Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

Nghệ thuật tác chiến phản công và tiến công bảo vệ biên giới Tây Nam

          Điểm nhấn về nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Đảng ta từ thế bị động nhanh chóng chuyển sang chủ động phản công và tiến công sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.

Từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1977, quân Pol Pot xâm chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam nước ta. Tháng 12-1978, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary tập trung nhiều sư đoàn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, giết và làm bị thương nhiều dân thường, phá hủy nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân ta.

Trước hành động gây hấn và mở rộng chiến tranh xâm lược của quân Pol Pot, Đảng và Nhà nước ta đã kiềm chế và kiên trì chính sách hòa bình, hữu nghị với nhà nước Campuchia Dân chủ, nhưng càng kiềm chế thì kẻ địch càng lấn tới, buộc chúng ta phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công và tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia nổi dậy. Thực hiện phương châm tác chiến từ thế bị động sang chủ động phản công và tiến công là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Đảng, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công, nghĩa là tiến hành phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm loại hình tác chiến chủ yếu.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Pháo binh của ta bảo vệ biên giới Tây Nam, tháng 9-1977. Ảnh: TTXVN 

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định sử dụng 18 sư đoàn thuộc 3 quân đoàn (2, 3, 4); các Quân khu 5, 7, 9, các quân chủng và binh chủng cùng 600 xe tăng, bọc thép, 137 máy bay, 160 tàu chiến đấu và vận tải, tham gia cuộc phản công và tiến công lịch sử này (theo cuốn Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Quân ta vận dụng loại hình chiến dịch phản công và tiến công hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau, giữa các chiến dịch không có khoảng cách.

Theo kế hoạch, từ ngày 23 đến 31-12-1978, ta mở cuộc tổng phản công và tiến công, mở đầu bằng một loạt chiến dịch quy mô cấp quân đoàn, từ 2 đến 3 sư đoàn của các quân đoàn 2, 3, 4; hoặc cụm sư đoàn của các Quân khu 5, 7, 9 được không quân chi viện, tiến công đồng thời từ 5 hướng (Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4), trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, dài hơn 1.200km. Trong các chiến dịch phản công và tiến công, ta vận dụng phương pháp tác chiến chủ yếu là luồn sâu, ém sẵn và thọc sâu bằng lực lượng mạnh (quy mô cấp sư đoàn), kết hợp đột phá chính diện, hình thành thế bao vây nhiều tầng, chia cắt địch ra nhiều khu vực để tiêu diệt chúng. Bằng cách đánh đó, trên hướng Quân đoàn 3, chỉ trong một ngày, ta phá vỡ tuyến phòng ngự của 4 sư đoàn địch; trên hướng Quân đoàn 2 và Quân khu 9, trong hai ngày đánh tan 2 sư đoàn địch...

Đến ngày 31-12-1978, quân ta trên các hướng tiến công đã đẩy quân Pol Pot ra khỏi biên giới, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Theo yêu cầu của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia tiến hành chiến dịch tiến công kế tiếp, bằng phương pháp tiến công trong hành tiến, với các đòn tiến công hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng từ nhiều hướng, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 7-1-1979.

Bồi dưỡng kỹ năng quân sự cho sinh viên

Nhằm nâng cao chất lượng môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có nhiều đổi mới về phương pháp đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Hào hứng bước vào đợt học tập môn Giáo dục quốc phòng và an ninh tại Phân hiệu Hà Nam ở TP Phủ Lý, sinh viên K72 Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xác định rõ ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Với đặc thù là khoa có số lượng nữ sinh lớn (chiếm tới 95%), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các đơn vị liên quan đã bố trí, sắp xếp hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có tâm thế tốt nhất, chuyên tâm trong thời gian học, hoàn thành các học phần của môn học, đạt kết quả cao. 

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Rèn luyện kỹ năng bắn súng AK.
<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Trao đổi giữa giảng viên và sinh viên trong giờ học môn Giáo dục quốc phòng và an ninh, tháng 4-2023.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Hướng dẫn sinh viên sắp xếp nội vụ gọn gàng.
<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Sinh viên huấn luyện Điều lệnh đội ngũ.

 

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ

Đảng chính trị, Nhà nước và nhân dân là ba chủ thể cấu thành nên hệ thống chính trị của hầu hết các nước trên thế giới ngày nay. Tùy theo vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa các chủ thể này mà hình thành nên những hệ thống chính trị có những đặc điểm và bản chất chính trị khác nhau ở các nước trên thế giới. Ở nước ta, ngay trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, Đảng ta trên cơ sở kế thừa truyền thống của dân tộc và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định nhân dân là chủ nhân của đất nước, là người làm nên lịch sử, là sức mạnh vô địch, chỉ có tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết nhân dân thì cách mạng mới thắng lợi. Sau khi cách mạng thành công, giành được chính quyền, Đảng ta lãnh đạo nhân dân xây dựng bộ máy nhà nước mới để quản lý đất nước, trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhưng người chủ của đất nước là nhân dân. “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện bản chất của chế độ ta, của hệ thống chính trị nước ta, là cơ chế vận hành của xã hội ta. Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của đất nước ta, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Về quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý: Ở nước ta, sự ra đời của tổ chức Nhà nước là thành quả cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sau khi cách mạng thành công, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tổ chức ra nhà nước để thay mặt nhân dân quản lý đất nước. Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, thông qua Nhà nước để lãnh đạo xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chỉ thị, nghị quyết, đề ra chủ trương, đường lối định hướng xây dựng tổ chức bộ máy, luật pháp, chính sách của Nhà nước; bằng việc giới thiệu đảng viên của mình để nhân dân bầu vào các vị trí lãnh đạo các cơ quan nhà nước để thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực hiện để chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đem lại những kết quả và bằng việc kiểm tra tổ chức Đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước về việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời, Đảng lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ, bảo vệ Nhà nước, tích cực tham gia thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước và giám sát các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thực hiện luật pháp, chính sách. Vai trò, chức năng của Đảng là lãnh đạo chính trị, định hướng chính trị cho luật pháp, chính sách, cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi Đảng là đảng cầm quyền thì việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước, Đảng lãnh đạo hoạt động mọi mặt của đất nước, của xã hội. Nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có uy tín với nhân dân, đất nước ổn định, phát triển thì Đảng có uy tín với nhân dân, duy trì, củng cố được vai trò, vị trí cầm quyền của mình.

Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, nhưng Đảng không phải là Nhà nước, không có quyền lực nhà nước, Đảng không thể làm thay Nhà nước. Trong nền chính trị hiện đại, Nhà nước là do nhân dân thành lập (thông qua bầu cử) để thay mặt nhân dân quản lý đất nước. Đó là Nhà nước pháp quyền, quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật là tối thượng; mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân đều phải tuân thủ, chấp hành pháp luật, “sống và làm việc theo pháp luật”. Việc ban hành các văn bản pháp luật, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật. Đảng cầm quyền cũng phải tuân thủ pháp luật, các tổ chức Đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiếp pháp và pháp luật. Các chủ trương, đường lối, quan điểm trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng phải thông qua đảng viên, tổ chức Đảng trong các cơ quan nhà nước chuyển hóa thành luật pháp, chính sách của Nhà nước mới được toàn dân, cả xã hội thực hiện. Trong bối cảnh một Đảng có uy tín lớn, trở thành Đảng cầm quyền, đã cầm quyền nhiều năm, cần đề phòng việc xuất hiện hiện tượng không phân biệt rõ ranh giới, sự khác biệt giữa vai trò, chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước; hiện tượng tổ chức Đảng “làm thay” cơ quan nhà nước, quyết định trước những công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước, biến việc quyết định của cơ quan nhà nước trở thành “hợp thức hóa” quyết định của Đảng; còn Đảng thì bị “Nhà nước hóa”, làm nảy sinh mầm mống làm Đảng suy thoái; Nhà nước không còn thật sự là Nhà nước pháp quyền, dẫn đến những hậu quả tiêu cực với cả Đảng và Nhà nước.

Về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với nhân dân làm chủ. Nhận thức, giải quyết mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân phải xuất phát từ nhận thức, quan điểm nền tảng là nhân dân là người chủ của đất nước, lợi ích của đất nước là lợi ích của nhân dân, sức mạnh của đất nước là sức mạnh của nhân dân. Sứ mệnh, vai trò của Đảng, của Nhà nước là bảo vệ, phục vụ nhân dân. Quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực của Nhà nước là do nhân dân ủy quyền. Đảng viên của Đảng, cán bộ, công chức của Nhà nước là con em của nhân dân, được dân nuôi dưỡng, tạo cho điều kiện làm việc để phục vụ nhân dân, phải là “công bộc”, “đầy tớ” của nhân dân. Cương lĩnh của Đảng xác định xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, do nhân dân làm chủ”, “có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý là để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người giám sát, đánh giá hoạt động của Đảng, Nhà nước (các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước, đảng viên và cán bộ, công chức nhà nước), quyết định về tổ chức, hoạt động của Nhà nước, quyết định vai trò cầm quyền (hay không cầm quyền) của Đảng.

Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng xác định Đảng là đội tiên phong của nhân dân lao động, của dân tộc, đại biểu trung thành lợi ích của nhân dân lao động và dân tộc; mục đích của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đảng không có mục đích, lợi ích nào khác là mục đích, lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chính vì vậy và do những hy sinh, đóng góp to lớn của Đảng đối với đất nước, nhân dân đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp của của đất nước đã ghi nhận Đảng “là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Cương lĩnh của Đảng khẳng định “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Đường lối của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là để phục vụ lợi ích của nhân dân. Đường lối đổi mới của Đảng, sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo hơn 30 năm qua cũng là vì lợi ích của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Là Đảng cầm quyền, song Cương lĩnh của Đảng xác định “Đảng gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân”. Một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng rút ra từ thực tiễn cách mạng là “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bài học rút ra từ những năm qua là trong điều kiện Đảng cầm quyền phải đặc biệt chăm lo củng cố, sự liên hệ giữa Đảng với nhân dân”. Giữ gìn, củng cố mối quan hệ gắn bó với nhân dân, lòng tin, sự ủng hộ của nhân dân luôn được Đảng xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mình.

Xây dựng Đảng được xác định là nhiệm vụ then chốt để Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt trọng trách với đất nước, với nhân dân. Trong những năm vừa qua, công tác xây dựng Đảng đã được đẩy mạnh: Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấu của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng tinh, gọn; nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp yêu cầu của thời kỳ mới phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng... Những kết quả đạt được đã củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Hiến pháp của đất nước xác định “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2), “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”, “thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3), “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6), “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” (Điều 8). Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật: ban hành pháp luật và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người dân (người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, trong khi đó, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép).

Trong những năm đổi mới vừa qua, tổ chức bộ máy và phương thức quản lý của Nhà nước có nhiều đổi mới, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Nhà nước tập trung vào xây dựng hoàn thiện thể chế, luật pháp, chính sách, quản lý vĩ mô bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các định mức, tiêu chuẩn, không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của doanh nghiệp, giá cả thị trường, hoạt động của các tổ chức xã hội bằng mệnh lệnh hành chính, phù hợp với thông lệ quốc tế, với các điều ước mà Việt Nam đã ký với các tổ chức và các nước trên thế giới. Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu, kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế; việc xã hội hóa, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào cung ứng các dịch vụ công giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa, tư vấn pháp luật... đã mở rộng, thu hút sự tham gia tích cực của người dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực này. Quốc hội, chính phủ có rất nhiều đổi mới cả về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động, tập trung vào xây dựng thể chế, quản lý vĩ mô, quyết định những vấn đề lớn và kiểm tra, giám sát việc thực hiện, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Lĩnh vực tư pháp thực hiện nhiều đổi mới tổ chức và hoạt động theo chiến lược cải cách tư pháp để nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân...

Những đổi mới trong quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã phát huy dân chủ, quyền làm chủ, sức mạnh của nhân dân, tạo ra những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp; thế và lực, uy tín quốc tế của đất nước tăng lên, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; các lĩnh vực văn hóa, xã hội đều có bước phát triển, quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Những thành tựu đó được nhân dân và bạn bè quốc tế thừa nhận, đánh giá cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những đổi mới trong quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm chủ của nhân dân đưa đến những kết quả tích cực thì đến nay, việc nhận thức và giải quyết những quan hệ này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi tiếp tục phải được xử lý. Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, một mặt, vẫn còn tình trạng cấp ủy Đảng làm thay quản lý nhà nước, can thiệp sâu vào hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước, làm cơ quan nhà nước thụ động, ỷ lại, chờ đợi sự chỉ đạo của cấp ủy mà không thực hiện đầy đủ chức trách theo quy định của pháp luật, không thực hiện đúng quyền lực Nhà nước được giao. Mặt khác, tình trạng các cơ quan nhà nước thực hiện không đầy đủ, đúng đắn, có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng: thể chế hóa chậm, không đầy đủ, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện bị buông lỏng, kỷ luật kỷ cương không nghiêm. Cả hai tình trạng này đều dẫn tới khó xác định trách nhiệm, khó đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ, công chức; đều ảnh hưởng xấu đến vai trò của pháp luật, của các cơ quan quản lý nhà nước, qua đó, ảnh hưởng tới quyền làm chủ của nhân dân (chỉ có Nhà nước mới do dân bầu ra, thay mặt nhân dân quản lý đất nước); ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế, xã hội đất nước, đến đời sống của nhân dân.

Quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và làm chủ của nhân dân còn có những vấn đề như: Nhiều quan điểm của Đảng về gắn bó với nhân dân, gần dân, trọng dân, phục vụ nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, cán bộ công chức là đầy tớ của nhân dân chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Chất lượng lãnh đạo, quản lý, chất lượng luật pháp, cơ chế chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trên các lĩnh vực còn nhiều hạn chế (chồng chéo, mâu thuẫn, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân), thủ tục hành chính còn phiền hà, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thật sự thông thoáng, công khai, minh bạch, chưa bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, việc tiếp cận các nguồn lực còn khó khăn, phân bổ các nguồn lực còn cơ chế “xin - cho”... quyền tự do kinh doanh, quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế chưa thực hiện đầy đủ. Đáng lo ngại là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống không những không phải là “đầy tớ, công bộc” của dân mà gây khó khăn, nhũng nhiễu, ức hiếp người dân, tham nhũng, quan liêu, lãng phí, vi phạm pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; an ninh, an toàn, quyền và lợi ích của người dân bị xâm phạm, làm nhân dân bất bình, giảm sút lòng tin vào Đảng, Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Chênh lệch về thu nhập, mức sống của các tầng lớp xã hội còn lớn. Một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản, sinh hoạt văn hóa, tinh thần còn ở mức thấp...

Do còn nhiều hạn chế như nêu trên và trong bối cảnh tình hình thế giới rất phức tạp tạo ra rất nhiều khó khăn, thách thức đối với nước ta trong những năm tới, việc tiếp tục nhận thức, quán triệt, giải quyết tốt mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ để tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong đó cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau:

- Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thống nhất nhận thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý là để thực hiện, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là công bộc của dân để không ngừng rèn luyện, phấn đấu nâng cao ý thức phục vụ nhân dân.

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, bảo đảm vai trò cầm quyền của Đảng, định hướng chính trị cho hoạt động của Nhà nước, cho việc xây dựng luật pháp, chính sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện mà không làm thay Nhà nước. Phương thức cầm quyền của Đảng cần được thể chế hóa thành luật pháp; thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật và chịu trách nhiệm trước nhân dân về hoạt động của mình. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng để chủ trương, đường lối của Đảng được đề ra đúng đắn, được thực hiện hiệu quả, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng Đảng thực sự trong sạch, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên. Củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân với Đảng.

- Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước thật sự là Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vì dân, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng. Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân; tăng cường kỷ luật kỷ cương, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, nhũng nhiễu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân trong đội ngũ cán bộ, công chức.

- Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị. Cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm về sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thể chế hóa vai trò của nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

St

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO, NGƯỜI ĐẦY TỚ TRUNG THÀNH CỦA NHÂN DÂN

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, khi trở thành Đảng cầm quyền thì Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đây chính là lời xác nhận rõ ràng nhất về trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, trước Tổ quốc và dân tộc.

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam 94 năm qua, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên những kỳ tích và vị thế to lớn của đất nước, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đúng như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Mặt khác, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.


Lịch sử và thực tế đã chứng minh, với tư cách vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một đảng cách mạng chân chính, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Là người được nhân dân tin tưởng giao trọng trách chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ hạnh phúc, vinh quang, Đảng đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành những thắng lợi vẻ vang, chấm dứt sự thống trị của thực dân hơn 100 năm và đánh đuổi một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới.

Những năm 1975-1986, trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, thậm chí có lúc đất nước ta rơi vào tình trạng hiểm nghèo, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược ở hai đầu biên giới, vừa ra sức khôi phục kinh tế, tháo gỡ khó khăn, khắc phục trì trệ, khủng hoảng kinh tế-xã hội, từng bước hoạch định đường lối đổi mới. Khi hệ thống XHCN thế giới lâm vào thoái trào, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, CNĐQ và các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, bao vây, cấm vận, một bộ phận nhân dân hoài nghi về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Trước những khó khăn đó, Đại hội VI của Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Gần 35 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước không những vượt qua khủng hoảng kinh tế, mà còn trở thành nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sức mạnh đất nước không ngừng được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực ngày một nâng cao.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên thực tế, ở một số nơi vẫn còn một số cán bộ, đảng viên, trong đó có những người có chức, có quyền đã quên mất vị trí, vai trò là công bộc, là đầy tớ của nhân dân, không có thái độ làm việc vì lợi ích của nhân dân, bị danh lợi, vật chất tha hóa làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Dẫn đến nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng bị xử lý kỷ luật thời gian qua là bài học cảnh tỉnh cho những cán bộ, đảng viên nào còn có tư tưởng không làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình đối với Đảng, với nhân dân.

Để tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đảng, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, đòi hỏi toàn Đảng, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên của Đảng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; đồng thời, gắn với triển khai thực hiện Quy định nêu gương được Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa XII ban hành. Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; phải xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, văn hóa của dân tộc và thời đại. Đảng phải sâu sát thực tiễn, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Đường lối, chính sách của Đảng phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực, có ý thức là người đầy tớ của nhân dân. Làm tốt các nội dung trên mới có thể thực hiện được trọn vẹn di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

St

Sự nguy hiểm của những kẻ bất mãn - trạng thái tâm lý dễ bị kẻ xấu lợi dụng

Trong cơ quan, đơn vị, cũng như xã hội thường có những người bất đắc chí, không được toại nguyện theo nhu cầu bản thân, từ đó sinh ra trạng thái buồn chán, bất mãn, luôn nhìn đời bằng lăng kính xám màu.

Đây chính là một trạng thái tâm lý nguy hiểm, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Thế lực thù địch luôn dùng các thủ đoạn thao túng tâm lý để lôi kéo, kích động các đối tượng nói trên thực hiện theo mưu đồ của chúng hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ cơ quan, tổ chức, cũng như gây bất ổn xã hội. Do đó, cần những giải pháp hiệu quả để hạn chế, ngăn chặn hiện tượng trên.

Tôi có quen một nghệ sĩ tài danh. Tuy nhiên, đáng tiếc là người nghệ sĩ này có một con mắt nhìn đời rất u ám. Bất cứ việc gì, dù là những việc tốt lành, những thành tựu, thành công của đất nước, anh cũng luôn nhìn dưới góc nhìn đầy nghi kỵ, với đủ thuyết âm mưu và đều có xu hướng phủ nhận những thành tựu ấy, cho rằng đó chỉ là sự “đánh bóng, không đúng thực tế”, “không thực chất”.

Ngay cả thành công của bóng đá Việt Nam trong những năm qua, anh cũng cho là “do ăn may”. Theo cách nghĩ của anh thì đất nước Việt Nam luôn đầy rẫy những yếu kém, bất cập, tiêu cực, không minh bạch và “có nằm mơ mới bắt kịp được trình độ phát triển của các nước trên thế giới”. Chính cách nhìn đời u ám ấy khiến anh luôn có một trạng thái tâm lý đầy bức bối.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn

Những người có trạng thái tâm lý như trên không hiếm gặp. Đáng lo ngại có cả những cán bộ, đảng viên, thay vì thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, hăng hái trong thi đua thực hiện nhiệm vụ thì lại có trạng thái tâm lý rất tiêu cực, ngồi đâu cũng nói xấu lãnh đạo cấp trên, nói xấu đồng nghiệp, để từ đó ảnh hưởng tới chất lượng công tác của bản thân, tới uy tín của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây tâm lý hoài nghi trong quần chúng, nhân dân.

Có nhiều nguyên nhân tạo ra trạng thái tâm lý đó, nhưng có lẽ chủ yếu xuất phát từ sự bất mãn cá nhân, do những mong muốn, nguyện vọng của bản thân không được đáp ứng, tích tụ lâu ngày hình thành tâm lý bất mãn, thậm chí thù ghét mọi thứ xung quanh.

Trong cơ quan, đơn vị rất khó tránh việc xuất hiện những người bất đắc chí, ấy là vì họ chưa được đề bạt, cất nhắc, bổ nhiệm; chưa được vào biên chế; chưa được nâng lương, thăng quân hàm đúng niên hạn; chất lượng hoàn thành công việc không được đánh giá cao; bị kỷ luật vì có vi phạm, khuyết điểm... Nếu những trạng thái tâm lý này không được kịp thời phát hiện, sớm có biện pháp giải tỏa thì lâu ngày sẽ tạo thành một căn bệnh bất mãn kinh niên, rất nguy hiểm cho sự ổn định của cơ quan, đơn vị, tổ chức.    

Việc có cách nhìn bi quan, u ám về cuộc sống, về môi trường làm việc trước hết ảnh hưởng tới bản thân mỗi con người. Những người mang tâm lý ủ dột, bức xúc thì kết quả lao động, sản xuất, thực hiện nhiệm vụ thường không tốt. Họ thường không muốn làm việc, không muốn cống hiến tối đa năng lực của mình, vì thế rất khó phát triển, thậm chí còn bị thụt lùi. Vì họ thường tự kỷ ám thị, cường điệu thái quá về những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong môi trường xung quanh, từ đó tự đánh mất động lực để phấn đấu.

Họ nghĩ rất tiêu cực rằng có làm việc, cống hiến tới đâu thì kết quả cuối cùng dành cho bản thân vẫn không tương xứng với công sức bỏ ra. Trạng thái tâm lý đó hết sức nguy hiểm, bởi không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của nhân sự trong cơ quan, đơn vị mà còn có thể dẫn đến những rủi ro khó lường khác.  

Đáng chú ý là các thế lực xấu, thù địch luôn ra sức lợi dụng, sử dụng các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị làm lực lượng xung kích, tiên phong để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Những kẻ xấu, thế lực thù địch thường lợi dụng tâm lý bất ổn của một số cá nhân trong cơ quan, tổ chức và nhóm người trong xã hội để tiếp tục bơm thông tin xấu độc, lôi kéo, kích động, thao túng tâm lý, từ đó tạo ra ý muốn phản kháng.

Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77,93 triệu người dùng internet. Sự phát triển của mạng xã hội khiến các thông tin xấu độc có cơ hội luồn lách đi sâu vào đời sống của mỗi con người, rất khó kiểm soát. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng mạng xã hội để thao túng tâm lý, kiểm soát tâm trí con người bằng cách đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, mất niềm tin, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động sự gây rối, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Chúng ta thấy rất đáng tiếc có những cán bộ, công chức vốn là người tốt, nhưng khi công việc, cuộc sống không được như ý thì sinh ra bất mãn, bỗng “nghe theo đài địch” từ đó tuyên truyền thông tin, quan điểm sai trái. Nếu không được phát hiện và có những giải pháp kịp thời thì những người này càng ngày càng trượt dài theo con đường tăm tối, trở thành những phần tử gây rối, thậm chí chống Đảng, chống Nhà nước.   

Nhận thức được vấn đề nêu trên, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm, thực hiện tốt một số biện pháp như sau:

Thứ nhất, xây dựng lối suy nghĩ tích cực, lối sống tích cực trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ, đảng viên phải tích cực nêu gương, phải là những tấm gương sáng về công tác, lao động, học tập để tạo niềm tin cho tập thể, cho quần chúng, nhân dân.

Thứ hai, quan tâm, giải quyết tốt các chế độ, chính sách cho cán bộ, đảng viên, quân nhân, công chức, viên chức, người lao động. Lãnh đạo đơn vị nên thường xuyên động viên, thăm hỏi, giải quyết tốt các vướng mắc phát sinh trong quá trình công tác, lao động, học tập, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, nhân viên thuộc quyền.

Thứ ba, kịp thời nắm bắt tâm lý, tình cảm, đời sống cá nhân của từng cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị mình. Quan sát kỹ các trạng thái, cử chỉ, hành động giao tiếp hằng ngày để nắm bắt và phát hiện những biểu hiện tâm lý bất ổn, những vấn đề phát sinh, từ đó có giải pháp cụ thể để giải quyết.

Thứ tư, chủ động cung cấp thông tin chính thống, giải đáp kịp thời mọi thắc mắc của cán bộ, nhân viên trong cơ quan, đơn vị. Trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Thứ năm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng có biểu hiện thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thứ sáu, tiếp tục thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng môi trường cơ quan, đơn vị, địa phương lành mạnh, minh bạch.

Tựu trung, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên cũng như mỗi người trong xã hội cần luôn tỉnh táo nhận diện để bản thân có một đôi mắt nhìn đời tinh anh, một lăng kính chính xác, không tô hồng, cũng không bôi đen sự thật. Cần luôn giữ một tinh thần lạc quan, một năng lượng tích cực, hết sức tránh sa vào trạng thái tâm lý tiêu cực không chỉ làm khổ bản thân mà còn có hại cho cơ quan, đơn vị, tổ chức và xã hội.

Làm sâu sắc, hiệu quả hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Indonesia

 

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng, Tổng thống nước Cộng hòa Indonesia Joko Widodo thăm cấp nhà nước tới Việt Nam từ ngày 11 đến 13-1-2024. Đây là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của một nguyên thủ nước ngoài tới Việt Nam trong năm nay, cũng là lần thứ hai Tổng thống Joko Widodo tới thăm Việt Nam thể hiện sự coi trọng đối với quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước láng giềng gần gũi trong ASEAN.

Việt Nam và Indonesia có mối quan hệ truyền thống từ lâu đời. Cách đây gần 70 năm, ngày 30-12-1955, Indonesia trở thành quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đến năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Indonesia và sau đó cùng năm, Tổng thống Sukarno thăm Việt Nam. Hai chuyến thăm trở thành những dấu mốc quan trọng trong lịch sử bang giao giữa hai dân tộc, đặt nền tảng vững chắc cho tình hữu nghị Việt Nam-Indonesia. Indonesia là quốc gia đi đầu trong ASEAN tìm kiếm các giải pháp hòa bình và hợp tác trong bối cảnh Việt Nam bị bao vây, cấm vận. Việt Nam không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp của Indonesia vì đã hỗ trợ nhu yếu phẩm khi Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong những năm 80 của thế kỷ trước. Ở chiều ngược lại, khi kinh tế Indonesia khó khăn vào cuối thập niên 1990, Việt Nam cũng tích cực hỗ trợ các mặt hàng thiết yếu.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải đón Tổng thống Indonesia Joko Widodo tại sân bay quốc tế Nội Bài. Ảnh: TTXVN 

 

Hai nước càng có điều kiện phát triển nhanh chóng mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp sau khi Việt Nam gia nhập “mái nhà chung” ASEAN vào năm 1995, trở thành đối tác toàn diện vào năm 2003. Mối quan hệ ấy bước lên tầm cao mới khi hai nước nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược vào năm 2013 và Việt Nam là đối tác chiến lược duy nhất của Indonesia tại Đông Nam Á.

Gần 7 thập niên qua, tuy thế giới và khu vực chứng kiến nhiều biến động phức tạp, Việt Nam và Indonesia vẫn luôn là bạn bè tốt, đối tác tốt của nhau. Quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển toàn diện, sâu rộng cả trên bình diện song phương lẫn đa phương. Quan hệ chính trị ngày càng gắn kết, đạt mức độ tin cậy cao, trong đó phải kể đến chuyến thăm chính thức Indonesia của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 8-2017-chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư Đảng ta tới Indonesia, và chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joko Widodo vào tháng 9-2018-chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của nhà lãnh đạo Indonesia kể từ khi nhậm chức vào năm 2014. Hợp tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực. Indonesia là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam trong ASEAN và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư của Indonesia trong Hiệp hội. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng tốt và hai bên đang hướng tới mục tiêu 15 tỷ USD trong thời gian tới. Hợp tác trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, nông nghiệp, năng lượng, tư pháp... được quan tâm thúc đẩy. Việt Nam và Indonesia chia sẻ nhiều lợi ích trong thúc đẩy liên kết khu vực và hội nhập quốc tế, tích cực phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong năm 2020 khi Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và hai nước cùng đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng như khi Indonesia là Chủ tịch ASEAN 2023.

Với tư cách là những đối tác tự nhiên, gắn kết bởi nền tảng văn hóa tương đồng, vị trí địa lý gần gũi cùng các lợi ích song trùng tại khu vực và quốc tế, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Sukarno đặt nền móng, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, quan hệ Việt Nam-Indonesia ngày càng trở nên gắn bó, đúng như câu thơ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng Tổng thống Sukarno: "Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em". Trên con đường hướng tới sự phát triển thịnh vượng và bền vững trong một thế giới nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, sự đồng hành giữa hai nước mang ý nghĩa chiến lược với cả Việt Nam và Indonesia. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joko Widodo sẽ thành công tốt đẹp, góp phần làm sâu sắc hơn nữa, hiệu quả hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Indonesia, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp xứng đáng vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.

Dành ưu tiên cao nhất vun đắp tình đoàn kết đặc biệt, thủy chung Việt Nam - Lào

 

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Sonexay Siphandone và phu nhân thăm chính thức Việt Nam, kết hợp đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào từ ngày 6 đến 7-1.

Hai nước Việt Nam và Lào không chỉ là láng giềng mà còn là anh em, đồng chí. Cùng uống chung dòng nước sông Mê Công, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, Việt Nam và Lào có lịch sử gắn bó lâu đời và truyền thống đoàn kết, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau. Từ khi có sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mối quan hệ đó ngày càng phát triển và được nâng lên về chất. Hai dân tộc Việt Nam và Lào luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ với nhau. Máu đào của các chiến sĩ Việt Nam và Lào đã thấm vào dãy Trường Sơn, hòa vào nước sông Mê Công, nước mắt của những người mẹ Việt Nam và Lào có con hy sinh đều chung vị mặn đắng của đau thương, mất mát. Dẫu có nhiều gian khó, hy sinh, nhưng dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, quân và dân hai nước đã cùng nhau chiến đấu kiên cường, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn của cách mạng mỗi nước vào năm 1975.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Một chương trình nghệ thuật nhằm tôn vinh tình hữu nghị thắm thiết đặc biệt Việt Nam - Lào. Ảnh minh họa: TTXVN   

Tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng, bước vào thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Kaysone Phomvihane ở Lào, hai Đảng, hai nước tiếp tục kề vai sát cánh, dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa, cùng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng mà hai dân tộc đã cùng đi qua, chúng ta hoàn toàn tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào. Tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng, được các thế hệ quân và dân hai nước dày công gây dựng, giữ gìn, vun đắp bằng mồ hôi, công sức và cả máu xương, thực sự đã trở thành tài sản chung vô giá, quy luật phát triển, nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước và là mối quan hệ có một không hai trên thế giới. Những bài học lịch sử của tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào mãi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của hai Đảng và nhân dân hai nước.

Những năm gần đây, chúng ta vui mừng nhận thấy, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, kể cả những tác động chưa từng có của đại dịch Covid-19, quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển vững chắc, ngày càng đi vào chiều sâu thiết thực và hiệu quả trên tất cả lĩnh vực với nhiều hình thức hợp tác phong phú, đa dạng. Quan hệ chính trị không ngừng được củng cố và nâng cao, từ quan hệ hữu nghị truyền thống thành quan hệ hữu nghị vĩ đại, định hướng cho các lĩnh vực hợp tác khác. Hợp tác trên các lĩnh vực từ đối ngoại, quốc phòng, an ninh cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội tiếp tục được tăng cường cả về lượng và chất, mang lại lợi ích tốt đẹp cho nhân dân hai nước.

Với niềm tự hào, phấn khởi trước những bước phát triển hết sức tốt đẹp của mối quan hệ Việt Nam-Lào, chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của Thủ tướng Sonexay Siphandone kể từ khi đảm nhiệm cương vị mới tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán của hai Đảng, hai Nhà nước luôn coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho việc củng cố, vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.

Trong thế giới phát triển đầy biến động và phức tạp với cơ hội và thách thức đan xen như hiện nay, mối quan hệ Việt Nam-Lào càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với cả hai nước. Hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước trước sau như một quyết tâm tiếp bước cha anh, gìn giữ và không ngừng vun đắp cho tình đoàn kết đặc biệt mẫu mực, thủy chung, trong sáng Việt Nam-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Nhìn thẳng - Nói thật: Bệnh hình thức trong kiểm tra

 

Vào những tháng cuối năm thường có nhiều đoàn cấp trên đến kiểm tra cấp dưới. Thời bao cấp, nhiều người dân và một bộ phận cán bộ, nhân viên cấp dưới cảm thấy ám ảnh khi nghe tin có đoàn kiểm tra cấp trên đến địa phương, cơ sở mình.

Bởi, mỗi khi cấp trên đến kiểm tra, cấp dưới không chỉ lo lắng ngày đêm chuẩn bị văn bản báo cáo cho "ra môn ra khoai" mà còn phải nháo nhào chạy đi chạy lại lo ăn ở chu đáo cho thượng cấp. Trong tâm lý của cấp dưới, nếu không ứng xử mặn mà, hậu hĩnh khi cấp trên đến kiểm tra thì nguy cơ bị “vạch lá tìm sâu”, khui ra khuyết điểm nhiều hơn ưu điểm là nhãn tiền. Thế nên, trong dân gian mới truyền tai nhau bài thơ trào phúng nghe mà ai oán: “Bộ về, thì tỉnh mổ trâu/ Tỉnh lên, bộ hỏi đi đâu thế này?/ Tỉnh về, thì huyện giết cầy/ Huyện lên, tỉnh hỏi chú mày đấy a?/ Huyện về, thì xã thịt gà/ Xã lên, huyện hỏi bỏ nhà đi đâu?”.

Xã hội văn minh lên từng ngày, những năm gần đây, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới ngày càng đi vào nền nếp, thực chất hơn. Nhiều nơi, cấp dưới cũng không còn tâm lý quá lo ngại, sợ sệt khi cấp trên đến kiểm tra, bởi ai nấy đều hiểu rằng, một trong những chức năng cơ bản của hoạt động lãnh đạo, quản lý là công tác kiểm tra. Không có công tác kiểm tra thì hoạt động lãnh đạo, quản lý sẽ không hiệu lực, hiệu quả, thậm chí bị vô hiệu hóa. Kiểm tra-vì thế được coi là chế độ, công việc bình thường trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa/ tuyengiao.vn 

Tuy nhiên, không hẳn mọi nơi, mọi chuyện về hoạt động kiểm tra đều sáng rõ như ban ngày. Những khúc quanh, góc khuất, nốt trầm trong công tác kiểm tra vẫn là điều khiến dư luận xã hội chưa hết băn khoăn, trăn trở. Bản chất của kiểm tra là tra xét kỹ lưỡng xem có đúng hay không. Kiểm tra còn là điều kiện để cấp trên bồi dưỡng giúp cấp dưới nâng cao trình độ nghiệp vụ. Nếu cấp trên, cơ quan chức năng kiểm tra cấp dưới thực hiện các nguyên tắc, quy trình, quy định bảo đảm chặt chẽ, khách quan, minh bạch, nhận định chính xác, đánh giá công tâm, công bố công khai thì hiệu lực, hiệu quả kiểm tra mới trở nên hiện hữu trong thực tế. Ngược lại, nếu kiểm tra qua loa, đại khái, không truy tìm gốc gác của những sai sót, khuyết điểm của đối tượng được kiểm tra, hoặc có thái độ nể nang, xuề xòa, dĩ hòa vi quý thì sẽ triệt tiêu tác dụng của công tác kiểm tra.

Điều đáng quan ngại của hoạt động kiểm tra ở một số nơi hiện nay là rơi vào bệnh hình thức. Tức là sau khi cấp trên có công văn dấu đỏ áp xuống, cấp dưới phải chuẩn bị đủ thứ văn bản, giấy tờ hành chính để báo cáo cấp trên. Mà thời đại 4.0, công nghệ sao-chép, đánh bóng hồ sơ, làm đẹp văn bản, vuốt ve thành tích... vốn là một trong những “kỹ năng điêu luyện” ở nhiều nơi, nhiều bộ phận, nhiều cán bộ, nhân viên. Trong khi cấp trên đến làm việc, kiểm tra lại chỉ thích ngồi trong phòng lạnh để nghe cấp dưới trình bày báo cáo, rồi kết luận dăm câu ba điều chung chung theo kiểu "phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại, khuyết điểm" thì lại... hòa cả làng!

Sự hình thức trong hoạt động kiểm tra có vẻ như làm lợi cả đôi đường, tức là cấp trên kiểm tra thì được tiếng là bao dung, độ lượng, sẻ chia với cấp dưới, không làm mất lòng cấp dưới; còn cấp bị kiểm tra thì cảm thấy "mát lòng mát dạ" vì cấp trên đã “giơ cao đánh khẽ”, khuyết điểm ít bị khui ra, sai phạm ít bị đụng tới. Nhưng hậu quả là hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra bị giảm sút, thậm chí bị tê liệt; phẩm chất trung thực, tinh thần liêm chính của tổ chức/cá nhân có thẩm quyền kiểm tra bị nhạt phai, thậm chí vẩn đục; còn tổ chức/cá nhân bị kiểm tra thì sinh ra chủ quan, tự mãn và cũng từ đó có thể tự đưa mình trượt dài trên con đường thoái hóa, biến chất. Nói thế để thấy, nếu còn bệnh hình thức trong hoạt động kiểm tra thì đây chính là một trong những tác nhân làm mọt ruỗng văn hóa chính trị, lung lay đạo đức công vụ từ gốc rễ.