Bác Hồ là người luôn giữ chữ tín. Câu chuyện sau đây được đưa vào sách giáo khoa môn Đạo đức bậc tiểu học.
Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024
HỌC BÁC HỒ VỀ GIỮ LỜI HỨA
Những cái nhìn sai lệch của tổ chức CIVICUS
Cuối năm
2023, một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở nước ngoài lại đưa ra công bố,
báo cáo xếp hạng các quốc gia về tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có những
cái nhìn lệch lạc, định kiến với Việt Nam. Một trong số đó là tổ chức CIVICUS
Monitor.
CIVICUS
Monitor xuyên tạc những gì?
CIVICUS
Monitor là tên viết tắt của tổ chức “Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công
dân”, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Johanesburg (Nam Phi). Vài năm trở
lại đây, tổ chức này liên tục có những nhận định, đánh giá sai lệch, phiến diện
về vấn đề dân chủ, nhân quyền nói chung, về đời sống xã hội ở Việt Nam nói
riêng. Ngày 6/12/2023, tổ chức này ra báo cáo “Sức mạnh nhân dân bị tấn công
năm 2023” của 198 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó xuyên tạc ở Việt Nam “có
không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ bị đóng kín”!
CIVICUS vu
cáo: “Tại Việt Nam, chính quyền đã gây áp lực lên các nền tảng truyền thông xã
hội”, “hơn 100 nhà bảo vệ nhân quyền vẫn đang bị giam cầm, bị phân biệt đối xử
trong trại giam”. Tổ chức này bênh vực, đòi thả tự do cho số đối tượng vi phạm
pháp luật Việt Nam khi có các hành vi phạm tội tuyên truyền chống nhà nước, lợi
dụng các quyền tự do dân chủ như Trương Văn Dũng, Trần Văn Bang, Phan Sơn
Tùng...; đưa ra luận điệu sai trái khi cho rằng quyền tự do của người dân bị
bóp nghẹt, bị chính quyền đàn áp. Qua những luận điệu sai trái của CIVICUS cho
thấy âm mưu, thủ đoạn của tổ chức này như sau:
Một là, vu
cáo Việt Nam quyền tự do dân chủ “bị bịt kín” nhằm cổ súy ra đời các tổ chức
đội lốt “xã hội dân sự” hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích; phủ nhận những
thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của nước ta
trên trường quốc tế.
Hai là,
đưa ra những “yêu sách” đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ đứng ngoài pháp luật;
đòi thực hiện chế độ đa đảng và thúc đẩy ra đời các tổ chức chính trị đối lập
với xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, thực hiện mưu
đồ triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.
Ba là, tìm
cách kích động phản kháng, biểu tình, bạo loạn lật đổ. Tác động, can thiệp vào
vấn đề dân chủ, nhân quyền, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của
“xã hội dân sự” trá hình.
Bốn là,
tán dương cho những người núp bóng “bất đồng chính kiến”, “phản biện xã hội”
trong nước hoạt động theo khuynh hướng độc lập, trái pháp luật, chống phá Đảng,
Nhà nước.
Như vậy,
với những âm mưu, thủ đoạn trên cho thấy CIVICUS đã và đang cổ súy cho hành vi
sai trái, thúc đẩy sự ra đời các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, hướng
lái đến một mô hình “xã hội dân sự độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, làm
suy yếu sự quản lý của Nhà nước, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Khi quy kết không gian dân sự ở Việt Nam “bị thu hẹp”, “bị bịt kín”, cho
thấy CIVICUS đã thể hiện rõ định kiến với Việt Nam. Tổ chức này không có bất cứ
hoạt động khảo nghiệm tại Việt Nam, những thông tin mà CIVICUS có được đều lấy
từ những tổ chức phản động, thù địch với Việt Nam. Vì thế những đánh giá trong
báo cáo đã được công bố đều là phiến diện, sai trái.
Cần hiểu
đúng về xã hội dân sự
Xã hội dân
sự là một bước tiến quan trọng của lịch sử xã hội loài người trong tổ chức cộng
đồng. Bên cạnh những tiến bộ của thiết chế nhà nước thì xã hội cũng hình thành
một loạt thiết chế xã hội phong phú và đa dạng. Giá trị đáng ghi nhận của xã
hội dân sự không phải đề cao thái quá tính độc lập, tính thoát ly mà là những
phát kiến, kiến nghị, đề xuất có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với quan
điểm, đường lối của đảng cầm quyền, trong đó phải lấy quyền lợi của đại bộ phận
quần chúng nhân dân, lợi ích của cộng đồng xã hội, của quốc gia dân tộc làm tôn
chỉ, mục tiêu hoạt động. Không có bất kỳ thiết chế xã hội nào để cho các tổ
chức, cá nhân vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức khác, gây hại cho đất nước, người dân.
Tổ chức xã
hội dân sự nếu được hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích, mang lại giá trị cho
xã hội, quốc gia đều rất đáng quý, xứng đáng được tôn vinh. Tuy nhiên, vấn đề
xã hội dân sự nếu bị lợi dụng để tạo ra xung đột, chiến tranh, gây đau thương
thì phải bị lên án, bài trừ. Trên thế giới không phải là không có tiền lệ. Sự
thất bại của mô hình XHCN ở Liên Xô, Đông Âu vào những năm cuối thập niên 80,
90 của thế kỷ XX, các cuộc đảo chính, lật đổ chính quyền, các cuộc “cách mạng
màu”, “cách mạng đường phố” trong thế kỷ XXI là những ví dụ điển hình cho thấy
xã hội dân sự đã bị bóp méo, bị lợi dụng, là nguồn gốc sâu xa gây ra tình trạng
trên.
Ở Việt
Nam, việc tôn trọng, bảo đảm quyền công dân, quyền con người được khẳng định
trong các bản Hiến pháp, thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ ta, đó là chế
độ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó,
Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được
công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường
hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Pháp luật
Việt Nam không cấm việc thành lập và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự.
Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các
quyền này do pháp luật quy định”. Khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mai tự
do (FTA), chúng ta đã sửa đổi Bộ luật Lao động (có hiệu lực từ ngày 1/1/2021),
theo đó người lao động có quyền thành lập, tham gia các tổ chức công đoàn độc
lập, các tổ chức của người lao động theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh
các luật quy định về thành lập, hoạt động của hội như Bộ luật Hình sự 2015,
Luật Công đoàn, Bộ luật Dân sự 2015, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số
45/2010/NĐ-CP, ngày 21/4/2010, quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;
Nghị định số 93/2019/NĐ-CP, ngày 25/11/2019 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã
hội, quỹ từ thiện. Tất cả các tổ chức, hội nhóm được thành lập phải chấp hành
nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng
thành lập “xã hội dân sự” hoạt động trái pháp luật đều phải bị xử lý theo đúng
quy định. Hệ thống pháp luật Việt Nam đều hướng đến bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, đưa con người đến các giá trị chân, thiện, mĩ. Bất kể cá nhân,
tổ chức nào xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức, lợi
ích Nhà nước, xã hội đều bị xử lý theo luật định.
Thực tế
bác bỏ luận điệu sai trái
Tính đến
cuối năm 2022, cả nước có tổng số 93.438 hội, trong đó gồm 571 hội hoạt động
phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh và 92.854 hội hoạt động phạm vi địa phương. Cả
nước có 125.342 công đoàn cơ sở trên tổng số 10.579.045 đoàn viên công đoàn; tỷ
lệ đoàn viên trên công nhân lao động ở cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là 87%. Các
hội ở Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú, có mặt trên tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội. Nhiều hội đã đóng góp tích cực trong việc phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, thực hiện
giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước.
Bên cạnh
việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hội, tổ chức trong nước hoạt động, Việt
Nam cũng rất quan tâm, hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động. Điều
này thể hiện rõ trong các nghị định của Chính phủ, trong đó phải kể đến Nghị
định 80/2020/NĐ-CP ngày 8/7/2020 về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại
không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài dành cho Việt Nam; Nghị định số 58/2022/NĐ-CP, ngày 31/8/2022 về đăng ký
và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam...
Theo thống kê đến cuối năm 2022 đã có hơn 900 tổ chức NGO nước ngoài có quan hệ
và hoạt động tại Việt Nam, nhiều NGO đã có những đóng góp tích cực cho sự phát
triển của Việt Nam được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ghi nhận, đánh giá
cao.
Tự cho
mình là tổ chức nhân quyền, vậy nhưng CIVICUS lại phớt lờ những thực tế nói
trên, không quan tâm, không tiếp xúc, trao đổi với các tổ chức có thẩm quyền để
từ đó có những đánh giá khách quan, chân thực, đúng đắn. Rõ ràng, CIVICUS chỉ
tìm cách đưa ra những con số, thông tin sai trái để lấy cớ chống phá Việt Nam,
không thực hiện theo đúng tôn chỉ, mục đích đề ra.
Trước bối
cảnh tình hình thế giới còn nhiều biến động phức tạp nhưng Việt Nam vẫn là điểm
đến của hòa bình, đoàn kết, hữu nghị. Các nước lớn đều xem Việt Nam là đối tác
quan trọng, trong đó chỉ tính năm 2023, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ lên đối
tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, Nhật Bản. Lãnh đạo các quốc gia khi đến
Việt Nam đều ấn tượng, đánh giá cao sự phát triển của Việt Nam trên các lĩnh
vực đời sống xã hội. Những đóng góp của Việt Nam trong công tác nhân quyền, cho
hòa bình thế giới đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã gửi đi những
thông điệp với bạn bè quốc tế là đất nước thanh bình, biểu tượng của đấu tranh,
bảo vệ, thực thi quyền con người, quyền công dân, là điểm đến đầu tư lý tưởng
cho các đối tác kinh tế.
Một đất
nước như vậy, không thể bị bóp méo, không thể xuyên tạc là quyền tự do “bị đóng
kín”, “bóp nghẹt” như luận điệu của CIVICUS. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam
sẵn sàng trao đổi, chia sẻ với tất cả các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ trên tinh thần xây dựng, cởi mở, hợp tác để cùng nhau phát triển.
Trịnh Thúy – Chu Thắng
NHÂN TỐ CON NGƯỜI LÀ KHÂU THEN CHỐT TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI “TINH, GỌN, MẠNH”
"Các bài tham luận và ý kiến phát biểu tại hội thảo đã đi sâu phân tích, luận giải, làm rõ từng vấn đề cụ thể, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị về quá trình xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm và đề xuất nhiều nội dung, giải pháp xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới".
SẬP BẪY LỪA ĐẢO QUA MẠNG: VIỆT NAM ĐỨNG TOP ĐẦU TRÊN THẾ GIỚI
Trong báo cáo về tình trạng lừa đảo qua mạng năm 2023, do Liên minh Chống lừa đảo toàn cầu (GASA) và Dự án xã hội chống lừa đảo phối hợp công bố cho thấy, trong khi cả thế giới là 53 tỷ USD, thì riêng Việt Nam chiếm tới 16 tỷ USD.
Luận điệu “bẻ lái” chính sách ân giảm án tử hình
Ngày
27/12/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã ký quyết định ân giảm hình phạt tử
hình xuống tù chung thân cho 18 bị án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước.
Việc
Chủ tịch nước ân giảm hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho các bị án thể
hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với người phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng, mở ra cho họ con đường được sống, ăn năn hối cải, phục
thiện, cải tạo để có cơ hội trở về với gia đình, cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên,
trên các trang thông tin phản động ở nước ngoài lại cho rằng hoạt động trên là
“tuỳ tiện” và chỉ nhằm “lấy lòng” trước khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
tổ chức phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam vào
tháng 4/2024.
Những
luận điệu xuyên tạc, vu cáo quen thuộc
Sau khi Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng ký quyết
định ân giảm hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho 18 bị án, các trang tin
của các tổ chức phản động như Việt Tân, RFA, FRI, VOA... đồng loạt đăng tải bài
viết với nội dung xuyên tạc chính sách giảm án của Việt Nam với những luận điệu
vu cáo, cho rằng chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử, bắt và giam giữ tùy
tiện, vi phạm các bảo đảm về xét xử công bằng, nhất là trong giai đoạn Việt Nam
đang chuẩn bị bước vào phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội
đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.
Các luận điệu xuyên tạc, vu cáo quen thuộc có
thể thấy như: Việt Nam đang giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương
tâm”, Việt Nam đang duy trì chế độ nhà tù bất công, ngược đãi, tra tấn tù nhân
và đàn áp bằng bạo lực… Thậm chí, nhiều tổ chức mang danh nhân quyền như tổ
chức Ân xá quốc tế (Amnesty International - viết tắt là AI) năm 2021 còn đưa ra
báo cáo về tình hình án tử hình trên toàn thế giới năm 2021, trong đó xếp Việt
Nam vào nhóm có tỷ lệ thi hành án tử hình cao nhất. Báo cáo dẫn ra những thông
tin về số lượng án tử hình cũng như số tử tù hiện đang chờ thi hành án và cho
rằng, con số thực tế có thể còn cao hơn thống kê. Từ đó, vu cáo Việt Nam đang
áp dụng "tiêu chuẩn kép" đối với các bị cáo, bị án nguyên là quan
chức trong các vụ án kinh tế, hối lộ và có sự khác biệt so với bị cáo, bị án là
người dân bình thường; suy diễn “cứ nộp tiền là miễn án tử hình”, “công lý
không dành cho quan chức”; “việc tuyên án tử hình hay bỏ án tử hình ở Việt Nam
tùy tiện”; “án tử hình là sự vi phạm nhân quyền trắng trợn, thiếu nhân đạo”… Họ
vu cáo pháp luật Việt Nam không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế; đồng thời
đòi thả tự do cho số đối tượng phạm tội chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam đang chấp hành án phạt tù. Trang VOA tiếng Việt giật tít “Việt Nam ân giảm
án tử hình cho 18 tử tù trước kỳ rà soát UPR 2024”, trong đó phỏng vấn Trần Thị
Nga - một đối tượng từng phạm tội ở Việt Nam hiện đã bị trục xuất sang Mỹ cùng
với một vài cái tên khác, nội dung vu cáo chính sách nhân đạo trong ân giảm án
tử hình của Đảng, Nhà nước ta.
Cần thấy rằng, trong một số vụ án, sau khi toà
tuyên án tử hình, Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm của tử tù thì cũng những tổ
chức, cá nhân chống đối trên lại chỉ trích rằng, Việt Nam “thích xử tử”, không
nhân văn, nhân đạo, họ viết bài đòi bị án này, bị án kia cần phải được giảm
xuống chung thân. Nay, khi Chủ tịch nước ân giảm đối với một số tử tù thì các
đối tượng lại “quay xe”, tố ngược! Mục đích mà các tổ chức trên hướng đến là
suy diễn, vu cáo nhằm gây sự hoài nghi, hiểu sai về việc thực thi pháp luật và
công tác tư pháp, kích động chống đối, gây mất ổn định an ninh, trật tự; hạ
thấp uy tín, vị thế của Việt Nam, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà
nước.
Cần khẳng định rằng, những đối tượng phạm tội
đều phải bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự.
Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp quy định của pháp luật quốc tế và yêu
cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, góp phần xây
dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi
dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. Việc thực hiện ân giảm
án tử hình và đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng
của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối
với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có
ích cho xã hội. Đây là việc thực hiện theo quy định của luật pháp vào các dịp
ngày lễ lớn của đất nước và các đợt rà soát cụ thể, không phải Việt Nam thực
hiện ân giảm án tử hình nhằm “lấy lòng” các nước thành viên trước khi Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc tổ chức phiên Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ
IV đối với Việt Nam như luận điệu các thế lực xấu nhắm vào chỉ trích, vu cáo.
Trước đó, tháng 8/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cũng đã có quyết định ân
giảm từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho 11 bị án. Trong năm 2022, Chủ
tịch nước cũng 2 lần ra quyết định ân giảm từ án tử hình xuống chung thân cho
31 trường hợp, gồm 4 bị án là người nước ngoài.
Một
chính sách nhân đạo đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta
Việt Nam là một trong số các nước vẫn áp dụng
hình phạt cao nhất là tử hình đối với một số tội danh nhằm trừng trị kẻ phạm
tội, loại trừ mối nguy hiểm cho xã hội, người dân và đáp ứng yêu cầu răn đe,
phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, mục đích chính của các hình phạt chính là
giáo dục, cải tạo, do vậy, bên cạnh khung pháp lý đối với mỗi tội phạm, pháp
luật Việt Nam còn ban hành khung giảm nhẹ hình phạt, trong đó có việc giảm án
từ tử hình xuống phạt tù chung thân. Từ 1985 đến nay, BLHS Việt Nam qua 4 lần
bổ sung, sửa đổi, thay thế, trong đó điểm dễ nhận thấy là số lượng tội danh bị
áp dụng hình phạt tử hình đã giảm dần. Nếu như BLHS 1985, hình phạt tử hình
được áp dụng với 44/218 tội (20,18%) thì đến BLHS 1999, tội danh áp dụng hình
phạt này đã giảm mạnh xuống còn 29/263 tội (11,02%); con số đó tiếp tục được
cải thiện trong BLHS 1999 (sửa đổi 2009) với 22/272 tội (8%). Tại BLHS 2015
(sửa đổi 2017), hình phạt tử hình chỉ còn áp dụng đối với 18/314 tội (5,7%).
Đồng thời, pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định rõ không áp dụng hình phạt
tử hình với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi
con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên…
Thực tế đó khẳng định Việt Nam đã và đang thực
hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đối với các công ước quốc tế về quyền con người mà
Việt Nam tham gia, trong đó có nghĩa vụ nội luật hóa, xây dựng cơ chế pháp luật
quốc gia phù hợp với các quy định của công ước; thực thi các biện pháp lập
pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền con người; tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục nội dung công ước; soạn thảo và đệ trình báo cáo quốc gia định kỳ về
việc thực hiện công ước; hợp tác quốc tế trong việc thực hiện công ước; xây
dựng các chương trình quốc gia để thực hiện những cam kết quốc tế về đảm bảo
quyền con người. Những quy định trên là hoàn toàn phù hợp với tinh thần của các
hiệp định và văn kiện quốc tế khác như Công ước về quyền trẻ em (CRC) và các
quy định bảo đảm nhằm bảo vệ quyền của những người đối mặt với án tử hình (ban
hành theo Nghị quyết 1984/50 của ECOSOC của LHQ vào năm 1984). Những con số
trên là minh chứng rõ nét nhất cho sự nỗ lực mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, xây
dựng và thực tiễn thi hành, áp dụng quy định pháp luật của Việt Nam trong lộ
trình hạn chế hình phạt tử hình, góp phần khẳng định những giá trị nhân quyền
mà Việt Nam đang theo đuổi. Đồng thời, khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người một cách công bằng, bình
đẳng cho tất cả mọi công dân, kể cả những người đang chấp hành hình phạt tù.
Những kết quả trên của Việt Nam trong việc đảm
bảo và thực thi quyền con người đã được nhiều tổ chức quốc tế, chính khách và
nguyên thủ các nước ghi nhận, đánh giá cao, là cơ sở quan trọng để Việt Nam
được tín nhiệm, giao phó các cương vị quan trọng trên trường quốc tế như thành
viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên
ASEAN và nhiều tổ chức quan trọng khác. Trong phiên làm việc ngày 25/1/2019,
nhóm làm việc về rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua Báo cáo về kết quả rà soát của Việt Nam
và khẳng định, Việt Nam luôn đảm bảo những quyền tự do cơ bản của công dân, phù
hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người. Sự đảm bảo đó được thể hiện
trong hiến pháp, pháp luật và bảo đảm trên thực tế ở Việt Nam.
Việc Chủ tịch nước thực hiện ân giảm án tử
hình và đặc xá, giảm án, tha tù trước thời hạn vào dịp Quốc khánh hay Tết
Nguyên đán là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống
nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội. Bên cạnh đó, việc
công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện các trình tự thủ tục xét đặc xá,
giảm án, tha tù trước thời hạn; thông tin đầy đủ cho các cơ quan báo chí trong
nước, quốc tế và tổ chức các chuyến thăm, khảo sát tại các trại giam cho các tổ
chức nhân quyền quốc tế đã thể hiện rõ chính sách ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy
quyền con người của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ
nét bác bỏ các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng công tác
ân giảm án tử hình, chính sách đặc xá, giảm án, tha tù để vu cáo, xuyên tạc
tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Bình Nguyên - Hạnh Nguyễn
Yêu cầu Hoa Kỳ không đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo
Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ không đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt
về tự do tôn giáo, đồng thời cần có đánh giá khách quan dựa trên thông tin
chính xác.
Chiều 11/1, tại họp
báo thường kỳ Bộ Ngoại giao,
Người phát ngôn Phạm Thu Hằng đã thông tin về phản ứng của Việt Nam trước việc
Hoa Kỳ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo
(SWL).
Theo bà Phạm Thu Hằng,
Việt Nam lấy làm tiếc và yêu cầu Hoa Kỳ không đưa Việt Nam vào danh sách, cần
có đánh giá khách quan dựa trên thông tin chính xác về tình hình tự do tôn giáo
tín ngưỡng ở Việt Nam.
"Việt Nam sẵn
sàng trao đổi với Hoa Kỳ về các vấn đề cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn
cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác trong khuôn
khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ" - Người
phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh.
Cũng theo Bộ Ngoại
giao, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do
của con người trong đó có tự do tôn giáo của nhân dân. Điều này được ghi rõ
trong Hiến pháp 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn
trọng trên thực tế. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền
con người, trong đó có bảo đảm tự do tôn giáo, đều được cộng đồng quốc tế thừa
nhận trong thời gian qua.
Hải Dương
Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc vai trò của Đảng và các lãnh tụ của Đảng
Nhân tố con người là khâu then chốt trong xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”
Đó là phát biểu kết luận của Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh - Giá trị, ý nghĩa và định hướng”, diễn ra tại Học viện Quốc phòng, chiều 10-1.
Theo Đại tướng Lương Cường, xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”,
tiến lên hiện đại là chủ trương lớn, đúng đắn, nhất quán, thể hiện tầm nhìn, tư
duy chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Đây là yêu cầu vừa mang tính cấp thiết,
trước mắt, vừa mang tính cơ bản, lâu dài; là giải pháp nền tảng để xây dựng QĐND
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực hiện tốt chức năng “đội quân
chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”.
Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí
Minh
Hội thảo đặt ra nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn, trong đó xây
dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh” là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm
lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối,
quan điểm của Đảng ta về xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới.
Các tham luận dù tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều tập
trung làm rõ cơ sở lý luận, nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội
kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân; nguyên tắc xây dựng Quân đội phải gắn
liền với nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa;
bảo đảm mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Quân đội với nhân dân, không ngừng nâng
cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc xâm lược của kẻ thù.
Vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng quân sự
Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm xây dựng Quân đội cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đây là cơ sở lý luận - thực tiễn, luận cứ
khoa học rất quan trọng để Đảng ta xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương, phương
hướng, biện pháp xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới.
Định hướng và giải pháp xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”
Tại hội thảo, nhiều ý kiến tham luận đã xác định, xây dựng QĐND
Việt Nam vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền
đề vững chắc để Quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho
Quân đội ta luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân
dân. Việc xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” phải bảo đảm tinh về chính trị, gọn
về tổ chức, nâng cao chất lượng về mọi mặt, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; xây dựng Đảng bộ Quân
đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và
cán bộ; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nắm vững và chấp
hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
phát huy sức mạnh của vũ khí, trang bị hiện đại để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm
vụ được giao.
Xây dựng Quân đội "tinh, gọn, mạnh", tiến lên hiện đại
phải bảo đảm gọn về tổ chức, biên chế, trang bị của các cơ quan, đơn vị trong
toàn quân; bảo đảm tính cân đối, đồng bộ, hợp lý, khoa học giữa các thành phần
lực lượng, không chồng chéo chức năng, nhiêm vụ. Trước yêu cầu đó, cần chủ động
rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, bảo đảm trang bị phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và nghệ thuật quân sự Việt
Nam trong điều kiện mới; trước mắt, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tổ
chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo.
Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ,
tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt
trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại; có quy mô tổ chức,
cơ chế quản lý và hoạt động phù hợp; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm và sự
tham gia tích cực, có hiệu quả của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao tiềm
lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, duy trì môi trường
hòa bình, ổn định, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi, bảo vệ độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Chủ động nghiên cứu, dự báo tình hình, chia sẻ
thông tin để đưa ra những đánh giá khách quan, sát đúng với những diễn biến của
tình hình thế giới, khu vực, những diễn biến mới nảy sinh trong nước nhằm tạo sự
nhất trí và thống nhất trong xây dựng phương án triệt tiêu những nhân tố bất lợi,
triển khai có hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối
ngoại nhân dân, gắn với hoạt động có hiệu quả về đối ngoại quốc phòng.
Đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, đào tạo sát với
yêu cầu nhiệm vụ; trong đó, việc tổ chức huấn luyện, đào tạo phải chặt chẽ,
linh hoạt, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; chú trọng
truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực thực hành, làm chủ vũ khí,
trang bị, khí tài mới, hiện đại, sức cơ động và khả năng tác chiến trong điều
kiện mới cho các đối tượng; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô
phỏng, các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện, đào tạo.
Nhân tố con người là khâu then chốt
Trên cơ sở các nội dung tham luận và ý kiến tại hội thảo, Đại tướng
Lương Cường cho rằng, sức mạnh của Quân đội là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố:
Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến... trong đó, con người là nhân
tố quyết định. Vì thế, việc xây dựng nhân tố con người, trực tiếp là nguồn nhân
lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng
lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ cần được chú trọng và phải xem đó như một yếu
tố có ý nghĩa quyết định trong xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện
đại.