Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

Quan điểm về đoàn kết quốc tế trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới

“Đường Cách mệnh” là tác phẩm tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, Trung Quốc (từ năm 1925 đến năm 1927). Trong “Đường Cách mệnh” có những nội dung quan trọng về đoàn kết quốc tế mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các hoạt động, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam trở nên sôi sục và rộng khắp. Mặc dù hoạt động với tinh thần yêu nước bất khuất, các phong trào đó lần lượt lâm vào bế tắc và cuối cùng đều thất bại. Đó là sự thất bại của ý thức hệ phong kiến, là sự thất bại của hệ tư tưởng tư sản, bởi đương thời, các hệ tư tưởng này được dựa trên một nền kinh tế Việt Nam nhỏ bé, không đại diện cho dân tộc và không phù hợp với xu thế thời đại mới. Mặc dù sự thất bại của các phong trào này còn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, song một trong những nguyên nhân cơ bản, sâu xa chính là bởi các nhà lãnh đạo các phong trào yêu nước khi đó có nhận thức về thế giới bên ngoài còn hạn hẹp, hạn chế, vì thế đã đưa ra những con đường không phù hợp với xu thế thời đại nói chung và không phù hợp với tình hình đất nước nói riêng, nên không thể tập hợp được lực lượng cách mạng và đoàn kết dân tộc. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú và sự vận dụng sáng tạo học thuyết khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, “Đường Cách mệnh” đã góp phần quyết định trong việc khắc phục sự khủng hoảng về đường lối, mở ra con đường cứu nước của dân tộc ta; khẳng định rõ định hướng lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, vừa đáp ứng được các nhu cầu khách quan của đất nước, vừa phù hợp với xu thế thời đại mới. Chính vì thế, “Đường Cách mệnh” đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam ngay từ thời kỳ đầu cách mạng, là tài liệu mẫu mực trong việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong những giai đoạn lịch sử mang ý nghĩa thay đổi có tính bước ngoặt của cách mạng nước ta. Những vấn đề liên quan đến con đường, mục tiêu cách mạng, cách thức xây dựng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng Đảng, giữ gìn chuẩn mực đạo đức của người cộng sản... đều vẫn giữ nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, trong đó có cả vấn đề đoàn kết quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở Việt Nam (năm 1967)_Nguồn: hochiminh.vn

Quan điểm về đoàn kết quốc tế trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”

Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhìn từ thực tiễn lịch sử cho thấy, các phong trào yêu nước ở Việt Nam đều nhận thức được rằng “có đoàn kết quốc tế mới mau thắng lợi”. Ngay nhà yêu nước Phan Bội Châu, mặc dù thất bại nhưng ông cũng rút ra được kinh nghiệm là “phải liên kết với những người đồng bệnh”, tức là những dân tộc cùng bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột như mình. Nhưng liên kết như thế nào, dựa vào ai, liên minh với ai? Ai là bạn gần, ai là bạn xa? Đây đều là những câu hỏi mà các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước thời bấy giờ còn rất mơ hồ. Người thì muốn dựa vào thực dân Pháp để chống phong kiến; người thì muốn dựa vào đế quốc này để chống đế quốc kia. Thậm chí, đến khi nhận thức được sự cần thiết phải “liên kết với những người đồng bệnh” thì Phan Bội Châu lại chủ trương dựa vào giai cấp tư sản dân tộc vô cùng yếu ớt của Trung Quốc để chống thực dân Pháp. Còn với người dân lao động Việt Nam thời đó cũng không thể phân biệt được người dân Pháp chân chính với thực dân Pháp tàn độc, coi tất cả những ai “da trắng” đều là kẻ thù của cách mạng Việt Nam. Sự mơ hồ, nhầm lẫn đó cần phải được nhìn nhận rõ, cần phải chỉ ra rằng đâu là chỗ dựa quốc tế, ai là đồng minh của cách mạng Việt Nam trên thế giới và chúng ta cần hướng tới một liên minh, đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng chống lại kẻ thù chung.

Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau”. Người xác định rõ chỗ dựa quốc tế của cách mạng Việt Nam phải là cách mạng vô sản thế giới, là cách mạng Nga và Đệ tam quốc tế (tức Quốc tế 3). Để trả lời câu hỏi về sự tương quan giữa cách mệnh Nga đối với cách mệnh An Nam là thế nào, Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Về vấn đề tập hợp lực lượng đồng minh trên thế giới của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như Đệ tam quốc tế)". Người đưa ra những dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục để xác định lực lượng đồng minh quốc tế của cách mạng Việt Nam. Với Đệ tam quốc tế (tức Quốc tế cộng sản), Người chỉ rõ: Cách tổ chức của Đệ tam quốc tế “có đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á - Đông; khẩu hiệu “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại”; quy tắc nói rằng “Các đảng cộng sản, nhất là Đảng Cộng sản Pháp... phải hết sức giúp dân thuộc địa làm cách mệnh”; “kế hoạch về thuộc địa là tự tay ông Lênin làm ra”. Từ đây, Người khẳng định “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Với nhân dân lao động Pháp, cách mạng Pháp và mối quan hệ giữa cách mạng Pháp và cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đó là đồng minh của cách mạng Việt Nam, cách mạng Việt Nam cũng phải liên minh với cách mạng Pháp, có thể thành công trước cách mạng Pháp và mang lại tác động tích cực đối với cách mạng Pháp. Người phân tích: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do. Vậy nên cách mệnh An Nam với cách mệnh Pháp phải liên lạc với nhau”.   

Như vậy, về đoàn kết quốc tế và tập hợp lực lượng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ba vấn đề lớn:

Một là, cách mạng Việt Nam phải đứng về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới mới có thể “đạp đổ” tất cả chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, trong đó “Công nhân là nền cách mệnh”.

Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc của cách mạng Việt Nam khi liên minh với phong trào cách mạng thế giới; giữa quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam; sự thống nhất biện chứng của các mối quan hệ đó.

Ba là, xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là mối quan hệ có tác động qua lại, trong đó, cách mạng thuộc địa sẽ không “thụ động ngồi chờ” cách mạng chính quốc.

Với những luận điểm trên, tác phẩm “Đường Cách mệnh” đã đặt nền tảng đúng đắn cho con đường cách mạng của Đảng ta, đây chính là cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong giai đoạn thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quan điểm và sự vận dụng của Đảng ta về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới

Có thể thấy, đoàn kết quốc tế là một trong những nội dung cơ bản mà “Đường Cách mệnh” chỉ ra; là nền tảng và cơ sở khoa học cho đường lối quốc tế của Đảng ta, góp phần quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cho đến giai đoạn cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta tiếp tục vận dụng, sáng tạo quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh để phù hợp với bối cảnh quốc tế mới và tình hình của đất nước hiện nay.

Trong tiến trình đổi mới đất nước, nhờ vận dụng phù hợp, sáng tạo quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam từng bước hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đồng thời đóng góp tích cực cho nền hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ở thời kỳ đổi mới, bằng việc xác định đúng các dòng chảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên nguyên tắc bao trùm và cũng là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Chính từ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, nước ta từng bước ra khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận và thiết lập quan hệ chính thức với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có cả các cường quốc; tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc (UN)..., phát huy vai trò tích cực, chủ động trong mọi hoạt động tại các thể chế song phương và đa phương.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với bà Phó tổng Thư ký Liên hợp quốc Amina Mohammed tại trụ sở Liên hợp quốc ở thành phố New York (Mỹ)_Nguồn: vietnamplus.vn

Thời gian đã trôi qua, nhưng lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế để tận dụng sức mạnh của thời đại. Đây là những quan điểm đi trước thời đại và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam hiện nay, thể hiện qua những hoạt động mà nước ta đã và đang triển khai trong quá trình hội nhập vào một thế giới toàn cầu hóa, như mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, khoa học quản lý hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,... Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua hơn 35 năm đổi mới, từng bước mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn về đoàn kết quốc tế, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc. Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ đổi mới, vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Hoạt động đối ngoại Việt Nam đã khơi dậy và phát huy cao độ yếu tố quốc tế, yếu tố thời đại thành sức mạnh hiện thực. Với xu thế hòa bình, hợp tác đang diễn ra mạnh mẽ, hoạt động đối ngoại của nước ta được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế. Công tác đối ngoại đã tạo điều kiện phá vỡ mọi rào cản và đưa Việt Nam ngày càng đến gần hơn với thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành “mắt xích” quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng, như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)..., tạo ra động lực mới cho sự phát triển chung của đất nước. Qua đó, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, góp phần mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tăng cường xuất, nhập khẩu; thế và lực của đất nước đã vững mạnh hơn nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, tạo tiền đề quan trọng để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Quy mô, trình độ của nền kinh tế nước ta đã phát triển vượt bậc. Nếu như năm 1989, quy mô nền kinh tế Việt Nam là 6,3 tỷ USD thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người năm 1985 đạt 159 USD/năm thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 2.750 USD/năm. Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nếu có nhận thức đúng đắn và nắm bắt được xu thế phát triển chung của các dòng chảy cách mạng trên thế giới; gắn mục tiêu đấu tranh của dân tộc ta với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, mới có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới; nếu đi ngược với xu thế trên, cách mạng sẽ khó thành công.

Vận dụng quan điểm đoàn kết quốc tế trong điều kiện mới, từ đánh giá đúng cục diện và xu thế phát triển chung của thế giới, Đảng ta đã đưa ra đối sách đúng đắn, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là chính sách đối ngoại của Việt Nam phải tiếp tục kiên định, nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ sự ủng hộ của các nước bạn bè, anh em và cộng đồng quốc tế, với chính sách chuyển từ đối đầu sang vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng tồn tại trong hòa bình, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển; chuyển hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang thúc đẩy quan hệ chính trị, xã hội, mở rộng quan hệ kinh tế góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với đối sách đúng đắn trên, Đảng ta đã chuyển từ cách tiếp cận các vấn đề quốc tế và đường lối đối ngoại chủ yếu dựa trên ý thức hệ sang cách tiếp cận sát với thực tế và toàn diện hơn, trên cơ sở nhận thức rõ về lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay khi nhân tố lợi ích quốc gia - dân tộc ngày càng nổi lên. Tuy nhiên, cần phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc trong mối quan hệ và sự kết hợp hài hòa giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế, với mục tiêu cao nhất là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây cũng là cơ sở cho sự hình thành, phát triển và triển khai toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại mà Đảng ta đã và đang thực hiện.   

Với chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng việc phát triển quan hệ với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Với chủ trương rộng mở quan hệ đối ngoại tại Đại hội VI của Đảng, những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới đã củng cố một bước tiến vững chắc của Việt Nam trên con đường đưa phương châm đối ngoại của Việt Nam “muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới” của Đại hội VII (năm 1991), “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội IX (năm 2001), “là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(11) của Đại hội XI (năm 2011) và điều này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh trong các Văn kiện Đại hội XII và XIII của Đảng. Qua đó có thể thấy được, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được phát triển theo cả bề rộng lẫn chiều sâu, đem lại nhiều kết quả tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác, phát triển trên toàn thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên trì phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, hai mặt hợp tác và đấu tranh luôn gắn bó và có tác động qua lại với nhau, một mặt, thúc đẩy hợp tác; mặt khác, vẫn phải đấu tranh dưới mọi hình thức, mức độ thích hợp đối với từng đối tượng, trên từng vấn đề, để vừa có thể ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa thiết lập quan hệ với các nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. Chính sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa vừa hợp tác, vừa đấu tranh đã tạo điều kiện để Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ ngày càng nhiều của các lực lượng tiến bộ trên thế giới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh mới, nhận thức rõ sự chuyển dịch không ngừng trong quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa các nước lớn, Đảng ta đã luôn xử lý linh hoạt các vấn đề tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế có liên quan trực tiếp đến nước ta. Đó là trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, Đảng tiếp tục vận dụng và phát triển đường lối đoàn kết quốc tế, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ cơ sở lịch sử, cơ sở pháp lý về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam để cộng đồng quốc tế hiểu rõ quan điểm nhất quán của nước ta về các giải pháp đối thoại hòa bình, dựa trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; đồng thời, qua đó tăng cường tình đoàn kết, đồng thuận với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đối ngoại theo hướng trên là phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, thấm đượm quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng là cơ sở để xác lập đường lối đối ngoại của Đảng ta từ “rộng mở” đến “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, “là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước ta với những xu thế phát triển của thời đại. Điều này lại càng có ý nghĩa trong thời đại hiện nay khi đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đã trở thành nhu cầu khách quan của đời sống quốc tế và ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ dâng hương và phát động thi đua của Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 trước khi lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Thực tế ngày nay cho thấy, quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng linh hoạt và phù hợp với cục diện thế giới cùng xu thế quốc tế hiện nay. Những quan điểm đó đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong đường lối và thực tiễn quan hệ đối ngoại, hướng tới mục tiêu tiếp tục tạo lập môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, vì mục tiêu cao nhất là lợi ích quốc gia - dân tộc. Chính từ đây đã mở ra một trang mới trong lịch sử đối ngoại của nước ta. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc. Quán triệt quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế đa tầng, đan chéo, biến động phức tạp khó lường hiện nay và đang hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn với thế giới, qua đó góp phần xây dựng lòng tin chiến lược trong hợp tác, thúc đẩy phát triển với các quốc gia, góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế.

Có thể khẳng định, quan điểm đoàn kết quốc tế trong “Đường cách mệnh” đã mang lại hiệu quả to lớn, tận dụng được sức mạnh thời đại trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Ngày nay, mặc dù tình hình quốc tế, khu vực và Việt Nam đã có nhiều thay đổi căn bản, nhưng những quan điểm cơ bản về đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa chiến lược và tiếp tục được quán triệt, thấm sâu vào mọi chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, tạo nền tảng vững chắc cho Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả./.

ST.

Không gian chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh mới

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, không gian chiến lược của Việt Nam không ngừng được mở rộng, mang lại nhiều kết quả quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, hiện nay, không gian chiến lược của Việt Nam được cho là đang đứng trước những thách thức lớn bởi xu hướng tập hợp lực lượng theo phe, trục trên thế giới, cũng như sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa.

Cách tiếp cận về không gian chiến lược

Không gian và chiến lược là những phạm trù cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có địa lý và chính trị. Không gian (space) là nhu cầu vật chất cho mọi thực thể sống và tồn tại, được hiểu là môi trường mà trong đó các hoạt động sống diễn ra và được thể hiện ở quy mô, phạm vi của các hoạt động đó. Quan niệm truyền thống về không gian bao gồm đất, biển, trời và vũ trụ (thường gọi là không gian địa - vật lý hay không gian tự nhiên). Đây là một hằng số trong mọi tính toán chiến lược của quốc gia bởi nó là nơi chứa đựng cơ sở vật chất, nền tảng ban đầu cấu thành chính sách và quyền lực của nhà nước. Ngày nay, phạm trù không gian được mở rộng và nhấn mạnh nhiều đến không gian mạng (cyberspace). Thông qua internet, không gian mạng đã trở thành một công cụ hữu hiệu trong tạo dựng và kiểm soát thông tin. 

Trước thế kỷ XVIII, chiến lược (strategy) thường được hiểu là phương cách hay mưu lược để giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh, sau đó dần được mở rộng sang hầu hết các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, nhưng tựu trung, hầu hết đều cho rằng, chiến lược là chương trình, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong lĩnh vực quân sự, chiến lược được hiểu là mưu lược phòng thủ hay tấn công. Còn trong chính trị quốc tế, chiến lược thường được ví như một “kế hoạch trò chơi” hay “một kế hoạch đầy đủ”(7), trong đó chỉ rõ lựa chọn “người chơi” và quyết định quyết sách đối với từng trường hợp cụ thể. Trong kinh tế đối ngoại, chiến lược là kế hoạch, cách thức sử dụng các công cụ kinh tế để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của quốc gia, trong đó có mục tiêu địa - chính trị. Hơn nữa, chiến lược về không gian còn được thể hiện ở những lĩnh vực cụ thể, như chiến lược trên đất liền, chiến lược biển, chiến lược không trung, chiến lược không gian mạng... Phạm trù của các khái niệm này được đề cập gần như trong tất cả các học thuyết về địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế, điển hình là thuyết “vành đai đất vùng ven” của học giả Ni-cô-la Gi. Xpai-cơ-men (Nicholas J. Spykman), “quyền lực biển” của An-phơ-rét Thai-ơ Ma-han (Alfred Thayer Mahan), “sức mạnh trên không” của Alếch-xan-đơ P. đơ Xi-vơ-xki (Alexander P. de Seversky), “bàn cờ lớn” và “trò chơi quyền lực” của Gi. Brê-din-xki (Zbigniew Brzezinski), “địa - quân sự” của Mi-ly-iu-tin (Milyutin), “địa - kinh tế” của trường phái E. Lút-oac  (Edward N. Luttwak)....

Có thể thấy, không gian chiến lược (strategic space) là phạm trù bao trùm của địa - chiến lược, là môi trường mà trong đó con người, xã hội được cung cấp hay được bảo đảm an ninh; có cơ hội để phát triển và ngày càng làm chủ vận mệnh của mình; có vị thế lớn hơn trong cộng đồng quốc tế thông qua các chiến lược, sách lược của mình (thường là của quốc gia) về phát triển không gian đối nội và đối ngoại. Không gian chiến lược vừa có tính khách quan, được cấu thành bởi yếu tố tự nhiên (đất, biển, trời, vũ trụ), khá ổn định, vừa mang tính chủ quan, luôn biến động do tác động của con người và sự biến đổi của thời gian, bối cảnh lịch sử. Chính vì vậy, sức mạnh, tầm ảnh hưởng, sự nông, sâu của không gian chiến lược của một quốc gia trong quan hệ quốc tế không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh tiềm năng của địa lý, mà quan trọng hơn là tác động từ tư duy chiến lược, chính sách phát triển quốc gia và sự tương tác với thế giới bên ngoài.

Ngày nay, không gian chiến lược còn được mở rộng cả trong không gian mạng. Mặc dù không thuộc tính địa - vật lý, nhưng không gian mạng có mối quan hệ chặt chẽ với không gian thực, như đất đai, biển, trời và vũ trụ. Các hệ thống thông tin trên mạng được phổ biến đến con người trên những khu vực không gian, vị trí lãnh thổ nhất định bằng công nghệ thông tin. Vị trí địa lý, quy mô lãnh thổ, địa hình và mật độ dân số trên lãnh thổ là những yếu tố quan trọng cấu thành không gian mạng, là những cơ sở cho xây dựng và kiểm soát các cơ sở dữ liệu lớn (big database) hoặc các ngân hàng dữ liệu (banks database). Chính vì vậy, việc duy trì, mở rộng không gian chiến lược nói chung, bảo đảm chủ quyền thông tin, không gian mạng nói riêng trong bối cảnh cạnh tranh và bùng nổ công nghệ thông tin, xung đột địa - chính trị đang trở thành vấn đề cấp bách đối với mọi quốc gia - dân tộc, trong đó có Việt Nam.

Thời cơ và thách thức phía trước

Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, sự đổi mới về nhận thức, hành động địa - chiến lược của Việt Nam trong hợp tác, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, phát huy sức mạnh tiềm năng của địa lý,... đã và đang làm gia tăng nhanh sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo ra một môi trường chiến lược khá thuận lợi đối với an ninh và phát triển của Việt Nam.

Một là, tầm ảnh hưởng và uy tín đối ngoại của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được mở rộng. Tính đến đầu năm 2021, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 186/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, hợp tác kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực, thiếp lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với 30 quốc gia, trong đó có 17 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với các nước trên thế giới. Đáng chú ý, ngoài việc là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các thể chế hợp tác khu vực và tiểu khu vực, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng sông Mê Công, Việt Nam đã chủ động tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP, năm 2018), FTA Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA, năm 2020) và FTA với quy mô lớn nhất thế giới - Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP, năm 2020). Việt Nam cũng đã và đang tích cực tham gia các cơ chế hợp tác đa phương về quốc phòng - an ninh, như lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về quốc phòng - an ninh trên biển(13). Đặc biệt, Việt Nam đạt nhiều bước tiến quan trọng trong quan hệ với Mỹ trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, giáo dục - đào tạo đến quốc phòng - an ninh. Hơn nữa, việc Việt Nam đăng cai tổ chức thành công cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần thứ hai vào tháng 2-2019, đảm nhiệm và hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2020 - 2021, đã chứng tỏ bản lĩnh Việt Nam trước sự biến động phức tạp, khó lường của môi trường địa - chính trị, địa - kinh tế thế giới. Theo Viện Nghiên cứu Lowy (Ô-xtrây-li-a), năm 2020, sức mạnh và tầm ảnh hưởng của ngoại giao Việt Nam xếp thứ 9 tại khu vực châu Á, tăng 3 bậc so với năm 2019 và đứng thứ hai trong số các nước Đông Nam Á.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc trình Thư ủy nhiệm của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres_Ảnh: Tư liệu

Bên cạnh đó, trong bối cảnh các nước lớn ngày càng tăng cường hợp tác, can dự và cạnh tranh ở khu vực Đông Nam Á, việc Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhất là trong ASEAN, cũng góp phần tạo ra các nguồn lực mới cho sự mở rộng không gian chiến lược đối ngoại của Việt Nam. Hơn nữa, cuộc cách mạng số và đại dịch COVID-19 cũng thúc đẩy Việt Nam tích cực hơn trong đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng hàm lượng chất xám trong các sản phẩm làm ra.

Hai là, sức mạnh kinh tế, quân sự của Việt Nam không ngừng được cải thiện. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Lowy, sức mạnh tổng hợp quốc gia của Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây. Tính đến năm 2020, Việt Nam xếp thứ 12 ở khu vực châu Á về sức mạnh tổng hợp quốc gia và là nền kinh tế lớn thứ 13 ở châu Á và lớn thứ 4 trong ASEAN với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở mức 340 tỷ USD. Theo đánh giá của Hãng định giá thương hiệu Brand Finance (Anh), năm 2020, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam xếp vị trí thứ 35 trong tốp 100 thương hiệu quốc gia có giá trị nhất thế giới. Theo dự báo, đến năm 2030, Việt Nam có thể đứng vào danh sách 29 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Về quân sự, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Lowy năm 2020, Việt Nam xếp thứ 11 trong danh sách các nước có sức mạnh, khả năng quân sự ở châu Á. Còn theo đánh giá của trang Global Firepower, năm 2021, Việt Nam xếp vị trí thứ 24/140 quốc gia được coi là có sức mạnh quân sự, trong đó, xếp thứ 9 về quân số, xếp thứ 35 về sức mạnh hải quân, xếp thứ 41 về sức mạnh không quân, xếp thứ 14 về sức mạnh lục quân. Đáng chú ý, sức mạnh quân sự của Việt Nam không chỉ biểu hiện ở các con số thiết bị, khí tài hay mức độ tinh vi, hiện đại, mà quan trọng là lực lượng quân đội có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Ba là, “sức mạnh tiềm năng” về địa lý đang tăng lên khá nhanh. Trước hết là sức mạnh của không gian biển. Với quyết tâm “phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển”, Việt Nam đang nỗ lực để gia tăng sức mạnh biển. “Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Chính phủ ban hành vào ngày 22-9-2021, đang tạo ra “cú hích” mới cho phát triển kết cấu hạ tầng biển. Cùng với đó, hệ thống đường cao tốc ven biển và các khu kinh tế ven biển đang đi vào hoạt động. Sự phát triển của ngành dầu khí cũng đang đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần duy trì, củng cố an ninh, chủ quyền trên biển của Việt Nam. Ngành kinh tế du lịch biển, đảo của Việt Nam cũng đang có nhiều khởi sắc. Những danh lam thắng cảnh tự nhiên tại các địa phương trên cả nước đang góp phần giúp Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn hàng đầu của khu vực Đông Nam Á. Những nỗ lực của Việt Nam đang làm tăng lợi thế của một quốc gia có bờ biển dài, không gian biển rộng lớn, giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên, nằm ở vị trí chiến lược hàng hải và quân sự ở khu vực Tây Thái Bình Dương.

Về sức mạnh của không gian đất liền, Việt Nam tuy có diện tích đất liền khá khiêm tốn, khoảng 332.000km2, cùng địa hình khá mỏng, nhất là ở khu vực Bắc miền Trung, nhưng lại có lợi thế nằm ở vùng rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, trải dài từ Bắc tới Nam, nơi “cửa ngõ” giao lưu quốc tế của khu vực. Những dự án lớn về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông, đang thúc đẩy nhanh kết nối kinh tế của Việt Nam với các quốc gia láng giềng. Các tuyến đường cao tốc Lào Cai - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Móng Cái - thành phố Hạ Long,... đã và đang được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Mới đây nhất, ngày 1-9-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1454/QĐ-TTg, phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 sẽ hoàn thành khoảng 5.000km đường cao tốc và 172 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài gần 29.000km. Tính đến năm 2021, cả nước có 1.163km đường bộ cao tốc, dự kiến đến năm 2023 sẽ hoàn thành khoảng 916km đang đầu tư, nâng tổng số đường bộ cao tốc trong cả nước lên 2.079km. Tiếp đó, ngày 19-10-2021, Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn 2050”, trong đó nhấn mạnh việc phát triển hệ thống đường sắt cao tốc Bắc - Nam bổ sung cho hệ thống đường sắt hiện có.

Về cơ sở pháp lý và củng cố chủ quyền lãnh thổ, Việt Nam đã ký kết các văn bản pháp lý liên quan đến biên giới và hoàn thành cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc, Lào, cũng như tích cực triển khai cắm mốc và giải quyết các vấn đề biên giới với Cam-pu-chia. Điều này không chỉ góp phần củng cố chủ quyền, an ninh biên giới, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới, mở rộng không gian chiến lược trong quan hệ đối ngoại, trước hết là với các quốc gia láng giềng.

Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, môi trường không gian địa - chiến lược của Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong bối cảnh mới.

Thứ nhất, đó là sự gia tăng xu hướng phân mảng thế giới theo phe, trục; sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa. Cùng với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, xung đột giữa Nga và U-crai-na, đã và đang tác động sâu sắc, toàn diện đến môi trường an ninh, phát triển và hợp tác toàn cầu, cũng như các mối quan hệ quốc tế song phương và đa phương. Về chính trị, cuộc xung đột Nga - U-crai-na làm biến đổi nhanh hơn môi trường địa - chính trị và trật tự thế giới theo hướng phân mảng thành phe, trục, nhóm nước khác nhau. Mỹ và phương Tây đang ráo riết tập hợp lực lượng chống  Nga, Trung Quốc. Điều này được cho là có khả năng khiến Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn và thế giới có thể bước vào cuộc “Chiến tranh lạnh 2.0”. Về kinh tế, quá trình trên đang làm xói mòn hay làm thụt lùi xu thế toàn cầu hóa cũng như chủ nghĩa đa phương, bởi sự gia tăng các lệnh cấm vận, trừng phạt kinh tế, công nghệ từ Mỹ và các nước phương Tây đối với Nga. Điều này làm cho chủ nghĩa dân túy, bảo hộ mậu dịch và chủ nghĩa dân tộc cực đoan ngày càng có chiều hướng gia tăng. Về an ninh, xu hướng các nước lớn gia tăng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn trên cả phương diện quân sự, cũng như sử dụng công cụ kinh tế, công nghệ nhằm trừng phạt các đối thủ, dẫn tới làn sóng chạy đua vũ trang mới, kể cả phát triển vũ khí hạt nhân, có dấu hiệu tăng lên. Cùng với đó, hệ thống quản trị toàn cầu tiếp tục đứng trước nguy cơ suy giảm vai trò trong duy trì an ninh và thúc đẩy hợp tác hòa bình giữa các quốc gia - dân tộc. Hơn nữa, sức ép về an ninh  truyền thống và an ninh phi truyền thống, trong đó có an ninh sức khỏe, an ninh mạng, an ninh môi trường,... đối với các nước đang phát triển đang tăng lên.

Việt Nam nằm ở vị trí tương đối quan trọng trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, có mối quan hệ truyền thống với Nga, U-crai-na và các quốc gia Đông Âu khác. Cuộc khủng hoảng Nga - U-crai-na đang đặt Việt Nam vào tình thế “nhạy cảm” trong quan hệ quốc tế. Không chỉ vậy, Việt Nam và các nước ASEAN cũng gặp không ít khó khăn trong việc củng cố sự đoàn kết nội khối bởi sự khác nhau trong cách tiếp cận, phản ứng của các nước thành viên đối với vấn đề xung đột Nga - U-crai-na. Đồng thời, việc duy trì và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác khu vực cũng đối mặt với trở ngại. Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác, như Hội nghị cấp cao ASEAN+3, Hội nghị cấp cao Đông Á, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ADMM+,... đều có sự tham gia của các nước lớn, các nước đối tác chiến lược của ASEAN, trong đó có Nga. Việc mời Nga tham dự các hội nghị trên và cách thức để các nước lớn cùng bàn thảo các vấn đề an ninh và hợp tác trong khu vực, cũng được xem là một trong những thách thức đang đặt ra đối với ASEAN...

Thứ hai, thách thức từ tình hình trong nước của Việt Nam. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong củng cố vị thế và sức mạnh tổng hợp quốc gia nhưng không gian chiến lược của Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, nhất là trong việc tạo dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ, để phát huy lợi thế và giảm thiểu bất lợi của biển và đất liền. Việt Nam vẫn chưa khai thác một cách hiệu quả “đại lộ giao thông biển”. Cùng với đó, hệ thống giao thông trên bộ, bao gồm cả đường bộ và đường sắt kết nối các cảng biển với các trung tâm kinh tế, cửa khẩu biên giới trên bộ, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, kết nối internet cũng tạo ra những thách thức mới về an ninh mạng. Hơn nữa, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược về không gian an ninh và phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới còn nhiều bất cập. Điều này đòi hỏi cần có sự đổi mới cả nhận thức và hành động về không gian chiến lược nói riêng, địa - chiến lược của Việt Nam nói chung.

Việt Nam cần phát huy sức mạnh tiềm năng của biển và biên giới đất liền thông qua tăng cường xây dựng và kết nối kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, hiện đại hóa hệ thống logistics_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 

Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Câu hỏi được đặt ra hiện nay là làm thế nào để củng cố và mở rộng không gian chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh mới, nhất là để vượt qua những thách thức từ sự biến động phức tạp, khó lường của môi trường - địa chính trị, kinh tế thế giới.

Trước hết, đó là việc giữ được thế “cân bằng”, tự chủ chiến lược trong đối ngoại, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đứng vững trước sự lôi kéo, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương. Đơn cử như, cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, đối đầu Nga - Mỹ và cuộc xung đột Nga - U-crai-na đang diễn ra có khả năng đặt Việt Nam vào tình thế “nhạy cảm” trong ứng xử với các bên liên quan. Chính vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chú trọng củng cố quan hệ với các nước lớn, các nước tầm trung, bạn bè truyền thống cũng như các thể chế hợp tác đa phương khác nhau, trong đó có ASEAN. Cùng với đó, Việt Nam cần kiên định chính sách quốc phòng - an ninh “bốn không”; kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược trong ứng xử với các đối tác, đối tượng; chủ động thích ứng với mọi biến động mới, trong đó có phương án dự phòng, phương án tác chiến khác nhau để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia phòng khi chiến tranh nổ ra. 

Tiếp đến, Việt Nam cần phát huy hơn nữa sức mạnh tiềm năng của biển và biên giới đất liền thông qua tăng cường xây dựng và kết nối kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, hiện đại hóa hệ thống logistics. Điều này sẽ góp phần làm tăng vị thế của một quốc gia nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương, có bờ biển dài hướng ra Biển Đông và có “cửa ngõ” thông thương với nhiều quốc gia, như Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia...

Đồng thời, Việt Nam cần có những nỗ lực mới trong việc xác lập, bảo vệ và mở rộng chủ quyền không gian mạng, trong đó không chỉ hoàn thiện cơ sở pháp lý, chiến lược về vấn đề này, mà quan trọng hơn là đẩy mạnh xây dựng cơ sở và kết nối dữ liệu số; tăng cường công tác an ninh, bảo mật; ưu tiên nguồn lực cho phát triển công nghệ thông tin, chuyển đổi số quốc gia, cũng như chú trọng hơn về hợp tác quốc tế, trong đó có thông tin đối ngoại. Việc kết hợp phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm quốc phòng - an ninh, cải thiện an sinh xã hội, nhất là ở các khu vực biên giới, biển, đảo cũng cần được thúc đẩy. Hơn nữa, cần phát huy và kết hợp các công cụ khác nhau, trong đó dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Cùng với đó, Việt Nam cần củng cố, khơi dậy hơn nữa ý chí, lòng tự hào, khát vọng phát triển của dân tộc, trong đó có cả việc kết nối, cố kết dân tộc của gần 100 triệu người dân Việt Nam trong nước với hơn 5 triệu đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài cùng chung tay đưa Việt Nam nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia tầm trung, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Có thể nói, sự đổi mới về nhận thức hành động địa - chiến lược của Việt Nam trong hợp tác, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, phát huy sức mạnh tiềm năng của địa lý,... kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay đã và đang góp phần làm gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo ra một môi trường chiến lược khá thuận lợi đối với an ninh và phát triển của nước ta. Tuy nhiên, không gian chiến lược đối với an ninh và phát triển của Việt Nam cũng đang đứng trước không ít thách thức bởi sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, cuộc khủng hoảng Nga - U-crai-na và đối đầu Nga - Mỹ cùng phương Tây. Kết quả của quá trình trên đang khiến thế giới có xu hướng phân mảng, kéo theo sự suy giảm của chủ nghĩa đa phương và toàn cầu hóa. Việt Nam đang hội nhập khá sâu rộng vào hệ thống toàn cầu, nhất là về kinh tế; đồng thời, là nước nằm ở vị trí chiến lược khá “nhạy cảm” trong cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và cũng là nơi còn chứa đựng bên trong cả những vấn đề chính trị - tư tưởng của thời đại, nên sự tác động của quá trình trên được đánh giá là tương đối mạnh mẽ. Để vượt qua những thách thức trên, Việt Nam cần tiếp tục đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược trong ứng xử với các đối tác, đối tượng; đồng thời, phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó có sức mạnh của tiềm năng địa lý và khối đoàn kết dân tộc, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho không gian địa lý và không gian mạng, cũng như có các phương án khác nhau để thích ứng với sự biến đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới./.

st.

Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc”(1). Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước, việc tích cực, chủ động triển khai chủ trương hội nhập quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng sẽ góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres trong chuyến thăm chính thức Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam tham gia Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Quá trình phát triển nhận thức về hội nhập quốc tế qua các kỳ Đại hội Đảng

Khái niệm “hội nhập” được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996): “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”(2). Đến Đại hội IX (năm 2001), chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(3). Quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện cụ thể trong Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27-11-2001, của Bộ Chính trị khóa IX “Về hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội X của Đảng (năm 2006) tái khẳng định chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và nêu định hướng “đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”(4). Với định hướng này, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội được đẩy mạnh, nhất là trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và do ASEAN làm chủ đạo. Đến Đại hội XI, sau 10 năm hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta đã có bước phát triển tư duy quan trọng với việc chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”(5), tức là mở rộng phạm vi, lĩnh vực và tính chất của hội nhập. Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về hội nhập quốc tế”. Đây là văn kiện có ý nghĩa chiến lược, thống nhất nhận thức về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, xác định mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và phương hướng nhiệm vụ hội nhập quốc tế của Việt Nam giai đoạn tới.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 5-11-2016, “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(6).

Trước bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động khó đoán định, cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, xu hướng hình thành cục diện đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc ngày càng rõ hơn, tác động sâu rộng và toàn diện đến cục diện thế giới, khu vực, quan hệ quốc tế và sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới, bên cạnh việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, yếu tố “linh hoạt” và “hiệu quả” cần được tính đến. Thứ nhất, yếu tố “linh hoạt” thể hiện sự nhạy bén, phản ứng mau lẹ, uyển chuyển với những thay đổi của tình hình thế giới và khu vực, bảo đảm khả năng làm chủ cũng như quản lý được tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện của Việt Nam. Thứ hai, yếu tố “hiệu quả” bao gồm việc đạt được các thành tựu, kết quả tích cực từ quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đi kèm với việc bảo vệ/bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc một cách cao nhất. Việc bổ sung hai yếu tố “linh hoạt” và “hiệu quả” vào chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện của Đảng ta sẽ đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi khách quan của thực tiễn, đồng thời thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta về vấn đề hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Các cơ sở, nền tảng để Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, để hoạch định và triển khai có kết quả các chủ trương, chính sách hội nhập quốc tế, các quốc gia luôn phải xuất phát từ thực lực của đất nước, thực trạng hội nhập quốc tế, từ nhận thức, đánh giá về các hệ thống thế giới mà quốc gia đang tham gia hội nhập quốc tế; đồng thời, phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.

Thực lực của Việt Nam khi đề ra chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả”(7). Khi đề ra chủ trương này, Việt Nam đã trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(8).

Điều đó cho thấy, Việt Nam hiện đã có thực lực đủ mạnh để hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả, thể hiện rõ nét trước hết ở quy mô của một nền kinh tế với gần 100 triệu dân và GDP gần 400 tỷ USD(9), đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục nhiều năm(10). Thực lực đó còn là sự ổn định chính trị - xã hội dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; có vị thế, vai trò của một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; ảnh hưởng ngày càng lớn, tiếng nói ngày càng quan trọng của Việt Nam trong ASEAN và nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế; là sự tham gia của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, tiêu chuẩn cao, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA)... Thực lực đó cũng thể hiện ở tiềm lực quốc phòng và an ninh được nâng cao, ở thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân...

Thực lực của đất nước luôn là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong tiến trình hội nhập quốc tế. Thực lực càng lớn, càng mạnh, thì càng cho phép có những bước đi hội nhập một cách chủ động, tích cực và linh hoạt, trong khi độc lập, tự chủ được tăng cường. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, nếu không có thực lực thì “ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”(11); “thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”(12). Việc phát huy nội lực luôn được Đảng ta nhấn mạnh trong các chủ trương về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực lực của đất nước có được sau hơn 35 năm đổi mới chính là cơ sở và là động lực để Việt Nam đi vào giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả trong những năm tới để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Thực trạng hội nhập quốc tế của Việt Nam

Thực trạng hội nhập quốc tế của một nước luôn được đánh giá một cách định tính theo hai chiều “rộng - hẹp” và “nông - sâu”, tùy theo phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của nước đó trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế, trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế thế giới và nền văn minh nhân loại.

Theo chiều “rộng - hẹp”, có ba cấp độ hội nhập là: 1- Hội nhập hẹp, khi quốc gia hội nhập chỉ tham gia một vài lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; 2- Hội nhập tương đối rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia phần lớn các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; 3- Hội nhập rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia tất cả các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế.

Theo chiều “nông - sâu”, cũng có ba cấp độ hội nhập là: 1- Hội nhập nông, khi quốc gia hội nhập hầu như không có vị trí, vai trò gì trong cộng đồng quốc tế; 2- Hội nhập tương đối sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò nhất định trong cộng đồng quốc tế; 3- Hội nhập sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò đáng kể trong cộng đồng quốc tế.

Quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam được khẳng định mạnh mẽ từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có nhiều nỗ lực thiết lập các mối quan hệ bang giao với các nước trên thế giới, tham gia nhiều mặt của đời sống xã hội quốc tế, cộng đồng thế giới. Ngay từ tháng 1-1946, nhân danh Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư đến Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc bày tỏ nguyện vọng Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc(13). Có thể nhắc đến những dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trước Đại hội IX của Đảng (năm 2001), như thiết lập quan hệ ngoại giao với tuyệt đại đa số các nước trên thế giới và quan hệ kinh tế - thương mại với hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; trở thành thành viên của Liên hợp quốc (năm 1977), Hội đồng tương trợ kinh tế (năm 1978), Liên minh Nghị viện thế giới (năm 1979), Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol) (năm 1991), ASEAN (năm 1995), Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) (năm 1996), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) (năm 1998)...

Tham gia vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực, đã trở thành một nước xuất khẩu gạo (từ năm 1989) và hiện nay là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với lượng xuất khẩu năm 2021 đạt 6,2 triệu tấn; và theo kế hoạch năm 2022, Việt Nam xuất khẩu gạo đạt khoảng 6,3 đến 6,5 triệu tấn(14). Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Năm 2018, Việt Nam đã tham gia ký kết CPTPP với tư cách là một trong 11 nền kinh tế sáng lập.

Từ việc gia nhập WTO đến việc đàm phán, ký kết CPTPP, Việt Nam đã có bước tiến dài trong hội nhập quốc tế, trở thành một nước trực tiếp tham gia định hình khuôn khổ, luật lệ, chiều hướng vận động của nền kinh tế thế giới. Điều này một lần nữa được khẳng định, khi Việt Nam là một trong 14 nước tham gia đàm phán về Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF). Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ; đã ký kết gần 100 hiệp định thương mại song phương, hơn 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 70 hiệp định tránh đánh thuế hai lần...

Sản xuất các sản phẩm công nghiệp hiện đại có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Trong ảnh: Sản xuất và gia công bảng vi mạch tích hợp sử dụng cho điện thoại di động và các sản phẩm điện tử thông minh tại Công ty TNHH Hana Micron Vina 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc)_Ảnh: TTXVN

Tham gia vào nền chính trị thế giới, Việt Nam để lại nhiều dấu ấn và thể hiện là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021); hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016 và nhiệm kỳ 2023 - 2025). Việt Nam đã đăng cai và chủ trì tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như Hội nghị cấp cao Tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp (năm 1997), Hội nghị cấp cao ASEAN (các năm 1998, 2010 và 2020), Hội nghị cấp cao ASEM (năm 2005), Hội nghị cấp cao APEC (các năm 2006 và 2017)... Từ năm 2014, Việt Nam đã cử một số sỹ quan và đơn vị quân đội, sỹ quan công an tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Đóng góp tích cực cho nền văn minh nhân loại, Việt Nam có ba di sản thiên nhiên thế giới(15), 15 di sản văn hóa thế giới (vật thể và phi vật thể)(16) và bốn di sản tư liệu thế giới(17) được UNESCO vinh danh. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được UNESCO vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.

Trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng sau khi Liên Xô tan rã, đường lối và thực tiễn đổi mới thành công ở Việt Nam cũng được các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới và bạn bè quốc tế ghi nhận như một đóng góp tích cực của Việt Nam vào tiến trình phát triển hòa bình, ổn định của thế giới. Đại hội XXIII của Đảng Cộng sản Nhật Bản (tháng 1-2004) nhận định: “Quá trình tìm tòi mới tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua kinh tế thị trường ở Việt Nam, Trung Quốc đang trở thành một hướng đi quan trọng của thế giới trong thế kỷ XXI”(18). Hội thảo quốc tế “Về triển vọng của chủ nghĩa xã hội”, họp tại Pra-ha (Cộng hòa Séc), tháng 4-2005, với sự tham gia của 39 đảng cộng sản, công nhân và cánh tả từ 34 nước trên thế giới, cho rằng: “Sự phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và việc gắn những ưu việt của chính quyền nhân dân với những thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật, với sự tham gia tích cực vào thị trường quốc tế... của Trung Quốc và Việt Nam là sự bổ sung độc đáo vào việc phát triển lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội”(19).

Có thể thấy, từ trọng tâm ban đầu là lĩnh vực kinh tế, tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực. Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng quốc tế, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội... Điều đó có nghĩa là Việt Nam đã hội nhập rộng và tương đối sâu vào nhiều mặt đời sống quốc tế. Đây là cơ sở thuận lợi cho Việt Nam bước sang giai đoạn mới - giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, với trọng tâm là giành lấy vị trí cao hơn trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại. Giai đoạn mới trong tiến trình hội nhập quốc tế càng đòi hỏi Việt Nam phải chủ động hơn, tích cực hơn.

Nhận thức của Việt Nam về thế giới ngày nay

Quá trình hội nhập quốc tế của một nước là việc nước đó tham gia vào các mặt của đời sống cộng đồng quốc tế và trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới, mà trước hết và bao trùm là của nền chính trị thế giới, nền kinh tế thế giới và nền văn minh nhân loại. Chính vì vậy, nhận thức đúng về thế giới luôn là một căn cứ quan trọng để các nước hoạch định và triển khai các bước đi hội nhập quốc tế.

Với tư cách là một hệ thống chỉnh thể, thế giới luôn trong trạng thái không ngừng vận động, vừa tuân theo các quy luật và xu thế khách quan, vừa chịu sự tương tác phức tạp giữa các thành tố cấu thành hệ thống, mà trước hết là giữa các nước, giữa các nền kinh tế và giữa các nền văn hóa. Điều đó làm cho sự vận động của thế giới luôn hết sức phức tạp. Hầu như không thể xác định được chính xác quỹ đạo vận động, mà chỉ có thể xác định chiều hướng vận động của thế giới.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã đưa ra nhận định tổng quát về bối cảnh quốc tế cho cả thời kỳ quá độ lâu dài để Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận định đó thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng về thế giới ở giai đoạn hiện nay của thời đại lịch sử(20), với những xu thế lớn trong sự vận động của thế giới và xã hội loài người, như: Cách mạng khoa học và công nghệ; quá trình toàn cầu hóa; xu thế hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển; đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp; xu thế phát triển năng động của châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á; xu thế hợp tác đa phương quốc tế trong giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách...

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) đã có nhận định khái quát về thế giới đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045. Đó là những nhận định về: xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; những thách thức lớn đối với luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu; xu hướng đa cực, đa trung tâm của cục diện thế giới; khung khổ vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn giữa các nước lớn; sự gia tăng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế; khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài của kinh tế thế giới do tác động của đại dịch COVID-19; sự thay đổi các chuỗi cung ứng do các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài; sự dịch chuyển các chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu dưới tác động của cạnh tranh kinh tế...; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những vấn đề toàn cầu diễn biến phức tạp; vị trí chiến lược ngày càng quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á là khu vực diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn; hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột; ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn...

Thực tiễn vận động của thế giới hiện nay cho thấy những nhận định, đánh giá của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Đại hội XIII của Đảng là đúng đắn. Đây là căn cứ quan trọng để Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, có hiệu quả.

Các yêu cầu đặt ra trong triển khai hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả của Việt Nam

Thứ nhất, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Đây là vấn đề mang tầm chiến lược của mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nếu không giữ được độc lập, tự chủ, thì quốc gia - dân tộc sẽ không thể hội nhập sâu, không thể có được vị trí, vai trò trong chỉnh thể thế giới, mà sẽ chỉ là một bộ phận lệ thuộc vào các cấu phần khác của chỉnh thể thế giới. Ngược lại, càng hội nhập sâu, càng có vị trí, vai trò trong chỉnh thể thế giới, thì quốc gia hội nhập càng có điều kiện củng cố, tăng cường và phát huy độc lập, tự chủ của mình, càng có thể chủ động và tích cực tương tác với các cấu thành khác trong chỉnh thể thế giới, thực hiện tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế và củng cố, tăng cường, phát huy độc lập, tự chủ thông qua hội nhập quốc tế là hai mặt quan hệ biện chứng; cái này là tiền đề cho cái kia. Muốn hội nhập quốc tế có hiệu quả, nhất thiết phải giữ vững độc lập, tự chủ. Muốn củng cố, tăng cường và phát huy độc lập, tự chủ, nhất thiết phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Xuân Chiến và Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Jean-Pierre Lacroix cùng các đại biểu thăm triển lãm ảnh tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ với hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, thường xuyên xem xét, đánh giá những tác động của các bước đi hội nhập đến sự phát triển ổn định của đất nước để có quyết sách phù hợp.

Nhìn một cách tổng thể, tiến trình hội nhập quốc tế luôn thúc đẩy sự phát triển của quốc gia hội nhập, khi gắn kết sự phát triển của quốc gia với các xu thế phát triển của thế giới. Đây cũng là một nội dung quan trọng của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tuy nhiên, không phải lúc nào các bước đi hội nhập cũng tác động thuận đến sự ổn định và phát triển của đất nước; có thể có cả những tác động không thuận, nhất là khi hội nhập quốc tế không dựa trên thực lực của đất nước hay không giữ vững được độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Vì vậy, phải luôn xem xét, cân nhắc cụ thể những tác động bất lợi có thể có của mỗi bước đi hội nhập đến sự ổn định và phát triển của đất nước để có quyết sách tối ưu.

Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù sự vận động của thế giới trong những năm tới sẽ hết sức phức tạp, nhất là về kinh tế và chính trị, an ninh, song Việt Nam đang đứng trước thời cơ chiến lược để phát triển, hướng tới các mục tiêu đã đề ra để trở thành một nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Vấn đề cơ bản nhất là ở chỗ, con đường phát triển của Việt Nam phù hợp với thực tiễn đất nước và với các quy luật phát triển của xã hội loài người, các xu thế lớn trong sự vận động của thế giới.

Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và quy luật tiến hóa của xã hội loài người. Trải qua đấu tranh lâu dài, gian khổ, Việt Nam đã giành được độc lập dân tộc; độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.

Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Đảng ta luôn nhấn mạnh yêu cầu: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”(21). Trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật kinh tế khách quan, Việt Nam đã và đang xây dựng, tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bắt nhịp với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, xác lập được vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định cả trong nền kinh tế thế giới, cả trong nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại.

Xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và phù hợp với xu thế lớn trên thế giới là hòa bình, hợp tác và phát triển, từ Đại hội VII (năm 1991), Việt Nam đã chuyển hướng chiến lược đối ngoại, đã đề ra và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Nhờ đó, Việt Nam đã trở thành bạn, đối tác tin cậy của các nước trên thế giới và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Tuân theo quy luật về sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội loài người với những bước nhảy vọt gắn với các cuộc cách mạng công nghiệp, Việt Nam đã sớm nhận thức về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quyết tâm tận dụng các cơ hội phát triển mà cuộc Cách mạng này mang lại.

Sự phù hợp của con đường phát triển đất nước với các quy luật khách quan, với các xu thế lớn trong sự vận động của thế giới là nhân tố rất quan trọng để Việt Nam giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, là cơ sở khách quan để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong thời gian tới, mặc dù tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, khó lường, nhưng các quy luật khách quan, các xu thế lớn vẫn tiếp tục vận động, tạo thành thời cơ chiến lược cho sự phát triển của Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ chiến lược này để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Một trong những phương hướng phát triển quan trọng là chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả./.

ST.