quan điểm Đại hội XIII của Đảng về thực hiện công bằng về cơ hội phát triển là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục tập trung vào mục tiêu phát triển toàn diện con người và nhân dân làm trung tâm, trên cơ sở nhất quán lấy hiệu quả kinh tế của công bằng xã hội làm tiền đề để thực hiện công bằng về hiệu quả xã hội. Những quan điểm cụ thể trong thực hiện công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, như: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững. Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020 - 2030, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc”(27), tiếp tục là sự khẳng định cho mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta trong điều kiện mới./.