Thứ Ba, 16 tháng 1, 2024

Phát triển đội ngũ nhà giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội.

Bác Hồ đang theo dõi một cháu nhỏ đánh vần khi đến thăm lớp vỡ lòng ở phố Hàng Than, Hà Nội, năm 1958.

Bác Hồ đang theo dõi một cháu nhỏ đánh vần khi đến thăm lớp vỡ lòng ở phố Hàng Than, Hà Nội, năm 1958.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục.Không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Người còn khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ. Trong bài phát biểu tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10-1964), Bác đã nói: Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”(1).

Với Người, sự nghiệp trồng người - giáo dục, đào tạo được xác định rõ là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ là nhà giáo. Họ chính là lực lượng then chốt, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Vì lẽ đó, Bác đã dày công xây dựng hệ thống quan điểm về những tiêu chuẩn, phẩm chất cần có của đội ngũ nhà giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, bao gồm:

Thứ nhất, mỗi một thầy giáo cần phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, trau dồi đạo đức cách mạng. Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người đặc biệt chú trọng đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của Đảng, của từng cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ những người làm nghề giáo. Đó không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, mà còn là nỗi bận tâm đau đáu của Người. Cũng tại buổi nói chuyện tháng 10-1964, tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bác đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu hậu lạc" nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”(2). Với Người, việc luôn trau dồi đạo đức cách mạng đã trở thành một nhiệm vụ tất yếu, tối quan trọng, là điều kiện “cần” và “đủ” mà tất cả thầy cô giáo đều phải hướng đến.

Thứ hai, nhà giáo phải luôn là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức và lối sống. Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thầy - một nhà giáo dục vĩ đại, cả cuộc đời, Người đã giáo dục, đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng... Sức mạnh giáo dục và cảm hóa của Người làm khuất phục cả những kẻ thù ở bên kia chiến tuyến, đưa họ trở về với chính nghĩa, với lương tri của con người. Để có được điều đó là do ở Bác hội tụ đầy đủ tri thức, bản lĩnh và một nhân cách cao đẹp về tư tưởng, đạo đức và lối sống, là một tấm gương cao cả để lớp lớp cán bộ học tập và noi theo. Bác thành công trong sự nghiệp giáo dục vĩ đại của mình là vì trước hết Bác là một con người chân chính, một người yêu nước, một người cộng sản, một nhà cách mạng, một nhà nhân văn đích thực, một con người xứng đáng nhất với danh hiệu con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Người có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đối với đội ngũ nhà giáo, tài là sự am hiểu, vốn tri thức, vốn kinh nghiệm thực tiễn của người thầy, đức là tư cách, tình yêu thương, trách nhiệm của người thầy đối với nghề, với các em học sinh… Chính vì thế, Người nhắc các nhà giáo, dạy cũng như học đều phải biết chú trọng cả tài và đức. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi toàn miền Bắc (19-2-1959), Người nhấn mạnh: “Trẻ em hay bắt chước, cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách, v.v., phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Nếu các cô, các chú bảo: “Các em phải siêng làm” nhưng các cô, các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà”, nhưng các cô, các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung”, nhưng các cô, các chú bẩn, như thế là không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Người dặn dò: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu. Các cô, các chú phải nhận rõ trách nhiệm của mình”(3), vì vậy “thầy giáo phải gương mẫu, trực tiếp làm nhiệm vụ: Đào tạo những công dân tốt, những cán bộ tốt sau này, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4).

Thứ bathầy cô giáo phải thật sự yêu nghề, gắn bó với nghề; tất cả vì học sinh thân yêu. Trong tư tưởng, Bác đặc biệt nhấn mạnh sự “yêu nghề” trong hoạt động giáo dục: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?”(5). Ngoài ra, Người đặc biệt chú trọng đến tinh thần trách nhiệm, dám đối mặt với khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ mà xã hội, Đảng và nhân dân giao cho các thầy, cô giáo. Người luôn căn dặn: “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”(6). Đó là tinh thần trách nhiệm dành cho sự nghiệp giáo dục, mang tri thức tới cho các em học sinh, các thế hệ sinh viên; là nghĩa cử cao đẹp và sự dấn thân vì mục tiêu “trăm năm trồng người”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm, yêu thương học sinh như con, em ruột của mình, không thiên tư, thiên vị. Chỉ như vậy, các thầy, cô giáo mới đi tới sự đoàn kết thực sự, chung lòng, dốc sức vì tương lai của con em ta, dân tộc ta. Người viết: yêu nghề, yêu trường thôi chưa đủ mà phải yêu chủ nghĩa xã hội bởi chủ nghĩa xã hội là mục tiêu mà dân tộc đang hướng tới. Khi thầy, cô giáo có tri thức, niềm tin và tình yêu thật sự vào chế độ mới thì đứng trên bục giảng họ mới có thể truyền lại được cho lớp lớp học trò niềm tin, tình yêu và góp sức mình vào xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, quá trình giáo dục mỗi thầy giáo, cô giáo cần đặc biệt chú trọng tới nội dung và phương pháp truyền thụ. Theo Bác, quá trình giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tuy vậy Người đặc biệt chú trọng đến tác phong, tư duy, cách truyền đạt tri thức cho học trò, phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều.

Người nhấn mạnh: “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên, và tương lai của thanh niên tức là tương lai của nước nhà”(7). Chất lượng và hiệu quả giáo dục không phải ở chỗ học nhiều, học vẹt, học thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà là giáo dục người học trở nên “những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”(8).

Người cũng khuyên rằng “chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”(9).

Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Người về vai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đào tạo, luôn xác định là “quốc sách hàng đầu”, trở thành tư tưởng chỉ đạo mang tính chiến lược. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng đặt ra yêu cầu việc xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội cũng xác định cần: “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”(10), trong đó nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cái thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”(11).

Những quan điểm trên của Đảng chính là trở về với triết lý giáo dục của Người nhằm thực hiện thành công chiến lược trồng người - “những người hữu ích cho nước Việt Nam” như Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng mong ước. 

Xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Sinh thời, một trong những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức.


Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo và yêu cầu các cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức của cán bộ, đảng viên xem là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới. Qua đó, tiếp tục kế thừa và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

1. Xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh về đạo đức - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng

Để xác định mục tiêu của đảng cộng sản ở từng nước, C.Mác từng chỉ rõ, trước hết phải giành lấy chính quyền, khi đã giành được chính quyền thì đảng phải lãnh đạo nhà nước của dân, do dân và vì dân để xây dựng xã hội mới. Do vậy, vai trò lãnh đạo của đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là sứ mệnh cao cả mà nhân dân trao cho đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu phát triển của Đảng. Mỗi bước phát triển của cách mạng đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, tăng thêm sức mạnh của Đảng.

Để Đảng làm tròn sứ mệnh của mình trước những chuyển biến của cách mạng, của đời sống xã hội, tất yếu Đảng phải thường xuyên làm trong sạch đội ngũ của mình, phải nâng mình lên ngang tầm với lịch sử, phải chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê-nin về đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc. Người nhận định, “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình. Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ”(1). 

Vì những lý do trên mà Đảng phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức là đòi hỏi khách quan và cũng là yêu cầu sống còn để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nâng cao bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những hạn chế, sai lầm khuyết điểm; tạo môi trường và điều kiện để mỗi đảng viên và cán bộ hoàn thiện nhân cách, trở thành người cộng sản chân chính, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

2. Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, ngay trang đầu tiên của tác phẩm, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách của người cách mạng, tập trung giải quyết ba mối quan hệ cơ bản, đó là với mình, với người, với việc. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(2). Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”(3).

Vai trò nền tảng của đạo đức được Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”(4), “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không” (5), “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng” (6).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức còn có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi mới xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục. Người cho rằng: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”(7).

Qua nghiên cứu các quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thể khái quát lại thành những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Phẩm chất “trung”, “hiếu” là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào những nội dung mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, vượt qua những hạn chế trước đây. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước. Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Bác đã chỉ ra: Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trước kia quan là phụ mẫu của dân, thì nay Đảng, cán bộ, đảng viên là “’đầy tớ trung thành của nhân dân”. Theo Người, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lấy dân làm gốc, tiếp thu trí tuệ của dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò của dân mới làm được thầy của dân. Như thế, sự nghiệp cách mạng mới thành công.

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức thể hiện rõ qua hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là các hoạt động hằng ngày của Người. Trong các tác phẩm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nói về đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh 1927, Đạo đức cách mạng 1958…, những phẩm chất trên được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất. Bác không những giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa 4 phẩm chất đó: Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Một con người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. So với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(8). Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ, đảng viên lại rất cần thiết, bởi vì “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, càng có chức, có quyền càng phải cần, kiệm, liêm, chính “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(10).

Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”. Thực hành chí công vô tư là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng, trái với nhân cách, phẩm chất của một người cộng sản chân chính. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(11).

Tuy nhiên, cần nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ lo “mình béo mặc thiên hạ gầy”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Con người không phải thánh thần, có tốt, có xấu. Chúng ta cần làm cho phần tốt của mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi.

Đạo đức của Đảng hàm chứa tình nhân ái, rộng lớn, bao la. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng, mà trước hết giành cho những người mất nước, người cùng khổ. Yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đứng dậy vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Đó chính là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.

Có thể khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, việc vận dụng và phát triển các giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước trong điều kiện hiện nay là việc làm không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH “ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN!

         Tại Lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Tầm vóc vĩ đại của Đảng được Người khái quát đã trở thành nét đẹp văn hóa - văn hóa Đảng. Xây dựng văn hóa Đảng nhằm giáo dục, bồi dưỡng, khích lệ tinh thần phấn đấu cao của mọi đảng viên; đồng thời, nhằm đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch đối với Đảng Cộng sản Việt Nam!

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC “ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của lịch sử là: Cứu dân, cứu nước khỏi vòng nô lệ của thực dân và ách áp bức của phong kiến; giải phóng dân tộc, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”; đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục tiêu hiện nay của Đảng là đấu tranh thống nhất nước nhà, để thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; làm cho cả nước không còn ai bị bóc lột, xây dựng một xã hội mới, trong đó mọi người được sung sướng, ấm no”. Mục tiêu đó là đạo đức, là văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo nhân dân ta chống lại ách thống trị của thực dân và ách áp bức của phong kiến, đấu tranh đòi quyền lợi cho dân nghèo, làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết, quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam, đó là quyền bình đẳng tối thiểu của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới. Trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Người viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Chính vì thế mà Người luôn quan tâm giải quyết quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam một cách khoa học. Dưới ánh sáng của học thuyết Mác - Lênin, trực tiếp là tư tưởng vĩ đại của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh hiểu rằng, quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc là những quyền thiêng liêng, không ai được phép xâm phạm; trong một đất nước, quyền lợi của mỗi cá nhân bao giờ cũng gắn liền với quyền lợi của cả dân tộc, đất nước. Nước mất thì nhà tan, nước độc lập thì dân tộc mới độc lập, con người mới được giải phóng và có tự do đích thực. Đó là một trong những lý do để Người trở thành chiến sĩ cộng sản đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đó là đạo đức, là văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: là một Đảng chân chính cách mạng, Đảng trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Chính vì vậy, tại Đại hội Sản xuất tỉnh Hà Đông (cũ), ngày 7/6/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Lý do tồn tại của Đảng là ở đó, đạo đức và văn minh của Đảng cũng là ở đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Chính phủ chăm lo mọi mặt cho đời sống nhân dân, với tinh thần nhân dân chỉ cảm nhận được quyền của mình trong một nước độc lập khi ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, mọi người được học hành. Người ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Với Người, giải phóng con người, trước hết là giải phóng họ khỏi cái đói, cái rét, cái dốt để giải phóng dân tộc, chỉ có thoát khỏi thân phận nô lệ, mỗi con người mới lấy lại được phẩm giá làm người; chỉ giải phóng dân tộc mới góp phần giải phóng của toàn nhân loại. Chính vì thế, Người đã thức tỉnh ý thức đạo đức dân tộc và nối liền với đạo đức thời đại mới - đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thành một bộ phận của tinh thần quốc tế. Giá trị văn hóa đạo đức đó đã xác lập chủ nghĩa yêu nước chân chính, tiếp biến với các giá trị đạo đức tiến bộ của loài người, gạt bỏ các mặt đạo đức lạc hậu để phát triển giá trị đạo đức mới. Giá trị đạo đức mới chi phối tư tưởng, ý thức đạo đức, các quan hệ ứng xử, các hành vi đạo đức trong nhân dân. Từ giải quyết quyền con người, quyền dân tộc cơ bản, Người đã xác lập các giá trị đạo đức một nền đạo đức mới Việt Nam. Việc kết hợp các giá trị đạo đức dân tộc với các giá trị đạo đức của thời đại đã tạo ra là nền tảng quan trọng của sự tiến bộ xã hội ở Việt Nam. Đó là đạo đức, là văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ. Người rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tâm, tận lực, trung với nước, hiếu với dân suốt đời phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Người cho rằng, đạo đức cách mạng sẽ tạo nội lực quan trọng cho quá trình cách mạng, đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đồng thời, Người quan niệm đạo đức cách mạng của người cán bộ tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm ấy không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người cách mạng phải cần kiệm, cẩn thận, nhẫn nại, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói phải làm. Chính vì lẽ đó, Người rất quan tâm đến việc tu dưỡng đạo đức người cách mạng và cảnh báo tình trạng cán bộ “dùng của công làm việc tư... Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”, quên cả thanh liêm đạo đức cần phải phê phán mạnh mẽ và loại bỏ - những công việc đó là đạo đức, là văn minh của Đảng ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu thương con người. Đồng thời, Người luôn coi trọng tình nhân ái, khoan dung. Lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người không chỉ ở phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, mà còn ở những con người nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém. Người nhắc nhở: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Đối với những người lầm đường, lạc lối, người có thói hư, tật xấu…ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ. Người chỉ rõ: “Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Chính điều đó đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng không quản ngại gian khổ, hy sinh. Đó là đạo đức, là văn minh của Đảng ta.

Như vậy, đạo đức cách mạng của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát đã trở thành chuẩn mực đạo đức chung, nền tảng của Đảng và Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh.

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Một là, nâng cao chuẩn mực về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Đây là một trong những nội dung cơ bản, xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để mỗi tổ chức đảng thực sự là đạo đức, là văn minh. Bằng nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo như: Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục của tổ chức với tự giáo dục của từng cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, nghiên cứu nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của các cấp ủy đảng. Thực hiện có nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình. Cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện đúng các chế độ và cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cần thiết cho cán bộ, đảng viên, nhất là về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Chủ động phát hiện và đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; ngăn ngừa và khắc phục kịp thời những biểu hiện thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy trách nhiệm tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ, đảng viên bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Do đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp thực hiện nghị quyết của Đảng, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp cần phải thường xuyên coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tập trung lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ và chính sách cán bộ. Thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ theo đúng quy định; tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên toàn diện, nhất là bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật và các mối quan hệ xã hội. Chú trọng rèn luyện cán bộ, đảng viên thông qua hoạt động thực tiễn. Kết hợp đánh giá, phân loại chất lượng, khen thưởng, bố trí, sử dụng và thực hiện đúng chính sách cán bộ. Đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ không chỉ ở nhà trường mà còn ở ngay từng cơ quan, đơn vị. Có như vậy mới nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Ba là, cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải trở thành công việc thường xuyên, hàng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đổi mới phong cách làm việc, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm túc quy định về những điều đảng viên không được làm. Động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí để mỗi tổ chức đảng thực sự là đạo đức, là văn minh.

Bốn là, cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi

Trước hết, cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện về lập trường, tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”; “Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Vì vậy, muốn xây dựng chi bộ tốt nhất thiết phải bồi dưỡng lập trường vô sản cho đảng viên, phải có ý thức giai cấp, đồng thời phải có lý luận cách mạng. Cho nên, cần phải chỉnh đốn Đảng, trong đó, coi trọng khâu kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, theo đó “những phần tử xấu phải xử trí đúng mức: Cần đuổi ra khỏi Đảng thì đuổi ra, cần cách chức thì phải cách chức”. Cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong tổ chức đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng là nội dung cơ bản trong công tác xây dựng đảng, nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, là cơ sở để xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh. Trước hết, các cấp ủy đảng cần nâng cao năng lực cụ thể hóa và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Phải thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ đầu ngành, người đứng đầu các cấp. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên. Đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ quy định về quản lý cán bộ, đảng viên. Bằng nhiều hình thức như: Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng với tự quản lý của đảng viên, giữa quản lý đảng viên với quản lý cán bộ, giữa quản lý nội bộ đảng với tổ chức quần chúng tham gia quản lý. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng nơi đảng viên công tác với quản lý của tổ chức đảng nơi cư trú để nắm chắc về lý lịch chính trị, quan hệ gia đình, nhất là những đảng viên có hoàn cảnh cá biệt để tổ chức đảng có cơ sở đánh giá, nhận xét chính xác. Kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các biện pháp của công tác tư tưởng, tổ chức để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Tổ chức tốt việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên về lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực công tác.

Cán bộ, đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật của tổ chức nơi công tác. Cấp ủy, tổ chức đảng phải kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra, giám sát định kỳ. Chủ động phát hiện kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời và kiên quyết những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ!

     Tết đến, Xuân về nhà nhà, người người chuẩn bị đón Tết. Một cái Tết đủ đầy, đầm ấm, nhất là cái Tết chúng ta đang đón là lần thứ 50 lập lại hòa bình ở Việt Nam, nói chính xác là ở miền Bắc XHCN. Ăn Tết này ta nhớ đến Tết xưa, nhớ công lao của bao nhiêu lớp lớp cán bộ, đảng viên và nhân dân đã hy sinh mới có được. Đón Xuân vui Tết chúng ta càng nhớ công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tưởng nhớ tới Người chúng ta ôn lại những lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự. Xin trân trọng gửi tới cùng bạn đọc gần xa và toàn thể bạn bè trên không gian mạng những câu nói bất hủ của Người:
1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác./.









Yêu nước ST.

THẦY CŨNG SÍNH NGOẠI - NGUY HẠI KHÔN LƯỜNG!

         Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giúp những người làm công tác giáo dục ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội đi nước ngoài giao lưu, học tập, nghiên cứu để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu thêm kho tri thức của bản thân, phục vụ tốt hơn công tác giảng dạy!
Tuy nhiên, do “sức đề kháng” kém nên không ít người đã quay lưng, trở nên tôn sùng, ngợi ca một cách chủ quan những giá trị bề ngoài, hào nhoáng của xã hội, lối sống của nước sở tại, quay lại chê bai đất nước, nhất là ở trên bục giảng, với học trò của mình. Tuy chỉ là số ít nhưng sự nguy hại từ những thầy cô sính ngoại này là rất lớn vì thông qua bài giảng của mình, họ có thể tiêm nhiễm, "đầu độc" tư tưởng sùng ngoại tới hàng trăm, hàng nghìn học sinh, sinh viên...

Sùng ngoại - bài nội
Thầy, cô giáo sính ngoại vì nhiều lý do: Có người do nhận thức chính trị, thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết nên bị lợi dụng, kích động; có người chỉ là vô tình; nhưng cũng có người có tư tưởng phản động, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa... Dù vô tình hay cố ý, những thầy, cô giáo sính ngoại đều chẳng khác nào là trung gian tiếp sức, “nối giáo cho giặc”, giúp các thế lực thù địch, phản động thực hiện những chiến dịch tuyên truyền, chống phá, hủy hoại thế hệ tương lai của nước nhà.

Biểu hiện chung của thầy, cô giáo mắc bệnh sính ngoại là: Muốn khoe khoang, chứng tỏ ta đây học rộng biết nhiều, được đi đây đi đó... nên quá trình giảng bài, họ thường kể về những điều được thấy, được trải nghiệm ở nước ngoài như phát hiện mới về một nền văn minh, “đỉnh cao” của xã hội loài người với giọng điệu đầy tán dương, ca ngợi, thán phục. Nhằm thuyết phục thêm, họ lại chỉ lấy những ví dụ và đề cập đến một số hạn chế, bất cập về tình hình kinh tế-xã hội đất nước bằng giọng chê bai, chế giễu hoặc buông một câu lấp lửng “Việt Nam ta thì...” với thái độ bất mãn, tiêu cực. Nhiều người còn ra sức tuyên truyền, quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Từ đó từng bước nhồi nhét, cài đặt tư tưởng sùng ngoại, bài nội, dần tác động thay đổi tận gốc nhân cách, tạo ra một tầng lớp trí thức mới đề cao chủ nghĩa tư bản, lối sống phương Tây, lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.

PGS, TS Hà Huy Phượng, giảng viên cao cấp Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Đây là “căn bệnh” không chỉ của riêng một số ít thầy, cô giáo khi được ra nước ngoài học tập, công tác. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức được cơ quan cử đi học tập, công tác nước ngoài cũng dễ “nhiễm bệnh” sính ngoại. Họ dễ bị choáng ngợp với những giá trị công cộng mà nước họ đến đạt được, rồi đem so sánh với đất nước mình và chê bai đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và những thành tựu từ mồ hôi, xương máu của nhân dân. Nguyên nhân lớn nhất để nảy sinh "căn bệnh" sính ngoại lại bắt đầu từ khâu tổ chức các đoàn cán bộ đi công tác. Thường thì có những đoàn cán bộ khi đi nước ngoài chỉ họp đoàn bàn về nội dung chương trình, việc ăn ở, đi lại chứ ít quan tâm quán triệt những vấn đề liên quan đến tư tưởng chính trị, văn hóa... cho các thành viên khi đi ra nước ngoài, nên chuyện phát ngôn chưa chuẩn mực hoặc bị nhiễm “bệnh” sùng ngoại xảy ra là điều dễ hiểu...”.

Chính vì sùng bái, mải mê ca ngợi một chiều các giá trị bề nổi, hào nhoáng của xã hội tư bản nên những thầy cô này chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”; họ không giúp học sinh, sinh viên thấy rõ những điều còn hạn chế của nước ngoài, nhất là ở các nước tư bản như sự bất công trong xã hội, khoảng cách giàu-nghèo...; họ cũng chưa thấy hết những thành quả, thành tựu đổi mới, xây dựng và phát triển của đất nước; vai trò, sự lãnh đạo của Đảng; chưa phân tích rõ những mặt tích cực, tiêu cực và nguyên nhân của nó; chưa nghiên cứu kỹ các chủ trương, giải pháp của Đảng trong khắc phục, giải quyết những vấn đề còn hạn chế, yếu kém... để từ đó giúp học sinh, sinh viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm trước những vấn đề thời cuộc và với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Rơi vào tay những người thầy này thì ít hay nhiều, sớm hay muộn học sinh, sinh viên cũng dễ bị gieo rắc, "đầu độc" và có thể hình thành tư tưởng thực dụng, quay lưng với lịch sử, truyền thống dân tộc, chạy theo những cám dỗ vật chất tầm thường. Nguy hiểm hơn nữa là những học sinh, sinh viên bị tiêm nhiễm tư tưởng xấu sẽ lây nhiễm suy nghĩ, cái nhìn lệch lạc tới bạn bè, người thân như vết dầu loang rất khó phòng ngừa. Xin dẫn chứng một vài trường hợp:

Đó là một giáo sư, tiến sĩ từng giảng dạy trong lĩnh vực xây dựng, nhưng khi về hưu, ông này đã viết, tán phát nhiều bài viết trên các trang mạng hải ngoại, cá nhân, núp bóng chiêu bài “phản biện” các chính sách để chống Đảng, phủ nhận những thành quả từ sự lãnh đạo của Đảng, phê phán Chủ nghĩa Mác-Lênin, kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Song, đó chỉ là bề nổi, điều mà nhiều người quan tâm, lo ngại qua trường hợp này là liệu có phải chỉ sau khi nghỉ hưu ông này mới có những tư tưởng, quan điểm lệch lạc này hay nó đã nảy sinh, tích tụ từ bao giờ? Và suốt thời gian đứng trên bục giảng, ông này có “lồng ghép”, truyền bá những suy nghĩ lệch lạch của mình vào các bài giảng hay không? 

Một trường hợp nữa là giáo viên âm nhạc ở tỉnh Đắk Lắk vừa bị Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên y án 8 năm tù giam và 4 năm quản chế về tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Được biết đến là thầy giáo dạy nhạc hát hay và có kiến thức tốt về âm nhạc, thế nhưng thay vì vận dụng kiến thức, hiểu biết đã học được để truyền tải những lời hay ý đẹp, kiến thức âm nhạc cho các thế hệ học trò thì ông này lại lợi dụng ngay cả diễn đàn dạy học để xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, đả kích chế độ.

Tu tài phải gắn chặt với dưỡng đức
Hội nhập giáo dục là một phần tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta. Nó mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít nguy cơ, thách thức. Thực tế là đã có những âm mưu lợi dụng hợp tác quốc tế về giáo dục-đào tạo để hòng tạo ra một lớp người Việt Nam có quan điểm, tư tưởng không phù hợp với những đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Chiêu trò này nhằm vào đối tượng là thanh niên, sinh viên để tiêm nhiễm, kích động tư tưởng chống đối trong giới trẻ thông qua đội ngũ giáo viên, giảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị. Vì vậy, người làm công tác giảng dạy cần thấy được vinh dự lớn của bản thân khi được tổ chức tin tưởng, tín nhiệm cử đi giao lưu, học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; lấy đó làm động lực để nỗ lực phấn đấu, trách nhiệm hơn với công việc của mình, của đơn vị mình; ra sức học tập, nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, làm giàu hơn kho tri thức của bản thân, từ đó phụng sự sự nghiệp giáo dục-đào tạo của đất nước. Chỉ có không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tiếp thu tri thức thì người thầy mới có cái nhìn toàn diện, sâu sắc; mới phân biệt rõ cái hay, cái dở để từ đó có thái độ ứng xử phù hợp, nhân rộng cái hay, thu hẹp cái dở, giúp học sinh, sinh viên của mình luôn có cái nhìn tiến bộ, tích cực.

Thời nào cũng vậy, thanh niên, học sinh, sinh viên luôn là thành phần tiên phong trong tiếp thu cái mới, hăng hái, nhiệt tình trong hoạt động thực tiễn. Họ cũng là đội ngũ có kiến thức nên càng năng động, nhạy cảm với cái mới, khát khao đổi mới. Thế nhưng họ lại chưa đủ "độ chín" về tư tưởng chính trị, dễ bị cảm xúc lấn át nên thường thiếu sâu sắc khi phân tích, nhận định những vấn đề về chính trị-xã hội, cái tích cực-tiêu cực trong xã hội đa chiều, phức tạp. Vì vậy, nếu không được định hướng kỹ càng, sâu sát, rất có thể họ sẽ phạm sai lầm trong nhận thức và hành động. Do đó, họ rất cần được những người thầy vừa có tâm trong sáng vừa có tầm cao trình độ kiến thức dìu dắt, định hướng để thực sự trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước./.
Môi trường ST .

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁN BỘ QUÂN ĐỘI “7 DÁM” LÀ TỔ CHỨC BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

         Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương (QUTƯ) là sự tiếp nối và cụ thể hóa những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Vì thế, mọi sự rêu rao, xuyên tạc về vấn đề này cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ!

Sự xuyên tạc trơ trẽn
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, tại Hội nghị QUTƯ lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ có bài phát biểu quan trọng, mang tầm chiến lược, định hướng căn bản để QUTƯ, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Quân đội thực hiện tốt mọi nhiệm vụ đề ra trong những năm tới, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ đã nhấn mạnh về công tác cán bộ và chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Đây là sự đúc kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, thể hiện nét đặc sắc trong tư duy lý luận của người đứng đầu Đảng ta và QUTƯ về công tác cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới.

Thế nhưng, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã cố ý tung tin sai trái, xuyên tạc ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ. Chúng rêu rao rằng, “xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội "7 dám" chỉ là khẩu hiệu suông”; “làm gì có cán bộ nào thực hiện được "7 dám”, “cán bộ "7 dám" chỉ là lý luận hão huyền”. Chúng còn lợi dụng một số hạn chế trong công tác cán bộ và một vài cán bộ trong Quân đội vi phạm pháp luật đã bị xử lý hình sự rồi tung hỏa mù thật giả lẫn lộn, đánh đồng hiện tượng với bản chất, cố tình lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực nhằm gây mất lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ nói riêng và đối với Đảng, Nhà nước ta nói chung.

Sự đúc kết sâu sắc về xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Cách đây 62 năm, trong “Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên” ngày 13-2-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm”. Người đã cổ vũ tinh thần đổi mới, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm trong phát triển sản xuất và xây dựng hợp tác xã. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu gương cho quần chúng trong việc chủ động, kiên quyết khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đường mòn lối cũ, chậm đổi mới.

Suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do vậy, công tác cán bộ luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Quán triệt tinh thần đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, trong đó yêu cầu “cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã quy định: “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”.

Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: Thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng; thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp; thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương pháp thực hiện đúng đắn.

Nhờ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng đội ngũ cán bộ nên công tác cán bộ ở nước ta ngày càng đạt nhiều kết quả quan trọng. Quy trình thực hiện công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch. Điều đó minh chứng việc xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ là một chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược; tình cảm, niềm tin và yêu cầu cao của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đó cũng là kim chỉ nam, phương châm hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tinh thần cán bộ Quân đội “7 dám” được khẳng định trong gian khó

Với tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu ở nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị chưa tạo sự lan tỏa sâu rộng... Những hạn chế này có nguyên nhân từ một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...

Thời gian qua, một số cán bộ Quân đội mắc sai phạm, bị xử lý hình sự và kỷ luật chủ yếu do không chịu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, làm tổn hại đến danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Một vài cá nhân đó sai phạm xuất phát từ lý do chủ quan, chứ tuyệt nhiên không phải do sai lầm từ chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ; đồng thời cũng không phải là hệ quả của chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội "7 dám" vì đó là khẩu hiệu suông” như các thế lực thù địch rêu rao.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cho thấy đại đa số cán bộ, đảng viên trong Quân đội vẫn tuyệt đối trung thành và một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Điều đó được thể hiện sinh động trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19” đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên, các y sĩ, bác sĩ, chiến sĩ Quân đội tự nguyện gác lại việc riêng, tình nguyện xung phong đến tuyến đầu chống dịch, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, thậm chí hy sinh tính mạng để hết lòng hết sức cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sự xuất hiện đúng lúc, kịp thời của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp trong Quân đội ở những “điểm nóng” đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương... và nhiều tỉnh, thành phố trong năm 2021 là biểu hiện rõ nét của tinh thần cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đương đầu, dám hành động vì lợi ích chung ngay cả đối với những việc khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ và trong những tình huống nóng bỏng nhất. Đó là bằng chứng về “lòng son dạ sắt” của những cán bộ hội tụ phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ thời bình.

Phương châm xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội “7 dám” theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ là sự tiếp nối và cụ thể hóa những đặc trưng, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Đây là sự phát triển tư duy lý luận với nội hàm mới, yêu cầu mới, đòi hỏi ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ Quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Khi cán bộ các cấp trong Quân đội hội tụ đầy đủ tâm-tầm-tài, uy tín và luôn thấm nhuần, thể hiện tinh thần “7 dám”, Quân đội ta sẽ có nền tảng vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có sức mạnh tổng hợp và sức chiến đấu cao, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống./.




Yêu nước ST.

Học làm cán bộ

 Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11-6-1948 - 11-6-2023), sáng 10-6 tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã phát động phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030”. Phong trào sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực cao – nguồn cung cấp cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới.

Học tập suốt đời từ lâu đã trở thành nhu cầu của không ít cán bộ, đảng viên. Trong họ luôn thấm đẫm tinh thần “học, học nữa, học mãi” với mục đích “học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự tổ chức, đoàn thể, phục vụ Tổ quốc, dân tộc và nhân loại”. Nhưng học làm cán bộ có lẽ không phải ai cũng sẵn sàng ở mọi lúc, mọi nơi. Bởi khi đã trở thành cán bộ, có quyền hành trong tay, họ thường nhớ là lãnh đạo mà quên là đầy tớ của nhân dân. Học để làm cán bộ đã khó, học làm cán bộ còn khó hơn. Học để làm cán bộ có trường, có lớp dạy, được cấp bằng, chứng chỉ đủ tiêu chuẩn một chức danh nhất định. Học làm cán bộ là phải học mọi lúc, mọi nơi, bất kỳ thời gian nào, thường phải học giải quyết những tình huống nảy sinh trong thực tiễn mà không có trường, lớp nào dạy. Học làm cán bộ là phải học không chỉ làm người lãnh đạo, mà còn học làm người đày tớ trung thành của nhân dân.

Làm người lãnh đạo là phải luôn học tập, thấm nhuần và tổ chức thực hiện thành công đường lối, quan điểm của Đảng, không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Phải rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải công tâm, kỷ luật, tự giác, thẳng thắn, triệt để trong thực thi quyền lực, trong tự phê bình và phê bình theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong tình hình hiện nay, không ít cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh, dẫn đến trì trệ, không dám nghĩ, dám làm, dám chịu, không năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Những cán bộ đó liệu còn xứng đáng là người lãnh đạo của nhân dân? 

Làm đày tớ trung thành của nhân dân thể hiện ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hiểu dân và học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời, tất cả vì nhân dân phục vụ, với tinh thần hiểu thấu và sẻ chia, chủ động và linh hoạt, phù hợp điều kiện cụ thể; thể hiện ở quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, kiên quyết, kiên trì nói đi đôi với làm, chăm lo ấm no, hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người dân. Phải nắm vững dân là chủ và phải mở rộng dân chủ thật sự với nhân dân theo đúng chỉ dạy của Hồ Chí Minh: Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, mỗi cán bộ ở bất cứ địa vị nào cũng phải làm gương thực hành dân chủ trong công tác để tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân phát huy sáng kiến, nâng cao hiệu quả công việc. Thực tế cho thấy, ở đâu, cán bộ thực sự là đầy tớ của nhân dân, thương yêu nhân dân, gần gũi và giúp đỡ nhân dân, bảo vệ và sẵn sàng đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của nhân dân, lắng nghe và học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân, hết lòng vì nhân dân phục vụ thì ở đó cán bộ luôn được kính trọng, giúp đỡ, đùm bọc, luôn quy tụ và thu hút quần chúng làm theo.

Mỗi cán bộ, bên cạnh địa vị, trí tuệ của một “nhà lãnh đạo” đều phải có tinh thần làm việc của một “người đầy tớ” nhân dân. Học để làm cán bộ suốt đời, đồng thời cũng phải học làm cán bộ suốt đời. Hai điều này có quan hệ biện chứng, quan trọng như nhau thể hiện tâm thế “người lãnh đạo” và “người đầy tớ” của nhân dân.

Cần chặt chẽ, hiệu quả hơn

 Tại Kỳ họp thứ 29 (12 đến 15-6-2023), Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét và kết luận: Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh và nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc chấp thuận chủ trương quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, giao đất, cấp giấy chứng nhận và tính tiền sử dụng đất, trong phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách cho một số dự án, trong đó có các dự án do Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC) thực hiện”. Đồng thời khẳng định: “Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại rất lớn tiền, tài sản nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương, đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật”.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ rõ, “Trách nhiệm đối với những vi phạm, khuyết điểm nêu trên thuộc về Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa các nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020; Đảng đoàn HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Cán sự đảng UBND tỉnh các nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021” và các cá nhân là lãnh đạo tỉnh hai nhiệm kỳ nói trên.

Vì sao những vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại rất lớn tiền, tài sản nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương diễn ra suốt hai nhiệm kỳ, kéo dài hơn 10 năm (2010-2021), khi phát hiện, kết luận và bị xử lý kỷ luật hầu hết đã nghỉ hưu? Phải chăng trong thời gian ấy cán bộ lãnh đạo tỉnh đã trở thành các “ông vua con” ở địa phương, khó ai đụng đến được? Có những cán bộ, nhiệm kỳ trước sai phạm vẫn được bầu vào nhiệm kỳ tiếp theo? Chẳng hạn, ông Trịnh Văn Chiến, Chủ tịch UBND, mặc dù có sai phạm trong nhiệm kỳ 2011-2016 lại tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021? Chẳng phải đây thêm một minh chứng đánh giá vẫn là một khâu yếu trong công tác cán bộ?

Không khó để trả lời những câu hỏi trên nhưng thực hiện hiệu quả những giải pháp để khắc phục những hạn chế trên không dễ. Bởi những giải pháp đã được nêu nhiều lần, chẳng hạn, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm soát quyền lực “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bỏ phiếu tín nhiệm đánh giá cán bộ… đã được thực hiện bài bản nhưng kết quả trong thực tế vẫn là những sai phạm được lặp lại. Trong 2 nhiệm kỳ vừa qua, không chỉ Thanh Hoá vi phạm. Có một số tỉnh, thành phố vi phạm tương tự Thanh Hóa. Có tỉnh nghiêm trọng đến mức cả bí thư, chủ tịch đều vướng vào vòng lao lý.

Tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá XIII, BCH Trung ương Đảng yêu cầu chỉ đạo tập trung, ưu tiên triển khai thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm trong nửa cuối nhiệm kỳ khoá XIII, trong đó tập trung chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Theo đó công tác chuẩn bị nhân sự là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Làm thế nào khắc phục tình trạng khi được bầu phải được đánh giá là những cán bộ đủ tiêu chuẩn, có chất lượng cao, tiêu biểu cho đức, tài của mỗi đảng bộ nhưng chẳng bao lâu sau đại hội đã bị phát hiện và xử lý kỷ luật vì những sai phạm nghiêm trọng trong nhiệm kỳ trước đó? Để khắc phục tình trạng này, giải pháp quan trọng nhất là chuẩn bị thật tốt nhân sự đại hội. Không thể có nhân sự sai phạm, tham nhũng, tiêu cực lọt vào cấp uỷ các cấp.

Khi  chuẩn bị cho nhiệm kỳ mới, nhân sự cấp dưới được cấp uỷ chịu trách nhiệm giới thiệu lên cấp uỷ cấp trên phê duyệt. Quy trình chuẩn bị nhân sự được quy định chặt chẽ. Tuy vậy, nên chăng cần chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn bằng quy định cụ thể và rõ trách nhiệm trong việc giới thiệu và bảo đảm chất lượng cán bộ. Chính chịu trách nhiệm là một yếu tố quan trọng quyết định hàng đầu. Người, tổ chức giới thiệu cán bộ không chỉ giới thiệu mà còn phải chịu trách nhiệm quá trình công tác, phát triển của người đó. Nếu nhân sự được giới thiệu sau khi được bầu phát hiện có những sai phạm từ khoá trước, không chỉ người, tổ chức giới thiệu phải chịu trách nhiệm mà các cơ quan hữu quan (kiểm tra, giám sát…) cũng phải đồng chịu trách nhiệm. Ai, tổ chức nào phải chịu trách nhiệm, chịu trách nhiệm đến đâu? Chế tài ra sao cần được quy định cụ thể, rõ ràng, là cơ sở để xử lý khi có sai phạm xảy ra.

Đổi mới công tác nhân sự đại hội luôn là đòi hỏi thực tiễn bảo đảm chất lượng cấp uỷ mới đáp ứng yêu cầu hoàn thành chỉ tiêu, nghị quyết đại hội nhiệm kỳ mới đề ra.