Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay.

 - Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Những tư liệu, bản đồ có tính xác thực lịch sử cụ thể và giá trị pháp lý cao đã thể hiện một cách minh định lịch sử khai phá, xác lập, quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua các thời kỳ. Do đó, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyền truyền là rất cần thiết, đặt trong bối cảnh công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trên mặt trận thông tin - truyền thông.

 

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: TTXVN

1. Tổng quan về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là hệ thống các bản đồ, tư liệu, hình ảnh đặc sắc, có giá trị lịch sử và pháp lý cao, thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu, kỹ lưỡng; được Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành và các nhà khoa học, các nhà sưu tầm trong và ngoài nước tiến hành sưu tầm, thẩm định các tư liệu, bản đồ của Việt Nam, nước ngoài để xây dựng Bộ bản đồ và tư liệu này. Nguồn tư liệu và bản đồ có sự đóng góp rất lớn từ các đơn vị như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa... cùng một số tổ chức, cá nhân khác.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” gồm các bản đồ, tư liệu, hình ảnh được sắp xếp thành các nhóm chính: Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ và bản đồ cổ Việt Nam; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI - XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI - XX) xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975; Một số tư liệu, hình ảnh về biển, đảo và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” thể hiện qua các nội dung chính sau:

Trước hết, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy, Nhà nước Việt Nam là chủ thể duy nhất đã khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII bằng con đường hòa bình, liên tục và không có tranh chấp đến năm 1909. Điều này đã được thể hiện qua các nguồn sử liệu phong phú như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn năm 1686; Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776; Hoàng Việt địa dư chí (1833); Đại Nam thực lục chính biên (1844 - 1848); Việt sử cương giám khảo lược (1876); Quốc triều chính biên toát yếu (1910)… Các tài liệu chính sử của Nhà nước Việt Nam như Đại Nam thực lục.

Đặc biệt, nội dung về các hoạt động quản lý và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được phản ánh đậm nét và cụ thể trong các Châu bản triều Nguyễn. Đây là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn, có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan nhà nước nên mang tính pháp lý rất cao.

Thứ hai, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định và ghi nhận tại các hội nghị quốc tế quan trọng mà không có bất kỳ sự phản đối nào từ các quốc gia tham dự.

Tại hội nghị San Francisco (từ ngày 4 đến 8-9-1951, với sự tham dự của 51 quốc gia), Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng chính quyền Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố: “...để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn thuộc về Việt Nam”(1) mà không gặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu quốc tế nào.

Theo diễn tiến lịch sử, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 và Tuyên ngôn Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô cho đến Hòa ước San Francisco (ký ngày 8-9-1951), các văn kiện pháp lý quốc tế nói trên đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Thứ ba, các tư liệu, bản đồ từ phương Tây đã mặc nhiên khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những thực thể địa lý thuộc lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời, những bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc do phương Tây và chính Trung Quốc xuất bản đều xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tiêu biểu như bản đồ của anh em nhà Van Langren (người Hà Lan) vẽ năm 1595. Bản đồ vẽ khá chi tiết, hình vẽ Hoàng Sa rõ ràng và điển hình, ghi rõ I.de Pracel. Quần đảo Hoàng Sa cùng với dải bãi ngầm và bãi cát Hoàng Sa được phân biệt rõ ràng với các đảo Pulo S.polo (Cù Lao Chàm), Pulo Catam (Cù Lao Ré), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh)… ở ven bờ.

Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, do Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd vẽ và nằm trong phụ bản của cuốn sách Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latinh - An Nam), được xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) năm 1838 có ghi dòng chữ Latinh: Paracel seu Cát Vàng, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng” để chỉ quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Đặc biệt là bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869), nhà địa lý học người Bỉ, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn, xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) vào năm 1827(2). Tờ bản đồ Partie de la Cochinchine ở tập 2 khẳng định Paracels (quần đảo Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa bản đồ quốc tế và Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều bản đồ Trung Quốc do phương Tây vẽ đều ghi nhận lãnh thổ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Bản đồ Trung Quốc do các nhà nước Trung Quốc xuất bản và phát hành chính thức cũng đều thể hiện nhất quán như vậy. Đáng chú ý là bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (do nhà Thanh xuất bản năm 1904), thể hiện lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn ở đảo Hải Nam. “Tấm bản đồ hơn trăm năm này không chỉ mang đến những thông tin lịch sử giá trị mà tự thân nó nói lên một thông điệp rằng, từ năm 1904, trong nhận thức của người Trung Quốc, cực nam đất nước của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đồng nghĩa, đây là một bằng chứng tư liệu do chính Trung Quốc xuất bản khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc”(3).

Ngoài ra, Bộ bản đồ và tư liệu còn có các bản đồ Việt Nam từ thế kỷ XVI - XIX ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu biểu như Đại Nam nhất thống toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa bằng chữ Hán. Bản đồ vẽ hình thế tỉnh Quảng Ngãi trong tập Nam Việt bản đồ, biên soạn vào thế kỷ XIX. Chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm, ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi.

Các tư liệu của phương Tây xuất bản từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó có những trang văn bản miêu tả về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quá trình người Việt đến hai quần đảo này để khai thác hải sản, cắm mốc chủ quyền và thực thi chủ quyền. Tiêu biểu như sách Tableau de la Cochinchine do E. Cortambert và Léon de Rosny biên soạn, xuất bản tại Paris năm 1862, viết về vương quốc Cochinchine. Trang 7 liệt kê Paracel trong bảng miêu tả về Cochinchine và ghi rõ: “đối diện với Huế là quần đảo Paracels tức là Kat-vang (Cát Vàng)”, khẳng định Paracels (tức quần đảo Hoàng Sa) chắc chắn thuộc về Việt Nam.

Về thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975, Bộ bản đồ và tư liệu có các hình ảnh về quá trình chiếm giữ và thực thi chủ quyền của chính quyền Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương trong những năm 1936 - 1954. Đây là những tư liệu được Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao cung cấp và một số hình ảnh hiện đang được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tiêu biểu như Nghị định số 4702-CP ngày 21-12-1933 của Thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký (Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa). Hình ảnh tấm bia khẳng định chủ quyền do một đơn vị lính bảo an người Việt dựng trên đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1938. Trên bia có khắc dòng chữ: “République Francaise - Empire d’Annam - Archipels des Paracels 1816 - Ile de Pattle 1938” (Cộng hòa Pháp - Đế chế An Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1938).

Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có các công văn, phiếu trình, văn bản hành chính liên quan đến công tác quản lý, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như cử quân đội bảo an người Việt ra đóng giữ ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa; công văn và tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về việc vi phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Cùng với đó, Bộ bản đồ và tư liệu còn có những tài liệu, hình ảnh, thể hiện sự quan tâm, tình cảm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài với những hành động thiết thực, chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Điều này đã khẳng định sự đoàn kết, quyết tâm, ý chí trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Trong những năm qua, Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được giới thiệu, thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên cả nước; đồng thời giới thiệu đến đông đảo bà con người Việt ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Trong đó, “Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 63 tỉnh thành, phố trực thuộc Trung ương; 24 đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng kiểm ngư; 11 huyện, thành phố”(4).

Tính riêng trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 5 đại học, trường đại học trên toàn quốc”(5), thu hút sự tham gia tìm hiểu về biển, đảo đất nước ở giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.

Để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam gắn với biển, đảo đến bạn bè quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 3 triển lãm ảnh, tư liệu với chủ đề “Việt Nam đất nước, con người - Nhìn từ biển, đảo” tại nước ngoài (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Séc và Liên bang Nga), trong đó có những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bên cạnh đó, để đổi mới, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền qua ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng nội dung triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; từng bước nâng cấp công nghệ, chất lượng đồ họa, bổ sung tư liệu dựa trên cơ sở dữ liệu được số hóa nhằm thực hiện có hiệu quả việc thông tin, tuyên truyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông đến các đối tượng tuyên truyền ở mọi lúc, mọi nơi, thông qua mạng internet, thiết bị di động thông minh.

Giai đoạn 2015 - 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 61 cuộc triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “Tổ chức triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 28 trường trung học phổ thông trên địa bàn 10 tỉnh trên toàn quốc”(6).

Trên cơ sở dữ liệu của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” được Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp, trao tặng (là bản sao chụp và phần mềm số của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”), nhiều địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo cán bộ, đảng viên, người lao động và nhân dân trên địa bàn.

Đơn cử như tại Khánh Hòa, “Giai đoạn 2017 - 2020, Sở Thông tin và Truyền thông đã tổ chức triển lãm lưu động và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tại 7 huyện, thị xã, thành phố. Qua 7 đợt triển lãm (triển lãm kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương), đã đón tiếp 12.229 lượt người đến tham quan, tìm hiểu về triển lãm… Tổ chức 3 đợt triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nha Trang, thu hút 4.750 giáo viên và học sinh tham dự”(7).

Nguồn tư liệu quý từ Bộ bản đồ và tư liệu đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học, xây dựng nội dung tuyên truyền về biển, đảo… góp phần không nhỏ nhằm lan tỏa giá trị Bộ bản đồ và tư liệu này đến mọi tầng lớp nhân dân những năm gần đây. Ngoài ra, những bản đồ, tư liệu quý này đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà báo, phóng viên… lựa chọn, sử dụng trong các bài viết, nghiên cứu cũng như đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là trên không gian mạng, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.

Nhìn tổng thể, công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

Một là, Bộ bản đồ và tư liệu là những minh chứng sống động, xác đáng, giúp cho đông đảo nhân dân có một cái nhìn đầy đủ, trung thực về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Hai là, Bộ bản đồ và tư liệu đã góp phần khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Qua đó khắc sâu ý thức về chủ quyền quốc gia trên biển đối với mỗi người dân Việt Nam; nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Ba là, Bộ bản đồ và tư liệu đã giúp đồng bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế có cách nhìn khách quan, trung thực về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Điều này góp phần gắn kết bà con kiều bào với nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo quê hương cũng như tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với lập trường, ứng xử và hành động của Việt Nam liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bốn là, những bằng chứng lịch sử và pháp lý mà Bộ bản đồ và tư liệu thể hiện là căn cứ vững chắc để Việt Nam đấu tranh bằng con đường ngoại giao, pháp lý, bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời bác bỏ những yêu sách chủ quyền vô căn cứ từ phía Trung Quốc.

Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” cũng có một số nội dung cần quan tâm:

Thứ nhất, bản sao chụp Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được Bộ Thông tin và Truyền thông trao tặng cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị trên cả nước. Tuy nhiên, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu vào hoạt động triển lãm, thông tin, tuyên truyền chưa có sự đồng nhất, mà còn tùy thuộc vào cách thức tổ chức và sự quan tâm của mỗi tổ chức, đơn vị.

Thứ hai, Bộ bản đồ và Tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” hiện có là những bản đồ, tư liệu đã được thẩm định nghiêm túc, kỹ lưỡng. Tuy nhiên hiện nay, trên thị trường và không gian mạng có rất nhiều tư liệu trôi nổi liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa chưa được kiểm chứng về giá trị và tính xác thực. Điều này ảnh hưởng không nhỏ về tính đồng nhất đối với những bản đồ, tư liệu thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, nội dung bộ bản đồ và tư liệu trong những năm qua thường được tập trung trưng bày, giới thiệu tại các địa phương, đơn vị, các trường học, trường đại học… còn tại các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học các cấp chưa được chú trọng thông tin, tuyên truyền; mặc dù đây là kênh có thể phổ biến, lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa đến công chúng cũng như giới học thuật.

Thứ tư, hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là lập trường, quan điểm về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chưa được xây dựng thành một chủ đề riêng, trình bày đầy đủ và bao quát.

Thứ năm, công tác thông tin, tuyên truyền về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đối với đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế chưa được tổ chức nhiều để tạo sự lan tỏa mạnh mẽ về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông.

3. Một số giải pháp phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Hiện nay, các nước trong và ngoài khu vực đều có chiến lược tuyên truyền về bảo vệ các chính sách của mình tại biển Đông, phản bác yêu sách của các nước khác, làm dư luận hiểu không đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Thực tế này đặt ra những yêu cầu mới về công tác thông tin, tuyên truyền về biển, đảo nói chung và phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” nói riêng, do đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách bài bản, chắc chắn ngay từ cấp cơ sở. Theo đó, tại mỗi đơn vị hành chính cấp xã, cần có một bản sao Bộ bản đồ và tư liệu, đồng thời bố trí không gian trưng bày phù hợp, tùy điều kiện mỗi địa phương. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tuyên truyền biển, đảo cho cán bộ cấp cơ sở phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền nhằm thông tin sâu rộng về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo nhân dân.

Về lâu dài, đây là điều cần thiết để những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được đông đảo nhân dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó, giúp mỗi người dân có được những kiến thức cơ bản về chủ quyền quốc gia trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đồng thời, những tư liệu sinh động từ Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là điều kiện cần thiết để mỗi người dân nhận thức sâu sắc hơn giá trị thiêng liêng về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đã được định hình xuyên suốt chiều dài lịch sử; từ đó bồi đắp ý chí, nuôi dưỡng quyết tâm đối với công cuộc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Hai là, kịp thời chuẩn hóa tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm qua, đặc biệt là khi Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 11-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác sưu tầm, thẩm định, công bố, sử dụng các tài liệu, bản đồ, ấn phẩm và khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức đã sưu tầm và hiến tặng tài liệu liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam được ban hành, công tác sưu tầm, thẩm định các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tiến hành nghiêm túc, cẩn trọng, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, chuyên gia nghiên cứu về biển, đảo.

Trên cơ sở những kết quả sưu tầm, thẩm định, cần chuẩn hóa các tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả về hình thức lẫn giá trị khoa học, pháp lý; đồng thời bổ sung vào Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách đầy đủ, toàn diện.

Bên cạnh đó, nguồn tư liệu, bản đồ sau khi được chuẩn hóa cần được xây dựng thành cơ sở dữ liệu số một cách hệ thống và được cập nhật trên các trang thông tin của các cơ quan, tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, nghiên cứu, tuyên truyền về biển, đảo. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, tra cứu tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa một cách nhanh chóng, dễ dàng; tránh được việc viện dẫn, sử dụng tư liệu về Hoàng Sa, Trường Sa trôi nổi trên không gian mạng, chưa được kiểm chứng hoặc chứa yếu tố phản ánh sai lệch chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Ba là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu một cách khoa học, có trọng tâm, trọng điểm. Trong bối cảnh hiện nay, ngoài việc trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu theo kế hoạch thường niên và các sự kiện quan trọng hằng năm của mỗi tổ chức, đơn vị; cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giới thiệu Bộ bản đồ và tư liệu, đặc biệt là các tư liệu mới phát hiện, bổ sung… tại các diễn đàn học thuật. Đây là một kênh quan trọng giúp cho việc lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến giới nghiên cứu… từ đó thúc đẩy việc minh chứng, khẳng định chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông trên các diễn đàn, ấn phẩm khoa học.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tổ chức các đợt trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu tại nước ngoài nhiều hơn, hướng đến đối tượng là bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài. Trên cơ sở Bộ bản đồ và tư liệu hiện có, nên có sự lựa chọn những tư liệu, bản đồ, hình ảnh tiêu biểu của mỗi chủ đề; đồng thời biên dịch sang ngôn ngữ các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, công tác, học tập và lao động để xây dựng thành ấn phẩm thông tin phù hợp. Qua đó, mỗi người Việt ở nước ngoài đều có thể sử dụng, giới thiệu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đến bạn bè quốc tế một cách thiết thực, hiệu quả.

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống tư liệu về chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông cũng như chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một nội dung rất quan trọng, cần được sắp xếp khoa học, hợp lý theo diễn tiến lịch sử, thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Đồng thời, quan điểm, chính sách và hành động của Việt Nam giai đoạn gần đây cần được khắc họa cụ thể, rõ nét nhằm thể hiện tính chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế cũng như tinh thần hòa hiếu của Việt Nam trong giải quyết các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.

Điều này góp phần thể hiện ý chí, quyết tâm trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; qua đó vừa củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước trên Biển Đông, vừa lan tỏa tính hợp pháp, chính nghĩa, chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam đến bạn bè quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam trong chính sách, lập trường, hành động và ứng xử đối với các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là bằng chứng xác đáng, đanh thép khẳng định chủ quyền hợp pháp, không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao nhận thức của nhân dân về vấn đề chủ quyền biển, đảo đất nước; thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đến đông đảo bạn bè quốc tế; đồng thời đấu tranh, phản bác với những quan điểm xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là cơ sở vững chắc nhằm góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 8-5-2023; Ngày bình duyệt: 23-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1) Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới quốc gia: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2013, tr.42

(2) Bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869) biên soạn, gồm 6 tập: Châu Âu (tập 1), Châu Á (tập 2), Bắc Mỹ (tập 3), Nam Mỹ (tập 4), Châu Phi (tập 5) và Châu Úc (tập 6).

(3) Mai Hồng - Lê Trọng: Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr.57.

(4) Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Thuyết minh Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030, Hà Nội, 2022, tr.15

(5) (6) Bộ Thông tin và truyền thông: Báo cáo số 12/BC-BTTTT ngày 13-3-2020, Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam năm 2019 theo Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 28-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ, tr.2.

 

(7) Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Khánh Hòa: Báo cáo Kết quả thông tin, tuyên truyền chủ quyền biển, đảo, ngày 22-6-2022 (gửi Đoàn công tác Học viện Chính trị khu vực III).

Giá trị bền vững của "Đề cương về văn hóa Việt Nam" trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội.

  - Qua tám thập kỷ với nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, đến nay Đề cương về văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị lý luận, là một cương lĩnh về văn hóa cách mạng, có vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Bài viết góp phần khẳng định giá trị bền vững của Đề cương trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và trong xây dựng môi trường văn hóa Quân đội.

 

Giá trị bền vững của "Đề cương về văn hóa Việt Nam" trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội

Cán bộ, chiến sĩ mới Tiểu đoàn 11 (Phòng Tham mưu Sư đoàn 363) giao lưu văn nghệ trong giờ giải lao trên thao trường - Ảnh: phongkhongkhongquan.vn

1. Đề cương về văn hóa Việt Nam đối với sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc

Đề cương về văn hóa Việt Nam là hệ thống các quan điểm có tính chất khái lược, vắn tắt về văn hóa nhưng có tầm vóc của lý luận cách mạng và khoa học. Với tính cách là Đề cương nên chỉ bao gồm những quan điểm, luận điểm then chốt, có tính định hướng cơ bản nhưng hoàn chỉnh về kết cấu lôgíc và nội dung khoa học cũng như ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn cách mạng.

Đề cương về văn hóa Việt Nam vừa là lý luận phản ánh, khái quát tính quy luật phát triển, vừa là quan điểm chỉ đạo chiến lược của Đảng cho phát triển văn hóa Việt Nam trong thời đại mới. Nội dung quan trọng, thể hiện vai trò to lớn của Đề cương là những nguyên tắc căn bản cho phát triển văn hóa và tư tưởng chỉ đạo cuộc vận động về văn hóa phục vụ trực tiếp cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là nguyên tắc về vai trò của Đảng lãnh đạo; nguyên tắc về mối quan hệ giữa cách mạng văn hóa với cách mạng chính trị; nguyên tắc vận động văn hóa bảo đảm ba nội dung: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa v.v..

Sự ra đời của Đề cương về văn hóa Việt Nam là bước phát triển, cụ thể hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền văn hóa mới - văn hóa XHCN và mang đặc sắc văn hóa Việt Nam, sát thực với tình hình nhiệm vụ bức thiết lúc bấy giờ. Nhờ tính khoa học, cách mạng của Đề cương, đã đánh bại sự xâm nhập văn hóa của thực dân Pháp, văn hóa của phát xít Nhật và các trào lưu văn hóa của các thế lực phản động trong nước mà đại diện là giới văn nghệ sĩ “ôm chân” thực dân, đế quốc. Đề cương đã khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc vận động ở lĩnh vực văn hóa đến đỉnh cao và góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tiếp nối vai trò trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đề cương về văn hóa Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn, gian khổ, Đề cương về văn hóa Việt Nam tiếp tục chiếu rọi làm thức tỉnh, phát huy tinh thần cách mạng toàn dân tộc trong tình hình, nhiệm vụ mới. Đề cương đã thúc đẩy các phong trào, cuộc vận động về văn hóa với nghĩa “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa”; “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” theo tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sâu rộng. Đề cương đã huy động, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc cùng hướng đến mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục chứng minh vai trò to lớn của Đề cương về văn hóa Việt Nam trong cuộc vận động về văn hóa phục vụ kháng chiến.

Khi đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam, lĩnh vực văn hóa phải đối mặt với sự chống phá mới với tính chất gay go, phức tạp, quy mô rộng lớn hơn. Đó là sự thử thách mới và lớn đối với Đề cương về văn hóa Việt Nam. Các trào lưu văn hóa phản động ở miền Bắc biểu hiện qua hoạt động tuyên truyền cho “nghệ thuật vị nghệ thuật” và ở miền Nam là sự du nhập lối sống kiểu Mỹ, âm mưu làm tê liệt văn hóa dân tộc. Đề cương về văn hóa Việt Nam tiếp tục định hướng cho sự phát triển xu hướng văn hóa “nghệ thuật vị nhân sinh”, đánh bại trào lưu của giới văn nghệ sĩ theo tư tưởng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, đưa sự nghiệp cách mạng XHCN miền Bắc đạt nhiều thành tựu, thật sự là hậu phương lớn của cách mạng miền Nam. Vai trò của Đề cương về văn hóa Việt Nam thể hiện qua sự thôi thúc cả nước ra trận theo tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

Ở miền Nam, dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, mặc dù văn hóa bị ảnh hưởng, lai căng theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới, nhưng Đề cương về văn hóa Việt Nam vẫn soi sáng, thức tỉnh nhân dân miền Nam đứng lên chống đế quốc Mỹ một cách ngoan cường. Trải qua hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ, vai trò của Đề cương đã phát huy đến đỉnh cao thời đại, kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (tháng 4-1975) giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH. Thắng lợi này có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là thực hiện tốt cuộc vận động về văn hóa theo định hướng của Đề cương, tạo nên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Sức mạnh văn hóa được định hướng từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 tiếp tục phát huy trong các cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc và chống cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, phản động. Trong điều kiện muôn vàn khó khăn, đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, hậu quả nặng nề, nhưng truyền thống văn hóa đánh giặc giữ nước vẫn phát huy và tạo nên sức mạnh đánh bại quân xâm lược biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nhìn lại lịch sử từ khi ra đời đến nay, Đề cương về văn hóa Việt Nam luôn có vai trò to lớn trong phát triển nền văn hóa đúng hướng, đúng quy luật, đồng thời là một trong những chứng cứ khoa học minh chứng cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh từ tầng sâu văn hóa cho phép Đảng, Nhà nước và toàn dân ta vượt qua những khó khăn, gian khổ, đi đến thắng lợi cuối cùng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2. Đề cương về văn hóa Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức lớn từ cả bên trong và bên ngoài. Các thế lực thù địch lợi dụng toàn cầu hóa về kinh tế, hội nhập quốc tế, đặc biệt là tận dụng triệt để lĩnh vực văn hóa hòng chống phá quyết liệt sự nghiệp xây dựng đất nước ta. Chúng âm mưu cài cắm, cấy ghép những yếu tố của văn hóa phương Tây vào văn hóa Việt Nam, từng bước thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách tinh vi, khó nhận diện, đe dọa nghiêm trọng sự tồn vong của dân tộc, của chế độ XHCN từ lĩnh vực văn hóa.

Vai trò của Đề cương về văn hóa Việt Nam trong tình hình mới thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:

Một là, Đề cương về văn hóa Việt Nam tiếp tục là cơ sở xác định tính chất văn hóa trong mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc là mục tiêu trực tiếp, trước mắt để tiến tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN còn mang tính chất chính nghĩa, nhân văn, trái ngược với mục tiêu xâm chiếm, xâm lược phi nghĩa của các thế lực thù địch.

Đề cương về văn hóa Việt Nam là kiểu mẫu về xác định, giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu cuối cùng là CNXH với các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn nhất định. Đề cương chỉ rõ: “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội... Cách mạng văn hóa có thể hoàn thành khi nào cách mạng chính trị thành công (cách mạng văn hóa phải đi sau cách mạng chính trị. Những phương pháp cải cách văn hóa đề ra bấy giờ chỉ là dọn đường cho cuộc cách mạng triệt để mai sau)”(1).

Tư tưởng cơ bản trên là cơ sở xác định chính xác mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công CNXH. Mục tiêu đó quy định các mục tiêu cụ thể ở từng giai đoạn, ở tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Giữ vững định hướng XHCN vừa là mục tiêu, vừa là nội dung và cách thức cơ bản nhất cho thực hiện mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, có mục tiêu, nội dung, cách thức khác nhau, nhưng cùng bảo đảm nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN. Giữ vững định hướng XHCN được hiểu như nguyên tắc có tính “bất biến” cho các bước vận dụng, cụ thể hóa lý luận một cách sát thực.

Định hướng XHCN trở thành cái chung được khẳng định từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN qua hơn 35 năm đổi mới ở nước ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của từng giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...”(2).

Có thể thấy, Đề cương về văn hóa Việt Nam đã đặt cơ sở vững chắc cho xác định đúng đắn tính chất văn hóa trong các mục tiêu cụ thể. Tính chất nhân văn trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc quy định sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự đoàn kết, thống nhất. Sự tham gia của toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc bao hàm đặc điểm của cuộc vận động văn hóa; phong trào quần chúng rộng rãi.

Đề cương về văn hóa Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò văn hóa đối với cách mạng, huy động sức mạnh của toàn dân vào thực hiện nhiệm vụ chính trị giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng phải thể hiện rõ tính chất, đặc điểm văn hóa ở tính chính nghĩa. Vận dụng, cụ thể hóa vai trò của Đề cương vào xác định tính nhân văn của bảo vệ Tổ quốc để khơi dậy tinh thần yêu nước, sự đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, Đề cương về văn hóa Việt Nam là cơ sở xác định chủ trương, đường lối văn hóa

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay không chỉ là quá trình chính trị, quân sự, mà còn mang đặc điểm của quá trình, cuộc vận động văn hóa. Truyền thống về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc,... mang đặc điểm của văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc điểm đó được khái quát, kết tinh, cô đọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, đặc biệt trong Đề cương về văn hóa Việt Nam chỉ rõ: “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa”(3).

Từ khi Đề cương ra đời đến nay, Đảng ta luôn có những bước bổ sung, phát triển, cụ thể hóa quan điểm về văn hóa cũng như phát huy vai trò của văn hóa một cách sáng tạo nhưng luôn trung thành tuyệt đối với những nguyên tắc căn bản của Đề cương về văn hóa Việt Nam.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là không chỉ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vùng trời, vùng biển, mà còn bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, v.v.. Nội dung trên cho thấy, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN có tính toàn diện, tổng thể, đòi hỏi phải tập hợp tất cả các lực lượng ở tất cả các lĩnh vực mà hàng đầu là lĩnh vực văn hóa. Đó là quy luật sinh tồn và cũng là tính đặc thù, độc đáo của dân tộc Việt Nam đã từng diễn ra trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nếu không giữ vững được bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa mới XHCN thì sẽ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất, đó là lẽ dĩ nhiên, là quy luật sinh tồn.

Ba là, Đề cương về văn hóa Việt Nam là cơ sở định hướng phát huy sức mạnh của văn hóa đối với tạo dựng, củng cố, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc

Đề cương về văn hóa ẩn chứa nội dung, vai trò của sức mạnh văn hóa đối với phát triển dân tộc theo mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Sức mạnh đó có tính tổng hợp từ tầng sâu lịch sử truyền thống văn hóa với sức mạnh thời đại; sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc và mang đặc trưng của sức mạnh “nội lực” bên trong là văn hóa dân tộc. Điều đó đã được Đề cương về văn hóa Việt Nam khái quát thành tính quy luật sinh tồn của dân tộc ở các giai đoạn lịch sử. Mỗi giai đoạn có đặc trưng văn hóa khác nhau, nhưng thống nhất ở tư tưởng về phát huy vai trò văn hóa đối với phát triển đất nước. Đề cương về văn hóa Việt Nam chỉ rõ: “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”(4)

Trong thời kỳ đổi mới, tiềm năng, sức mạnh nội lực từ văn hóa được khơi dậy, phát huy ngang tầm nhiệm vụ. Công trình khoa học Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới của Hội đồng lý luận Trung ương xác định: “Quán triệt sâu sắc, quyết tâm, tích cực vận dụng, phát triển và  thực hiện sáng tạo Nghị quyết, đưa Nghị quyết vào cuộc sống là nhân tố thúc đẩy văn hóa nước ta phát triển lên tầm cao mới, thật sự trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển bền vững đất nước”(5).

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay càng phải bám sát định hướng của Đề cương về văn hóa Việt Nam để tạo dựng, củng cố, phát huy sức mạnh tổng hợp từ lĩnh vực văn hóa. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc mang đặc trưng của quá trình văn hóa thì sức mạnh tổng hợp, sức mạnh nội sinh cũng phải từ cuộc vận động về văn hóa. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán tư tưởng “tự lực cánh sinh” để tạo dựng sức mạnh tổng hợp, sức mạnh nội lực để thực hiện mục tiêu cách mạng. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh vô địch từ văn hóa đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

3. Đề cương về văn hóa Việt Nam đối với xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Xây dựng môi trường văn hóa nói chung và xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng là vấn đề quan trọng để hiện thực hóa những quan điểm định hướng, chỉ đạo của Đảng. Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội là quá trình tạo dựng, củng cố, phát triển, phát huy, lan tỏa những giá trị văn hóa quân sự trong toàn xã hội. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là sản phẩm được sinh ra, trưởng thành và phát huy từ môi trường văn hóa ở các đơn vị. Những phẩm chất, đức tính hy sinh và năng lực làm chủ suy nghĩ, hành vi trong ứng xử của “Bộ đội Cụ Hồ” đều được tôi luyện từ môi trường văn hóa quân sự trong Quân đội ta.

Tính nhân văn của xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội là kết quả của quá trình vận dụng, cụ thể hóa vai trò văn hóa trong Đề cương về văn hóa Việt Nam vào lĩnh vực này. Trong điều kiện hiện nay, có nhiều đặc điểm mới nhưng vai trò định hướng cũng như chỉ đạo của Đề cương vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa cách mạng, khoa học đối với xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội.

Việc định hướng, chỉ đạo của Đảng về xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội luôn được quán triệt, vận dụng sáng tạo và thu được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tiếp tục khai thác giá trị, vận dụng, cụ thể hóa Đề cương về văn hóa Việt Nam một cách sát thực với tình hình mới.

Một là, Đề cương về văn hóa Việt Nam là cơ sở khoa học xác định, hoàn thiện tính nhân văn trong tiêu chí xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội

Một trong những nội dung quan trọng của xây dựng môi trường văn hóa nói chung và trong Quân đội nói riêng là chuẩn hóa tiêu chí đánh giá kết quả xây dựng môi trường văn hóa. Tiêu chí đánh giá luôn bao hàm mục tiêu, sự định hướng có tính nhân văn cho các chủ thể xây dựng môi trường văn hóa.

Đề cương về văn hóa Việt Nam chỉ rõ: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”(6). Tinh thần đó cho thấy, hệ thống các tiêu chí đánh giá xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội luôn thống nhất giữa kinh tế với chính trị và văn hóa. Tính chất nhân văn quy định sự đầu tư cho xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội phải có chất lượng, hiệu quả cụ thể, không bị lãng phí, tiết kiệm cho đất nước. Mục tiêu này đặt ra vấn đề không lạm dụng kinh phí một cách tùy tiện, không đúng với yêu cầu về chất lượng, hiệu quả. Tiêu chí về chính trị là phải hướng đến xây dựng, củng cố vững chắc vấn đề chính trị, quân sự. Tiêu chí về văn hóa là bảo đảm mỗi nhân tố của môi trường văn hóa trong Quân đội đều có giá trị về tính nhân đạo, nhân văn, trong sáng về tình thương yêu đồng chí, đồng đội; làm giàu đời sống tinh thần, tạo cho cán bộ, chiến sĩ yêu thích đơn vị như quê hương, gia đình của mình.

Hai là, Đề cương về văn hóa Việt Nam là cơ sở khoa học xác định nội dung xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội

Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội phải có những nội dung cụ thể, mang đặc trưng của văn hóa chính trị, quân sự. Đề cương về văn hóa Việt Nam xác định ba nguyên tắc vận động văn hóa cụ thể. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, để văn hóa Việt Nam phát triển độc lập). Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng). Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ).

Khi cụ thể hóa vào xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội hiện nay thì tinh thần, bản chất của những nguyên tắc trên thấm sâu vào từng nội dung của môi trường văn hóa. Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội không để cho những tàn tích văn hóa lạc hậu nảy sinh cũng như không để cho những yếu tố văn hóa ngoại lai xâm nhập vào đời sống tinh thần cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội phải mang tính đại chúng sâu sắc, triệt để. Tức là mỗi cán bộ, chiến sĩ thực sự là chủ thể tích cực tham gia vào xây dựng môi trường văn hóa, tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi, sôi nổi, thường xuyên, liên tục. Đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội phải có tính khoa học, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, có chương trình, kế hoạch và phương pháp phù hợp.

Ba là, Đề cương về văn hóa Việt Nam là cơ sở khoa học cho đấu tranh với những tàn tích văn hóa lạc hậu và sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai trong Quân đội

Xác định tính chất đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa nói chung và trong xây dựng môi trường văn hóa nói riêng rất quan trọng. Nó giúp cho các chủ thể có nhận thức đúng, tính chủ động cao, thái độ, trách nhiệm tích cực trong xây dựng môi trường văn hóa. Nếu không, rất dễ hoang mang, dao động, thậm chí nhụt ý chí trước những khó khăn, phức tạp.

Đề cương về văn hóa Việt Nam thể hiện rõ tính chất đấu tranh không khoan nhượng với các lực cản từ tàn tích văn hóa lạc hậu và sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa. Đề cương chỉ rõ: “Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm, v.v.. Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng văn hóa quá trớn của bọn tờrốtkít”(7).

Tinh thần, bản chất của Đề cương là cơ sở cho xác định tính chất, đặc điểm xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, lợi dụng lĩnh vực văn hóa để du nhập, cấy ghép những nhân tố văn hóa ngoại lai vào đời sống tinh thần bộ đội. Những hiện tượng cũng như sự tác động tiêu cực hợp thành hệ thống những lực cản quá trình xây dựng môi trường văn hóa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”(8).

Như vậy, Đề cương về văn hóa Việt Nam đến nay vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện vai trò to lớn đối với xác định tính chất đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện phản văn hóa trong xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội một cách thiết thực. Chất lượng, hiệu quả của xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội hiện nay phục thuộc trực tiếp vào sự quán triệt, vận dụng, cụ thể hóa tinh thần của Đề cương về văn hóa Việt Nam một cách sát thực.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 545 (tháng 7-2023)

Ngày nhận bài: 7-6-2023; Ngày bình duyệt: 9-7-2023; Ngày duyệt đăng: 24-7-2023.

(1), (3), (4), (6), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.318-319, 316, 316, 316, 319.

 (2), (8) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.23-24, 25.

 (5) Hội đồng lý luận Trung ương: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.392.  

"Khẳng định hơn nữa tầm vóc, vị trí, vai trò ngôi trường cao cấp nhất của Đảng".

 Chiều ngày 6-1-2024, tại trụ sở Chính phủ, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm việc với cán bộ chủ chốt Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhằm thực hiện các định hướng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng, phát triển Học viện xứng tầm vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và lịch sử, truyền thống vẻ vang.

"Khẳng định hơn nữa tầm vóc, vị trí, vai trò ngôi trường cao cấp nhất của Đảng"

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại buổi làm việc với cán bộ chủ chốt Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Ảnh: vietnamplus.vn

Tham dự cuộc làm việc có Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Hoàng Đăng Quang, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lâm Thị Phương Thanh; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Sau khi lắng nghe các ý kiến, phát biểu tại cuộc làm việc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm, trăn trở và mong muốn xây dựng, phát triển Học viện xứng tầm vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; khẳng định, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò, tầm quan trọng trong công tác đào tạo cán bộ - “then chốt của then chốt.”

Theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08/8/2018 của Bộ Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý phục vụ giảng dạy, học tập, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Theo Thủ tướng, thời gian qua, Học viện đã kế thừa và tô thắm thêm lịch sử, truyền thống vẻ vang, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó có thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực.

Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với cán bộ chủ chốt Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Học viện có nhiều đổi mới trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, đạt nhiều kết quả cụ thể và đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tư vấn chính sách, phối hợp với các cơ quan trong hệ thống chính trị, với cấp ủy địa phương.

Để Học viện hoàn thành tốt hơn các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao trong năm 2024 và những năm tiếp theo, Thủ tướng nhấn mạnh thêm một số nội dung mà Học viện cần đặc biệt quan tâm trong quá trình triển khai thực hiện, thể hiện rõ hơn nữa, khẳng định hơn nữa tầm vóc, trí tuệ, bản sắc, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của ngôi trường cao cấp nhất của Đảng.

Học viện bám sát chủ trương, định hướng và các chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện các mặt hoạt động để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ; chủ động triển khai đồng bộ tạo đột phá trong các mặt công tác theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Nghị quyết các Hội nghị Trung ương khóa XIII; đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và tham mưu, tư vấn chính sách, hợp tác quốc tế... tạo phong trào thi đua mới, dấu ấn mới, khí thế mới, động lực mới để có thắng lợi mới.

GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phát biểu tại buổi làm việc

Lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, giảng viên Học viện phải có quyết tâm chính trị cao, không ngừng phấn đấu để khẳng định bản sắc, vị trí trung tâm quốc gia hàng đầu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp cho Đảng, Nhà nước với phương châm “học viên là trung tâm, giảng viên là động lực, nhà trường là nền tảng,” trên tinh thần bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo; kiên quyết khắc phục bằng được căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị; tiếp tục khẳng định Học viện là trung tâm quốc gia về nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, tham mưu, tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước.

Thủ tướng đề nghị củng cố, phát triển nguồn nhân lực của hệ thống Học viện; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng viên, cán bộ khoa học của Học viện gắn với việc đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai Quyết định số 587 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2019-2030.

Thủ tướng lưu ý, cần gương mẫu chăm lo công tác xây dựng Đảng trong hệ thống Học viện, làm cho Đảng bộ Học viện, trước hết là Ban Thường vụ và tập thể lãnh đạo Học viện thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Cán bộ, đảng viên Học viện phải gương mẫu rèn luyện, luôn luôn là đội ngũ mà Đảng và nhân dân tuyệt đối tin tưởng về chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống, tác phong.

Cùng với đó, hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật gắn với thực hành văn hóa Trường Đảng. Phát huy hơn nữa vai trò của Học viện trong công tác quản lý, hướng dẫn chuyên môn đối với hệ thống trường chính trị cấp tỉnh trên cả nước.

Cán bộ chủ chốt Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tham dự buổi làm việc.

Thủ tướng khẳng định: Chính phủ luôn ủng hộ, đồng hành cùng Học viện trên tinh thần chủ động, tích cực. Trong đó, phối hợp tổ chức tốt việc kỷ niệm 75 năm thành lập Học viện trong năm 2024 phù hợp tình hình, qua đó khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của Học viện và tổng kết, phát huy các thành quả, kinh nghiệm, tiếp tục xây dựng Học viện xứng tầm vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và lịch sử, truyền thống vẻ vang.

Về các kiến nghị của Học viện, Thủ tướng cơ bản đồng ý về nguyên tắc; thành lập và giao Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái làm Tổ trưởng Tổ công tác, với sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành, cùng làm việc với các Ban của Đảng, các cơ quan liên quan để rà soát tất cả các vấn đề được nêu tại cuộc làm việc, cho ý kiến về các vấn đề có tính nguyên tắc, chủ trương... từ đó có các đề án, dự án cụ thể. Chính phủ sẽ giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Năm 2024 là năm bứt phá, có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Thủ tướng tin tưởng Học viện sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2024 và có những đóng góp to lớn hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đặc thù nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và yêu cầu về cơ chế quản lý phù hợp.

 Trên cơ sở phân tích các đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bài viết chỉ ra những yêu cầu đặt ra với cơ chế quản lý khoa học lý luận chính trị, đề xuất cơ chế quản lý tài chính phù hợp, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ khoa học của Học viện trong thời gian tới.

1. Đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện đi đầu trong nghiên cứu khoa học, lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam và các chiến lược, chủ trương, định hướng phát triển đất nước qua các thời kỳ. Là trung tâm quốc gia về nghiên cứu lý luận chính trị, công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều điểm đặc thù so với các trung tâm nghiên cứu khoa học lớn (như: Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) hoặc cơ sở nghiên cứu khoa học khác của cả nước. Điều này được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

Một làđặc thù về chức năng, nhiệm vụ của Học viện (theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị)

Về chức năng: Học viện là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý. Đây là đặc thù mang tính bao trùm, riêng có của Học viện.

Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ chủ yếu trong nghiên cứu khoa học của Học viện là: (1) Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (2) Tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; (3) Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử phong trào cách mạng thế giới; (4) Nghiên cứu, xây dựng nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện; (5) Nghiên cứu, đề xuất, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch địch đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng Đảng và Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị.

Hai làđặc thù xét chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học

Hiện nay, việc tuyển chọn chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học được thực hiện thông qua 03 phương thức chủ yếu là: xét tuyển, đấu thầu hoặc giao trực tiếp. Tùy vào quy mô, tính chất, cấp độ của đề tài mà cơ quan quản lý lựa chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện một cách phù hợp, nhằm mục đích đạt kết quả cao nhất trong nghiên cứu. Việc tuyển chọn, xét tuyển, giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Đối với các nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia, việc tuyển chọn, xét tuyển, giao cá nhân, tổ chức thực hiện được thực hiện theo Thông tư số 08/2017/TT-BKHCN ngày 26-6-2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Trong nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, đặc biệt là một số ngành, chuyên ngành đặc thù, là thế mạnh của Học viện, như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Học viện là nơi tập trung nhiều chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành của cả nước. Do vậy, một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đỏi hỏi phải có phương thức xét chọn chủ nhiệm, tổ chức chủ trì thực hiện đặc thù. Để lựa chọn được các tổ chức có đủ năng lực, có uy tín cao thực hiện nhiệm vụ, các cá nhân có trình độ tốt, chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu làm chủ nhiệm, Học viện ưu tiên thực hiện phương thức giao trực tiếp hoặc chỉ định, hạn chế hình thức đấu thầu. Tuy nhiên, với hình thức giao trực tiếp hay chỉ định cá nhân làm chủ nhiệm, cần đặc biệt lưu ý đến năng lực, kinh nghiệm của cơ quan chủ trì, cá nhân làm chủ nhiệm để phân công đúng người, đúng việc, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của nhiệm vụ khoa học; tránh giao cho các tổ chức, cơ quan và cá nhân không đủ năng lực, kinh nghiệm trong triển khai thực hiện.

Ba là, đặc thù về phương thức quản lý khoa học

Đặc thù về phương thức quản lý khoa học xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của Học viện. Trong đó, có nhiều nội dung nghiên cứu do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp xem xét, quyết định liên quan trực tiếp đến nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất của chế độ chính trị XHCN ở nước ta và tiền đồ, vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, bên cạnh việc lan tỏa kết quả nghiên cứu trong xã hội, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng trong đời sống, thì một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, như: nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới, nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật... cần phương thức quản lý đặc biệt để bảo đảm tính mật của nhiều nội dung nghiên cứu.

Bốn là, đặc thù trong chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu

Khác với khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc triển khai chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, khoa học lý luận chính trị nói riêng luôn có độ trễ về thời gian trong đánh giá tác động của kết quả nghiên cứu đến các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nếu như trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu có tác động trong thời gian ngắn, thậm chí tác động ngay sau khi ứng dụng. Nhưng đối với kết quả nghiên cứu lý luận chính trị, sự tác động đến đời sống chính trị - xã hội cần một thời gian dài, thậm chí có những luận điểm phải mất 5-10 năm hoặc lâu hơn mới đánh giá được tác động. Do đó, trong quá trình tổ chức đánh giá, nghiệm thu, chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu, cần có một cơ chế đặc thù phù hợp.

Ở một khía cạnh khác, việc công bố các bài báo khoa học quốc tế (được xã hội hóa) của một số ngành khoa học lý luận chính trị, như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh... gặp rất nhiều khó khăn.

Năm là, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện vừa trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện

Trong thời gian qua, các nghiên cứu khoa học tiêu biểu của Học viện, như: Đề án Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Chương trình Nghiên cứu các luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, Đề án Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Những giải pháp thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, v.v. đã đóng góp quan trọng vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là: (i) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng các Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng và các nghị quyết Trung ương khóa XI, XII, XIII. (ii) Cung cấp các luận cứ khoa học, giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; nghiên cứu tổng kết Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. (iv) Bổ sung, hoàn thiện các chính sách phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo và đối ngoại. (v) Phân tích, đánh giá và lý giải những vấn đề nảy sinh trong quá trình đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống, từ đó đề xuất các kiến nghị về mặt chính sách đối với Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; đóng góp tích cực vào đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đổi mới công tác tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Sáu là, đặc thù trong quản lý tài chính về hoạt động nghiên cứu khoa học

Học viện là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, Học viện nhận được nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quan trọng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như: Chương trình nghiên cứu khoa học quốc gia KX.02/16-20: “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin - Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; tuyển chọn, biên dịch, xuất bản một số tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài... hoặc một số nhiệm vụ khoa học đột xuất, đòi hỏi kinh phí phát sinh ngoài dự toán ngân sách nhà nước hằng năm dành cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Học viện. Các nhiệm vụ đột xuất này cần triển khai ngay trong thời gian ngắn, song không thể sử dụng kinh phí hằng năm để thuê khoán các chuyên gia, nhà khoa học thực hiện các nội dung cụ thể của nhiệm vụ hoặc tổ chức các hoạt động hội thảo, tọa đàm nhằm thu thập ý kiến chuyên gia, đồng thời cũng không thể chờ đến năm kế tiếp để bổ sung kinh phí. Do vậy, đòi hỏi phải có cơ chế đặc thù trong việc bổ sung kinh phí cho những nhiệm vụ khoa học do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho Học viện để triển khai kịp thời, hiệu quả.

2. Những yêu cầu đặt ra đối với cơ chế tài chính phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện là đơn vị tài chính cấp 1. Các hoạt động quản lý tài chính của Học viện phải tuân theo các quy định pháp luật hiện hành về quản lý tài chính, như: Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, kiểm toán và các văn bản quy định khác của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, do những đặc thù trong nghiên cứu khoa học, Học viện cần một cơ chế đặc thù về tài chính, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Một là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu, làm sáng tỏ những giá trị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này, rất nhiều nội dung nghiên cứu không có tư liệu gốc, chủ yếu là tư liệu do Liên Xô dịch và xuất bản trước đây; song điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi khá nhiều so với thời kỳ các nhà kinh điển Mác - Lênin viết các tác phẩm đó. Để nghiên cứu được ý nghĩa, giá trị khoa học của các tác phẩm về chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cơ sở “nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới”(1), tất yếu cần có một lực lượng khoa học vừa am hiểu về các lĩnh vực khoa học, vừa có khả năng ngoại ngữ tốt... để góp phần làm rõ những quan điểm, tư tưởng còn nguyên giá trị, những quan điểm, tư tưởng đã bị thực tiễn vượt qua, những quan điểm, tư tưởng trước đây có thể chưa đúng...

Đây là nhiệm vụ lớn, khó khăn, đòi hỏi phải thực hiện trong thời gian dài, lực lượng tham gia phải có năng lực tốt, giàu kinh nghiệm và có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp... Do đó, kinh phí để chi trả, thuê khoán những chuyên gia, nhà khoa học không thể áp dụng như một nhiệm vụ khoa học thông thường mà phải có cơ chế hay quy định đặc thù. Có như vậy, Học viện mới huy động được đông đảo các nhà khoa học uy tín, có năng lực, các chuyên gia hàng đầu tham gia vào những nhiệm vụ trọng tâm của không chỉ của Học viện mà của Đảng, Nhà nước.

Hai là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trực tiếp cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, như: Nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam; Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật; Những giải pháp thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.... Những nhiệm vụ này yêu cầu rất cao về tính chính trị, tính khoa học của các sản phẩm nghiên cứu. Do đó, trong quá trình thực hiện, cần huy động được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, uyên bác trong một số lĩnh vực cụ thể, đồng thời bao quát được một số lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Để huy động được lực lượng chuyên gia này, đòi hỏi phải có mức chi kinh phí (thù lao) tương xứng, không nên áp dụng mức kinh phí thông thường.

Ba là, đối với các nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như chương trình sưu tầm, nghiên cứu tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, tiêu biểu. Do nhiều đồng chí lãnh đạo hoạt động bí mật trong thời kỳ đất nước bị thực dân, đế quốc xâm lược, tư liệu lưu trữ rất hiếm. Để hoàn thành các công trình này, các nhà khoa học cần nhiều thời gian, dày công nghiên cứu, kiên trì, tâm huyết với trách nhiệm cao để sưu tầm trong các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước; tư liệu nước ngoài; tư liệu lưu trữ thu được của chính quyền tay sai thực dân, đế quốc... Do đó, phải có nguồn kinh phí để chi trả cho cho các hoạt động này một các tương ứng, phù hợp.

Bốn là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu làm sáng tỏ những giá trị lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhiệm vụ này giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giá trị khoa học, giá trị lịch sử và ý nghĩa vô cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cụ thể: khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và dân tộc; làm rõ nguồn gốc tư tưởng - lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; làm rõ bản chất và những nội dung căn bản, cốt lõi nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ và khẳng định giá trị và sức sống lâu bền, bất diệt của tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp vận dụng những di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc vào thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Trong thời gian tới, để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Học viện cần huy động được đội ngũ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu am hiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này cũng có nghĩa là, cần xây dựng được nguồn kinh phí phù hợp để chi trả tương xứng cho công sức, trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu tham gia thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng các luận cứ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thời gian qua, Học viện đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao triển khai nhiệm vụ: “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật” với 10 đề tài nhánh. Bên cạnh đó, sau thành công của Cuộc thi viết chính luận khoa học: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện tổ chức, Ban Bí thư quyết định mở rộng quy mô tổ chức cấp toàn quốc và giao Học viện là cơ quan chủ trì, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương là cơ quan chỉ đạo tổ chức cuộc thi. Đây là nhiệm vụ lớn, thường xuyên, liên lục và lâu dài, đòi hỏi phải tập hợp được những nhà khoa học có năng lực, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời, cần có một nguồn kinh phí phù hợp và có cơ chế chi trả cho các hoạt động nghiên cứu một cách phù hợp.

Sáu là, đối với những hoạt động hợp tác nghiên cứu với các đảng cầm quyền, nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc hỗ trợ nghiên cứu tiểu sử Cayxỏn Phômvihản; tư tưởng Cayxỏn Phômvihản; biên dịch Hồ Chí Minh toàn tập sang tiếng Lào; nghiên cứu, tuyển chọn, xuất bản tuyển tập Hồ Chí Minh và biên dịch những tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang một số tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc) để giới thiệu ra thế giới... Đây là những nhiệm vụ lớn được thực hiện trong một thời gian dài bởi đội ngũ chuyên gia hàng đầu. Điều này đặt ra yêu cầu cần bố trí, chi trả kinh phí cho các chuyên gia một cách phù hợp, để phát huy được sức mạnh trí tuệ của các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu.

Bảy là, giảm tải các thủ tục hành chính trong quản lý, thanh quyết toán tài chính của các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học để phù hợp với đặc thù của các hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện và các quy định pháp luật hiện hành.

Công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều đặc thù so với các trung tâm, cơ sở nghiên cứu khác. Xuất phát từ những đặc thù riêng đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện cần có cơ chế, chính sách riêng trong quản lý, nhất là cơ chế quản lý tài chính, nguồn lực phù hợp, để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 543 (tháng 5-2023)

Ngày nhận bài: 27-4-2023; Ngày bình duyệt: 14-5-2023; Ngày duyệt đăng: 22-5-2023.

 

(1) Ban Bí thư: Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09-2-2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, Hà Nội, 2018, tr.3.