Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

Phòng, chống lãng phí trong Quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: lãng phí là vấn nạn rất nguy hại cho Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Hiện nay, Đảng ta xác định lãng phí là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và đặt ra yêu cầu phải kiên quyết phòng, chống ở các cấp, các ngành, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới.

Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng. Ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Người đã căn dặn phải thực hành tiết kiệm để kháng chiến, kiến quốc, đồng thời phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Khi nói về vấn nạn lãng phí, Người diễn đạt một cách đơn giản, dễ hiểu làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, đồng bào ai cũng có thể thực hành và đấu tranh phòng, chống được. Theo Hồ Chí Minh, lãng phí bao gồm sức lao động, thời giờ, tiền của, v.v. Lãng phí là không biết thương tiếc mồ hôi nước mắt của nhân dân ta, không biết quý trọng sự giúp đỡ chí tình của nhân dân các nước anh em; lãng phí có mối liên hệ “đồng minh” với các căn bệnh khác như quan liêu, tham ô. Người viết: “Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và Chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô”1; phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào; “Không khác gì gián điệp giết hại đồng bào”2.

Từ khi ra đời đến nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn khắc ghi, học tập và làm theo lời dạy của Người, chú trọng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuy nhiên, trong từng cơ quan, đơn vị, đâu đó vẫn còn hiện tượng lãng phí, gây thất thoát vật tư, tài chính, tài sản của Nhà nước, nhân dân, thời gian, công sức của bộ đội. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội. Vì vậy, phòng, chống căn bệnh lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, cơ bản, lâu dài của toàn quân. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị toàn quân cần tiến hành đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân về nhiệm vụ phòng, chống lãng phí. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội: lãng phí là có tội với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và việc đấu tranh khắc phục, loại bỏ cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị. Để phòng, chống hiệu quả những biểu hiện lãng phí, các cơ quan, đơn vị phải tăng cường công tác giáo dục, làm rõ tính chất nguy hại của tình trạng lãng phí tiền của, tài sản của Nhà nước, Nhân dân, lãng phí công sức của bộ đội; đấu tranh với tư tưởng “cha chung không ai khóc”, “nước sông, công lính”, biểu hiện phô trương, hình thức và phải kiên quyết sửa chữa những ý nghĩ sai lầm đó. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ coi lãng phí cũng là một loại “giặc trong lòng ta” cần kiên quyết phòng, chống, đấu tranh loại bỏ, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng cơ sở vật chất, vũ khí trang bị... đều do mồ hôi, nước mắt, công sức, thậm chí cả máu của nhân dân làm ra và cung cấp cho Quân đội, nên không được lãng phí. Vì thế, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; cụ thể hóa thực hiện chỉ thị, chương trình hành động về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Bộ Quốc phòng bằng những việc làm cụ thể gắn với từng vị trí, cương vị công tác. Đặc biệt, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo đối với vấn đề này, xác định đây là nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh “Mẫu mực tiêu biểu”.

Hai là, tiếp tục triển khai sâu rộng trong toàn quân phong trào thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chống lãng phí và tiết kiệm có quan hệ khăng khít với nhau, thực hành tiết kiệm thực chất đã là chống lãng phí và ngược lại, muốn phòng, chống lãng phí có hiệu quả thì phải thực hành tiết kiệm. Trên thực tế, Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh thực hiện các phong trào “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”, Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”, v.v. Các phong trào, cuộc vận động trên là việc làm thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống lãng phí. Tuy nhiên, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, lãng phí không chỉ có tiền của, tài sản của nhân dân, mà lãng phí thời gian học tập, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ cũng rất nguy hại. Theo Người, thời gian là vàng bạc, phải biết quý trọng, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian làm việc, chống làm việc chiếu lệ, “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”, “được chăng hay chớ”. Đặc biệt, trong hoạt động quân sự, thời gian còn quý hơn vàng, bởi nó liên quan trực tiếp đến vấn đề nắm thời cơ, làm chủ trên chiến trường, xương máu, tính mạng bộ đội. Chính vì thế, cùng với xây dựng, chuẩn hóa các tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật trong hoạt động quân sự, quốc phòng, thực hiện tốt các quy chế, quy định về kiểm tra, giám sát, dân chủ, công khai, minh bạch, phân cấp, phân nhiệm trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản, vật tư, vũ khí, trang bị, các cơ quan, đơn vị cần quan tâm chống lãng phí thời gian, công sức bộ đội. Để phòng, chống lãng phí nguồn lực con người trong hoạt động quân sự hiện nay, phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người, có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ có đức, có tài để tránh lãng phí nguồn nhân lực của đất nước và Quân đội. Mặt khác, các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong mọi lúc, mọi nơi, mọi công việc, lĩnh vực hoạt động; kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện xa hoa, phô trương, hình thức, v.v.

Ba là, nâng cao hiệu quả đấu tranh tự phê bình và phê bình trong phòng, chống bệnh lãng phí. Một trong những biện pháp để chống lãng phí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh là phải “Dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô lãng phí và bệnh quan liêu, để cùng nhau tiến bộ”3. Thực hiện vấn đề này, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện đợt sinh hoạt chính trị “Tự soi, tự sửa”, xác định đây là trọng tâm trong thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để đạt hiệu quả cao, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình - “Tự soi tự sửa” phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành từ trên xuống dưới. Cấp trên, người chủ trì tự giác, gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới học tập, làm theo. Ở từng cấp, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Nội dung tự phê bình và phê bình phải từ trong tư tưởng, nhận thức đến hành vi; có hay không nhận thức sai lệch về lãng phí, có hay không tư tưởng “nước sông, công lính”, hoặc tư tưởng quan liêu, tham ô, lãng phí, v.v. Cách phê bình phải vì mục đích giúp đỡ nhau, sửa sai cùng tiến bộ, khắc phục mọi biểu hiện của sự lãng phí; tránh lợi dụng phê bình để “hạ uy tín của nhau”,… gây mất đoàn kết nội bộ. Trên từng cương vị công tác, trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người chỉ huy phải tích cực rèn luyện đạo đức: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tạo thói quen quý trọng tài sản của Nhà nước, nhân dân, công sức của bộ đội; xây dựng ý thức chi tiêu có mục đích, có kế hoạch, không hoang phí; đưa việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào nội dung kế hoạch công tác cá nhân hằng tuần, tháng và phấn đấu thực hiện để làm gương. 

Bốn là, kết hợp chặt chẽ phòng, chống lãng phí với phòng, chống bệnh quan liêu, tham nhũng. Theo Hồ Chí Minh, bệnh quan liêu và nạn tham ô có quan hệ chặt chẽ với bệnh lãng phí. Người chỉ rõ: “Bệnh quan liêu là bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và của Đoàn thể”4. Còn “Tham ô là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là không tôn trọng của công. Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra”5. Do đó, phòng, chống những biểu hiện lãng phí trong Quân đội phải kết hợp chặt chẽ với phòng, chống quan liêu, tham nhũng. Để kết hợp chặt chẽ phòng, chống lãng phí với phòng, chống quan liêu, tham nhũng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trong đó, tập trung thực hiện nghiêm Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quyết định số 166/QĐ-TTg, ngày 23/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020”; Nghị quyết số 915-NQ/QUTW, ngày 25/8/2018 của Quân ủy Trung ương về “Đổi mới cơ chế tài chính Quân đội giai đoạn 2018 - 2025 và những năm tiếp theo”; Quyết định số 3500/QĐ-BQP, ngày 26/8/2018 phê duyệt Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính Quân đội theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, giai đoạn 2018 - 2025 và những năm tiếp theo”. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, quy định về quản lý tài chính, ngân sách; thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm ngân sách quốc phòng; công khai, minh bạch về chế độ, tiêu chuẩn, chính sách của bộ đội, trong mua sắm tài sản công, tài sản doanh nghiệp, mua sắm trang thiết bị, sử dụng đất đai. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán việc sử dụng vốn, tài sản,... tránh mọi biểu hiện quan liêu, xa rời nguyên tắc, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài chính, những biểu hiện tư túi, gian lận nguồn ngân sách, cơ sở vật chất của đơn vị. Nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng các nguồn lực, dự án đầu tư, công trình của Quân đội bảo đảm huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trong toàn quân và từng đơn vị,... nhằm bảo đảm nguồn ngân sách dành cho Quân đội không bị thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh với những cán bộ, nhân viên có hành vi quan liêu, tham ô, lãng phí, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không hạ cánh an toàn”.

Lãng phí là một trong những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra. Thấm nhuần tư tưởng và làm theo tấm gương mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống lãng phí, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.

ST.

Thực hành “nói đi đôi với làm” theo phong cách Hồ Chí Minh

Cùng với giá trị tư tưởng và đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành di sản vô giá, nền tảng văn hóa tinh thần, biểu tượng sáng ngời về tấm gương mẫu mực của vị Lãnh tụ kính yêu trong mỗi con người Việt Nam. Để phong cách của Người tiếp tục thẩm thấu, lan tỏa sâu rộng và hiện hữu trong đời sống xã hội cần tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp; trong đó, thực hành “nói đi đôi với làm” là giải pháp thiết thực nhất.

Ngay từ khi theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, Nguyễn Tất Thành đã thắc mắc tại sao thực dân Pháp rêu rao khẩu hiệu: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” mà lại đàn áp, bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam? Người đã nung nấu ý tưởng được làm quen với nền văn minh Pháp để tìm hiểu xem đằng sau khẩu hiệu ấy ẩn giấu những gì? Vì thế, nước Pháp là điểm dừng chân đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Người thanh niên yêu nước. Khi trực tiếp chứng kiến cuộc sống ở nước Pháp, Bác đã vô cùng thất vọng với một nền văn minh mà ở đó: Tự do – bình đẳng – bác ái chỉ dành cho giai cấp tư sản, còn các tầng lớp nhân dân lao động Pháp cũng bị bóc lột nặng nề, nghĩa là: giữa khẩu hiệu và thực tế không thống nhất với nhau. Qua đó, Người đã lấy hình ảnh “con đỉa hai vòi” để gán cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, một vòi hút máu ở chính quốc, vòi còn lại hút máu ở các nước thuộc địa. Đến khi tiếp cận, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, mà khởi đầu là Luận cương của V.I. Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ Cách mạng Tháng Mười Nga – cuộc cách mạng giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động với thực tiễn Việt Nam và đã tìm thấy “cẩm nang thần kỳ” soi sáng con đường cứu nước, cứu dân. Vận dụng triệt để nguyên tắc “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn” của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực hành “nói đi đôi với làm”, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lấy đó làm nguyên tắc, phương châm xuyên suốt mọi hoạt động và cũng là biểu hiện thực tiễn về tư tưởng, đạo đức, văn hóa,… làm nên đặc trưng cốt lõi phong cách lãnh tụ vĩ đại.

Để việc học tập Bác trở thành nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân, tổ chức và tạo sự lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cùng với đó, nghị quyết các hội nghị Trung ương (khóa XII), các chỉ thị, quy định,… của Đảng đều chú trọng đề cập đến nội dung này, nhất là đẩy mạnh học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm”. Đây là nội dung quyết định uy tín, hiệu suất công việc của mỗi cá nhân, tổ chức. Có thể nói, Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương là minh chứng về học tập tinh thần của Bác trong rèn luyện và thực hành nhiệm vụ. Những năm qua, các ban, bộ, ngành, các tổ chức và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã tổ chức quán triệt, cụ thể hóa, triển khai các nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả thiết thực; phát hiện, bình chọn và giới thiệu hơn 2.000 điển hình tiên tiến về dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X tại Thủ đô Hà Nội (tháng 12/2020).

Tuy nhiên, việc tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương,… còn diễn ra hình thức, làm cho xong; thậm chí ủy viên cấp ủy, cán bộ chủ trì, chủ chốt trực tiếp lên lớp quán triệt cho cơ quan, đơn vị học tập nhưng bản thân lại thực hiện không đúng. Một số nơi, lĩnh vực còn xảy ra tình trạng “thương mại hóa” tình người trong quan hệ xã hội dẫn đến căn bệnh “nói không đi đôi với làm”; cán bộ chủ trì, chủ chốt sống hai nhân cách: trong cuộc họp thường rao giảng rất hay về đạo đức, phong cách, nhưng hành động thực tế lại không đúng với những gì đã nói. Hiện tượng bùng nổ quảng cáo “một tấc đến trời”, lạm phát ngôn từ diễn ra ở nhiều nơi, trên nhiều phương tiện,… gây phản cảm, hoen ố giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống dân tộc, v.v. Để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh phong trào tự giác học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm” trong toàn xã hội; coi đây là nguyên tắc hàng đầu trong mọi hoạt động. Theo Hồ Chí Minh: “Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt: 1. Mình đối với mình. 2. Mình đối với người. 3. Mình đối với công việc”. Vì thế, thực hành “nói đi đôi với làm” cần phải được tiến hành nghiêm túc trong tất cả các quan hệ đó.

Thứ nhất, “nói đi đôi với làm” trong quan hệ mình đối với mình. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn tự đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt và tự thực hành “nói đi đôi với làm” nghiêm túc, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo thực hiện yêu cầu đó. Từ những câu chuyện kể về Bác Hồ cho thấy, Người luôn coi trọng thực hành - tức là làm và hành động, làm nhiều hơn nói, hoặc chỉ lặng lẽ, kiên trì nêu gương mà không nói. Cả cuộc đời, sự nghiệp của Người là những câu chuyện sinh động, tấm gương mẫu mực về “nói đi đôi với làm”, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cùng các phẩm chất: “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” và phong cách: làm việc, tư duy, diễn đạt, ứng xử, sinh hoạt,… chỉ vì: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Học tập, làm theo tấm gương của Người, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ được giao, tự hình thành ý tưởng, đặt ra những kế hoạch cụ thể, khoa học, phù hợp với khả năng và quyết tâm thực hiện bằng được, nhằm chuyển hóa thành hiện thực. Đây là sự thống nhất giữa suy nghĩ và hành động, giữa ý tưởng, kế hoạch và quyết tâm thực hiện với thước đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể khi giải quyết mối quan hệ này. Vì vậy, quá trình thực hành, dù là cá nhân hay tổ chức cũng phải thường xuyên tự kiểm điểm, đánh giá chính xác kết quả đạt được, kịp thời bổ sung, điều chỉnh theo hướng đặt ra yêu cầu ngày càng cao, nhưng vừa sức, bảo đảm hiệu quả thực hành “nói đi đôi với làm” ngày càng cao trong quan hệ mình đối với mình.

Thứ hai, thực hành “nói đi đôi với làm” trong quan hệ mình với người khác. Cùng với tấm gương sinh động về “nói đi đôi với làm” trong quan hệ mình với người khác, Hồ Chí Minh còn vận dụng nhuần nhuyễn tinh hoa văn hóa phương Đông về tư tưởng: “dĩ nhân nhi giáo, dĩ ngôn nhi giáo” - trước hết phải giáo dục bằng tấm gương sống của chính mình, sau đó mới giáo dục bằng lời nói để cảm hóa, giáo dục người khác theo phương châm: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Không chỉ đề cao nêu gương của bản thân, Người còn yêu cầu mỗi cá nhân phải luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay, sửa đổi khuyết điểm. Đồng thời, phải hoan nghênh người khác phê bình mình; việc gì cũng thiết thực, nói được, làm được. Người dạy thanh niên: “Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết. Như thế thì ai cũng phải yêu mến kính phục thanh niên và phong trào thanh niên nhất định sẽ ăn sâu lan rộng”. Như vậy, học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm” trong mối quan hệ mình với người khác đặt ra yêu cầu đối với mỗi cá nhân, tổ chức, nhất là cán bộ, đảng viên, người giữ các trọng trách cao càng phải gắn trách nhiệm, danh dự cá nhân với lời nói của mình và phải quyết tâm thực hiện bằng được những gì đã nói, đã công bố trước tập thể, hoặc người khác. Có như vậy, mới giữ được chữ “tín” của mình đối với người khác, bởi “một sự mất tín, vạn sự mất tin”. Cùng với đó, luôn tự kiểm điểm và nghiêm túc tiếp thu ý kiến đóng góp, phê bình khi mình có khuyết điểm, chưa thực hiện được những gì đã nói. Kiên quyết đấu tranh với các hành vi xu nịnh, vi phạm nguyên tắc, quy chế làm việc, các biểu hiện: “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói một đường làm một nẻo”, thậm chí “nói nhưng không làm”, v.v.

Thứ ba, yêu cầu thực hành “nói đi đôi với làm” trong quan hệ mình đối với công việc. Đây là quan hệ quyết định hiệu suất, hiệu quả công việc, uy tín của cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương sáng, gương mẫu về thực hành nói đi đôi với làm trong mọi công việc mà còn yêu cầu: “Cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ” và “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích”; việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Người chỉ rõ: “Mỗi người công nhân, nông dân, trí thức, cán bộ, viên chức, đều phải hiểu rõ nghĩa vụ vẻ vang của mình là phục vụ sản xuất. Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”. Hồ Chí Minh cho rằng, tổ chức trước hết vẫn là con người, vì thế dù là tổ chức nào thì hạt nhân vẫn là con người và do đó, để mỗi tổ chức hoàn thành tốt phận sự của mình thì hạt nhân của tổ chức phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng mà thực hành: chủ trương một, biệp pháp mười, quyết tâm hai mươi. Đối với mỗi cá nhân, khi được tổ chức giao đảm nhiệm trọng trách nào đó, thì lời nói, việc làm của họ về cơ bản được mặc định là đã vượt qua giới hạn cái riêng của bản thân họ để đại diện cho tổ chức đó. Vì thế, kiên quyết đấu tranh với những người: “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương và cuộc đấu tranh phòng, chống giặc nội xâm, đẩy lùi sự tha hóa về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,… Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu phẩm chất của cán bộ, đảng viên; đặc biệt chú trọng phẩm chất, phong cách “nói đi đôi với làm”. Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng ghi rõ: “Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm”.

Đẩy mạnh thực hành “nói đi đôi với làm” là biểu hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức trong mọi hoạt động, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục góp phần giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và lan tỏa phong cách Hồ Chí Minh trong tình hình mới./.

ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước dân chủ, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; có nền dân chủ lập hiến, quản lý đất nước bằng pháp luật luôn được Đảng ta vận dụng sáng tạo, ngày một hoàn thiện trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua các thời kỳ. 

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền được Đảng ta vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, Lãnh tụ Hồ Chí Minh xác định bản chất dân chủ của Nhà nước ta: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”1. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân; vấn đề cốt tử là làm sao để nhân dân thực sự làm chủ vận mệnh của đất nước. Để quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và thực thi trong cuộc sống, cần xây dựng và hoàn thiện thể chế, phương thức, cơ chế thực hiện. Người chỉ rõ, phải xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng Nhà nước pháp quyền và các tổ chức xã hội do chính họ lập ra và quản lý. Theo đó, nhân dân vừa là người cử ra chính quyền các cấp, vừa là người quản lý, kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của bộ máy quyền lực đó. Quan điểm về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân được Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập hết sức đầy đủ và sâu sắc; được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân được Đảng ta đúc kết thành cơ chế, chính sách quản lý, điều hành đất nước: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Cơ chế đó phát huy được tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta xây dựng là nhà nước tôn trọng pháp luật, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Ngay sau khi tổ chức thành công Cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội đầu tiên (06/01/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương xây dựng và thông qua Hiến pháp năm 1946, đặt nền móng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Quá trình chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và pháp luật, tổ chức và vận hành nhà nước, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nhưng phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế: “Nghiêm chỉnh thực hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế độ và pháp luật của Nhà nước”2. Người luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của Chính phủ; đồng thời, nhắc nhở cán bộ các cấp, các ngành, trước hết là cán bộ thuộc ngành hành pháp và tư pháp phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật. Để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, biết quản lý nhà nước, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tâm, tận lực suốt đời phục vụ nhân dân. Đồng thời, luôn đề phòng và chủ động khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước, kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm là: tham ô, lãng phí, quan liêu. Cùng với đó, Người rất coi trọng việc giáo dục pháp luật cho nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước.

Thứ baNhà nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc rộng rãi. Sinh thời, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các tổ chức đảng và đảng viên: Đảng ta là đảng cầm quyền chứ không phải đảng trị, mọi cán bộ, đảng viên phải biết tôn trọng Nhà nước, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”3. Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân phải tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng, học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân. Bởi, đây là nền tảng tư tưởng, lý luận quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền kiểu mới do nhân dân làm chủ.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân trong tình hình mới

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bước đột phá trong tư duy về xây dựng nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Đó là cơ sở chính trị cho việc tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và thúc đẩy việc đổi mới một cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, khẳng định “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”4. Do vậy, trong thực hiện cần tiếp tục quán triệt và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Trước hết, nắm vững mục tiêu là tôn trọng, bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả vì độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Lựa chọn ra và thực thi những cơ chế, hình thức dân chủ hữu hiệu để nhân dân quyết định những công việc trọng đại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đã chỉ rõ, chừng nào và khi nào Nhà nước chưa tạo đủ điều kiện để nhân dân thực hiện phát huy quyền làm chủ của mình ở cơ sở, hoặc để xảy ra dân chủ cực đoan, dân chủ quá trớn, gây trở ngại cho hoạt động điều hành và quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở, thì chừng đó quyền lực Nhà nước ở địa phương bị suy giảm, cản trở việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Nội dung này có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là khi các thế lực thù địch đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ” và “nhân quyền” cũng như các thủ đoạn khác để vu cáo, xuyên tạc chế độ dân chủ, chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy, phải nâng cao dân trí, động viên, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân sử dụng quyền làm chủ, quyền lực của mình tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Thứ hai, xây dựng nhà nước luôn đi đôi khắc phục được những căn bệnh cố hữu của các nhà nước kiểu cũ. Tuyệt đối không mơ hồ trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với các giá trị văn hóa dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, kiên quyết chống luận điệu xuyên tạc, mị dân, núp dưới chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để xuyên tạc những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã xây dựng, vun đắp trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả phải kết hợp chặt chẽ giữa “đức trị” và “pháp trị”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, không được coi nhẹ mặt nào. Xây là ra sức giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho nhân dân, trước hết là cán bộ, công chức, đảng viên, những người có chức, có quyền, đi đôi với việc chống chủ nghĩa cá nhân, dùng pháp luật nghiêm trị những kẻ vi phạm pháp luật và thoái hóa đạo đức, làm hại dân, hại nước. Cán bộ các cấp trong bộ máy công quyền nhà nước từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự gần dân, biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, làm việc gì cũng phải bàn bạc kỹ và học hỏi kinh nghiệm của nhân dân, thực sự yêu dân, kính dân, tin cậy và trọng dân.

Thứ tưluôn đề phòng và chủ động khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước, kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước phụ thuộc vào tính nghiêm minh của việc thi hành pháp luật và sự trong sạch, gương mẫu về đạo đức của những người cầm quyền. Vì vậy, phải luôn nêu cao cảnh giác với những biểu hiện tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, công chức, giữ cho Nhà nước luôn trong sạch, vững mạnh.

Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các cơ quan quyền lực của Nhà nước về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, quản lý để họ thực sự là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của nhân dân. Cùng với nâng cao bản lĩnh chính trị, giáo dục đạo đức cách mạng, phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước có đủ tri thức về chính trị học, xã hội học, về hệ thống chính trị, pháp luật, quản lý hành chính nhà nước, về tổ chức lao động khoa học và tâm lý quản lý, v.v.

Thứ sáu, tăng cường vai trò lãnh đạo và đổi mới phương thức cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Bởi, thực tiễn đã chỉ rõ: sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định để bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, bảo đảm cho hệ thống chính trị có đủ khả năng đưa đất nước ta từng bước vượt qua nguy cơ, thách thức, vững vàng đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vẫn mãi có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập, Đảng ta tiếp tục kế thừa tư tưởng của Người để xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là điều vô cùng cần thiết và đúng đắn./.

ST.

“Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí” - chỉ đạo chiến lược của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam

Cùng với ý chí, quyết tâm đấu tranh giành độc lập dân tộc thì “Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí” là tổng kết của Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm bốn năm Ngày chiến thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tổng kết đó đồng thời là chỉ đạo chiến lược để xây dựng và phát triển ngành Kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu của cách mạng và Quân đội ta.

Quy luật của chiến tranh là “mạnh được, yếu thua”. Trong khi đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chống kẻ thù xâm lược được ví như “châu chấu đá voi”, “võ sĩ tí hon đánh tên khổng lồ”. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nhân dân Việt Nam khắc phục mọi khó khăn, bất cập về lực lượng và phương tiện, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù có tiềm lực mạnh về kinh tế và quân sự, có quân đội nhà nghề, bộ máy vận hành chiến tranh chuyên nghiệp, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và phương tiện chiến tranh hiện đại, v.v. Trên cơ sở lý luận chiến tranh và quân đội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh hoa quân sự thế giới và truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có những chỉ đạo chiến lược, giải quyết kịp thời những vấn đề cơ bản, cấp bách về quân sự của cách mạng Việt Nam.

Cùng với việc quy tụ sức mạnh chiến tranh, sức mạnh quân sự vào vai trò quyết định của con người, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh tới vai trò đặc biệt quan trọng của vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Người chỉ rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng” và “Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân vùng dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước, đoạt lại chính quyền”. Trong điều kiện rất khó khăn, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nhiều cách thức tìm kiếm các nguồn vũ khí cho cách mạng, thể hiện tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, tìm kiếm và huy động mọi nguồn vũ khí để trang bị cho lực lượng vũ trang. Trước hết là phát huy nội lực, tự tạo, tự sản xuất là cách tốt nhất để giải quyết kịp thời những khó khăn, thiếu thốn trước mắt về vũ khí. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Hồ Chí Minh chỉ thị: “Cái gì đánh được giặc là phải dùng cả,… khi có dịp phải rèn giáo, mác cho du kích”. Đầu năm 1941, Người giao nhiệm vụ cho các cán bộ chuyên môn mở xưởng sửa chữa và sản xuất vũ khí ở Cao Bằng. Tiếp đó, thực hiện chỉ thị của Đảng và lời kêu gọi sắm sửa vũ khí đánh quân thù của Tổng bộ Việt Minh, hầu hết các tỉnh ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều khẩn trương rèn đúc vũ khí; những nơi có điều kiện thì lập “Công binh xưởng” để sản xuất và sửa chữa vũ khí để kịp thời cung cấp cho các đơn vị giải phóng quân và du kích đánh giặc. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân và lực lượng vũ trang, sử dụng vũ khí tự tạo để đánh giặc, lấy vũ khí của giặc để trang bị cho mình. Quán triệt tư tưởng đó, Quân đội và nhân dân Việt Nam với cách đánh du kích thông minh, sáng tạo tổ chức nhiều trận đánh, thu được nhiều vũ khí của địch để đánh địch.

Hồ Chí Minh còn tìm cách mua sắm vũ khí từ nước ngoài, đồng thời tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế để có thêm vũ khí mới, hiện đại cho cách mạng. Ngay từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã chủ trương mở thông đường dây liên lạc từ Cao Bằng sang Côn Minh (Trung Quốc) để giữ mối liên hệ với các đồng chí hoạt động ở nước ngoài và tìm cách mua vũ khí từ Trung Quốc, vận chuyển về nước. Đồng thời, Người cùng Trung ương Đảng phát động phong trào “Đồng tiền cứu nước” (6/1945), “Tuần lễ vàng” (9/1945) quyên góp tiền mua súng đạn trang bị cho lực lượng vũ trang, giúp cho cách mạng có được một khối lượng đáng kể các loại vũ khí, trang bị cho các lực lượng chiến đấu. Để có thêm nguồn vũ khí, nhất là các loại vũ khí hiện đại mà ta chưa có điều kiện sản xuất hoặc mua sắm, Hồ Chí Minh chủ trương “dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới”. Người trực tiếp đi thăm Trung Quốc, Liên Xô để thiết lập quan hệ ngoại giao và tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong giai đoạn 1954 - 1964, Liên Xô đã ủng hộ Việt Nam 77.219 tấn hàng quân sự, Trung Quốc viện trợ 42.219 tấn hàng quân sự. Giai đoạn 1965 - 1975, các nước xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ cho Việt Nam 2.224.802 tấn hàng quân sự. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã có đủ sức mạnh để mở các chiến dịch lớn, làm nên những chiến thắng vang dội, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Hai là, tập trung xây dựng và phát triển ngành quân khí theo hướng cơ bản, lâu dài, vững chắc và hiện đại. Để đáp ứng vũ khí cho những yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của sự nghiệp kháng chiến, Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng và phát triển ngành Quân khí theo hướng cơ bản, vững chắc và hiện đại. Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 15/9/1945, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Phòng Quân giới trực thuộc Bộ Quốc phòng với hai nhiệm vụ: “Thu thập, mua sắm vũ khí và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu quân sự hóa toàn dân”. Đồng thời, chỉ đạo quân và dân ta, nhất là ngành Quân giới nỗ lực nghiên cứu, chế tạo, cải tiến, biến vũ khí có được từ mọi nguồn thành vũ khí của mình và đánh theo cách đánh của mình, với tinh thần: sản xuất vũ khí đi đôi với yêu cầu chiến thuật. Với ý chí tự lực, tự cường của toàn quân, toàn dân, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, các loại vũ khí hiện đại, có uy lực lớn do các nước viện trợ đã được nghiên cứu, cải tiến gọn nhẹ, dễ mang vác, tiện cơ động, phù hợp với cách đánh của bộ đội Việt Nam. Các hoạt động sản xuất, chế tạo vũ khí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm cơ bản vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang chiến đấu. Các tổ chức hoạt động kỹ thuật quân sự khác cũng từng bước hình thành và phát triển nhanh chóng, như: thông tin liên lạc, vận tải, công binh, pháo binh,… góp phần đưa ngành Kỹ thuật Quân đội ngày càng phát triển, trưởng thành và lớn mạnh.

Ba là, quan tâm tìm kiếm và bồi dưỡng người có đủ năng lực về chuyên môn kỹ thuật phục vụ cho công tác nghiên cứu, cải tiến và sản xuất vũ khí cho cách mạng. Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã cử nhiều cán bộ, chiến sĩ đi đào tạo quân sự ở nước ngoài để sau này về xây dựng Quân đội. Đặc biệt, năm 1946, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp, Người đã vận động và đưa về nước một số trí thức Việt kiều yêu nước, như: Phạm Quang Lễ, Võ Quý Huân, Vũ Đình Huỳnh, v.v. Trên đường về, Người căn dặn Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa): “Chú về phải lo ngay việc chế tạo vũ khí. Sớm muộn, thế nào ta cũng phải đánh nhau với Pháp”. Sau này, Người giao cho Trần Đại Nghĩa giữ chức Cục trưởng Cục Quân giới. Dưới sự chủ trì, chỉ huy của Trần Đại Nghĩa và phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự sáng tạo, ngành Quân giới đã chế tạo được nhiều loại vũ khí mới, trong đó có những loại có uy lực mạnh, sức công phá lớn như: Badôca, SKZ, AT, SS,… đủ sức phá tan các phương tiện chiến tranh hiện đại, như: xe tăng, xe bọc thép, boong ke kiên cố của địch.

Để đào tạo ra những cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự có chuyên môn tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Trường Đại học Kỹ thuật quân sự (ngày 28/10/1966), tiền thân của Học viện Kỹ thuật quân sự ngày nay. Đây là Trường Đại học kỹ thuật quân sự đầu tiên của Quân đội và đất nước, với nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học về lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự, phục vụ cho sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trường đã đào tạo và cử nhiều đoàn cán bộ tăng cường cho các binh trạm, xưởng sửa chữa, trực tiếp phục vụ chiến đấu trên chiến trường miền Nam; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tập trung cải tiến, phát huy tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, trang bị hiện có. Với việc coi trọng và làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật quân sự tài năng, tâm huyết, sáng chế nhiều loại vũ khí cho bộ đội và nhân dân đánh giặc, góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.

Bốn là, coi trọng bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tinh thần tiết kiệm, “giữ tốt, dùng bền”, sử dụng có hiệu quả cao nhất các loại vũ khí và chiến lợi phẩm thu được. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong điều kiện đất nước còn nghèo, bao nhiêu nguồn, bao nhiêu vũ khí cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng. Do đó, tất cả các loại vũ khí, dù do ta sản xuất ra hoặc lấy được của địch hay bạn bè quốc tế ủng hộ, đều phải được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả theo phương châm “mỗi viên đạn một quân thù”. Đây là cách tốt nhất để góp phần giảm bớt những khó khăn, thiếu thốn về vũ khí của cách mạng, mà vẫn đạt được hiệu suất chiến đấu cao. Vì vậy, cần giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tinh thần tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí. Người thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ: “cần giữ gìn tốt vũ khí, trang bị, xe cộ; cần tiết kiệm đạn dược, xăng dầu; cần quý trọng sức của, sức người của nhân dân”. Đồng thời, yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên “giáo dục bộ đội giữ gìn tốt vũ khí, trang bị, tiết kiệm từng viên đạn, từng hạt gạo, không được để lãng phí”. Đặc biệt, đối với những chiến lợi phẩm thu được, Bác căn dặn phải cất giữ cẩn thận và sử dụng tiết kiệm: “Các chú thu được một số xe của địch, thế là tốt,... Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy. Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm... Xe, xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải chăm sóc xe, yêu xe như con, quý xăng như máu”.

Nhờ những biện pháp tìm kiếm, chế tạo và phát triển vũ khí sáng tạo, hiệu quả, phù hợp, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết thỏa đáng vấn đề khó khăn của cách mạng Việt Nam là vấn đề vũ khí, góp phần đưa cách mạng làm nên những thắng lợi huyền thoại trong thế kỷ XX. Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội đặt ra ngày càng cao, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong khi nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, thì những chỉ dẫn trong luận điểm “đánh giặc, trước hết cần phải có vũ khí” của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng, “làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”1 là nội dung đặc biệt quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Một tư tưởng lớn, xuyên suốt và nhất quán

Khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927 Nguyễn Ái Quốc đã viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” làm tài liệu huấn luyện cán bộ, chăm lo gây dựng lực lượng và phong trào cách mạng từ lớp thanh niên cộng sản đầu tiên của Đảng. Ngay lúc đó, Người đã trù tính “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”2. Đồng thời, khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”3. Nói về “Tư cách một người cách mệnh”, Người tự nhủ mình và nhắn gửi các đồng chí của mình “Tự mình phải: … Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất”4. Như vậy, Người đặt vấn đề tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lên hàng đầu, đó là bảo đảm quan trọng nhất để thực hành lý tưởng, trọn đời phấn đấu, hy sinh vì Dân, vì Nước. Những trù tính đó của Nguyễn Ái Quốc đã cho thấy, người cách mệnh, Đảng cách mệnh theo đuổi sự nghiệp lớn, ấp ủ hoài bão, khát vọng lớn thì phải sống và hành động với một bản lĩnh mạnh mẽ, kiên định, tự vượt lên chính mình. Đó không chỉ là chính trị mà còn là đạo đức, sâu xa là văn hóa.

Hai mươi năm sau “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947 với bút danh X.Y.Z, Người nhấn mạnh “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”5, trước hết Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tự phê bình và phê bình, phải ra sức sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm mắc phải, phải luôn biết dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong tác phẩm đặc biệt quan trọng này về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Người phê bình nghiêm khắc những khuyết điểm, sai lầm mà không ít cán bộ đảng viên thường mắc phải, nổi bật ở ba căn bệnh: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, ba hoa. Những chứng bệnh đó và rất nhiều bệnh khác đều do một căn bệnh gốc, “bệnh mẹ” sinh ra là chủ nghĩa cá nhân, ham danh hám lợi, ham địa vị chức quyền, chỉ vì lợi ích của mình, của những người “thuộc cánh hẩu với mình” mà quên cả Đảng, coi thường cả nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng, rất xa lạ với bản chất và mục đích cao quý của Đảng. Nhiều lần Người nhấn mạnh rằng: phải tẩy sạch, phải chữa cho “tiệt nọc” những chứng bệnh ấy, kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa cá nhân - một thứ giặc ở trong lòng, “giặc nội xâm”, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm vì nó phá từ trong phá ra, làm cho Đảng suy yếu, xa dân. Những cán bộ đảng viên mắc vào chủ nghĩa cá nhân mà không có dũng khí tự phê bình, tự sửa chữa dễ trở nên hư hỏng, phong trào cách mạng chỉ vì thế mà thất bại.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để chữa những căn bệnh đó, trong từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ đảng viên phải đặt ra chương trình, kế hoạch học tập, nghiên cứu lý luận, thấm nhuần đường lối, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đề cao tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự phê bình và phê bình như rửa mặt hàng ngày. Có tự phê bình mình một cách nghiêm khắc, ráo riết, “cả quyết sửa lỗi lầm” thì phê bình đồng chí mình mới ngay thẳng, thật thà với động cơ trong sáng, cốt làm việc cho tốt hơn, đoàn kết thống nhất hơn, khuyết điểm ít thì ưu điểm nhiều và ngược lại. Phê bình việc chứ không phải phê bình người, tức là phải tôn trọng nhân cách của nhau. Lại phải lắng nghe sự góp ý, phê bình của quần chúng, khuyến khích quần chúng phê bình và quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm làm cho Đảng trở nên tiến bộ, phát triển, trưởng thành, mạnh khỏe như một cơ thể sống, không mắc bệnh.

“Sửa đổi lối làm việc” đã xác định 12 điều căn bản để xây dựng Đảng chân chính cách mạng. Điều quan trọng đầu tiên, đó là động cơ, mục đích phấn đấu vào Đảng của mỗi người. Phải suốt đời tâm niệm, ghi nhớ và hành động sao cho đúng với bản chất của Đảng, rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”6. Ngoài ra, Đảng không có lợi ích nào khác. Khi Đảng đã cầm quyền, động cơ, mục đích vào Đảng càng trở nên quan trọng và vô cùng hệ trọng. Nếu để cho những toan tính cá nhân vụ lợi, vị kỷ, vào Đảng cốt để tìm kiếm danh lợi, chức quyền, địa vị thì đó là khởi đầu của những suy thoái và hư hỏng, làm tha hóa nhân cách đảng viên và bản chất của một Đảng cách mạng. Đảng phải ra sức giáo dục cán bộ, đảng viên và thường xuyên rèn luyện họ, thử thách họ qua hoạt động, bằng hành động và việc làm chứ không chỉ qua lời nói. Theo Người, Đảng phải kiên quyết tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra khỏi đội ngũ để giữ cho Đảng trong sạch, liêm chính.

Ở cương vị lãnh tụ tối cao của Đảng và Nhân dân, Người nêu gương mẫu mực về lòng trung thành với lý tưởng và sự nghiệp, tận tụy, hy sinh trọn đời vì Nước vì Dân, nêu cao bản lĩnh không màng danh lợi, đứng ngoài vòng danh lợi, suốt đời gắn bó với nhân dân như máu thịt, bằng đạo đức cách mạng trong sáng, đặc biệt là văn hóa ứng xử tinh tế, bao dung, vị tha và nhân ái. Kết tinh những phẩm chất cao quý đó là bản Di chúc thiêng liêng Người để lại cho toàn dân, toàn Đảng vào năm 1969, vẫn nổi bật chủ đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”7. Người khẳng định “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”8.

Trong toàn bộ tư tưởng và di sản của Người, tư tưởng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng là tư tưởng lớn, xuyên suốt, nhất quán, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, đảm bảo quan trọng nhất cho mọi thành công trong sự nghiệp tiếp tục đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thực hiện khát vọng cống hiến, khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”9.

Trước hết, phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị. Kiên định lập trường, quan điểm và nguyên tắc theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống đối của các thế lực thù địch, giữ vững niềm tin khoa học, đạo đức trong sáng và bản lĩnh chính trị vững vàng, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây là bảo đảm tối cần thiết để định hướng xã hội chủ nghĩa của sự nghiệp đổi mới được giữ vững và phát huy, không rơi vào chệch hướng, vượt qua nguy cơ, thách thức đối với Đảng cầm quyền. Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh và tình hình phức tạp hiện nay, việc nâng cao tiềm lực tư tưởng, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng đòi hỏi phải gắn liền xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị với tư tưởng và đạo đức. Việc nhấn mạnh, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức bao hàm ý nghĩa coi đây là khâu đột phá, phải ra sức nâng cao nhận thức và thực hành đạo đức cách mạng trong toàn Đảng, nhất là tinh thần trách nhiệm và nêu gương, đó là sức mạnh để phòng chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó cũng là thể hiện sự thấm nhuần và thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người coi “đức là gốc”. Không có đạo đức liêm khiết, không có phẩm chất trung thực, biết hy sinh, đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc và nhân dân lên trên hết, trước hết thì không thể tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Không có đạo đức cách mạng thì dù có tài giỏi mấy cũng không thể lãnh đạo nhân dân, không được dân phục, dân yêu như Bác Hồ đã nói. Muốn giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình thì Đảng và mọi đảng viên phải suốt đời tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Đảng phải tiên phong và gương mẫu về đạo đức thì mới góp phần to lớn và quyết định vào việc xây dựng môi trường đạo đức lành mạnh, đây cũng là giải pháp đột phá để chấn hưng đạo đức xã hội, ngăn chặn sự xuống cấp, suy thoái về đạo đức. Đảng là đạo đức, là văn minh nên Đảng phải nêu cao đạo đức của mình, làm gương sáng cho xã hội và nhân dân noi theo.

Hai là, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự là khâu then chốt thì phải ra sức xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng ta coi đây là “then chốt của then chốt”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Để xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tổ chức và cán bộ thực sự có hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt vào lúc này, Đảng cần tập trung nỗ lực và hành động đồng bộ, quyết liệt trong đổi mới thể chế, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thực hành dân chủ rộng rãi, thực chất trong Đảng; nhất là tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ và thường xuyên kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng dựa trên Điều lệ Đảng. Trách nhiệm và nêu gương là sức mạnh, sự lan tỏa tính thuyết phục của Đảng đối với Nhân dân. Chức vụ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải chú trọng sự nêu gương, nhất là gương mẫu về đạo đức.

Ba là, để thực hiện lời dạy của Bác “Đảng là đạo đức, là văn minh”, phải ra sức đưa các giá trị văn hóa vào trong chính trị, trong đời sống của Đảng và Nhà nước vào hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị. Quyết tâm của Đảng là làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, hệ thống chính trị cũng phải trong sạch, vững mạnh. Có như vậy mới có sức mạnh tổng hợp đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, tệ nạn và tiêu cực xã hội. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng sức mạnh nội sinh từ văn hóa.

Phải tập trung mọi nỗ lực trong Đảng với sự tham gia xây dựng Đảng của toàn dân để xây dựng Đảng về văn hóa, xây dựng văn hóa của Đảng cầm quyền. Do vậy, cần phải làm cho hình tượng văn hóa của Đảng Cộng sản cầm quyền là tiêu biểu cho văn hóa, tinh hoa văn hóa của dân tộc và thời đại mà Văn hóa Hồ Chí Minh là một mẫu mực điển hình. Đạo đức là cốt lõi của văn hóa cho nên trong Đảng phải thường xuyên đẩy mạnh giáo dục, thực hành văn hóa, chú trọng giáo dục trong toàn Đảng về phẩm giá, lòng tận tụy, danh dự, liêm sỉ. Nói như Hồ Chí Minh: phải dùng văn hóa để chữa thói phù hoa, xa xỉ, tham nhũng. Cần phải coi đây là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, có tầm chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với Dân là bảo đảm cho sự nuôi dưỡng và phát triển bền vững cơ sở xã hội quan trọng bậc nhất của Đảng, đó là lòng dân, sức dân, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân với Đảng, là cội nguồn sức mạnh bảo vệ Đảng. Do đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt chú trọng công tác dân vận. Không tẩy sạch thói “xem khinh dân vận” như Hồ Chí Minh từng phê phán từ hơn 70 năm trước thì Đảng không thể là Đảng chân chính cách mạng trong lòng dân. Dân vận phải gắn liền với dân chủ, đoàn kết và tạo ra sự đồng thuận. Người căn dặn chúng ta phải nêu cao quyết tâm, giữ được tín tâm, có sức hấp dẫn, thu hút lớn bởi sức mạnh đồng tâm từ Đảng tới Dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, đó là một trong những thước đo của xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho sự hài lòng của người dân đối với cán bộ đảng viên tăng lên, làm cho niềm tin của Dân với Đảng được củng cố. Đó là một trong những bí quyết của thành công theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm là, phát triển Đảng, làm tăng sinh lực của Đảng từ thế hệ trẻ, nhất là trong lực lượng vũ trang, trong thanh niên trí thức, phát triển số lượng đi liền với nâng cao chất lượng, nhất là về đạo đức. Đó là công việc quan trọng không được xem nhẹ trong xây dựng Đảng, đảm bảo tính kế thừa thế hệ, tính liên tục từ truyền thống đến hiện đại trong lịch sử Đảng ta.

Làm tốt những vấn đề trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng, lãnh đạo và cầm quyền./.

ST.

“Học đánh cờ” – nét đặc sắc của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - bộ phận hợp thành Tư tưởng của Người - có nội hàm rất rộng, phong phú, biểu hiện ở nhiều giác độ, nhất là trong các văn bản chỉ đạo, bài nói, bài viết về quân sự hoặc liên quan đến quân sự của Người. Bài viết không đề cập toàn bộ Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, mà chỉ nêu và phân tích một số nội dung của tư tưởng này qua bài thơ “Học đánh cờ”.

Chúng ta biết, đánh cờ tướng có nhiều điểm giống như đánh trận, người cầm quân trong đánh cờ cũng như người cầm binh trong đánh trận, đòi hỏi phải “túc trí, đa mưu”, có nghệ thuật dụng quân cao thì thắng, dụng quân thấp thì thua. Có lẽ vì thế Bác viết bài thơ về đánh cờ, hàm ý truyền bá tư tưởng, nghệ thuật quân sự cho những người Cộng sản Việt Nam nói riêng, các thế hệ người Việt Nam nói chung phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Bài thơ “Học đánh cờ” là một trong những bài của tác phẩm “Ngục trung Nhật ký”, còn gọi là “Nhật ký trong tù” được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt, giam tại nhà tù Quảng Châu. Bài thơ gồm 12 câu, sau 2 câu đề dẫn: Tù túng đem cờ học đánh chơi/ Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài thì những câu thơ còn lại chủ yếu đề cập về tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự được biểu đạt qua ngôn từ cờ tướng (xe, tốt,…). Tựu chung Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh thể hiện trong bài thơ gồm những nội dung lớn sau:

1. Nghệ thuật tác chiến với hai hình thức tiến công (tấn công), phòng ngự và nghệ thuật vận dụng yếu tố thời gian trong chiến tranh, mà tiêu điểm là thần tốc. Tiến công và phòng ngự là hai hình thức tác chiến cơ bản của lực lượng vũ trang, của quân đội, cũng là nội dung quan trọng của nghệ thuật quân sự. Hai hình thức tác chiến này còn có những biến thể đồng dạng, như: phản công là một dạng của tiến công, phòng thủ là một dạng của phòng ngự. Đề cập về hai hình thức tác chiến này và nghệ thuật vận dụng yếu tố thời gian trong tác chiến, Bác viết: Tấn công, thoái thủ nên thần tốc/ Chân lẹ, tài cao ắt thắng người; hay tấn công, phòng thủ không sơ hở. Mặc dù tiến công và phòng ngự là hai loại hình tác chiến khác nhau, có đặc điểm, nguyên tắc tác chiến và yêu cầu riêng, nhưng theo Người nó có điểm chung trong tổ chức hoạt động tác chiến là phải thần tốc, có như vậy mới giành được thắng lợi. Đây là nghệ thuật vận dụng yếu tố thời gian trong chiến tranh. Trong tác chiến tiến công phải thần tốc, nhanh chóng, mau lẹ mới tạo được bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, không kịp tổ chức phòng bị, lâm vào thế bị động, lúng túng, dẫn tới vỡ trận, bại trận. Cuộc tiến công thần tốc đại phá quân Thanh tại Thăng Long năm 1789 của Quang Trung – Nguyễn Huệ, cũng như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là những trận đánh như vậy, hơn thế còn là những trận quyết chiến chiến lược, trong đó yếu tố thần tốc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đối với phòng ngự (phòng thủ, thoái thủ), yếu tố thần tốc cũng quan trọng không kém. Bởi có tranh thủ được thời gian, thần tốc, nhanh chóng, mau lẹ tổ chức chuẩn bị mọi mặt (lực lượng, hệ thống công sự, trận địa,…) mới không những không phạm sai lầm, sơ hở, mà còn tạo lập được thế trận liên hoàn, vững chắc để đánh bại các cuộc tiến công của địch. Yếu tố thần tốc quan trọng là vậy, nhưng cũng không vì thế mà lạm dụng coi đó là “chìa khóa vạn năng” mở ra thắng lợi; trái lại, việc vận dụng thực hiện cách đánh thần tốc nhanh hay chậm còn tùy vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhất là tình hình địch để có quyết định chính xác. Ví như, việc thay đổi cách đánh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 dẫn tới thắng lợi quyết định, thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo, “tài cao” của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh mặt trận, đồng thời là minh chứng điển hình về nghệ thuật vận dụng yếu tố thời gian trong tác chiến. Bác Hồ của chúng ta có tư duy quân sự rất sắc sảo, logic, chặt chẽ khi viết: Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.  Cuộc cờ cũng như cuộc chiến, là sự đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa hai bên. Vì thế, chân lẹ tức là nhanh, thần tốc, còn phải tài cao mới thắng được người. Do khuôn khổ giới hạn trong một bài thơ nên Bác không thể diễn giải một cách thấu đáo, đầy đủ tài cao là thế nào, mà chỉ có thể nêu khái quát như vậy. Mỗi người có thể có cách hiểu khác nhau, nhưng xét ở góc độ nghệ thuật quân sự thì người tài cao phải chăng là người giỏi ứng biến theo hoàn cảnh, giỏi “dụng binh, tạo thế”, “mưu, kế, thế, thời”, hoặc tinh thông “binh pháp, trận pháp” theo cách nói của bậc tiền nhân, nghĩa là người có tư chất quân sự hiếm có.

2. Tư tưởng chiến lược tiến công, kiên quyết tiến công để giành thắng lợi từng bước, tiến tới, giành thắng lợi hoàn toàn. Với vai trò lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy quân sự sắc sảo. Tư tưởng quân sự của Người luôn thống nhất và là nền tảng Tư tưởng quân sự của Đảng, đó là tư tưởng chiến lược tiến công, được thể hiện rõ qua hai câu thơ: Phải nhìn cho rộng, suy cho kĩ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công. Hai câu thơ này là nội dung quan trọng nhất, bao trùm nhất của bài thơ, bởi nó vừa cho thấy tầm nhìn chiến lược của Người, vừa thể hiện rõ Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh – Tư tưởng chiến lược tiến công. Trong nội dung tư tưởng này câu hỏi đặt ra là tại sao phải tiến công, “kiên quyết không ngừng thế tiến công”? Bởi, thứ nhất, xét đến cùng, chỉ có tiến công mới giành được thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh, còn phòng ngự là tạm thời, trong từng thời điểm, thường là trong thời kỳ đầu chiến tranh, kế tiếp đó phải nhanh chóng chuyển sang phản công, tiến công để giành thắng lợi. Lịch sử chiến tranh nói chung, lịch sử giữ nước của dân tộc ta nói riêng minh chứng rõ điều đó. Thứ hai, có ở thế tiến công, kiên quyết tiến công chúng ta mới từng bước giành được quyền chủ động tác chiến trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động đối phó. Phải quán triệt sâu sắc tư tưởng tiến công, khi lực lượng ta nhỏ cũng kiên quyết tiến công, khi lực lượng đã lớn mạnh càng phải tiến công và ngay trong phòng ngự, phòng thủ cũng phải luôn chủ động  – phòng ngự tích cực, chuẩn bị cho phản công, tiến công địch khi có điều kiện. Lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng, ai nắm quyền chủ động chiến lược thì sẽ thắng, ai ở vào thế bị động chiến lược tất yếu sẽ bại, có chăng chỉ là vấn đề thời gian. Đó là trong đấu tranh vũ trang, đấu tranh quân sự, còn nếu nói rộng hơn là đấu tranh cách mạng cũng tương tự như vậy, cách mạng phải luôn ở thế tiến công, bởi theo Các Mác phải “cách mạng triệt để”, “cách mạng không ngừng” bằng phương thức tổng hợp với sự kết hợp chặt chẽ của nhiều hình thức đấu tranh mới thành công. Thứ ba, vấn đề rất quan trọng là phải nhận thức thật đầy đủ, quán triệt thật sâu sắc Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và của Đảng ta – tư tưởng chiến lược tiến công. Nếu nói gọn là tư tưởng tiến công cũng không sai, nhưng như thế sẽ không thật rõ và đầy đủ. Điểm nhấn ở đây là cụm từ “chiến lược”, nghĩa là tư tưởng tiến công được quán triệt ở cả ba cấp: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Tuy nhiên, riêng với cấp chiến lược, tư tưởng này biểu hiện tập trung và thống nhất với loại hình tác chiến tiến công – tiến công chiến lược, theo đó chúng ta không chủ trương phòng ngự chiến lược. Còn đối với cấp chiến dịch, chiến thuật thì khác ở chỗ về tư tưởng là tư tưởng tiến công, nhưng về hình thức tác chiến thì lại có thể là tiến công hoặc phòng ngự. Và, ngay trong phòng ngự cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công, đó là dạng phòng ngự chủ động, tích cực, có sự kết hợp đan xen cả tác chiến phòng ngự, phòng thủ và tác chiến tiến công chứ tuyệt nhiên không phải dạng phòng ngự bị động, chỉ duy nhất có tác chiến phòng ngự. Điều đó phần nào lý giải cho việc tại sao xuyên suốt bài thơ khi đề cập đến hình thức tác chiến này Bác chỉ dùng cụm từ “phòng thủ”, “thoái thủ”, thay vì “phòng ngự”. Cho nên nói Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và Đảng ta là tư tưởng chiến lược tiến công là vì thế.

3. Nghệ thuật vận dụng yếu tố “thế, thời” đạt đến trình độ đỉnh cao trong tác chiến. Thế và thời là hai yếu tố, hai nội dung cơ bản của nghệ thuật quân sự, luôn được coi trọng vận dụng trong quá trình tác chiến. Bác viết: Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời một tốt cũng thành công. Chúng ta biết quân xe là quân mạnh nhất và quân tốt là quân yếu nhất trên bàn cờ. Nếu không nhìn rộng, nghĩ kỹ mà đi quân lạc nước thì “hai xe đành bỏ phí”; trái lại, nếu nghĩ sâu, đi đúng thì “một tốt cũng thành công”. Đó là chuyện “thế, thời” trên bàn cờ, cũng như trong cuộc chiến, thậm chí chỉ đi lạc một nước là hỏng cả ván cờ và thua cả cuộc chiến. Thế ở đây là thế trận, thế công, thế thủ, thế địa hình, thế bố trí lực lượng,… có lợi cho ta, bất lợi đối với địch. Thế có lợi đó (lợi thế) có thể xuất hiện ngay từ đầu chiến tranh, nhưng thường là giai đoạn giữa hoặc cuối cuộc chiến tranh. Đó là sự chuyển hóa về thế trận, lực lượng, cục diện chiến trường và có được kết quả đó là bởi hành động chủ quan của ta kết hợp với nhân tố khách quan đem lại. Còn thời là thời cơ tác chiến (chiến lược, chiến dịch), cũng có thể là thời điểm nổ súng tiến công (chiến thuật) quyết định thắng lợi. Tương tự như yếu tố thế, thời cơ thường không xuất hiện nhiều và thường do ta tạo ra là chính kết hợp với sự tác động của nhân tố khách quan. Do đó, khi đã tạo và nắm được thời cơ thì vấn đề cốt yếu là phải tận dụng tốt thời cơ bằng hành động kiên quyết, mau lẹ để giành thắng lợi. Nếu không sẽ rất khó khăn trong cuộc chiến. Vì thế, nghệ thuật vận dụng yếu tố “thế, thời” cực kỳ quan trọng: được thời có thế thì lực lượng nhỏ trở thành lớn, yếu thành mạnh, mất biến thành còn; nếu mất thời, không thế thì an trở thành nguy. Sự chuyển hóa đó thay đổi nhanh như trở bàn tay.

Bác Hồ viết bài thơ “Học đánh cờ”, tác phẩm “Ngục trung nhật ký” khoảng năm 1942-1943, khi chưa nổ ra cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nghĩa là chưa qua thực tiễn chiến tranh. Vậy mà Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã hàm chứa những nội dung nghệ thuật quân sự đặc sắc, có giá trị cao đến thế, thật là điều hiếm có. Tư tưởng đó trở thành nền tảng Tư tưởng quân sự của Đảng ta – tư tưởng chiến lược tiến công – được Đảng nhất quán thực hiện và bổ sung, phát triển trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Như đã đề cập, nội hàm Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh rất sâu rộng. Trên đây chỉ là một số nội dung được thể hiện trong bài thơ “Học đánh cờ” của Người, trong đó nội dung bao trùm nhất, đặc sắc nhất là tư tưởng tiến công – “kiên quyết không ngừng thế tiến công”.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII); Chỉ thị số 87-CT/QUTW ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động noi theo, làm theo Hồ Chí Minh – tấm gương sáng của các thế hệ người Việt Nam. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tốt vấn đề trên có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, không những là trách nhiệm, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn thể hiện tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc đối với vị lãnh tụ kính yêu. Trong đó, điều thiết thực nhất là phải thường xuyên trau dồi, nghiên cứu, học tập, làm theo Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, làm cho di sản vô giá ấy luôn tỏa sáng trong toàn quân, trong lòng dân tộc. Đồng thời qua đó, giúp cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược không ngừng nâng cao trình độ lý luận quân sự, nghệ thuật quân sự, chuyên môn, nghiệp vụ,… ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc./.

ST.

Kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị

Phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” là hồn cốt, là cội nguồn sức mạnh, là thành trì của Quân đội nhân dân Việt Nam. Song, giá trị cốt lõi đó đang chịu sự tác động, chống phá từ nhiều mặt; trong đó, chủ nghĩa cá nhân là sự phá hoại nội sinh, nguy hiểm nhất, khó chống đỡ nhất. Vì vậy, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, cần làm ngay, vừa thường xuyên, lâu dài của các cấp ủy, tổ chức đảng; là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì các cấp.

Kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phát huy, tỏa sáng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị đòi hỏi phải tiến hành tổng thể các hoạt động của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và quá trình tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi quân nhân; trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền. Những giá trị cốt lõi của “Bộ đội Cụ Hồ” được hun đúc và xuất phát từ chính nhận thức, tình cảm và trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đối lập với đó, gốc rễ chủ nghĩa cá nhân cũng nảy sinh từ những nhận thức sai trái, lệch lạc của mỗi quân nhân. Vì vậy, giải pháp nền tảng, xuyên suốt là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thực sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn thấm sâu trong nhận thức rằng: giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vừa là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, vừa là nhu cầu khẳng định bản thân cũng như giá trị của “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội hiện nay. Để đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với tinh thần đổi mới, sáng tạo, thực chất. Nội dung giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người quân nhân cách mạng. Trong tiến hành giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nắm bắt tư tưởng, kịp thời phát hiện, giải quyết từ gốc những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là tư tưởng bất mãn, dao động, v.v. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền gương người tốt, việc tốt trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”,… tạo sự lan tỏa sâu rộng trong đơn vị. Qua đó, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch để toàn tâm, toàn ý phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi quân nhân. Chủ nghĩa cá nhân nảy sinh trước hết từ mỗi cá nhân. Cá nhân lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Đây cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”1. Vì vậy, trong tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi quân nhân phải thường xuyên nghiêm túc “tự soi, tự sửa”, coi đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, mục tiêu của bản thân. Để làm được điều đó, phải tự giác, thật thà, thẳng thắn “tự soi” những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của mình, nhất là hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ (mầm mống của suy thoái về tư tưởng chính trị), từ đó chủ động “tự sửa” với các biện pháp tích cực, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Hiện nay, đạo đức của người quân nhân cách mạng chịu sự tác động của nhiều yếu tố; trong đó, lợi ích vật chất, “lợi ích cá nhân” là vấn đề cốt yếu, dẫn đến nhiều sai phạm. Vì vậy, mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, chủ trì các cấp phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng theo nguyên tắc: luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết; không được cơ hội, vụ lợi, thu vén vì lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Bởi, thực tiễn cho thấy: chỉ khi nào mọi quân nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức cho sự ổn định, phát triển của cơ quan, đơn vị thì khi đó chủ nghĩa cá nhân được đẩy lùi và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được gìn giữ, bồi đắp và phát huy.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vừa hồng, vừa chuyên. Đây là giải pháp căn bản nhất để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong từng cơ quan, đơn vị. Bởi, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Cán bộ tốt thì xây phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thuận lợi; cán bộ xấu thì chống “chủ nghĩa cá nhân” rất khó khăn. Vì vậy, trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, vấn đề quan trọng hàng đầu là: phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; kiến thức, năng lực toàn diện,… đặc biệt là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; đề cao trách nhiệm nêu gương, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung của đất nước, Quân đội và đơn vị. Để có được đội ngũ cán bộ như vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu, các bước trong công tác cán bộ theo phương châm thẳng thắn, khách quan, minh bạch, công khai. Triệt để loại bỏ tư tưởng cục bộ địa phương, “kéo bè, kéo cánh”, trù dập, chèn ép,… trong công tác cán bộ, tạo động lực mạnh mẽ để mọi cán bộ yên tâm công tác, phát huy hết năng lực, sở trường; có cơ hội và môi trường thuận lợi để cống hiến và phát triển.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội là nguyên tắc bất biến. Và, tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng, vô cùng quan trọng, góp phần bảo đảm cho Quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong Quân đội thời gian qua. Vì vậy, các cấp ủy cần tiếp tục thực hiện nghiêm Quy định số 104-QĐ/QU, ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về “Một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: công tác quân lực, công tác cán bộ; công tác tài chính, mua sắm vật tư, trang bị, tài sản công; xây dựng cơ bản, quy hoạch quản lý, sử dụng đất và công trình quốc phòng; chính sách nhà ở, đất ở của cán bộ,… nhất thiết phải được tập thể cấp ủy, tổ chức đảng thông qua mới thực hiện. Trong sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, bày tỏ chính kiến thẳng thắn, trung thực, khách quan, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Những vấn đề quan trọng, những ý kiến khác nhau phải được thảo luận kỹ, kết luận rõ ràng trước khi biểu quyết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ ngăn chặn đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì - những người có chức, quyền sa vào chủ nghĩa cá nhân ngay từ gốc. Bởi, chi bộ là nơi quản lý, rèn luyện, giáo dục đảng viên.

Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm. Để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn và quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, kiểm soát theo nguyên tắc: mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; nhất là trong công tác cán bộ và các lĩnh vực dễ để chủ nghĩa cá nhân chi phối dẫn đến nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm, kiên quyết không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt của cơ quan, đơn vị, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện, hành vi của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” từ sớm, từ xa. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật đảng, kỷ luật Quân đội theo tinh thần không có “vùng cấm”, loại bỏ “cành sâu, mục để giữ cho cây khỏe mạnh” ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần chăm lo xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm cho phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được phát huy và lan tỏa sâu rộng.

Tiến hành các giải pháp trên đòi hỏi nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Thực hiện tốt nội dung quan trọng này không chỉ làm cho chủ nghĩa cá nhân bị quyét sạch, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.

ST.

Phát huy và lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đối với Quân đội, quan điểm về xây dựng nền văn hóa đó đã được kết tinh thành những giá trị cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” và không ngừng lan tỏa bằng những hành động, việc làm vì Tổ quốc, vì nhân dân của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành.

Phẩm chất của “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là đại diện tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cộng sản, người quân nhân cách mạng; được Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI khái quát: “Kiên định vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao, hành động đẹp; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; có tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt; dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết, tôn trọng, gắn bó máu thịt với Nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng”1. Đó cũng là những giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã được phát huy, lan tỏa để hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm tròn chức năng đội quân công tác. Sự lan tỏa đó được biểu hiện rõ trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, toàn quân đều thực hiện tốt công tác dân vận, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xóa đói, giảm nghèo,... làm sâu sắc hơn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.



Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1) đọc báo trong giờ nghỉ. Ảnh: qdnd.vn

Trên thực tế, các phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; chương trình “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới”, “Con nuôi đồn biên phòng”,… đã được triển khai phù hợp thực tiễn ở từng cơ quan, đơn vị, mang lại hiệu quả cao trong công tác dân vận. Riêng từ năm 2020 đến 2022, Quân đội vừa huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực, chủ động đi đầu trong phòng, chống dịch Covid-19; phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân. Đặc biệt, trong năm 2022, Quân đội đã huy động 119.503 lượt cán bộ, chiến sĩ và 5.634 lượt phương tiện tham gia cứu nạn hiệu quả 1.105 vụ, cứu được 1.107 người, 231 phương tiện; dập cháy 629 nhà và 310,43 ha rừng; di dời 32.142 hộ dân đến nơi an toàn tránh bão lũ; sửa chữa 3.559 nhà, 198 km đường giao thông; thu hoạch 23.540 ha lúa và hoa màu2, v.v.

Những kết quả trên đã tiếp tục khẳng định truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” luôn có mặt kịp thời ở những nơi khó khăn gian khổ, kề vai sát cánh giúp đỡ nhân dân trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời sống xã hội; được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới,... cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, xứng đáng là Quân đội của Nhân dân, Quân đội trong lòng dân”3.

Ở nước ta, những năm gần đây, cùng với sự xuất hiện các giá trị văn hóa mới, những hiện tượng phản văn hóa ngày một gia tăng, làm sói mòn, thậm chí phá vỡ một số chuẩn mực thiêng liêng đã được xây dựng từ ngàn đời trong văn hóa dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, văn hóa, xã hội; làm phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh, gia tăng tội phạm, tệ nạn xã hội, v.v. Một số người đề cao các yếu tố vật chất đã hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội để làm giàu, kiếm tiền bằng mọi thủ đoạn, kể cả chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Tất cả đều thuộc về những nhận thức, hành vi phản văn hóa đã và đang tồn tại trong đời sống xã hội nước ta, đòi hỏi phải đấu tranh khắc phục, xóa bỏ trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng hiện nay.

Để đấu tranh loại bỏ những hành vi phản văn hóa hiện nay, bên cạnh những biện pháp hành chính và pháp luật mang tính răn đe, cần lan tỏa những điều tốt đẹp, nhân rộng những tấm gương bình dị và trong sáng, người tốt, việc tốt trong toàn xã hội; để “mỗi người tốt, việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát huy và không ngừng lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời sống xã hội chính là nhằm thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, góp phần làm trong sạch, lành mạnh môi trường văn hóa xã hội ở nước ta hiện nay. Theo đó, cần tập trung vào một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống của Quân đội nhân dân Việt NamĐó là truyền thống quyết chiến, quyết thắng, mưu trí, dũng cảm, kiên cường, bất khuất, “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Theo đó, trong điều kiện hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần phát huy và làm lan tỏa tinh thần kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và tìm mọi biện pháp để vượt qua; dám đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần; luôn đấu tranh với tư tưởng bàn lùi, né tránh, trông chờ, ỷ lại, không nỗ lực phấn đấu vươn lên, v.v. Giữ vững và tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chức năng “đội quân công tác” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Trong thực hiện, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần coi trọng việc tuyên truyền, vận động cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa và nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh. Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo” và công tác tuyên truyền đặc biệt, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết quân - dân, giữa nhân dân với Đảng.

Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp và vai trò xung kích của đoàn viên, thanh niên khi tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ tuyến đầu. Cán bộ chủ trì các cấp cần có tinh thần quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức cho bộ đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu giúp nhân dân; tập trung cao độ tinh thần, trí tuệ để tìm ra những phương pháp, cách thức tổ chức điều hành linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hăng hái, xung phong nhận việc khó, nơi phức tạp, vị trí tiềm ẩn nhiều nguy hiểm để làm gương, mang lại sức mạnh hiệu triệu, cổ vũ tinh thần cho bộ đội trong thực hiện chức năng “đội quân công tác”. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy đơn vị cần có biện pháp huy động sức trẻ, sự năng động, sáng tạo, xung kích của thanh niên Quân đội. Cần xác định đây là lực lượng nòng cốt ở các vị trí, thời điểm thiết yếu để thường xuyên giáo dục, động viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng xả thân vì nhân dân của đoàn viên, thanh niên. Tăng cường huấn luyện, rèn luyện và thường xuyên định hướng, uốn nắn, chỉ bảo để đoàn viên, thanh niên hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; nhất là, khi hoạt động độc lập, dưới sự quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Đổi mới tư duy và hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp đối với tổ chức thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặt trọng tâm Cuộc vận động vào việc giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” với nội dung mới phù hợp với sự phát triển của thực tiễn. Đồng thời, cũng cần hướng vào việc thu hút nhân tài, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của quá trình hiện đại hóa Quân đội trong những năm tới; nhất là, nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho các lĩnh vực tiến thẳng lên hiện đại, như: tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử, không quân, hải quân, công nghiệp quốc phòng, thông tin liên lạc, v.v.

Tiếp tục triển khai các hoạt động xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Namxây dựng cảnh quan, môi trường ngày càng “sáng, xanh, sạch, đẹp” và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Trong đó, tập trung xây dựng các mối quan hệ văn hóa ngày càng tốt đẹp, chuẩn mực, trở thành hình mẫu trong đời sống xã hội, như: quan hệ cấp trên - cấp dưới, đồng chí - đồng đội; đoàn kết gắn bó máu thịt quân - dân; đoàn kết hữu nghị, hiểu biết, tin cậy với quân đội và nhân dân các nước láng giềng của các đơn vị đóng quân ở các địa bàn biên giới, v.v. Cùng với đó, thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức Quân đội ngày càng đông đảo về số lượng, tinh mạnh về chất lượng; có cơ chế mạnh mẽ động viên, khuyến khích đội ngũ này phát huy tối đa năng lực sáng tạo, lòng nhiệt huyết trong nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa quân sự Việt Nam trong tình hình mới. Đây cũng là lực lượng nòng cốt trong sáng tác, biểu diễn, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng cao phản ánh đầy đủ đời sống của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay, góp phần làm lan tỏa những giá trị cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời sống xã hội.

Bằng những hành động, việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục phát huy và làm lan tỏa những giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” cao đẹp để góp phần đẩy lùi, dẹp bỏ những nhận thức, hành vi phi văn hóa, phản văn hóa, xây dựng xã hội mới, con người mới xã hội chủ nghĩa../.

ST.