Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

Đối ngoại đảng tích cực góp phần bảo vệ, lan tỏa tư tưởng, trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, uy tín, vai trò, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Đường lối đối ngoại sáng suốt đó có cơ sở là nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, nổi bật là tư tưởng về hợp tác quốc tế, được tiếp thu, đúc kết thành lý luận về trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, được vận dụng sáng tạo trong hoạt động đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Hun Sen tại cuộc gặp cấp cao Việt Nam - Lào - Campuchia_Ảnh: TTXVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế

Ngay từ năm 1919, trong bài viết Vấn đề dân bản xứ, Nguyễn Ái Quốc đã nêu luận điểm độc đáo: “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”(1). Luận điểm này được xem như tiền đề cho tư tưởng về hợp tác quốc tế của Người.

Năm 1924, trong Thư gửi Tổng Thư ký Ban Phương ĐôngNguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ sự suy yếu của các dân tộc phương Đông trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân chính là do thiếu sự hợp tác quốc tế. Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”(2).

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ đến việc hợp tác với các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ quốc tế. Và ngay khi ra đời, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố chính sách đối ngoại: “Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam tha thiết mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ, để xây dựng nền hoà bình thế giới lâu dài”(3).

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng hợp tác và đoàn kết quốc tế, tập trung vào một số điểm chính sau:

Một là, hợp tác quốc tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người nhấn mạnh: “Muốn làm gì cũng vì lợi ích của dân tộc mà làm”(4). Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lợi ích của quốc gia, dân tộc là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và Người luôn kiên định và kiên trì thực hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, cũng như trong chỉ đạo hoạt động đối ngoại của nước ta. Ngày 24-2-1947, hơn một tháng sau ngày ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, khẳng định: “Vì chủ quyền, vì Tổ quốc, toàn dân Việt Nam đã thề kiên quyết kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến lúc lấy lại được thống nhất, độc lập mới thôi”(5). Trả lời một báo nước ngoài, Người nói: “Chính sách đối nội của Việt Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các nước láng giềng Trung Hoa, Ấn Độ, Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao, v.v., mà không gây thù gì với nước nào”(6). Người nhắc lại đường lối đối ngoại của Việt Nam là: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không thù oán với một ai”(7); và nhấn mạnh “mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này là tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”(8).

Hai là, trong quá trình thực hiện hợp tác quốc tế cần có chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Bởi lẽ, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ sẽ góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại và là cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với các trào lưu cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đề có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ đến thế giới”(9). Việc đặt cách mạng Việt Nam thành một bộ phận của trào lưu cách mạng thế giới, một mặt để tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ quốc tế đối với cách mạng nước nhà, mặt khác thể hiện ý thức trách nhiệm của nhân dân Việt Nam với phong trào cách mạng trên thế giới. Bên cạnh đó, trong quá trình hợp tác quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập tự chủ là nền tảng vững chắc của mọi chính sách và sách lược. Người nêu cao quan điểm, “muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”(10). Người còn nói: “Sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(11). Người khẳng định: “Phải tin vào sức ta trước hết: Chỉ có nỗ lực mới làm cho ngoại giao toàn thắng”(12).

Ba là, thực hiện hợp tác quốc tế theo hướng đa phương và đa dạng các mối quan hệ vì hoà bình, hợp tác và phát triển. Năm 1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(13). Người nêu ra một số giải pháp cụ thể như Việt Nam sẽ dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan…

Năm 1947, khi nhà báo Mỹ S.Elie Maissie hỏi về đại cương chính sách đối ngoại của Việt Nam, câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không oán thù với bất cứ ai”(14). Tinh thần đa phương và đa dạng các mối quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế lại được Người lần nữa nhấn mạnh trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng chính phủ các nước trên thế giới (tháng 1-1950): “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”(15). Hợp tác quốc tế đa dạng và đa phương chính là để phục vụ công cuộc kiến thiết, phát triển đất nước và nâng cao vị thế quốc gia, vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hợp tác không chỉ với các nước láng giềng, các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn hợp tác với cả các nước không cùng chế độ chính trị, thậm chí, cả với nước đã từng là kẻ thù của nước ta. Trong một lần trả lời các nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ về thái độ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là: “Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(16).

Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”

Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc tổ chức ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Namgốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” (“Thân gầy guộc, lá mong manh, mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!”), thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là: Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”(17)!

Hình ảnh cây tre - một biểu tượng rất mộc mạc mà thân thuộc với người Việt Nam - đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sử dụng để gửi gắm thông điệp mang tính triết lý hết sức sâu sắc nhưng vô cùng gần gũi về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Đây là sự đúc kết, chiêm nghiệm sâu sắc.

Đặc tính “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” cũng chính là sự tiếp thu, đúc kết sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam chính là “gốc vững”, là kim chỉ nam cho hợp tác quốc tế của cách mạng Việt Nam, dù mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn có thể có đặc điểm riêng. Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ chính là “thân chắc”, là cơ sở vững chắc để Đảng và Nhà nước triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế. Thực hiện hợp tác quốc tế theo hướng đa phương và đa dạng các mối quan hệ vì hòa bình, hợp tác và phát triển chính là “cành uyển chuyển” để thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế và gia tăng tiềm lực cho đất nước, sớm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, là đỉnh cao của đúc kết lý luận bằng hình ảnh dễ nhớ, dễ hiểu về đường lối đối ngoại của Đại hội XIII, trên cơ sở tiếp tục phát triển đường lối đối ngoại của các kỳ Đại hội Đảng trước, đó là: “Việt Nam cần tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng(18)”.

Sự vận dụng tinh thần “ngoại giao cây tre” trong đối ngoại đảng

Đối ngoại đảng là một trong ba mũi giáp công của đối ngoại Việt Nam (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân). Thành tựu của quan hệ đối ngoại đảng trong hơn 36 năm đổi mới, nhất là thời gian gần đây, là kết quả của quá trình đổi mới tư duy về đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, trên cơ sở vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế, phù hợp với điều kiện hiện nay.

Nghị quyết số 13/NQ-TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị khoá VI, “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” khẳng định “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”(19). Nghị quyết số 13/NQ-TW là sự tiếp thu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về việc bảo đảm lợi ích tối cao của đất nước, đánh dấu bước chuyển chiến lược về tư duy đối ngoại, đặc biệt là tư duy về lợi ích, mục tiêu và nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam nói chung, trong đó có đối ngoại đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá IX (tháng 7-2003) nêu ra nhận thức mới về “đối tượng” và “đối tác”(20) và xác định nguyên tắc, phương thức đối ngoại với tất cả các nước trong khu vực và thế giới, không phân biệt chế độ và trình độ phát triển. Theo đó, việc xác định đối tượng, đối tác tuỳ theo tình huống, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể một cách biện chứng, linh hoạt, không dễ dãi và cũng không cứng nhắc, sơ hở (21).

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) nhấn mạnh các yêu cầu: “Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới"(22). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển"(23).

Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hoài Trung (thứ hai, bên trái) trao đổi với đồng chí Fabien Roussel, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp (thứ nhất, bên phải) tại Marseilles, bên lề Đại hội Đảng Cộng sản Pháp lần thứ 39, ngày 7-4-2023_Ảnh: TTXVN

Kết luận số 73-KL/TW, ngày 8-2-2012, của Bộ Chính trị khoá XI về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới” là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về mở rộng các mối quan hệ đối ngoại với các chính đảng và các diễn đàn đa phương chính đảng. Kết luận xác định tăng cường và nâng cao hơn nữa hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng để tạo nền tảng chính trị cho quan hệ ổn định, bền vững giữa Việt Nam và các nước, tiếp tục tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân thế giới, các chính đảng, tổ chức, chính giới các nước và bạn bè quốc tế với sự nghiệp cách mạng của Đảng, tạo thế chủ động trong việc xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế, thực hiện lợi ích quốc gia, dân tộc(24).

Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị khoá XI, “Về hội nhập quốc tế” nêu định hướng: “Chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng, tích cực và nâng cao hiệu quả tham gia các diễn đàn các chính đảng”(25); theo đó, Đảng ta là người hoạch định và lãnh đạo quá trình triển khai đường lối, chính sách đối ngoại hội nhập, đồng thời bản thân Đảng cũng là một chủ thể tích cực, chủ động hội nhập vào khu vực và thế giới.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016), một lần nữa Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”; “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân"(26).

Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW, “Về tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”. Văn bản chỉ đạo công tác đối ngoại rất quan trọng này của Đảng xác định mục tiêu của đối ngoại đảng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”; “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả công tác đối ngoại của Đảng với ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(27). Tinh thần đối ngoại đảng trên tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, về “Một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng”...

Như vậy, việc đổi mới tư duy, nhận thức và thế giới quan về đối ngoại của Đảng ta là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và là tiền đề quan trọng cho việc xác định các mục tiêu đối ngoại, xây dựng các chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nói chung và mở rộng hoạt động đối ngoại của Đảng ta nói riêng theo trường phái “cây tre Việt Nam”.

Từ những chính sách đối ngoại đúng đắn, thời gian qua, Đảng ta tích cực và chủ động triển khai các hoạt động đối ngoại đảng dựa trên nguyên tắc: Độc lập, tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội. Từ chỗ có quan hệ với 188 đảng năm 1991, đến nay, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng. Các hoạt động đối ngoại của Đảng ta được triển khai chủ động, hiệu quả. Với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng có chung biên giới trong khu vực, Đảng ta đã chủ động thúc đẩy quan hệ đạt nhiều bước tiến quan trọng, tiếp tục định hướng chiến lược tổng thể và tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy chiều sâu quan hệ giữa nước ta với các nước. Với các đảng cầm quyền, tham chính và các đảng có vai trò ở các nước trong khu vực, Đảng ta đã thúc đẩy quan hệ với nhiều đột phá mới, tạo cơ sở chính trị và động lực để thúc đẩy mở rộng quan hệ của Việt Nam với các nước.

Trong bối cảnh hiện nay, các nước với các chế độ chính trị khác nhau đều có những điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc của mình, thì việc vận dụng tư tưởng hợp tác quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền chính là bước đột phá trong hoạt động đối ngoại đảng nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Với các đảng cộng sản và công nhân, cánh tả, các đảng và phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ, Đảng ta tiếp tục thúc đẩy quan hệ thực chất, có trọng tâm, trọng điểm và các mối quan hệ hợp tác tiếp tục phát huy vai trò tích cực, duy trì lực lượng hậu thuẫn chính trị, ủng hộ lập trường của ta trong nhiều vấn đề. Tại các diễn đàn đa phương chính đảng, trong đó có Hội nghị quốc tế các chính đảng châu Á (ICAPP), Cuộc gặp quốc tế các đảng cộng sản vả công nhân (IMCWP)..., Đảng ta tham gia chủ động, tích cực và phát huy vai trò trách nhiệm, đóng góp thiết thực, góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Cùng với những thành tựu và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của Đảng, Đảng ta tiếp tục thúc đẩy tăng cường và quan hệ đối ngoại với các chính đảng trên thế giới theo tinh thần trường phái “cây tre Việt Nam”, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Chính những thành tựu thực tiễn sinh động về đối ngoại đảng, hoạt động hợp tác quốc tế trên kênh đảng là một minh chứng rõ ràng, sinh động khẳng định thêm sức sống và sự trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và sự tiếp nối, phát triển thành công trường phái đối ngoại, ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam” trong bối cảnh mới của cách mạng Việt Nam./.

ST.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm chỉ đạo chiến lược nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình này chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả trong nước và quốc tế, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định, cần được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện hiệu quả. 
Những diễn biến phức tạp của bối cảnh quốc tế hiện nay Thực tiễn cho thấy, tình hình thế giới, khu vực là yếu tố khách quan có tác động lớn đến lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng. Dự báo trong thời gian tới, thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường, nổi bật với những vấn đề sau: Những chuyển biến của bối cảnh thế giới đơn cực đang dần được thay thế bằng một thế giới đa cực, bắt đầu từ “chiến dịch quân sự đặc biệt” do Nga tiến hành tại U-crai-na. Cuộc xung đột này đang diễn ra hết sức quyết liệt, phức tạp và khó lường, tạo ra những rạn nứt khó có thể hàn gắn giữa châu Âu và Nga; đồng thời, “vô tình” thúc đẩy sự gắn kết hơn của châu Âu với nhu cầu mở rộng hơn nữa của NATO. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu sắc, chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ các vấn đề xã hội, đặc biệt là tạo nên sự thay đổi nhảy vọt trên lĩnh vực trang bị vũ khí công nghệ cao, từ đó làm chuyển biến căn bản về tư duy quốc phòng quân sự, nghệ thuật tác chiến, tạo môi trường tác chiến đa dạng. Không gian chiến tranh ngày càng mở rộng, vũ khí chính xác công nghệ cao ngày càng tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới tinh thần binh lính trên chiến trường lẫn tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng được nhìn ở dưới các góc độ khác nhau, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh lợi ích quốc gia - dân tộc; khối liên minh quân sự xáo trộn, tạo nên những thách thức phức tạp. Các nước nhỏ vẫn luôn phải chịu những sức ép từ cường quyền của một số nước lớn. Chủ nghĩa cực đoan, tư tưởng phát-xít, dân tộc chủ nghĩa, khủng bố ngày càng trỗi dậy. Cơ hội tìm kiếm các giải pháp cho hòa bình còn vấp phải nhiều khó khăn, rào cản, làm cho cuộc sống một bộ phận nhân loại phải gánh chịu sự hy sinh, đau thương, tàn khốc. Từ thực tiễn bối cảnh quốc tế đó, hiện nay, việc xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại, trên cơ sở tự lực cánh sinh là con đường đúng đắn nhất của mọi quốc gia trên thế giới, nhất là đối với một nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc như nước ta. Sự tỉnh táo, khôn khéo và sáng suốt của người chèo lái là nhân tố quyết định để quốc gia - dân tộc vượt qua mọi biến cố của lịch sử. Bài học về sự lãnh đạo quyết liệt, sáng suốt của Đảng trong cuộc chiến chống COVID-19 những năm qua cho thấy rất rõ điều này. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Minh chứng là sự phát triển kinh tế vĩ mô ổn định và với nhịp tăng trưởng cao trong năm 2022 của nước ta được cả thế giới khâm phục, còn nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đứng trước bối cảnh quốc tế hiện tại, hơn lúc nào hết tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân là một đòi hỏi khách quan và hết sức cấp thiết. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong bối cảnh quốc tế hiện nay Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thăm, kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu tại Bộ Tư lệnh Quân khu 2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nói chung, quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng là vấn đề cốt yếu, thường xuyên, cấp bách. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ, cần đầu tư “xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phòng thủ quân khu thành khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(1). Trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp và khó lường hiện nay, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này chúng ta cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau: Tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tham mưu chiến lược trong xây dựng các phương án tác chiến chiến lược mới, phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là nhóm giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu. Bởi vì, trong chiến tranh hiện đại, tấn công, phòng ngự - phòng thủ và phản công diễn ra một cách quyết liệt, nhiều lúc đan xen, liên tục diễn ra các hoạt động tác chiến mang tính đan cài. Thực tiễn đang đặt ra những bài toán khó đối với các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng. Để thực hiện hiệu quả nhóm giải pháp này, chúng ta cần triển khai các biện pháp cụ thể: Một là, Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo mọi mặt và trực tiếp đối với nền quốc phòng toàn dân cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo để các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng thực hiện tốt các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó. Hai là, các cơ quan tham mưu chiến lược, cần nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng, cập nhật thường xuyên để tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề mới về quốc phòng, an ninh. Công tác tham mưu chiến lược càng chính xác, kịp thời và thiết thực thì quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân của nước ta càng vững chắc. Trên cơ sở đó, thế và lực của nền quốc phòng nước ta mới được nâng cao một cách toàn diện, hiện đại, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu tác chiến trên các hướng chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ba là, đối với các cấp trực thuộc Trung ương, Đảng ủy Quân sự các cấp cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo để đề ra các phương thức tác chiến mới; các phương án điều chỉnh thế bố trí chiến trường trên từng vùng, từng địa bàn tác chiến các cấp cho phù hợp với chiến tranh hiện đại và với sự điều chỉnh của tổng thể nền quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới. Bốn là, cần chỉ đạo việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng công trình dân dụng, lưỡng dụng gắn với công trình quốc phòng để bảo toàn lực lượng, tính mạng cho nhân dân. Đồng bộ mọi mặt công tác bảo đảm để vừa tác chiến, vừa phòng tránh dài ngày như các tầng hầm, công trình ngầm. Năm là, luôn chủ động làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng gắn chặt với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước với đối ngoại nhân dân để ngăn chặn, hạn chế xảy ra xung đột. Giải quyết các vấn đề phức tạp bằng các giải pháp hòa bình. Đa phương, đa dạng hóa các mối quan hệ; thêm bạn, bớt thù. Chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện xây dựng các công trình quốc phòng trên cả nước nhất là các địa bàn chiến lược, vùng biên giới và hải đảo. Nhóm giải pháp này giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì, nền kinh tế - xã hội nước ta phát triển ngày càng mạnh mẽ cả bề rộng và chiều sâu, nhất là trong bối cảnh kinh tế số đang được đẩy mạnh phát triển; trên cơ sở đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu, với tác động đa chiều. Điều đó sẽ ảnh hưởng to lớn, toàn diện đối với quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân nước ta, cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với quá trình thực hiện xây dựng các công trình quốc phòng càng trở nên bức thiết, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục mới mang lại hiệu quả cao. Thực tiễn cho thấy, nơi nào, lúc nào thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát thì chất lượng xây dựng sẽ không được bảo đảm. Vì vậy, đối với nhóm giải pháp này, Đảng và Nhà nước cần chú trọng thực hiện các biện pháp cụ thể sau: Một là, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng tích cực, chủ động rà soát lại quy hoạch, kế hoạch xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo phân cấp. Việc thực hiện biện pháp này có tính lưỡng dụng rất cao, một mặt, làm căn cứ cho việc kiểm tra, giám sát tiến trình xây dựng các công trình quốc phòng; mặt khác, kịp thời đưa ra các quyết sách điều chỉnh nhanh chóng, chính xác phù hợp thực tế; khi phát hiện thấy có những vấn đề phát sinh, cần khẩn trương bổ sung, điều chỉnh. Hai là, tổ chức tốt các đoàn kiểm tra, kiểm soát để nắm chắc tiến độ, chất lượng xây dựng các nội dung, công trình thuộc về hệ thống phòng thủ quốc gia, nhất là các công trình quốc phòng trọng điểm mang tầm chiến lược. Việc kiểm tra, kiểm soát cần được tiến hành một cách chặt chẽ, nghiêm minh, nếu phát hiện sai phạm cả về nội dung và không gian quốc phòng thì phải chấn chỉnh kịp thời, không để ảnh hưởng đến môi trường tác chiến khi chiến tranh xảy ra. Ba là, kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên từng địa phương, đơn vị. Đồng thời, kỷ luật nghiêm minh những trường hợp sai phạm, nhất là việc lấn đất quốc phòng, tránh tình trạng để kéo dài phải xử lý hết sức khó khăn, phức tạp. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân thì sự lãnh đạo của Đảng mới đi vào thực chất, có chiều sâu và ngược lại. Già làng cùng chiến sĩ bộ đội biên phòng tuần tra biên giới_Nguồn: baothuathienhue.vn Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động diễn tập quân sự hằng năm ở tất cả các cấp tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến thuật nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy tác chiến của các cấp, các ngành. Quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân diễn ra trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhưng tất cả các hoạt động này đều được thực nghiệm, kiểm nghiệm thông qua các hoạt động diễn tập quân sự cấp chiến lược đến cấp chiến dịch và chiến thuật. Thông qua các cuộc diễn tập quân sự, một mặt, kiểm định lại các hệ thống công trình phòng thủ, trận địa tác chiến đã được xây dựng; mặt khác, kiểm tra trình độ tổ chức, chỉ huy tác chiến của tất cả lực lượng tham gia; nhất là các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy theo phân cấp của từng cấp diễn tập, điều này đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ của Đảng ủy quân sự cấp trên và cấp trực tiếp tổ chức diễn tập. Chỉ trên cơ sở này, diễn tập quân sự hằng năm và theo định kỳ mới đi vào nền nếp và đạt chất lượng cao. Thông qua đó, phát hiện kịp thời những vấn đề cần hoàn chỉnh, bổ sung để nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trong tình hình mới hiện nay. Đối với nhóm giải pháp này, cần chú trọng những nội dung, biện pháp cụ thể là: Một là, Đảng ủy quân sự từng cấp chỉ đạo cơ quan tham mưu thường xuyên rà soát các phương án tác chiến giả định theo phân cấp để ban hành các chỉ thị diễn tập quân sự sát hợp với tình hình thực tiễn đang đặt ra cho từng cuộc diễn tập. Tránh tình trạng rập khuôn máy móc, không cập nhật đầy đủ tình hình chính trị, quân sự đang diễn ra trên thế giới, khu vực và các tình huống có thể xảy ra ở từng địa phương, đơn vị. Hai là, Đảng ủy quân sự các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ các hoạt động chuẩn bị cho diễn tập quân sự, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động này. Sự lãnh đạo, chỉ đạo càng thường xuyên, sâu sát càng có được yếu tố đồng bộ, cả về kinh tế, chính trị và quân sự, sát với tình hình thực tế. Ba là, Đảng ủy quân sự các cấp cần tăng cường chỉ đạo các cơ quan tham mưu tổ chức tốt các hoạt động diễn tập lồng ghép nhuần nhuyễn giữa tác chiến quân sự truyền thống và phi truyền thống. Làm tốt điều này, các cấp lãnh đạo, chỉ huy sẽ chủ động đối phó tốt với các tình huống khẩn cấp về môi trường như bão lũ, hỏa hoạn xảy ra gây thảm họa cho cả kinh tế và quốc phòng. Tức là, bên cạnh phòng thủ quân sự cần chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo tốt phòng thủ dân sự, đây là biện pháp mang tính lưỡng dụng cao trong thời đại toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay. Bốn là, Đảng ủy quân sự các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc tổng kết, rút kinh nghiệm sau diễn tập, chống biểu hiện nặng về hình thức, không chú trọng thực chất về nội dung diễn tập, chỉ biểu dương thành tựu mà ít quan tâm đến hạn chế cần khắc phục. Làm như vậy, sẽ dẫn đến tình trạng tiền của bỏ ra thì rất lớn, nhưng kết quả thu về hạn chế và không bảo đảm tính vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân của từng địa phương cũng như trên phạm vi cả nước. Năm là, hoàn thiện, chỉ đạo triển khai thực hiện tốt phòng thủ dân sự. Cơ chế chỉ huy, điều hành, phối hợp. Huy động sức mạnh tổng hợp của cấp uỷ các cấp, năng lực tổ chức, chỉ huy, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của hệ thống cơ quan và sức mạnh của toàn dân; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội./.
ST.

Nắm chắc pháp luật, kiểm soát quyền lực để cầm quyền - khâu mấu chốt trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Đảng, Nhà nước, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay là yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng. Muốn vậy, cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực, góp phần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng_Ảnh: Tư liệu

Vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lực 

Thực tiễn cách mạng nước ta yêu cầu: “Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, hơn bao giờ hết đang “Đòi hỏi cao đối với cán bộ lãnh đạo, nhất là các đồng chí giữ cương vị trọng trách trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các đồng chí Ủy viên Trung ương, bí thư tỉnh, thành ủy, bộ trưởng, người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị và các cán bộ lãnh đạo khác phải tự giác rèn luyện, nêu gương cho cấp dưới về sự giác ngộ chính trị, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, sự hy sinh phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân”; “quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị”.

Theo nghĩa rộng thông thường, quyền lực là năng lực, khả năng của một cá nhân hay tổ chức tác động đến những cá nhân, tổ chức khác, buộc họ phải thực hiện ý chí của mình thông qua các hình thức thể hiện trên phương diện chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,...; trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý. Trong giai đoạn hiện nay, cá nhân và tổ chức phải được trao hoặc ủy quyền đủ để thực thi quyền lực theo pháp luật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Khi một cá nhân hay một tổ chức, dù lớn hay nhỏ, sẵn lòng ủy quyền, trao quyền cho người thể hiện được tài năng, đạo đức, sức lôi cuốn các cá nhân, để dẫn dắt cộng đồng thì việc giám sát sự thi hành thẩm quyền tự nó đã trở thành trách nhiệm đối với người trao quyền hoặc ủy quyền của cộng đồng, của quốc gia, theo pháp luật. Vì vậy, theo nghĩa nào đó, nếu thẩm quyền không gắn với trách nhiệm thì thẩm quyền hoặc bị buông lỏng, trở nên vô tác dụng hoặc bị tha hóa, thoái hóa trở nên không giới hạn. Và khi đó, sự mất cân bằng quyền lực sẽ xảy ra, tạo nên tình trạng quyền lực vô tác dụng, hoặc bị biến thành vật sở hữu của cá nhân, của phe nhóm, gây rối loạn xã hội.

Điều cần cảnh báo là, khi quyền lực đạt tới trình độ tuyệt đối, mặt đối lập của tình trạng này nhất định sẽ dẫn tới tha hóa tuyệt đối, nếu thẩm quyền không được khắc chế và kiểm soát bằng đạo đức, bằng pháp luật và các công cụ kiểm soát khác, thông qua đề cao trách nhiệm cá nhân. Nói một cách hình ảnh, nếu biết ra lệnh thì chỉ là quan chức, còn biết truyền cảm hứng và chủ động chịu trách nhiệm thì đó là người lãnh đạo, quản lý đúng nghĩa. Một trong những thử thách của sự lãnh đạo, quản lý chiến lược là khả năng giải quyết vấn đề một cách khoa học và dân chủ, đó cũng là mấu chốt đối với công việc kiểm soát quyền lực.

V.I. Lê-nin đã chỉ rõ rằng: “Lý do tồn tại của tổ chức đảng, và của các lãnh tụ xứng đáng với danh hiệu đó là, ngoài nhiều điểm khác, đảng và lãnh tụ còn phải thông qua một công tác lâu dài, kiên cường, thiên hình vạn trạng và nhiều mặt của tất cả những đại biểu giác ngộ của giai cấp mình mà thu hoạch được những kiến thức cần thiết, kinh nghiệm cần thiết, - ngoài kiến thức và kinh nghiệm - là tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chính xác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp”. Điều đó cho thấy rằng, sự nhạy bén chính trị cũng như việc kiểm soát quyền lực là những khâu quan trọng trong công cuộc lãnh đạo, cầm quyền của đảng cộng sản. Quyền lực được nhân dân ủy thác và giao phó cho Nhà nước; đến lượt mình, Nhà nước quản lý mang tầm chiến lược, chủ động đón nhận sự ủy thác quyền lực từ nhân dân và hoàn thành việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách xứng đáng, theo phương châm minh bạch, dân chủ và đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định một cách thống nhất. Điều đó sẽ bảo đảm vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng, nhằm kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 14 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương_Ảnh: TTXVN

Cảnh báo sự buông lỏng hoặc tha hóa, thoái hóa quyền lực       

 Thực tiễn đã và đang chỉ rõ, mọi sự tha hóa, thoái hóa quyền lực đều là tham nhũng dưới mọi thủ đoạn, hình thức và mức độ, từ tham nhũng kinh tế tới tham nhũng chính sách. Những người tha hóa quyền lực cấu kết với nhau rất tinh vi, chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; họ lợi dụng các “khoảng trống” pháp luật, việc thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để trục lợi; bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chà đạp lên luân thường đạo lý, cốt chiếm đoạt mọi thứ vì cá nhân và phe nhóm. Những hành động đó phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây xáo trộn, làm rối loạn kỷ cương và xã hội.

Sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, “ăn cắp” và “buôn bán” quyền lực dưới mọi hình thức, cấp độ làm xuất hiện những “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, có nguy cơ nảy nở những “sứ quân”, biến những người được trao quyền thành những “ông tướng, bà tướng” tự tung tự tác, trong “những bầu trời riêng”; đồng thời, gây chia rẽ nội bộ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, làm suy yếu nền chính trị của đất nước. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện từ việc dùng thẩm quyền của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực, nhằm trục lợi cho mình và “nhóm lợi ích”, cũng như trong việc quyết định các chủ trương, chính sách, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, như cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ... Đặc biệt, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực vừa công khai, vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ ngang - dọc, trên - dưới, trong - ngoài... bằng những “luật ngầm” đã xuất hiện trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nơi, đã và đang gây nên những hậu họa khôn lường.

Đáng lo ngại là sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của không ít người rất đa dạng, tinh vi; họ núp sau tấm bình phong tập thể, cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa, thoái hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp; vì nó thường gắn với người có chức vụ, quyền lực lớn, nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng và không ít trường hợp còn được bao che, thậm chí dùng cả tổ chức quyền lực phản kích quyết liệt, chống lại các lực lượng kiểm tra, thanh tra, giám sát, các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, làm cho tình hình ở không ít nơi diễn ra rất phức tạp. 

Ngay từ tháng 6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm). Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM. Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”, “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””. 

Thực tiễn cách mạng chỉ rõ, giải quyết có hiệu quả, không để xảy ra tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực, trước hết là năng lực chính trị và pháp luật, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng pháp luật là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Ranh giới giữa thẩm quyền được giao với sự năng động, sáng tạo vốn rất mong manh nhưng rất đa dạng, phong phú... và trong một số hoàn cảnh lại là điều kiện thuận lợi cho những kẻ rắp tâm lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân. Điều đó dẫn tới sự rối loạn hệ giá trị trong đánh giá, thẩm định, vượt ngoài khuôn khổ cho phép và làm rối loạn kỷ cương, kỷ luật ở không ít nơi. Những trường hợp đó âm mưu sở hữu quyền lực một cách “vô pháp vô thiên”, rắp mưu hoành hành quyền lợi cá nhân, phe nhóm, phường hội. Nếu không nghiêm túc giải quyết tình trạng trên, dễ dẫn tới nạn rũ bỏ, trốn tránh trách nhiệm theo thẩm quyền, chia cắt kỷ luật và khoanh vùng kỷ luật và pháp luật, nguy cơ biến kỷ luật và pháp luật thành những “thanh kiếm phường chèo”(!). Qua các vụ đại án về tha hóa, thoái hóa quyền lực của nhiều cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực đã được xét xử gần đây cho thấy rõ tính nguy hại của vấn nạn trên; đồng thời, cảnh báo nghiêm khắc sự thiếu tôn trọng pháp luật hoặc cố tình giẫm đạp lên luật pháp đều dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm đó.

Nhưng điều đáng sợ hơn là, khi bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”, tệ “cát cứ phường hội”, băm nhỏ lợi ích quốc gia... tất sẽ dẫn đến tình trạng thật giả lẫn lộn, phải trái bất minh, “chụp mũ” những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung hoặc tấn công những người có dũng khí đấu tranh chống lại nạn lạm quyền, lộng quyền, hoặc cố ý làm trái; đồng thời, làm thui chột, thậm chí phá vỡ động lực phát triển, làm rạn vỡ đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; xuất hiện nguy cơ làm băng hoại không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị. 

Đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực - nội dung và các giải pháp chủ yếu 

Để kiểm soát quyền lực, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng cơ chế; theo đó, hoàn thiện hệ giải pháp đồng bộ, phù hợp và khả thi, với các thể chế và định chế, theo phương châm “dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra”. 

Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, ngày 16-10-2016, lần đầu tiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, pháp luật”. Nói một cách hình tượng, “lồng cơ chế” đó chính là sự tổng hòa hệ thống kỷ luật của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đó là Quốc pháp và Đảng cương. Nhưng, trung tâm của Quốc pháp và Đảng cương là sự tín nhiệm của nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước, mà thước đo là lòng dân đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược. Ba nhân tố rường cột này hợp thành cơ chế kiểm soát quyền lực.

Có thể khẳng định ở đây, quá trình đổi mới và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất là quá trình vạch ra những “độ” tồn tại của quyền lực, với những giới hạn cho phép về mặt lịch sử, mà người được ủy quyền hoặc được trao quyền lực không được phép vượt qua theo thẩm quyền và trách nhiệm, trong bất cứ hoàn cảnh, cả điều kiện trên nền tảng pháp lý và đạo lý, để bảo đảm quyền lực được kiểm soát, cân bằng. Vì vậy, cần lưu ý rằng, việc đổi mới, sáng tạo cơ chế kiểm soát quyền lực chính là việc xác định hệ thống chỉnh thể bao gồm toàn thể các yếu tố (chính trị, pháp luật, đạo đức...) có liên quan tác động lẫn nhau một cách tự nhiên và tất yếu để nhằm đạt mục đích, còn cơ chế chính là cấu trúc vận hành, nhằm truyền nối động cơ giúp vận hành toàn bộ hệ thống, từ bên trong tới bên ngoài, từ chủ thể tới khách thể; nếu một yếu tố nào đó không có giá trị trong chỉnh thể và không bảo đảm tính thống nhất thì hệ thống đó không tồn tại, dẫn đến cơ chế sẽ bị phá vỡ.

Do đó, để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với các nhân tố cấu thành cơ chế (điều kiện cần và đủ, phương thức thực thi, các công cụ và điều kiện hỗ trợ...), phải có đủ ba nhân tố căn bản, có tính rường cột hợp thành và chi phối cơ chế kiểm soát quyền lực, đó là: Quốc pháp - Đảng cương - Sự tín nhiệm của nhân dân. Nếu thiếu đi một trong ba nhân tố căn bản này, nhất định sẽ không có bất cứ một cơ chế kiểm soát quyền lực nào tương thích và hữu hiệu đáp ứng với tình hình hiện nay.

Các giải pháp căn bản và chủ yếu thực thi kiểm soát quyền lực

Một là, định lượng hóa và cụ thể hóa trách nhiệm theo thẩm quyền trên từng phương diện, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng... và từng vị trí, chức vụ bảo đảm đúng quyền, rõ quyền, đủ quyền và thực quyền; theo đó, định lượng hóa để cụ thể hóa những biểu hiện tha hóa, thoái hóa quyền lực với phương châm “xây kết hợp với chống”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, không thể dung nạp những “quyền lực ngoài quyền lực”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực đen”... Những cá nhân, tổ chức được giao quyền, ủy quyền, phải tự kiểm soát mình bởi pháp luật và kỷ luật. Đây là việc rất khó, vì điều khó khăn nhất đối với mỗi con người chính là chiến thắng được chính bản thân mình.

Đồng thời, tiếp tục đổi mới và định rõ mối quan hệ giữa người đứng đầu với tập thể lãnh đạo, quản lý; giữa thẩm quyền các bên; giữa cấp trên với cấp dưới; giữa bên trong tập thể lãnh đạo, quản lý với bên ngoài, trong hệ thống và ngoài hệ thống; giữa cơ quan kiểm soát quyền lực với người và tổ chức được trao hoặc ủy thác quyền lực trong một chỉnh thể hữu cơ, không cắt khúc, không khép kín, không ngoại lệ, trên cơ sở trách nhiệm giải trình công khai và dân chủ. Việc buông lỏng quyền lực hay quyền lực bị tha hóa, thoái hóa - cả hai đều nguy hiểm như nhau; theo đó, muốn hạn chế, đẩy lùi tình trạng trên, đội ngũ cán bộ cần được đào tạo một cách đầy đủ về pháp luật, khoa học tổ chức, khoa học hành chính ngang tầm trọng trách.

Hai là, đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn song hành và gắn với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát và kiểm soát nghiêm ngặt các cơ quan kiểm soát quyền lực. Đổi mới và hoàn thiện, bảo đảm thống nhất các quy định của Đảng với hệ thống pháp luật của Nhà nước một cách toàn diện, đồng bộ và cụ thể. Cần nhấn mạnh, tiếp tục hiến định và luật định hóa quyền lực của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực quốc gia - trong việc kiểm soát quyền lực được nhân dân ủy quyền, giao phó cho người đứng đầu trong bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước và bộ máy của cả hệ thống chính trị.   

Trên cơ sở định lượng hóa và cụ thể hóa về thẩm quyền, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế về cá thể hóa trách nhiệm trong việc chất vấn, giải trình, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch đối với người được giao và giữ quyền lực (người, tổ chức và công việc); đồng thời, có định chế minh bạch về nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, quản lý, quản trị (gồm các cá nhân thành viên ban lãnh đạo với vị trí công vụ của mỗi người), theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm dựa trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ một cách thống nhất, thông suốt. Gắn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước, giám sát của nhân dân trong việc kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, thống nhất, liên thông và chặt chẽ. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Công khai hóa, minh bạch hóa là con đường ngắn nhất, là phương pháp tốt nhất để giám sát, kiểm soát quyền lực của cá nhân hay tập thể. Định vị cơ chế thưởng - phạt một cách dân chủ, minh bạch, chính xác, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có giới hạn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực.

Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực làm việc với Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN

Ba là, đổi mới và xây dựng bộ máy thực thi công việc kiểm soát quyền lực (kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát...) trong tổng thể tiến trình đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị các cấp theo hướng liên thông, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn đội ngũ cán bộ giữ chức năng, nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi quyền lực là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng, là nhân tố quyết định thành bại của việc kiểm soát quyền lực. Do đó, những người được trao trọng trách kiểm soát quyền lực trong các cơ quan có thẩm quyền phải là những người trung thành, tinh nhuệ, liêm chính, mẫn cán, dũng cảm, hành động công vụ theo kỷ luật và pháp luật một cách nhân văn. Đặc biệt, trước yêu cầu cấp bách hiện nay, càng cần phải thực thi kiểm soát quyền lực một cách nghiêm ngặt ở các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ kiểm soát quyền lực.

Bốn là, xây dựng và phát triển môi trường chính trị - xã hội bảo đảm kiểm soát quyền lực một cách bao trùm, rộng khắp và chặt chẽ. Trọng tâm của công việc đổi mới thể chế là bảo vệ vô điều kiện sự tham gia và phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân - với tư cách là chủ thể quyền lực, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông xã hội trong giám sát, phát hiện, tố cáo sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của cá nhân và tổ chức được ủy thác hoặc được trao quyền lực.

Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức là một môi trường kiểm soát quyền lực trực tiếp, dân chủ, công khai, cụ thể thông qua các định chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, kỷ luật đảng, Hiến pháp và pháp luật. Đây là công việc bảo đảm kiểm soát từ ngoài vào, từ dưới lên... cả về phương diện pháp lý lẫn bình diện đạo lý xã hội và dư luận xã hội (hiện đang bị ngăn trở bởi không ít “cục nghẽn mạch” về thể chế cần được dỡ bỏ). Đây là công việc quan trọng, vẫn đang còn không ít “khoảng trống” cần phải nhanh chóng được lấp đầy để thực thi và bảo vệ quyền lực của nhân dân có hiệu quả. Bởi lẽ, chỉ cần nhìn trong 10 năm qua, có tới 75% số vụ việc liên quan tới vi phạm pháp luật do lợi dụng quyền lực dưới mọi hình thức và mức độ là do nhân dân và công luận phát hiện. Hơn lúc nào hết, hiện nay, chính trị phải là sự thanh khiết từ to đến nhỏ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói; và lòng tin của nhân dân, sức mạnh của công luận có vai trò vô cùng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.     

Năm là, đổi mới và thống nhất các công cụ khác trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực. Tiếp tục đổi mới tư duy, thực hiện hiến định và luật định về quyền thông tin và được thông tin (về cá nhân, tổ chức và thẩm quyền của họ theo luật định); về quyền và trách nhiệm giám sát, về phương thức kiểm tra, giám sát, kiểm soát; về quyền được trưng cầu ý kiến, lựa chọn và bãi miễn của nhân dân đối với cá nhân và tổ chức. Tất cả nhằm khắc phục sự chồng lấn, không minh bạch giữa trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể, ngăn chặn nạn nhân danh tập thể để mưu đồ lợi ích cá nhân hoặc “ẩn nấp” trong danh nghĩa tập thể để che giấu, trốn tránh, rũ bỏ trách nhiệm cá nhân, làm cho quyền lực nằm ngoài vòng giám sát, kiểm soát; nhân danh “tổ chức kiểm soát quyền lực” mà dung túng, bao che cho hành vi lợi dụng quyền lực, thậm chí cả những “quyền lực đen”, “quyền lực ngầm”, “quyền lực trong bóng tối”... Theo đó, cần xác định rõ quyền lực tối thượng của nhân dân trên phương diện này và quyền lực ấy phải tiếp tục được luật hóa một cách cấp thiết.

Sáu là, tiến hành việc gắn kiểm soát quyền lực cá nhân và tổ chức ở trong nước với kiểm soát họ ở ngoài nước (khi công tác và hoạt động ở ngoài nước), chủ động tăng cường hợp tác, trao đổi, tham chiếu kinh nghiệm với nước ngoài trong việc kiểm soát quyền lực. Cần tiếp thu, tiếp biến kinh nghiệm cầm quyền của các đảng cầm quyền và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, một cách cầu thị, không kỳ thị, không xa lánh; đồng thời, hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới, là công việc cần thiết và rất quan trọng.

Thực tiễn vừa qua đã vạch rõ những mưu đồ gây rối việc kiểm soát quyền lực đối với những cá nhân và tổ chức liên quan với nước ngoài; đồng thời, tạo nên những “vùng trắng”, “vùng trống”, biến đây thành những “lỗ hổng thoát tội”, “vùng tránh”, “vùng né”, “vùng trốn”, nơi tẩu tán “nhân sự”, tẩu tán tài sản trong thực thi kiểm soát quyền lực đối với sự tha hóa và thoái hóa quyền lực. Và trước mắt, với bao nhiêu công việc và từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, khi Việt Nam đang trên con đường đổi mới và phát triển, thì càng cần phải tăng cường kiểm soát quyền lực và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực một cách thực chất, hiệu quả./.

ST.

Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay trên thế giới, đổi mới sáng tạo được đánh giá là một trong những chỉ số phát triển quan trọng, là yếu tố định hướng trung tâm phát triển của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nằm trong những quốc gia có quyết tâm cao về đổi mới sáng tạo, Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo hiệu quả.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia TECHFEST 2021 và Tuần lễ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh WHISE 2021 _Ảnh: Tư liệu

Về đổi mới sáng tạo

Thực tế phát triển của các nền kinh tế lớn trên thế giới cho thấy, việc thực hiện các chuyển đổi về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo sẽ trực tiếp làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế. Giai đoạn những năm 90 của thế kỷ XX, khi khoa học - công nghệ được xem là một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, thì đổi mới sáng tạo cũng được hiểu là đổi mới sáng tạo của khoa học - công nghệ, là một tiến trình trong những phân đoạn khác nhau của phát triển khoa học - công nghệ, mà cụ thể là các hoạt động tập trung vào việc nghiên cứu, phát triển các phát minh, sáng chế về công nghệ. Theo học giả Giô-xép Xchăm-pi-tơ (Joseph Schumpeter), đổi mới sáng tạo đề cập đến quá trình đưa ra các sáng tạo mới, sản phẩm mới, các phương pháp sản xuất mới, mở ra thị trường mới, phát triển các nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới và tạo ra cấu trúc thị trường mới nhằm nâng cao chất lượng của sản xuất hàng hóa, dịch vụ. Sau này, các quan niệm về đổi mới sáng tạo có sự chuyển biến sang hướng ứng dụng nhiều hơn, như quan điểm của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) năm 2005: “Đổi mới sáng tạo là việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ) hoặc một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới, hay một biện pháp mới mang tính tổ chức trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”.

Như vậy, đổi mới sáng tạo đề cập đến tiến trình phát triển các hoạt động nghiên cứu, phát triển các phát minh, sáng chế về công nghệ gắn liền với vai trò của các trung tâm nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, những phát minh, sáng chế, nguồn nhân lực và quá trình sử dụng, tương tác, thực hiện các sáng tạo công nghệ trên thực tiễn gắn với vai trò của các doanh nghiệp và các thể chế xoay quanh sự vận hành của các doanh nghiệp, bao gồm hệ thống chính sách, thể chế tài chính, kết cấu hạ tầng giáo dục, truyền thông và các điều kiện của thị trường. Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo còn bao hàm chính sách và chiến lược công nghệ nhằm định hướng và phát huy vai trò của các yếu tố trên để đạt được mục đích nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, hoàn thiện kỹ năng của người lao động và tối đa hóa hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội.

Việc đánh giá hiệu quả đổi mới sáng tạo được dựa trên các chỉ số đổi mới sáng tạo (Global Innovation Index - GII). Các chỉ số này tập trung vào ba nhóm chỉ số, bao gồm: GII tổng thể, GII đầu vào và GII đầu ra của đổi mới, mà cụ thể là các yếu tố đầu vào về thể chế, nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu, kết cấu hạ tầng, sự chuyên nghiệp của thị trường, mức độ hoàn thiện của doanh nghiệp và yếu tố đầu ra là kết quả của thành tựu đổi mới gồm kết quả nghiên cứu khoa học và thành quả sáng tạo tri thức cũng như công nghệ.

Nhìn vào cục diện phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các quốc gia phát triển, như Thụy Sỹ, Thụy Điển, Mỹ, Anh, Xin-ga-po, Phần Lan, Đức đều là những nền kinh tế đứng đầu về các chỉ số đổi mới sáng tạo. Cùng với đó là sự ảnh hưởng từ các doanh nghiệp công nghệ của các quốc gia phát triển đối với nền kinh tế thế giới. Các tập đoàn công nghệ lớn, như Amazon, Google Apple, Facebook, Apple, AT&T, Walmart (Mỹ), ICBC, Ping An, Huawei, China Construction Bank, Wechat (Trung Quốc), Toyota (Nhật Bản), Samsung (Hàn Quốc), Mercedes-Benz, Volkswagen (Đức), Saudi Aramco (A-rập Xê-út), Shell (Hà Lan),... vốn có giá trị thương hiệu lớn, ứng dụng các công nghệ cao cùng tốc độ phát triển nhanh chóng ngày càng mở rộng và chi phối không chỉ nền kinh tế quốc gia, mà còn trên toàn thế giới. Đây là một trong những minh chứng cho thấy, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) đã kết nối toàn cầu thành một thế giới phẳng và giúp con người giải quyết các vấn đề khủng hoảng kinh tế, di cư quốc tế, an ninh toàn cầu, biến đổi khí hậu, dịch bệnh nảy sinh trong sự phát triển ngày nay; đồng thời, mở ra cơ hội cho các nước kém phát triển hơn có thể học tập ứng dụng, sáng tạo công nghệ của các nước “đi trước”, hạn chế các phát sinh chi phí rủi ro bằng việc khắc phục những hạn chế của các quốc gia đi trước nhằm phát triển năng lực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong nước.

Chìa khóa vượt qua thách thức

Nhìn một cách khách quan, toàn cầu hóa về công nghệ gắn liền với toàn cầu hóa về kinh tế, tính chất khoa học - công nghệ thâm nhập sâu, rộng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, nếp sống của con người. Đây là xu hướng phát triển hiện nay và xu hướng này sẽ tiếp tục tác động đến kinh tế - xã hội các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), trong ba năm liên tiếp (2019 - 2021), Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc về chỉ số đổi mới sáng tạo, là quốc gia đứng đầu nhóm 30 quốc gia có thu nhập trung bình thấp về đổi mới sáng tạo và giữ vị trí thứ 42/131 nền kinh tế được nghiên cứu, đánh giá về đổi mới sáng tạo năm 2020; vị trí thứ 44/132 nền kinh tế năm 2021, trong đó Việt Nam có vị trí cao hơn Ấn Độ (48) và Phi-líp-pin (50). Trong khi các nước khác trong khu vực thuộc nhóm có thu nhập trung bình cao, chỉ có chỉ số GII của Trung Quốc xếp vị trí thứ 14 trong tốp 20 quốc gia có GII cao nhất thế giới.

Theo số liệu thống kê năm 2020, chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo dựa theo năm chỉ số: về thể chế môi trường chính trị, pháp luật, kinh doanh, Việt Nam xếp thứ 83/131 quốc gia về đổi mới sáng tạo; về nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu (giáo dục, giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ) xếp thứ 79; về kết cấu hạ tầng (công nghệ thông tin và truyền thông, hạ tầng chung, năng lượng sinh thái) xếp vị trí thứ 73; về sự chuyên nghiệp của thị trường (tín dụng, đầu tư, thương mại và cạnh tranh) có thứ hạng cao hơn, xếp thứ 34 và chỉ số mức độ hoàn thiện của các doanh nghiệp (nhân lực tri thức, liên kết đổi mới, khả năng hấp thụ kiến thức) ở vị trí thứ 39. Tổng thể đầu vào đổi mới sáng tạo là 62/131. Trong khi đó, chỉ số đầu ra là kết quả của các hoạt động đổi mới của Việt Nam được đánh giá khá cao với vị trí xếp hạng lần lượt là 37 về kết quả khoa học (tài sản vô hình, hàng hóa, dịch vụ sáng tạo, sáng tạo trực tuyến) và thứ 38 về thành quả sáng tạo tri thức, công nghệ (sáng tạo, tác động và phổ biến các tri thức).

Nhìn chung, theo đánh giá của WIPO, Việt Nam có hai năm liên tiếp đứng vị trí thứ 42 (năm 2019, 2020) và thứ 44 trong năm 2021 về đổi mới sáng tạo. Việt Nam cùng với một số quốc gia khác, như Kê-ni-a, Ấn Độ, cũng được ghi nhận là quốc gia đạt được thành tựu sáng tạo trong 10 năm liên tiếp từ 2011 - 2020, nhất là những đổi mới sáng tạo trong nhóm chỉ số về thị trường và doanh nghiệp. Việt Nam cũng là quốc gia đứng đầu trong những nước đạt được thành tựu đổi mới vào năm 2020 ở nhóm 29 nền kinh tế có mức thu nhập trung bình. Các chuyên gia nhận định, với xuất phát điểm là các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, những kết quả mà Việt Nam, U-crai-na, Phi-líp-pin và Ấn Độ đạt được về đổi mới sáng tạo, đang ngày càng phát triển nhanh chóng.

Với việc tiếp tục coi đổi mới sáng tạo là một ưu tiên quốc gia, các chỉ số đổi mới sáng tạo làm công cụ đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp đầu tư nâng cao các chỉ số đổi mới, như: xây dựng 40 nền tảng công nghệ số quốc gia trên các lĩnh vực từ nền tảng chia sẻ, tổng hợp, phân tích dữ liệu trong các ngành, họp trực tuyến, thanh toán, định danh đến thiết bị Internet vạn vật (IoT), AI, trợ lý ảo, chuỗi cung ứng. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ số trong các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, trường học và các hộ gia đình, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và bảo đảm phần nào duy trì, phục hồi nền kinh tế. Bên cạnh đó, để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã bước đầu xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo, mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia tập hợp các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước với hơn 1.000 thành viên và con số này đang tiếp tục được mở rộng. Đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với các khu công nghệ cao được xây dựng, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số sẽ thúc đẩy nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo giữa các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và thay đổi quy trình công nghệ, sản xuất, quản lý vận hành doanh nghiệp trên nền tảng số, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai. Các biện pháp trên đã giúp Việt Nam giữ vững vị trí dẫn đầu nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập. Đặc biệt, chỉ số về trình độ phát triển của thị trường Việt Nam tăng 12 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 34 lên vị trí thứ 22. Các nhóm chỉ số về thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường tăng từ vị trí thứ 49 lên vị trí thứ 15 - một sự thay đổi hết sức mạnh mẽ; hay chỉ số đa dạng hóa các ngành trong nước cũng xếp thứ hạng khá cao (9/134 nước).

Đổi mới sáng tạo cùng với khoa học - công nghệ  là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia, góp phần quan trọng nâng cao đời sống của nhân dân (Trong ảnh: Đoàn viên, thanh niên trải nghiệm công nghệ thực tế ảo)_Ảnh: TTXVN.

Một tín hiệu tích cực nữa không thể không đề cập đến, đó là nhóm chỉ số về liên kết đổi mới sáng tạo, chỉ số hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa các trường đại học và doanh nghiệp đã tăng vượt bậc, từ vị trí thứ 65 năm 2020 lên vị trí thứ 34 năm 2021. Điều này phản ánh chủ trương gắn lý thuyết với thực tiễn phát triển của Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định. Việt Nam có tiềm năng để phát triển khoa học - kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, các chỉ số này phản ánh chiến lược phát triển của Việt Nam đang đi đúng hướng, từ đầu tư nguồn lực đến xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, lao động chất lượng cao.

Có thể nói, đổi mới sáng tạo thông qua khoa học - công nghệ được xem là chìa khóa giúp Việt Nam có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình và sớm thoát khỏi sự lệ thuộc vào công nghệ thấp và nguồn tài nguyên, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 vẫn đạt khoảng 6%/năm (riêng năm 2020 tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tuy vậy, nhìn tổng thể, mặc dù đã có những bước tiến dài về đổi mới sáng tạo, tăng trưởng kinh tế, nhưng khi đi sâu vào phân tích các chỉ số đổi mới sáng tạo trên bảng đánh giá toàn cầu giữa các nước, những con số này phản ánh rõ nét những điểm hạn chế của Việt Nam trong đổi mới khoa học - công nghệ.

Thứ nhất, các chỉ số xếp hạng khoa học của Việt Nam thấp, phản ánh chất lượng đổi mới sáng tạo của Việt Nam chưa cao. Để đánh giá một quốc gia có chất lượng đổi mới tốt nhất, có ba chỉ số được nêu ra, bao gồm: 1- Chỉ số xếp hạng các trường đại học trong nước so với quốc tế; 2- Chỉ số bằng sáng chế nộp tại các cơ quan chuyên môn; 3- Số lượng trích dẫn của các công trình nghiên cứu quốc tế. Tuy nhiên, ở các chỉ số về số lượng trích dẫn của các công trình được công bố quốc tế, Việt Nam lại chưa có tên trong danh sách các nhóm dẫn đầu. Các số liệu GII năm 2020 cho thấy, chỉ số này ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với Ma-lai-xi-a, Thái Lan, các nước  trong khu vực Đông Nam Á.

Bên cạnh đó, các chỉ số đổi mới của các quốc gia trong khu vực, như Thái Lan dẫn đầu về nghiên cứu và phát triển (R&D), trong khi Phi-líp-pin đạt thứ hạng cao về chỉ số đầu ra sáng tạo và công nghệ, còn Việt Nam là xuất khẩu công nghệ cao. Có một sự khác biệt rõ ràng là việc xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao ở Việt Nam phụ thuộc vào một số nhà máy của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới, như Samsung (Hàn Quốc), cốt lõi công nghệ không phải do Việt Nam sáng tạo, vì thế tính gốc của đổi mới sáng tạo chưa chủ động, chưa bảo đảm tính lâu dài. Ngoài ra, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam không chỉ thấp về công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy so với các nước trên thế giới, mà còn ở khía cạnh xây dựng thương hiệu, Việt Nam cũng chưa có cụm công nghiệp nào được vào danh sách xếp hạng. Các quốc gia đứng đầu về GII đều có điểm chung là tập trung các cụm khoa học và công nghệ cao, như Mỹ hay Trung Quốc lần lượt là 26 và 18 cụm công nghiệp, trong khi chỉ số này ở Việt Nam là 0 mặc dù Việt Nam cũng có thương hiệu lọt vào bảng xếp hạng 5.000 thương hiệu có giá trị trên toàn cầu. Như vậy, vấn đề của Việt Nam là cần tập trung nguồn nhân lực vào nghiên cứu và phát triển để tạo ra nền tảng cốt lõi và độc lập về đổi mới sáng tạo, cũng như cần đặt ưu tiên xây dựng thương hiệu, các cụm công nghiệp công nghệ cao lên hàng đầu.

Thứ hai, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam chưa thực sự bền vững. Theo chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2021, có thể thấy Việt Nam đạt chỉ số cao ở mảng thị trường, đa dạng hóa nguồn nhân lực (22) - những yếu tố linh hoạt và biến động, nhưng lại thấp ở nhóm chỉ số thể chế (83), các phát minh, sáng chế, trong khi đây lại là nhóm định hướng và quyết định hiệu quả của đổi mới sáng tạo. Ngay cả ở phía các doanh nghiệp, mức độ đổi mới sáng tạo cũng tương đối yếu do số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tỷ lệ lớn là 97%, vốn ít, nhân lực không đủ, ngành, nghề quy mô nhỏ, không có tiềm lực để đổi mới công nghệ. Thực tế này phản ánh tăng trưởng kinh tế, đổi mới ở Việt Nam chưa thực sự bền vững. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), các kết quả phát triển của Việt Nam bắt nguồn từ những điều kiện thuận lợi về nhân khẩu học và tái cơ cấu ngành, nhưng động lực này đang giảm dần với sự suy giảm tỷ lệ sinh, già hóa dân số, sự chuyển đổi từ nông nghiệp năng suất thấp sang các ngành sản xuất và dịch vụ cũng giảm. Trong giai đoạn 1996 - 2012, hai yếu tố này chiếm gần 3/4 tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người của nước ta. Mức sinh giảm mạnh dẫn đến tỷ lệ nhóm dân số phụ thuộc theo độ tuổi cũng giảm nhanh. Trong khi đó, sự chuyển dịch từ nông nghiệp với năng suất thấp sang ngành sản xuất và dịch vụ có năng suất cao hơn. Hai yếu tố này làm cho tốc độ tăng trưởng tiềm năng dài hạn của Việt Nam giảm xuống mức ước tính khoảng 6,5%, cũng như các chi phí cao về tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường, vì thế mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 cần đặt trọng tâm vào chất lượng chứ không phải tốc độ tăng trưởng, mà cụ thể là dựa trên sự tích lũy cân bằng và phân bổ các loại vốn khác nhau như vốn sản xuất, vốn nhân lực, vốn tự nhiên kết hợp với đổi mới sáng tạo, trong đó đổi mới sáng tạo ở đây cần sự hỗ trợ đổi mới sáng tạo của Nhà nước tập trung vào nâng cao năng lực của doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và tình hình tài chính của doanh nghiệp khởi nghiệp (cải cách sâu về thể chế và thị trường).

Tóm lại, những thành tựu bước đầu về đổi mới sáng tạo đã góp phần khẳng định những định hướng chiến lược đúng đắn và các biện pháp cụ thể phù hợp của Đảng, Nhà nước để thúc đẩy đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để khắc phục những điểm hạn chế về đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần có nhiều biện pháp mạnh mẽ hơn nữa.

Về bản chất, sự tăng trưởng kinh tế là do các sáng tạo về khoa học và công nghệ cũng như sự vận hành đồng bộ giữa các yếu tố về thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đổi mới sáng tạo thực chất là đề cập đến một hệ thống các yếu tố tổ chức, thể chế, cấu trúc kinh tế - xã hội tương tác lẫn nhau, quy định tốc độ, phương hướng và chất lượng của đổi mới. Do đó, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ hơn nữa đòi hỏi một hệ thống thể chế xã hội mới để phát triển, sử dụng công nghệ mới, cụ thể là việc đổi mới sáng tạo cần được thực hiện với tổng thể các biện pháp kinh tế, xã hội,... để có thể tham khảo, áp dụng, hợp tác và nâng cao chất lượng, lợi ích của các sản phẩm đổi mới sáng tạo; cũng như cần xây dựng một hệ thống hạ tầng kỹ thuật tốt, cơ sở về nhân lực, về thể chế vận hành các kết quả đổi mới sáng tạo; đồng thời, phải tích hợp đẩy mạnh mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ từ các cơ sở đào tạo, trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, để thực hiện tốt đổi mới sáng tạo cần có sự thống nhất, nhất quán từ tư tưởng chỉ đạo đến sự vận hành của hệ thống chính sách, hệ thống quản trị công, thể chế hợp lý, kết cấu hạ tầng phục vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ một cách hoàn thiện và nguồn nhân lực có khả năng phát huy sáng tạo trong khoa học - công nghệ, đi kèm với các lộ trình cụ thể mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của quốc gia. Trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã xác định mục tiêu cụ thể để xây dựng một xã hội hiện đại hóa và công nghiệp hóa là phải áp dụng khoa học - công nghệ và việc “áp dụng khoa học - công nghệ là động lực cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam”. Ở tầm mức cao hơn, để áp dụng khoa học - công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo phải là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình phát triển không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, mà còn ở mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, đổi mới sáng tạo được xác định là nhiệm vụ đột phá chiến lược phát triển của nước ta trong giai đoạn sắp tới. Điều này được cụ thể hóa trong “Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030”, được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 11-5-2022. Chiến lược đã cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo của Đảng về đổi mới sáng tạo, các nội dung được đề cập đến bám sát tiến trình đổi mới sáng tạo trong từng giai đoạn với những đặc trưng riêng. Trong giai đoạn này, Việt Nam xác định phát triển đổi mới sáng tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò đột phá chiến lược; là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, địa phương và doanh nghiệp; là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia, góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Với việc xác định rõ các định hướng chung về đổi mới sáng tạo, các định hướng, biện pháp cụ thể thúc đẩy, phát triển đổi mới sáng tạo cho từng ngành, lĩnh vực, cũng như xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo theo các cấp độ khác nhau đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ trong tư duy đổi mới của Đảng ta trước những thay đổi của thời đại và điều này tạo cơ sở lý luận cho những chuyển đổi của nền kinh tế trên thực tiễn, mang đến động lực phát triển, hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển tối đa năng lực của mỗi người và xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay

Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Trong cuộc chiến chống tham nhũng vô cùng khó khăn, phức tạp hiện nay, cần dựa vào “tai mắt”, sự giám sát của nhân dân theo tư tưởng “lấy dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước khác”(1), là tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam và kiều bào ta ở nước ngoài. Đối với Người, “dân” là “đồng bào” với tất cả sự thân thương, tha thiết nhất của những người cùng dòng máu con Lạc cháu Hồng. Trong các buổi nói chuyện, những bài viết và trong các bức thư gửi nhân dân, Người luôn dùng từ “đồng bào” khi nói đến nhân dân, như một phương thức truyền tải tình yêu thương, tinh thần đoàn kết dân tộc.

Bác Hồ với nhân dân (Tác phẩm: Nghe lời Bác dạy của họa sĩ Vương Trình, được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)_Ảnh: Tư liệu

Nhân dân là lực lượng có sức mạnh to lớn, có vai trò quyết định trong mọi vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, vì thế dân là gốc của mọi công việc. Với truyền thống yêu nước, anh dũng, cần cù, chăm chỉ, sáng tạo, nhân dân ta chính là nguồn vốn quý giá nhất làm nên thành công của sự nghiệp cách mạng. Hiểu dân, tin dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, dân rất tốt, rất thông minh, dân có thể “giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(2) và “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3). Nói về sức mạnh của nhân dân, Người chỉ rõ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(4); lòng dân là “vận nước” bởi vì “được lòng dân, thì việc gì cũng làm được/ Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(5). Với những quan niệm đúng đắn, toàn diện về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(6).

Nhân dân là chủ thể của xã hội, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân và mọi thành quả của cách mạng đều phải vì dân, phục vụ dân. Cả cuộc đời cống hiến, hy sinh vì dân, vì nước, vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm và giáo dục cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng, “lấy dân làm gốc” nghĩa là nhân dân chính là chủ thể cách mạng, mục tiêu cách mạng là vì nhân dân và sự nghiệp cách mạng thực chất là sự nghiệp là của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, dựa vào dân, vì dân, trọng dân, yêu dân, học dân và trung thực với dân. Người chỉ rõ: “Dân là gốc”, là lực lượng cách mạng cơ bản và quan trọng nhất, cho nên cán bộ, đảng viên cần “phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng(7), tức là phải gần dân, lắng nghe, đồng cảm, thấu hiểu dân, từ đó mới có quyết sách phù hợp với nhu cầu, mong mỏi của nhân dân. Người cán bộ, đảng viên phải đồng hành với dân, vì lợi ích của dân mà hành động, sẵn sàng hy sinh lợi ích bản thân vì nhân dân. Đây cũng là cách tốt nhất, hiệu quả nhất để dân tin, yêu và ủng hộ cán bộ, ủng hộ Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “lấy dân làm gốc” không chỉ là một nguyên tắc hành động mà còn là một mệnh lệnh tối thượng đối với cán bộ, đảng viên, bởi vì: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”(8). Người nêu rõ: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng”(9). Theo Người, làm “đầy tớ” cho dân nghĩa là phục vụ dân, dốc lòng vì lợi ích của dân, làm cho dân được ấm no, hạnh phúc, làm cho dân hài lòng…

Tham nhũng là tệ nạn vô cùng nguy hiểm cho xã hội. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ tác hại của tham nhũng: “Trộm cắp tiền bạc của nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa” (10). Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ, vì vậy, chống tham nhũng trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay, quan điểm “dân là gốc” của Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, với tư cách là người chủ của xã hội, nhân dân tích cực tham gia công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quan trọng trong việc phát hiện ra các vụ, việc tham nhũng, tiêu cực. Thực tế trong thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng lớn được phanh phui bắt đầu từ những thông tin do nhân dân cung cấp, tố cáo. Các cơ quan chức năng đều phải dựa vào “tai mắt” nhân dân, thu thập thông tin, chứng cứ để chứng minh các hành vi phạm tội của đối tượng vi phạm pháp luật. Nhân dân chính là lực lượng giám sát đông đảo, hiệu quả nhất đối với những hành vi sai trái của cán bộ, đảng viên.

Hai là, nhân dân tích cực tham gia phản biện xã hội về những vấn đề có liên quan đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đó là tham gia góp ý kiến với Đảng và Nhà nước về hoạch định chủ trương, xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; góp ý kiến về nhân sự tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp trong tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan nhà nước; giám sát, phản biện hoạt động của các cơ quan công quyền trong việc quản lý tài sản công, quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản... Đây vừa là hoạt động thể hiện quyền dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chính là hoạt động thể hiện vai trò và trách nhiệm của người dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo đúng tinh thần “dân là gốc”.

Ba là, ý kiến của đông đảo nhân dân tạo thành dư luận xã hội lên án và đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Dư luận xã hội góp phần quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, khi cung cấp thông tin tham nhũng, tiêu cực cho các cơ quan pháp luật và báo chí vào cuộc; tạo áp lực xã hội làm cho những người có trách nhiệm và các cơ quan hữu quan phải chú ý, để tâm, chỉ đạo, tiến hành làm rõ vụ, việc để trả lời trước công luận. Dư luận xã hội tác động mạnh mẽ đến tâm lý con người, tạo khả năng răn đe, cảnh tỉnh, để những người “đang muốn tham” phải chùn tay “không dám tham”.

Khẳng định vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, ngày 30-6-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc, tiếp thu cái đúng”(11).

Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả. Chưa có cơ chế hợp lý để nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệu quả; ở nhiều nơi, việc quản lý tài chính, tài sản công, đất đai, tài nguyên, khoáng sản… chưa thực sự công khai, minh bạch để nhân dân dễ dàng tiếp cận, giám sát, từ đó có thể phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm… Bên cạnh đó, việc thực hiện quy chế dân chủ ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thậm chí còn có tình trạng vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ, làm cho quyền lực không được kiểm soát, tạo cơ hội cho tham nhũng càng lộng hành, gây bất bình trong nhân dân. Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức được trách nhiệm công dân trong công tác phát hiện và tố giác tham nhũng nên còn thờ ơ, bàng quan.

Để dựa vào nhân dân, lấy “dân là gốc” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng để nhân dân hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình, có thái độ đấu tranh không khoan nhượng với “giặc nội xâm” này, từ đó tích cực tham gia giám sát, phát hiện, thông tin, phản ánh, tố giác hành vi tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(12).

Cung cấp thông tin, định hướng để hình thành dư luận xã hội mang tính tích cực, tạo cơ hội, diễn đàn cho người dân dễ dàng và chủ động tham gia bình luận, nhận xét, góp ý mang tính xây dựng, góp phần phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp lý cho hạt nhân tích cực trong quần chúng nhân dân (già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng…) để tăng cường tính tích cực của họ trong việc phát hiện, tố cáo tham nhũng.

Thứ hai, củng cố, hoàn thiện cơ chế, cơ sở pháp lý thực hành dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia quá trình phản biện xã hội thực chất, hiệu quả. Bảo đảm quyền dân chủ tức là người dân được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời (dân biết), người dân được trực tiếp theo dõi, giám sát các quá trình quản lý xã hội (dân kiểm tra) để kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực của cán bộ, đảng viên, giúp các cơ quan chức năng đưa ra ánh sáng những sai phạm, phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời hành vi tham nhũng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Hiện nay, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Ở một số địa phương, cơ quan, công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước còn chưa kịp thời; việc công khai các nội dung liên quan theo quy định còn chưa đầy đủ, còn mang tính hình thức, đối phó, nên việc tiếp cận thông tin của người dân gặp nhiều khó khăn, làm cho việc thực hiện quyền giám sát, góp ý của nhân dân ở một số nơi còn hạn chế. Thực tế đó đòi hỏi phải khẩn trương tiếp tục củng cố và hoàn thiện các cơ chế thực hành dân chủ, tổ chức triển khai hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở vừa được Quốc hội thông qua ngày 10-11-2022, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân thực chất, trong đó, thực hiện quyền và trách nhiệm của nhân dân trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách hiệu quả.

Chiến sĩ công an nhân dân giúp dân thu hoạch lúa mùa_Nguồn: cand.com.vn 

Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện thể chế về công khai, minh bạch các quy trình quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tài sản công. Trong công tác phòng, chống tham nhũng, việc bảo đảm công khai, minh bạch trong điều hành, quản lý nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội. Công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước nghĩa là phải công bố rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhận biết các chức năng, nhiệm vụ, quy trình làm việc của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật một cách rộng rãi để người dân tiếp cận thông tin dễ dàng, thuận lợi nhất. Trong thực tế, tham nhũng chủ yếu xảy ra và lộng hành khi có tình trạng thiếu minh bạch, thiếu sự giám sát. Nếu bảo đảm việc công khai, minh bạch, khoa học hóa các nội dung và quy trình quản lý thì sẽ hạn chế những khoảng tối, kẽ hở về chính sách nhằm trục lợi, tham nhũng.

Mặc dù hiện nay, việc thực hiện cải cách hành chính ở các cấp chính quyền đã có nhiều tiến bộ, nhưng quy trình, thủ tục giải quyết có lúc, có nơi vẫn chưa thuận tiện, thậm chí còn tình trạng nhiêu khê, phiền hà. Nhiều trường hợp, mỗi cấp có một cách xử lý và quy định thủ tục khác nhau gây lúng túng cho người dân, đồng thời dễ phát sinh tiêu cực. Do đó, việc đơn giản hóa, công khai hóa, minh bạch hóa các thủ tục và quy trình quản lý, minh định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp người dân hiểu rõ và dễ dàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng sẽ ngăn chặn tình trạng người thực thi công vụ lợi dụng để vụ lợi, nhũng nhiễu. Đẩy mạnh việc xây dựng chính phủ điện tử và đồng bộ hóa dữ liệu, số hóa việc giải quyết thủ tục hành chính trên toàn quốc.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vô cùng phức tạp, khó khăn, phải tiến hành quyết liệt, bền bỉ, thường xuyên, không ngơi nghỉ, do đó cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp, trong đó đặc biệt chú trọng việc phát huy sức mạnh của nhân dân, dựa vào nhân dân như một giải pháp cơ bản, hiệu quả, theo tinh thần “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

ST.