Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

VÂNG LỜI BÁC “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” LUÔN SÁT CÁNH CÙNG NHÂN DÂN KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC

Là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, Người cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ đoàn kết quân dân, coi đó là yếu tố thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quân dân có ý nghĩa hết sức to lớn, nếu đoàn kết quân dân tốt, bộ đội được nhân dân tin tưởng, giúp đỡ thì nhất định sẽ giành được mọi thắng lợi. Tháng 8-1948, tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, Hồ Chí Minh nói: “Bộ đội ta được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ đoàn kết quân dân là mối quan hệ máu thịt, biện chứng, hữu cơ, từ hai phía: “Muốn giết địch thắng trận, thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”. Người yêu cầu: “Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn như thế, thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”. Người nhắc nhở phải xây dựng tình đoàn kết quân dân trở thành đạo đức, truyền thống của quân đội. Gặp gỡ các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, tháng 1-1957, Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn, nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển”. 

Hồ Chí Minh cũng căn dặn, đoàn kết quân dân phải được xây dựng bền chặt cả trong kháng chiến cũng như trong kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội phải thật sự vì nhân dân hy sinh, vì nhân dân phục vụ trong kháng chiến cũng như khi hòa bình. Người chỉ rõ trong chiến đấu: “Bộ đội thì hết lòng bảo vệ, giúp đỡ nhân dân, nhân dân thì hết lòng thương yêu, giúp đỡ bộ đội, cùng bộ đội đánh giặc” và trong hòa bình: “Nay chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã trở lại, nhiệm vụ của quân đội ta là: Thi đua học tập, củng cố quốc phòng, giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc, giúp nhân dân tăng gia sản xuất, làm lực lượng trụ cột cho công cuộc hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của nước ta”.

Trong những biện pháp tích cực, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện công tác dân vận, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở từng cán bộ, chiến sĩ phải tự giác, nỗ lực: “Tất cả mọi quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền… Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự đoàn kết quân dân phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Vì theo Người, quân đội luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

Gần 80 năm qua, nhất là những năm gần đây, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng phấn đấu trưởng thành, phát triển, lớn mạnh về mọi mặt, trong đó có thành công của công tác dân vận. Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương luôn khẳng định, biểu dương: Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng. Những năm qua, quân đội làm rất tốt công tác dân vận, khẳng định rõ chức năng đội quân công tác, tích cực, chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu. Qua đó, quân đội đã thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. 

Thực tế luôn chứng minh cán bộ và chiến sĩ toàn quân đã tiến hành toàn diện, sâu sắc công tác dân vận, thực hiện tốt quân dân một ý chí. Điển hình như trong năm 2023, toàn quân đã tích cực triển khai công tác dân vận, góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết quân dân: Như hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, trong đó có 8.120 đơn vị cấp đại đội và tương đương với tổng kinh phí hơn 60 tỷ đồng; tổ chức Hội thi “Dân vận khéo” có 428 đơn vị cấp trung đoàn và tương đương, 277 đơn vị cấp sư đoàn và tương đương tham gia; hỗ trợ kinh phí và vận động xây 616 nhà tình nghĩa tặng đối tượng chính sách và người có công có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở với số tiền gần 50 tỷ đồng, phụng dưỡng 910 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Các cơ quan đơn vị quân đội cũng duy trì hoạt động kết nghĩa với gần 11.650 cấp ủy, chính quyền và tổ chức chính trị - xã hội; huy động 104.500 lượt cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ và gần 5.500 phương tiện tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn với tổng kinh phí cho các hoạt động là 1.700 tỷ đồng...

Có thể khẳng định, quân đội ta đã thật sự xứng đáng được Đảng, Nhà nước và nhân dân tự hào, tin tưởng, xứng đáng với truyền thống hào hùng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, quân đội ta là một quân đội anh hùng”. 

Bên cạnh thành công, thắng lợi là cơ bản, công tác dân vận của quân đội vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm. Đó là việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, đơn vị kết nghĩa trong nắm bắt tình hình tư tưởng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ở một số cơ quan, đơn vị làm chưa tốt, chưa thực sự chủ động; các hình thức hoạt động dân vận của một số cơ quan, đơn vị thiếu sinh động; vẫn còn những vi phạm kỷ luật dân vận chậm được phát hiện, xử lý kịp thời… Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được Đảng ta chỉ ra là: Quân đội phải kiên quyết khắc phục bằng được những hạn chế, khuyết điểm… Không để các thế lực thù địch lợi dụng hạn chế, khuyết điểm để thổi phồng, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của quân đội, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. 

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nguyện: “Tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, củng cố ngày càng sâu sắc hơn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng; thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất như Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang tin tưởng, giao phó, kỳ vọng./.

St

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ

 Thực hiện chủ trương của Đảng về chăm lo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, nhiều cấp ủy địa phương đã triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, tuyển dụng và chính sách hỗ trợ đối với đội ngũ này còn có những khó khăn. Thực tiễn đòi hỏi cần có giải pháp đột phá, tạo động lực để phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào dân tộc ít người.

Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số kết hợp bồi dưỡng nâng cao kiến thức lý luận, thực tiễn là một trong những nội dung trọng tâm được nhiều cấp ủy, địa phương khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc triển khai từ đầu nhiệm kỳ đến nay.

Tăng cường đào tạo, rèn luyện thực tiễn

Bắc Kạn là tỉnh khó khăn, thuộc vùng trung du và miền núi phía bắc, có bảy dân tộc chủ yếu sinh sống (Tày, Nùng, Kinh, Dao, H’Mông, Hoa và Sán Chay), số lượng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 88%. Hầu hết cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tỉnh luôn quan tâm công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, lấy chất lượng của cán bộ là đòn bẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tỉnh chú trọng lồng ghép các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia để mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số ở tất cả các cấp, các lĩnh vực.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bắc Kạn đã xét cử 167 cán bộ, công chức đi học cao cấp lý luận chính trị, trong đó hệ tập trung 74 đồng chí, hệ không tập trung 80 đồng chí và 13 đồng chí học hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị. Trường Chính trị tỉnh đã mở chín lớp trung cấp lý luận chính trị cho 493 học viên. Các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã mở 1.276 lớp bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên ngành, vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý với tổng số 70.350 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia.

Năm 2022, Tỉnh ủy ban hành Đề án số 04 về “tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số giữ chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp, nhiệm kỳ 2025-2030”.

Thực hiện đề án này, nhiều giải pháp mới được triển khai, trong đó chú trọng đào tạo lý luận chính trị, điều động, luân chuyển để rèn luyện thực tiễn... Đến nay, Đề án số 04 cùng các giải pháp khác về công tác cán bộ đã tạo nhiều chuyển biến tích cực, nổi bật là tỷ lệ cán bộ nữ người dân tộc thiểu số tham gia công tác lãnh đạo quản lý các cấp được nâng cao: cán bộ nữ tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 ở cấp xã chiếm 23,93%; tham gia cấp ủy cấp huyện chiếm 22,06%; tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chiếm 21,27%.

Trong số này, hầu hết là cán bộ người dân tộc thiểu số. 

Nhiều đồng chí phát huy tốt năng lực, đóng góp vào thành tựu chung của địa phương nơi công tác. Từ vị trí Phó Bí thư Tỉnh đoàn, tháng 5/2023, đồng chí Ma Thị Mận được Ban Thường vụ Tỉnh ủy điều động, chỉ định giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Pác Nặm, huyện khó khăn nhất của tỉnh Bắc Kạn. Xa gia đình trong khi con còn nhỏ nhưng đồng chí đã nỗ lực sắp xếp để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Dù thời gian ngắn nhưng với ưu thế hiểu biết tâm lý, phong tục tập quán của nhiều dân tộc ít người, đồng chí đã nhanh chóng “bắt nhịp” công việc, được bà con tin yêu, công tác chỉ đạo các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới ở địa phương có nhiều khởi sắc.

Tại Thái Nguyên, địa phương

có hơn 50 dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu tại các huyện vùng cao, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, Tỉnh ủy Thái Nguyên quan tâm ngay từ khâu tạo nguồn cán bộ. Từ năm 2021 đến nay, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh ban hành nhiều chương trình, kế hoạch, đề án đào tạo, bồi dưỡng cùng với cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn đội ngũ cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số.

Trong đó, Quyết định số 39/QĐ-UBND được UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành tháng 8/2021 quy định vùng tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thuộc diện tuyển sinh vào các trường phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh là cơ sở quan trọng cho công tác tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số trong tỉnh. Tỉnh cũng ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí cho các trường dân tộc nội trú bằng 20% mức lương cơ sở để bảo đảm chi phí sinh hoạt cho các học sinh sinh hoạt tại nhà trường. Quyết định đi vào cuộc sống đã tăng cả số lượng và chất lượng nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc rất ít người.

Cũng tại Thái Nguyên, căn cứ điểm mạnh, yếu của đội ngũ cán bộ mà từng địa phương có giải pháp riêng nhằm nâng cao chất lượng cán bộ người dân tộc thiểu số. Năm 2021, huyện Đại Từ triển khai Đề án số 02 về “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị-xã hội, giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030”.

Theo lãnh đạo huyện Đại Từ, điểm mới của đề án là Huyện ủy xây dựng cơ chế động viên, khuyến khích công chức xã phấn đấu tham gia giữ các chức danh phó các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội, từ đó tạo cơ sở phát triển. Cách làm này đã giúp chất lượng cán bộ lãnh đạo xã ngày càng cao, do công chức xã được đào tạo cơ bản, khi tham gia vào các tổ chức đoàn thể nhanh chóng nắm bắt công việc, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ. Hiện nay nhiều đồng chí công chức xã người dân tộc thiểu số đã phát huy tốt năng lực trở thành bí thư, chủ tịch UBND xã.

Cơ chế, chính sách tạo động lực

Do đặc thù hầu hết các địa phương có đông cán bộ người dân tộc thiểu số đều khó khăn về địa hình giao thông và đời sống kinh tế nên vẫn còn nhiều bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như tuyển dụng, quản lý...

Từ thực tiễn địa phương, đồng chí Phương Thị Thanh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Kạn đánh giá, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh đang gặp một số khó khăn, vướng mắc như: thiếu kinh phí, cơ sở vật chất nên chưa tổ chức được nhiều lớp; hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho tỉnh còn hạn chế; công tác này còn thụ động theo nhu cầu của cán bộ, công chức, viên chức hoặc để đáp ứng tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; chưa có định hướng về đào tạo, bồi dưỡng ngành, lĩnh vực mũi nhọn hoặc ngành địa phương đang cần...

Tổng kết công tác năm 2023, Ủy ban Dân tộc đánh giá, tại khu vực dân tộc thiểu số, miền núi, hệ thống chính trị cơ sở một số nơi còn yếu, đặc biệt chất lượng cán bộ còn hạn chế, nhất là thiếu cán bộ người dân tộc thiểu số hoặc có nhưng việc đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn nhiều bất cập. Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh cho biết, thời gian tới sẽ tập trung xây dựng đề án đổi mới mô hình hoạt động của hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhằm tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số chất lượng cao cho các địa phương.

Một thực tế nữa là tại nhiều địa phương dân tộc thiểu số, miền núi, tỷ lệ cán bộ trẻ giữ cương vị lãnh đạo quản lý còn thấp, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng. Bắc Kạn đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, tỷ lệ cán bộ trẻ là lãnh đạo chủ chốt các sở, ban, ngành và tương đương đạt từ 5% trở lên; đến năm 2030 đạt từ 15% trở lên, nhưng nhiệm vụ này đang vấp phải nhiều khó khăn.

Tại huyện Pác Nặm, từ năm 2022 tới nay, có bảy cán bộ, công chức cấp huyện và cấp xã xin nghỉ việc, mục đích chủ yếu là đi xuất khẩu lao động. Hiện tượng này khá phổ biến ở các huyện vùng cao không chỉ ở Bắc Kạn, Thái Nguyên nên ảnh hưởng không nhỏ tới công tác chuyên môn và cả lộ trình quy hoạch, đào tạo cán bộ trẻ người dân tộc thiểu số.

Khó khăn trong bố trí cán bộ trẻ cũng đang là điểm chung của nhiều địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Tại huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), tỷ lệ cán bộ trẻ được quy hoạch cấp ủy, quy hoạch và đảm nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý trong một số cơ quan, đơn vị, nhất là các xã, thị trấn còn thấp.

Trong số 90 cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý diện không thuộc Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý thì chỉ có 12 cán bộ trẻ. Nguyên nhân là các quy định về độ tuổi nghỉ hưu tăng thêm, quy định về vị trí, thời gian công tác khi quy hoạch đối với lãnh đạo quản lý... 

Không những vậy, trong số cán bộ người dân tộc thiểu số, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số rất ít người thấp, thí dụ ở Thái Nguyên, Bắc Kạn số lượng cán bộ người H’Mông, Sán Chay... chỉ đạt dưới 5%. Đây thường là những địa bàn khó khăn, rất cần cán bộ cùng dân tộc để thuận lợi trong việc tuyên truyền, quán triệt chủ trương của Đảng đến với đồng bào.

Theo nhiều địa phương, cần có sự phân cấp, phân quyền cho các địa phương vùng đồng bào dân tộc, miền núi trong công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số rất ít người nhằm tạo cơ chế linh hoạt để có thể chủ động thu hút nguồn cán bộ này.

Với các tỉnh miền núi và đồng bào dân tộc, cơ chế nguồn lực cũng là một động lực quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Đề án số 04 của tỉnh Bắc Kạn cũng đang vướng về nguồn lực do ngân sách địa phương hạn hẹp. Bí thư Huyện ủy Chợ Đồn Hà Đức Tiến chia sẻ, trên cương vị Bí thư Huyện ủy nhưng là cán bộ luân chuyển, đồng chí vẫn nhiều khi phải loay hoay tìm nhà ở do không có nhà công vụ, chưa có chế độ thuê nhà... Đối với cán bộ luân chuyển từ huyện xuống xã, hay từ xã này sang xã kia càng khó hơn, bởi có nhiều xã cách nhau đến hàng trăm cây số đường rừng núi. Việc xây dựng cơ chế, chính sách, hỗ trợ phù hợp với đội ngũ cán bộ khu vực dân tộc miền núi nói chung và cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng sẽ là nguồn động viên quan trọng giúp các cán bộ an tâm, gắn bó với địa bàn và nhân dân nơi công tác./.

St

THỦ TƯỚNG CHỈ ĐẠO CHĂM LO ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI DÂN DỊP TẾT NGUYÊN ĐÁN

 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ ngành, địa phương triển khai các giải pháp chăm lo đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, người lao động, bảo đảm mọi người dân, người lao động đều có Tết, đón Tết vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Công điện số 03/CĐ-TTg ngày 14/1/2024 về việc chăm lo đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân và người lao động trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024.

Công điện gửi Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Công điện nêu: Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo; các ngành, các cấp đã và đang tích cực thực hiện nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả để chăm lo đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, người lao động, đặc biệt trong dịp Tết nguyên đán Giáp Thìn 2024 của dân tộc. Để tập trung làm tốt hơn nữa, bảo đảm mọi người dân, người lao động đều có Tết, đón Tết vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, không để ai bị bỏ lại phía sau, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 23 tháng 11 tháng 2023 của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Giáp Thìn năm 2024 và Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Chỉ đạo cơ quan lao động phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố yêu cầu các đơn vị, doanh nghiệp chủ động thực hiện các biện pháp nhằm nỗ lực vượt qua khó khăn, tích cực chăm lo đời sống cho người lao động, chi trả tiền lương, tiền thưởng cho người lao động kịp thời, theo đúng quy định, hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy, quy chế của doanh nghiệp, bảo đảm cho mọi người lao động đều có Tết và tiếp tục gắn bó với doanh nghiệp; bố trí nghỉ Tết đúng chế độ theo quy định; thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục tình trạng thiếu lao động, không để đứt gãy nguồn cung lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sau dịp Tết Nguyên đán.

b) Chỉ đạo thực hiện việc chi trả trợ cấp xã hội tháng 02 năm 2024 cho đối tượng bảo trợ xã hội trước ngày 03 tháng 02 năm 2024. Tập trung rà soát, nắm tình hình đời sống của các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn (người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người lang thang cơ nhỡ, người dân ở vùng bị thiệt hại bởi thiên tai, bão, lũ, sạt lở, người dân gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu do ảnh hưởng của dịch bệnh, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, miền núi, lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ có điều kiện kinh tế khó khăn...) để quan tâm, chăm lo, kịp thời hỗ trợ phù hợp. Tổ chức thăm hỏi, tặng quà đúng đối tượng, chế độ, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách, bảo đảm tất cả các đối tượng chính sách đều có quà và được nhận quà trước Tết.

c) Khẩn trương thực hiện rà soát, tổng hợp số hộ, số nhân khẩu có nguy cơ thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn và giáp hạt đầu năm 2024 để chủ động có phương án hỗ trợ kịp thời; báo cáo, đề xuất việc xuất cấp lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính trước ngày 18 tháng 01 năm 2024. Trên cơ sở đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp, đề xuất; Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 22 tháng 01 năm 2024.

d) Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện phòng tránh tai nạn, thương tích trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em, phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới trong dịp Tết Nguyên đán. Tăng cường công tác phòng chống tệ nạn xã hội; không để xảy ra tình trạng học viên bỏ trốn, gây mất ổn định tình hình chính trị, trật tự xã hội tại địa phương.

đ) Theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường lao động, nắm bắt kịp thời tình hình lao động, việc làm tại địa phương, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, những nơi tập trung nhiều lao động, tạo thuận lợi cho người lao động nghỉ Tết và trở lại làm việc sau Tết. Quan tâm hỗ trợ người lao động bị giảm sâu thu nhập, mất hoặc thiếu việc làm do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, kinh doanh. Chủ động thực hiện các giải pháp duy trì chuỗi cung ứng nguồn nhân lực, đáp ứng kịp thời lao động cho doanh nghiệp trước và sau Tết Nguyên đán. Tăng cường tự kiểm tra và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ.

3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn các địa phương, cơ quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ chăm lo đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân và người lao động trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền và quy định; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

4. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chi trả gộp hai tháng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội (tháng 01 và tháng 02 năm 2024) vào kỳ chi trả tháng 01 năm 2024, hoàn thành trước ngày 20 tháng 01 năm 2024.

5. Đề nghị Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam chỉ đạo công đoàn các cấp phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nắm tình hình lao động, việc làm, kiểm tra, giám sát việc chi trả tiền lương, thưởng tại các đơn vị, doanh nghiệp, có các phương án hỗ trợ, chăm lo đời sống cho người lao động trong dịp Tết, bảo đảm kịp thời, thiết thực, nhất là đối với người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn.

6. Các doanh nghiệp tích cực, chủ động thực hiện các giải pháp hiệu quả để ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, nỗ lực duy trì, bảo đảm việc làm, thực hiện các chế độ tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy, quy chế của doanh nghiệp.

7. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan truyền thông, báo chí (Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủ...) phối hợp với các bộ, ngành tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn về an toàn giao thông; phòng, chống cháy nổ, pháo nổ; phòng chống dịch bệnh; phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, sinh hoạt văn hóa không lành mạnh trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán.

8. Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện này theo chức năng, nhiệm vụ được giao; báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền./. 

St

Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương: Đừng vì phản biện mà đánh giá trình độ, năng lực, nhận thức, quan điểm

rung tướng Lê Tấn Tới, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh, chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an; Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; đại diện thường trực một số cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội cùng các đại biểu Quốc hội là thành viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Theo báo cáo tại hội nghị, năm 2023, Ủy ban Quốc phòng và An ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn theo đúng chương trình, kế hoạch đề ra, đặc biệt là hoàn thành tốt nhiệm vụ phát sinh khi Chính phủ trình bổ sung 6 dự án luật thuộc lĩnh vực Ủy ban Quốc phòng và An ninh phụ trách để Quốc hội bổ sung vào chương trình, thảo luận, cho ý kiến với 6 dự án luật, thông qua 3 luật, 1 nghị quyết tại Kỳ họp thứ năm, trong đó có 2 dự án luật được thông qua theo quy trình 1 kỳ họp, cho ý kiến 3 dự án luật và thông qua 3 luật tại Kỳ họp thứ sáu. Ngoài ra, Ủy ban Quốc phòng và An ninh còn thực hiện các chuyên đề giám sát của ủy ban và chủ trì giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mặt nội dung chuyên đề giám sát năm 2024 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, khảo sát phục vụ công tác thẩm tra, tiếp thu, giải trình, chỉnh lý các dự án luật do ủy ban chủ trì thẩm tra và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu dương, đánh giá cao kết quả hoạt động của Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong năm 2023. Chia sẻ với những khó khăn, hạn chế của Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương đồng thời đề nghị ủy ban phân tích sâu sắc hơn về những khó khăn do nguyên nhân chủ quan và bài học kinh nghiệm để triển khai nhiệm vụ năm 2024 đạt kết quả tốt hơn. Nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã được Đảng đoàn Quốc hội, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đúc kết và nêu ra, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương đề nghị Ủy ban Quốc phòng và An ninh tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết và giữ vững nguyên tắc trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Trần Quang Phương gợi mở, Ủy ban Quốc phòng và An ninh cần đánh giá, dự báo tình hình sát hơn, nhất là những diễn biến mang tính đặc thù, dự báo sớm để có phương án xử lý tốt hơn. Trong đó cần xác định những đặc điểm cụ thể tác động đến nhiệm vụ lập pháp, giám sát và tham mưu để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Ủy ban Quốc phòng và An ninh cần có phương pháp triển khai công việc bao quát, khoa học, cụ thể nhưng hết sức chủ động, tiếp tục tinh thần của Quốc hội là "lập pháp chủ động, giám sát hiệu quả, quyết định nhanh, chính xác các vấn đề quan trọng của đất nước" Nhấn mạnh rằng nhiệm vụ năm 2024 chắc chắn sẽ nặng nề hơn, phức tạp hơn năm 2023, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương nêu quan điểm: Nhiệm vụ càng khó khăn, càng phức tạp thì càng phải làm tốt hơn, càng phải bình tĩnh, tự tin, giữ vững nguyên tắc, thể hiện đúng bản lĩnh để phản biện đến cùng, đi đến cùng, tìm phương án tối ưu, "không nói không, cũng không nói có mà không làm", lấy kết quả cuối cùng làm thước đo đánh giá trình độ, phẩm chất của một con người. "Đừng vì phản biện mà đánh giá nhau về trình độ, năng lực, nhận thức, quan điểm", Thượng tướng Trần Quang Phương nêu rõ. Nguồn: Báo QĐND

Bộ Quốc phòng hướng dẫn tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2024

 Bộ Quốc phòng đã có văn bản 4267/BQP-TM về tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2024.

Bộ Quốc phòng hướng dẫn tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2024- Ảnh 1.

Để triển khai thực hiện công tác tuyển quân năm 2024 đảm bảo đủ số lượng, chất lượng tốt, đúng Luật NVQS năm 2015 và các văn bản pháp luật hiện hành, trên cơ sở kết quả tổng kết 08 năm thực hiện Luật NVQS năm 2015 gắn với kết quả tuyển quân năm 2023, Bộ Quốc phòng đề nghị các địa phương và yêu cầu các đơn vị quân đội tiếp tục quán triệ, tổ chức thực hiện nghiêm Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015; Thông tư số 148/2018/TT-BQP ngày 04 tháng 10 năm 2018 quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành Luật; Chỉ thị số 98/CT-BQP ngày 26/10/2019 về việc tăng cường biện pháp, nâng cao chất lượng công tác tuyển quân trong tình hình mới và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng...

Đối với các địa phương giao quân

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và sự giám sát của Nhân dân đối với công tác tuyển quân; chỉ đạo thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về NVQS và các quy định về tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; có kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện quy trình tuyển quân chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng, đúng pháp luật; đảm bảo đúng địa bàn, đủ chỉ tiêu, chất lượng, thời gian giao nhận quân.

Kiện toàn Hội đồng NVQS các cấp, Hội đồng khám sức khỏe NVQS cấp huyện đúng thành phần, số lượng; phân công, gắn trách nhiệm từng thành viên Hội đồng với chất lượng tuyển quân; đảm bảo đủ trang thiết bị, vật tư y tế; cử cán bộ, nhân viên có kinh nghiệm, năng lực, trình độ chuyên môn cao tham gia khám tuyển.

Chỉ đạo phát huy tốt dân chủ ở cơ sở, tổ chức thực hiện bình cử, đề cử từ các thôn, xóm, tổ dân phố đề xuất công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có chất lượng tốt tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo đảm dân chủ, công khai, chất lượng, hiệu quả. 

Tiến hành sơ tuyển, xét duyệt ở cấp xã chặt chẽ, đúng quy định; chỉ đạo niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo đến từng thôn về: Chỉ tiêu tuyển quân huyện giao cho xã; điều kiện, tiêu chuẩn tuyển quân; trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ; danh sách công dân trong diện gọi nhập ngũ; danh sách công dân tạm hoãn gọi nhập ngũ, miễn gọi nhập ngũ; danh sách công dân đủ điều kiện nhập ngũ; kết quả phân loại sức khỏe theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Bảo đảm tất cả các xã, phường, thị trấn đều có công dân nhập ngũ

Bộ Quốc phòng đề nghị các địa phương chú trọng tuyển chọn những công dân đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng có ngành nghề phù hợp với nhu cầu bố trí, sử dụng của Quân đội, con em vùng đồng bào dân tộc ít người (dưới 10.000 người) để tạo nguồn cán bộ cơ sở cho địa phương; bảo đảm tất cả các xã, phường, thị trấn đều có công dân nhập ngũ. 

Tiếp tục thực hiện tuyển quân “tròn khâu” với phương châm “tuyển người nào chắc người đó”, chú ý về độ tuổi gọi nhập ngũ phải đủ 18 tuổi tính đến ngày giao nhận quân; hạn chế thấp nhất bù đổi, loại trả sau giao nhận quân; phân bổ chỉ tiêu tuyển quân cho địa phương gắn với địa bàn động viên đến cấp huyện. 

Tạo điều kiện giúp các đơn vị được quy định thâm nhập “ba gặp, bốn biết” và các đơn vị được giao tuyển chọn công dân nữ nhập ngũ thực hiện đúng quy định.

Làm tốt công tác bảo đảm cho công dân nhập ngũ; xác lập, cập nhật bổ sung hoàn chỉnh hồ sơ công dân nhập ngũ, đảm bảo chặt chẽ và chất lượng; đẩy mạnh cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quá trình tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; chuẩn bị mọi mặt chu đáo, tổ chức Lễ Giao nhận quân trang trọng, an toàn, tiết kiệm và phòng chống, dịch bệnh. 

Quan tâm làm tốt công tác chính sách đối với công dân và gia đình có công dân nhập ngũ. Phối hợp chặt chẽ với đơn vị nhận quân trong quá trình phúc tra tiêu chuẩn chiến sĩ mới, thực hiện bù đổi đúng quy định (nếu có).

Thường xuyên nắm chắc tình hình, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với mọi tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật, pháp luật về thực hiện NVQS hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu, tiêu cực trong tuyển quân, không để xảy ra tình trạng đơn thư kiến nghị, khiếu nại vượt cấp.

Đối với các đơn vị nhận quân

Bộ Quốc phòng yêu cầu các đơn vị nhận quân chủ động xây dựng kế hoạch đón nhận chiến sĩ mới; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các địa phương giao quân đảm bảo tuyển, nhận quân đúng địa bàn, đủ số lượng, chất lượng, đúng tiêu chuẩn quy định; cử cán bộ có năng lực, trách nhiệm, kinh nghiệm và được bồi dưỡng, tập huấn kỹ trước khi về địa phương tuyển quân. 

Sau Lễ Giao nhận quân, tổ chức hành quân về đơn vị đúng thời gian, bảo đảm an toàn tuyệt đối; tổ chức đón nhận và đảm bảo tốt mọi mặt về chế độ chính sách, đời sống vật chất, tinh thần và công tác phòng, chống dịch bệnh (nếu có) cho bộ đội ngay từ ngày đầu về đơn vị.

Tiến hành phúc tra tiêu chuẩn chiến sĩ mới bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; phối hợp và kịp thời thông báo với địa phương giao quân những trường hợp phải bù đổi (nếu có).

Chuẩn bị tốt mọi mặt tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới, chú trọng biên chế đủ khung huấn luyện, bảo đảm vũ khí, trang bị đồng bộ, cơ sở vật chất, mô hình học cụ, thao trường bãi tập theo đúng quy định tại Chỉ thị số 04/CT-TM ngày 03/02/2021 của Tổng Tham mưu trưởng về việc tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới.

Tăng cường giáo dục chính trị, tuyên truyền phổ biến pháp luật, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho bộ đội, rà soát, phát hiện, động viên những chiến sĩ mới trên cơ thể có hình xăm, chữ xăm; hình, chữ dán, phun, vẽ... tự tẩy xóa (trường hợp hạ sĩ quan, binh sĩ trên cơ thể có hình xăm, chữ xăm sẽ không được xem xét tuyển chọn, đào tạo sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp... phục vụ lâu dài trong Quân đội); thường xuyên duy trì thực hiện nghiêm kỷ luật Quân đội và thực hiện nền nếp chính quy theo quy định.

Những đơn vị có chỉ tiêu tuyển nhận quân nhưng không đủ điều kiện tuyển nhận, huấn luyện chiến sĩ mới được Bộ giao đơn vị khác huấn luyện giúp phải thường xuyên phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị tuyển nhận, huấn luyện giúp để nắm tình hình tư tưởng, kỷ luật, kịp thời giải quyết mọi vướng mắc phát sinh và thực hiện quản lý quân số theo đúng quy định.

Tuyển chọn và gọi công dân nữ nhập ngũ năm 2024

Ngoài điều kiện, tiêu chuẩn chung như đối với tuyển chọn và gọi công dân nam nhập ngũ, đối với công dân nữ phải có đơn tình nguyện vào phục vụ trong Quân đội, được đại diện gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú xác nhận và đáp ứng một số điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể sau:

Về tuổi đời: Từ đủ 18 đến hết 25 tuổi; công dân đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng, đại học thì độ tuổi đến hết 27 tuổi; chưa lập gia đình, chưa có con.

Đủ tiêu chuẩn sức khỏe loại 1, 2 theo quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng; riêng chiều cao lấy từ 1,60m trở lên, ngoại hình cân đối, quân dung tươi tỉnh.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Đã tốt nghiệp đào tạo trung cấp trở lên; ưu tiên những công dân tốt nghiệp đại học, cao đẳng có ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng của Quân đội. Trường hợp có năng khiếu thực hiện theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng.

Các đơn vị được giao chỉ tiêu tuyển nhận công dân nữ nhập ngũ được tuyển (tuyển lẻ) tại các địa phương trên toàn quốc và được tính vào chỉ tiêu tuyển quân năm 2024 của địa phương, đơn vị; phối hợp và bàn giao cho Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội (đối với các đơn vị phía Bắc), Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (đối với các đơn vị phía Nam) để huấn luyện chặt chẽ, bảo đảm đúng thời gian, an toàn tuyệt đối./.

CHIẾC ÁO KHÔNG LÀM NÊN THẦY TU

Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”... Thoạt nhìn, không ít người lầm tưởng đó là tài khoản chính thức của một cơ quan, đơn vị nào đó trong Quân đội, song kỳ thực không phải như vậy. Đây là những trang cá nhân đang lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để "câu view", "câu like", đánh bóng tên tuổi, bán hàng, xuyên tạc... nhằm thu hút và “thao túng tâm lý” người xem. Đáng lo ngại hơn là một số cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận một cách thấu đáo đã vội vàng ủng hộ bằng cách nhấn yêu thích, thả tim và có những bình luận tỏ ra a dua, đồng lõa.

Gần đây, trên cổng thông tin chính thức của một số bệnh viện uy tín trong Quân đội như: Bệnh viện 108, Bệnh viện 175, Bệnh viện 103 cũng đã đưa ra cảnh báo về việc trên mạng xã hội xuất hiện nhiều trang, nhóm mạo danh các cơ sở y tế quân sự để thực hiện hành vi chào bán thuốc, thực phẩm chức năng, dịch vụ y tế kém chất lượng, làm tổn hại sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngành y học Quân đội.

Nguy hại hơn, lợi dụng sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều đối tượng đã giả mạo một số chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của các cơ quan, đơn vị Quân đội để gọi video trực tuyến, nhắn tin qua Messenger, Zalo... “thông báo” đến các gia đình có quân nhân tại ngũ về một số vấn đề liên quan đến pháp luật, kỷ luật như: Làm hư hỏng, thất thoát tài sản chung, phải bồi thường; tham gia cá độ, chơi lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi quá khả năng chi trả; mất đoàn kết, gây thương tích... Từ đó đe dọa, buộc gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản để “chạy án”, nếu không sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”...

Điểm chung của các chiêu trò trên, đó là lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để “mua chuộc” lòng tin của nhân dân nhằm phục vụ hành vi lừa đảo. Nếu không tỉnh táo, không chủ động xác minh thông tin kỹ lưỡng, chúng ta sẽ bị đánh lừa bởi những “vở kịch” mà kẻ gian đã công phu dàn dựng, để rồi... “tiền mất tật mang”.

Không dừng lại ở đó, một số tài khoản còn tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh người quân nhân cách mạng theo kiểu “ăn không nói có”, “chuyện bé xé ra to”, “vơ đũa cả nắm”... Đặc biệt, các đối tượng xấu còn thường xuyên giật tít “rất kêu” nhằm kích thích sự tò mò của cộng đồng mạng, dạng như: “Thông tin mật”, “góc khuất của lính”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, “sự thật về bộ đội”... Thời điểm đăng tải, tán phát thông tin cũng rất nhạy cảm, nhất là những lúc đơn vị thực hiện nhiệm vụ khó khăn, đột xuất; trước mỗi mùa tuyển quân; khi quân nhân chuẩn bị hoàn thành nghĩa vụ quân sự...Từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào môi trường quân ngũ.

Quân đội là trường học lớn của tuổi trẻ. Bên cạnh hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, vẫn còn đó những quân nhân, những cán bộ, đảng viên chưa thực sự gương mẫu, tự giác trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, dẫn tới vi phạm các chế độ quy định. Tuy nhiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm mà đã xem xét, xử lý nghiêm minh; đồng thời thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị nói riêng, toàn quân nói chung. Điều đó lại càng khẳng định bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đúng với tư tưởng: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

St

Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh là trường hợp hiện hữu của lịch sử khi đã “trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống” và thời gian càng lùi xa, sức sống và giá trị trong tư tưởng của Người càng tỏa sáng. Việc luận giải sức sống bất hủ của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn, vững tin hơn vào nền tảng tư tưởng của Đảng mà tự thân những giá trị to lớn trong tư tưởng của Người là sự phủ nhận hữu hiệu đối với các ý kiến lệch lạc, xuyên tạc Hồ Chí Minh của các phần tử cơ hội chính trị. Mặt khác, việc khẳng định những giá trị trường tồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách giúp cán bộ, đảng viên phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện lười nhác, xem nhẹ việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thế kỷ 20 đầy bão tố đã khép lại cùng với sự đóng góp của nhiều vĩ nhân, trong đó có Hồ Chí Minh. Điều làm nên sức mạnh và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là những đặc tính tiêu biểu toát lên từ tư tưởng của Người. 1. Nội dung căn cốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Khát vọng tự do là đặc tính của con người nên khi chủ nghĩa thực dân đẩy vô số dân tộc vào vòng nô lệ, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là xu thế tất yếu của thời đại. Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở thành đại diện của các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho quyền được làm người, quyền được sống trong bình đẳng và tự do. Được trang bị phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin và bằng trải nghiệm thực tiễn, Hồ Chí Minh đưa ra những phát kiến ở tầm thời đại về con đường cứu nước và phương hướng dựng nước của dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Hồ Chí Minh có hệ thống quan điểm hết sức sáng tạo về phương thức giải phóng, đó là cách mạng thuộc địa phải tiến hành một cách chủ động, sáng tạo, không thụ động trông chờ vào cách mạng chính quốc và sẽ thành công trước cách mạng chính quốc. Thực hiện tư tưởng của Người, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập, tự do mà thắng lợi của nhân dân Việt Nam còn góp phần làm tan vỡ hệ thống thuộc địa trên quy mô toàn thế giới. Vì thế, Hồ Chí Minh được mệnh danh là người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ. Nhà bác học người Anh Béctơrăng Rútxen đã viết: “Sự nghiệp vô tư và quên mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho nền độc lập và thống nhất của Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ nay đã làm cho Người trở thành không những là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà còn là kiến trúc sư nổi tiếng của thế giới đã thoát khỏi chủ nghĩa thực dân”. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh kết tinh những giá trị vĩnh hằng của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thế giới tôn vinh Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa hòa bình bởi Người luôn nỗ lực giải quyết xung đột với dân tộc khác bằng con đường đối thoại văn hóa, khi buộc phải tự vệ thì Người chủ động hạn chế không gian chiến tranh ở Việt Nam để bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới. Hồ Chí Minh rất yêu chuộng hòa bình nhưng đó phải là hòa bình thực sự-hòa bình trong độc lập, tự do bởi đúng như Người đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Với Hồ Chí Minh, độc lập, tự do không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là giá trị đạo đức. Một con người yêu nước, một dân tộc có lòng tự tôn sẽ không cam tâm sống cuộc đời nô lệ. Khi thế giới còn đầy rẫy sự bất công, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý lớn của thời đại. 3. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng đoàn kết và hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam”. Có thể coi đây là khởi phát của chiến lược đoàn kết quốc tế của Người. Cần nhấn mạnh rằng, chiến lược ấy ra đời không chỉ vì mục tiêu chính trị mà còn xuất phát từ tình cảm đồng loại: “Quan sơn muôn dặm một nhà/ Vì trong bốn biển đều là anh em”. Tình cảm ấy ở người cộng sản Nguyễn Ái Quốc hết sức sâu đậm nên từ năm 1923, nhà thơ Xô viết Ôxip Manđenxtam đã cảm nhận: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy được ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người không ngừng giáo dục nhân dân về tình hữu nghị, về đạo lý “giúp bạn là tự giúp mình”. “Chiến tranh lạnh” đẩy các quốc gia vào thế “đối đầu” nhưng Hồ Chí Minh vẫn kiên trì khẳng định: “Các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”. Hồ Chí Minh là người luôn tìm cách quy tụ thay cho loại trừ, luôn nỗ lực tìm ra “mẫu số chung” chứ không “khoét sâu” sự khác biệt. Với tinh thần “tìm sự thống nhất trong đa dạng”, Hồ Chí Minh không chỉ là người có tư duy quốc tế hiện đại, tinh thần khoan dung văn hóa mà còn là đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu. 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần đổi mới và hội nhập-xu thế lớn của thời đại ngày nay. Hồ Chí Minh là người đặc biệt nhạy bén với cái mới. Người định nghĩa cách mạng cũng từ góc độ này: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Trung thành với Chủ nghĩa Mác nhưng Người vẫn đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng một loạt luận điểm mới, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người căn dặn cán bộ tuyệt đối không được giáo điều, bảo thủ. Trong "Di chúc" để lại, mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm “đổi mới” nhưng Người đã phác thảo một chiến lược đổi mới trên nét lớn và căn dặn: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Sự nghiệp đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề xướng đã trở lại đúng tinh thần đó và thành tựu do đổi mới mang lại thực sự vĩ đại. Đó là minh chứng cho khả năng dự báo chiến lược của Hồ Chí Minh. Khi thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có như hiện nay, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh càng trở nên ý nghĩa. Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Ngay khi nhà nước cách mạng mới ra đời và chưa được quốc gia nào công nhận, chủ trương mở cửa, kêu gọi đầu tư đã được Người khẳng định trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” (tháng 12-1946). Trong thương mại quốc tế, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”. Ngày nay, hội nhập quốc tế toàn diện đã trở thành xu thế tất yếu nhưng vào thập niên 1940, chủ trương của Hồ Chí Minh về hợp tác kinh tế với các nước có sự khác biệt về ý thức hệ và thể chế chính trị, thực sự là tư duy hết sức mới mẻ, tiến bộ. 5. Tư tưởng văn hóa-đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc mà còn để lại hình mẫu về văn hóa làm người. Với Hồ Chí Minh, văn hóa không phải là cái gì quá cao siêu mà phải trở thành “văn hóa đời sống”, tức là văn hóa phải góp phần loại bỏ những gì lạc hậu, dốt nát, phù hoa, xa xỉ trong tập tục và nâng cao dân trí để mỗi người giải phóng hết “năng lực người” của mình. Hồ Chí Minh rất sâu sắc khi cho rằng, việc tiếp thu văn hóa nhân loại phải song hành với việc quảng bá văn hóa dân tộc vì ngoài vấn đề lợi ích thì đó còn là sự dâng hiến theo tinh thần “mình đã hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng”. Hàm chứa những quan điểm hết sức sâu sắc, cho nên, UNESCO đánh giá: Tư tưởng Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”. Hồ Chí Minh còn là nhà tư tưởng đặc biệt quan tâm đến đạo đức. Nói về tầm quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh luôn khẳng định đạo đức là cái gốc của con người, là sức mạnh của người cách mạng và Đảng cách mạng, là điều kiện để con người vươn tới tài năng, là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của học thuyết cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cao nhất chính là suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân và nhân loại. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giàu sức thuyết phục không chỉ bởi đặc tính khoa học, nhân văn mà còn vì cuộc đời “trong như ánh sáng” và sự hiến dâng trọn vẹn cho dân, cho nước của Người. Không chỉ nhân dân Việt Nam, các trí tuệ lớn của thời đại cũng đã thừa nhận: "Nói tới một con người mà cả cuộc đời mình đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Hồ Chí Minh". Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và đạo đức Hồ Chí Minh-mẫu mực điển hình về sự trong sáng, cao thượng, luôn hòa quyện trong nhau và có ý nghĩa thời sự rất lớn đối với một thế giới nhiều nghịch lý hiện nay. Thế giới ngày càng giàu có và hiện đại nhưng do sự phát tác thái quá của chủ nghĩa cá nhân, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng giữa các tầng lớp và dân tộc, không ít người đã rơi vào khủng hoảng lẽ sống, niềm tin. Điều đó dẫn đến sự gia tăng bạo lực và lối sống lệch lạc của một bộ phận dân chúng. Đến mức, có người dùng cụm từ “dã man trong văn minh” để nói về thế giới hiện đại. Sinh thời, Thủ tướng Ấn Độ Nêru đã kết luận rất đúng rằng: “Thế giới ngày nay đang trải qua một cuộc khủng hoảng... Cái cần bây giờ là tiếp cận hòa bình, hữu nghị và tình bạn. Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự tiếp cận đó”. Tư tưởng nhân văn-đạo đức Hồ Chí Minh với triết lý nhân sinh “chính tâm và thân dân” sẽ đánh thức phần “thiện” trong mỗi con người, giúp họ tìm ra lẽ sống đúng đắn và cách hành xử hợp đạo lý để có được hạnh phúc đích thực. Năm tháng trôi qua nhưng Hồ Chí Minh “không phải là một kỷ niệm của quá khứ. Người là một con người diệu kỳ cho tất cả mọi thời đại”. Đó là sự đánh giá xác đáng mà nhân loại đã dành cho Bác Hồ của chúng ta. Nguồn: Báo QĐND

Nghĩa vụ quân sự 2024, những thông tin quan trọng cần biết

Nghĩa vụ quân sự 2024, những thông tin quan trọng cần biết

Vun đắp tình quân dân nơi biên cương Đông Bắc

Thấu hiểu, sẻ chia với khó khăn của đồng bào vùng biên cương Đông Bắc, những năm qua, cán bộ, nhân viên, trí thức trẻ tình nguyện (TTTTN) Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 327, Quân khu 3 luôn tích cực tham gia các dự án, triển khai nhiều mô hình, việc làm thiết thực để giúp bà con xóa đói, giảm nghèo, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế-xã hội. Dấu ấn của bộ đội Đoàn KT-QP 327 hiện hữu trong mỗi nếp nhà, thôn, bản càng giúp tình quân dân nơi biên cương thêm gắn bó bền chặt. Sáng sớm những ngày đầu năm khi sương mù vẫn đang phủ trắng trên những dãy núi cao ở vùng biên cương thì hàng chục cán bộ, nhân viên, TTTTN Lâm trường 156, Đoàn KT-QP 327 đã có mặt tại khu dân cư Trình Tường (thôn Bắc Cương, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh) để giúp bà con chăm sóc vườn mận. Những công việc nhà nông như cuốc đất, rẫy cỏ, bón phân, tỉa cành được những người lính lâm trường làm rất thuần thục. Cùng tham gia giúp dân, Trung tá Phạm Văn Thao, Phó giám đốc Lâm trường 156 cho biết: “Hơn 70 nhân khẩu ở đây đều là người dân tộc Dao. Do trình độ dân trí thấp, lại sống tách biệt trên núi cao nên cái đói, cái nghèo bủa vây bà con quanh năm suốt tháng. Để giúp đồng bào, nhiều năm qua, đơn vị hỗ trợ giống, đồng thời thường xuyên hướng dẫn bà con cách trồng, chăm sóc cây mận. Vừa rồi lứa mận trồng loạt đầu đã cho quả, sản lượng chưa nhiều nhưng quả to, ăn giòn và ngọt, bán được giá. Đây là tín hiệu mừng để người dân Trình Tường thoát nghèo trong thời gian tới”. Hoạt động giúp dân cũng được cán bộ, nhân viên, TTTTN Lâm trường 103, Đoàn KT-QP 327 triển khai sôi nổi, tích cực ở bản Pạc Này (xã Quảng Đức, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh) trong những ngày qua. Bất chấp thời tiết giá lạnh của mùa đông vùng biên cương, hằng ngày, bộ đội Lâm trường nhiệt tình xắn quần lội suối vác đá, chuyển đất gia cố bờ đập trữ nước phục vụ dân bản sinh hoạt, tưới tiêu. Ông Nguyễn Văn Bình, Bí thư Chi bộ, Trưởng bản Pạc Này chia sẻ: “Con đập là nguồn dự trữ nước duy nhất của dân bản. Những năm gần đây, do mưa lớn nên nhiều đoạn bờ kè bị sạt lở, mùa khô không đủ nước phục vụ bà con gieo trồng. Được bộ đội giúp sức, bà con dân bản bảo nhau tạm nghỉ đi rẫy để ở nhà làm cùng bộ đội. Nhìn bờ kè được gia cố chắc chắn, dân bản mừng lắm, biết ơn bộ đội nhiều lắm”. Đóng quân dọc các huyện miền núi biên giới của tỉnh Quảng Ninh nên cán bộ, nhân viên, TTTTN Đoàn KT-QP 327 luôn thấu hiểu, sẻ chia khó khăn với đồng bào nơi đây. Với phương châm “Nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, hướng dẫn để người dân làm theo”, cán bộ, nhân viên, TTTTN của Đoàn không quản khó khăn, vất vả, luôn bám địa bàn phối hợp với cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể địa phương triển khai các dự án, mô hình, việc làm để giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội. Những người lính ở các lâm trường trở thành “kỹ sư nông nghiệp” có mặt ở khắp các bản làng vùng cao hướng dẫn người dân cách trồng trọt, chăn nuôi. Trung tá Nguyễn Văn Đạo, Trợ lý dân vận, Phòng Chính trị, Đoàn KT-QP 327 cho biết: “Các lâm trường chủ động khảo sát, tìm hiểu phong tục tập quán, nếp sinh hoạt, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng thôn, bản và nhu cầu của đồng bào để từ đó lựa chọn con giống, cây trồng, triển khai mô hình, công việc giúp đỡ phù hợp. Những năm qua đã có hàng chục mô hình trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây lấy gỗ, chăn nuôi gia súc, gia cầm được triển khai hiệu quả, góp phần giúp hàng trăm hộ gia đình thoát khỏi cái đói, cái nghèo, dần có của ăn của để”. Hiện nay, Đoàn KT-QP 327 đang phối hợp triển khai một số mô hình như: “Xây dựng khu dân cư biên giới điển hình”, “Nông-lâm kết hợp”, “Vườn-ao-chuồng”, “Bộ đội lâm trường nâng bước em đến trường”. Các lâm trường phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch, đồng thời huy động sự vào cuộc của các tổ chức chính trị-xã hội trên địa bàn như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân cùng chung tay thực hiện, tạo được nhiều nguồn lực để giúp đỡ bà con. Đại tá Nguyễn Văn Huy, Chính ủy Đoàn KT-QP 327 nhấn mạnh: “Thành công của các mô hình không chỉ là những vườn cây sai trĩu quả, đàn gia súc, gia cầm sinh trưởng phát triển tốt mà quan trọng hơn là nếp nghĩ, cách làm của bà con đã dần thay đổi. Nếu như trước đây một số hộ dân chỉ quen lên núi lấy củi, hái măng bán lấy tiền đong gạo ăn qua ngày thì nay đã biết tự trồng lúa, trồng ngô, chăn gà, nuôi vịt... Đây là cơ sở quan trọng để đồng bào thoát nghèo, hướng đến cuộc sống no đủ hơn”. Sự kiên trì, bền bỉ, sát cánh cùng đồng bào của bộ đội Đoàn KT-QP 327 trong những năm qua đã góp phần giúp diện mạo khu vực biên giới Đông Bắc ngày càng khởi sắc, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện đáng kể; tình trạng đồng bào sống du canh, du cư cơ bản không còn; nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ổn định. Đặc biệt, mối quan hệ đoàn kết quân dân trên địa bàn ngày càng được vun đắp bền chặt, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường thế trận quốc phòng vùng biên cương, xây dựng phên giậu biên giới ngày càng vững chắc. Nguồn: Báo QĐND

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH, HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ

 Bộ máy nhà nước, theo quan điểm Hồ Chí Minh, cần gọn nhẹ, có hiệu lực, phù hợp với từng giai đoạn để phục vụ đắc lực cho mục tiêu hoạt động của Nhà nước, tất cả vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, không vì lợi ích của cá nhân nào. Chức vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước là do dân ủy thác, ủy quyền để làm việc cho dân, không vì chủ nghĩa cá nhân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức. Người coi cán bộ nói chung “là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Nói một cách tổng quát nhất về yêu cầu đối với đội ngũ này, theo Hồ Chí Minh, đó là những người vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc; đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả.

Đi vào những mặt cụ thể, Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Một là, tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần có đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Cán bộ, công chức phải là những người kiên cường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành đó không phải là những điều trừu tượng, chung chung, mà phải được thể hiện hằng ngày, hằng giờ, trong mọi lĩnh vực công tác, thể hiện trong kết quả thực tế công tác. Lòng trung thành đó thể hiện đặc biệt rõ trong những lúc đất nước gặp khó khăn, thử thách, chuyển giai đoạn.

Hai là, hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.

Chỉ với lòng nhiệt tình thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Yêu cầu tối thiểu là đội ngũ cán bộ, công chức phải hiểu biết công việc của mình, biết quản lý nhà nước, do vậy, phải được đào tao và tự mình phải luôn luôn học hỏi. Đó là tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức. Công chức phải chuyên sâu nghiệp vụ, phải luôn luôn học tập không ngừng nghỉ, học mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. Hồ Chí Minh chính là con người điển hình của tự học. Người tự học những kiến thức về nhà nước trong cả cuộc đời mình.

Ba là, phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa đội ngũ cán bộ, công chức với nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức là những người hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước do dân đóng góp. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi cán bộ, công chức không được lãng phí của công; phải sẵn sàng phục vụ nhân dân, luôn luôn nêu cao đạo đức cách mạng, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân mình cho Tổ quốc, lấy phục vụ quyền lợi chính đáng của nhân dân làm mục tiêu cho hoạt động của mình.

Đặc biệt, phải chống bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, phải luôn luôn gần dân, hiểu dân và vì dân. Cán bộ, công chức xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền… đối với nhân dân đều dẫn đến nguy cơ làm suy yếu Nhà nước, thậm chí làm biến chất Nhà nước vì đã phạm một điều có tính chất cốt tử của cấu tạo quyền lực nhà nước là tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Bốn là, cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”. Đó là những người có ý thức sẵn sàng làm “công bộc”, làm “đày tớ”, phục vụ tận tuỵ nhân dân, những người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm việc với tinh thần đầy sáng tạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn luôn “có chí tiến thủ”, luôn luôn học tập đế nâng cao trình độ về mọi mặt, học ở trường, học ở trong cuộc sống, trong công tác, học ở thầy, học ở bạn.

Năm là, phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước. Với chức trách là những người phục vụ nhân dân, thì cán bộ, công chức phải tận tuy, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Muốn vậy, theo Hồ Chí Minh cán bộ, công chức phải thường xuyên tự phê bình và phê bình để giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác. Đồng thời, cán bộ, công chức phải chăm lo xây dựng bộ máy nhà nước để nhà nước đúng là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước

Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nước luôn trong sạch, vững mạnh. Điều này luôn luôn thường trực trong tâm trí và hành động của Hồ Chí Minh. Khi nước nhà giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ cũng như lúc cách mạng chuyển giai đoạn, Hồ Chí Minh càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của các cấp chính quyền, bởi vì thường những lúc đó cách mạng đứng trước những thử thách rất gay gắt và những tiêu cực rất dễ trở thành nguy cơ làm biến chất Nhà nước.

Chỉ một tháng sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, nêu rõ phải chống đặc quyền, đặc lợi; bộ máy nhà nước không phải là bộ máy áp bức, bóc lột nhân dân, cán bộ, công chức không phải là những “ông quan cách mạng”.

Hồ Chí Minh chỉ ra sáu căn bệnh cần đề phòng: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhắc nhở: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực vào lòng”.

Hồ Chí Minh đã dùng những cụm từ “công bộc”, “đày tớ” để chỉ ra một mặt trách nhiệm của người cán bộ, công chức trong xây dựng một Nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh thường chỉ rõ những tiêu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc phục.

Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải tẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng chức quyền để làm lợi cho cá nhân mình, làm như thế tức là sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người phê bình những người “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”. Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù có hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến… Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”.

Ngày 27/11/1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Ngày 26/01/1946, Hồ Chí Minh ký lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công dân là tội tử hình. Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt. Chính bản thân Người luôn làm gương, tích cực thực hành chống lãng phí trong cuộc sống và công việc hằng ngày. Người biết quý từng đồng xu, bát gạo do dân đóng góp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Lãng phí ở đây được Hồ Chí Minh xác định là lãng phí sức lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền của. Chống lãng phí là biện pháp để tiết kiệm, một vấn đề quốc sách của mọi quốc gia. Liên đến bệnh tham ô, bệnh lãng phí là bệnh quan quan liêu, một căn bệnh không những có ở cấp trung ương, ở cấp tính, ở cấp huyện mà còn ngay ở cả cấp cơ sở.

Hồ Chí Minh phê bình những người và các cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không đi sâu vào từng vấn đề. Bệnh quan liêu làm cho chúng ta chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn… thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, đây là bệnh gốc sinh ra các bệnh tham ô, lãng phí; muốn trừ sạch bệnh tham ô, lãng phí thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu. “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo” những hành động trên gây mất đoàn kết, gây rối cho công tác.

Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cánh, tệnạn bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Trong chính quyền, còn hiện tượng gây mất đoàn kết, không biết cách làm cho mọi người hòa thuận với nhau, còn có người “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác”. Ngoài bệnh cậy thế, có người còn kiêu ngạo, “tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi… Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính phủ.

Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật

Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hội bằng pháp luật với phát huy những truyền thống tốt đẹp trong đời sống cộng đồng người Việt Nam được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử (kết hợp nhuần nhuyễn cả “đức trị” và “pháp trị”).

Trong việc thực thi quyền hạn và trách nhiệm của mình với cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh bao giờ cũng thể hiện là một người sáng suốt, thống nhất hài hòa giữa lý trí và tình cảm, nghiêm khắc, bao dung, nhân ái nhưng không bao che cho những sai lầm, khuyết điểm của bất cứ ai.

Kỷ cương, phép nước thời nào cũng luôn được đề cao và phải được áp dụng cho tất cả mọi người. Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh dùng sức mạnh uy tín của mình để cảm hóa những người có lỗi lầm, kéo họ đi với cách mạng, giáo dục những người mắc khuyết điểm để họ tránh phạm pháp. Dưới ngọn cờ đại nghĩa, bao dung của Hồ Chí Minh, nhiều người vốn rất mặc cảm với cách mạng đã dần hiểu ra và không “sẩy chân” phạm pháp hoặc không đi theo địch.

Xây dựng Nhà nước trong sạch, hiệu quả

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, sâu sắc, định hướng cho việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Học tập và quán triệt tư tưởng này để xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ giai đoạn cách mạng mới là hết sức cần thiết.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang tích cực thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước đó được xây dựng trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những điều kiện thực tế hiện nay của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

a) Nhà nước bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân.

Quyền làm chủ thật sự của nhân dân chính là một nội dung cơ bản trong yêu cầu xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước đòi hỏi phải chú trọng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong vấn đề này, việc mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quan trọng. Chính vì vậy, quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật, đưa Hiến pháp và pháp luật vào cuộc sống. Cần chú ý đến việc bảo đảm cho mọi người được bình đẳng trước pháp luật, xử phạt nghiêm minh mọi hành động vi phạm pháp luật, bất kể sự vi phạm đó do tập thể hoặc cá nhân nào gây ra. Có như vậy, dân mới tin và mới bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước ta.

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, ngoài vấn đề thực thi nghiêm chỉnh pháp luật, còn cần chú ý thực hiện những quy tắc dân chủ trong các cộng đồng dân cư, tùy theo điều kiện của từng vùng, miễn là các quy tắc đó không trái với những quy định của pháp luật.

b) Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực này đòi hỏi chú trọng cải cách và xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh. Muốn vậy, phải đẩy mạnh cải cách nền hành chính theo hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, phục vụ đắc lực và có hiệu quả đối với nhân dân.

Kiên quyết khắc phục thói quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu, tham nhũng, bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực, sự sa sút phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực thực hành nhiệm vụ công chức kém cỏi. Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay còn cần chú ý cải cách các thủ tục hành chính; đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giải quyết các khiếu kiện của công dân theo đúng những quy định của pháp luật; tiêu chuẩn hóa cũng như sắp xếp lại đội ngũ công chức, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức vừa có đức, vừa có tài, tinh thông chuyên môn, nghiệp vụ.

Đội ngũ công chức yếu thì không thể nói đến một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân thực sự vững mạnh. Do vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được đặt lên hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, bảo đảm chất lượng.

c) Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Công cuộc đổi mới, chỉnh đốn Đảng tất yếu gắn liền với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đây là trách nhiệm cực kỳ quan trọng của Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền. Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở những nội dung như: Lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: lãnh đạo bằng đường lối, bằng tổ chức, bộ máy của Đảng trong các cơ quan nhà nước, bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước, bằng công tác kiểm tra, Đảng không làmthay công việc quản lý của Nhà nước.

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ trong hệ thống chính trị trên cơ sở bảo đảm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước theo luật định. Bản chất, tính chất của Nhà nước ta gắn liền với vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, do đó, đến lượt Đảng, một tiền đề tất yếu được đặt ra là sự trong sạch, vững mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là yếu tố quyết định cho thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

St

KHÔNG CÓ GÌ CAO QUÝ HƠN LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC

Công tác đối ngoại là “điểm sáng nổi bật” trong bức tranh VN năm 2023 “rất đẹp, rất sinh động và có sức hấp dẫn cao”, thể hiện rõ nét trường phái đối ngoại “cây tre VN”. 

Năm 2023 là năm lịch sử của công tác đối ngoại, ngoại giao VN với 22 chuyến thăm của lãnh đạo chủ chốt tới các nước láng giềng, đối tác quan trọng, bạn bè truyền thống và 28 chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến VN cùng hàng trăm cuộc gặp cấp cao tại các diễn đàn, hội nghị đa phương. Trong số đó, có những chuyến thăm mang ý nghĩa lịch sử như hai chuyến thăm cấp Nhà nước tới Hà Nội của TBT, CTN TQ Tập Cận Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với TQ và đánh dấu việc nâng cấp lên quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ. Cùng với đó, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 6 nước, gồm TQ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ; qua đó khẳng định “chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay”.

Thế nhưng, chính vì lẽ đó, các thế lực thù địch lại giở thói “ghen ăn tức ở”, “chọc gậy bánh xe” với đường lối ngoại giao của Đảng ta với những luận điệu đi ngược lại chính sách vì lợi ích quốc gia – dân tộc, cố tình xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của VN nhằm phá hoại công cuộc hội nhập, phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên Khai mạc Hội nghị ngoại giao lần thứ 32 đã khẳng định: Ngành ngoại giao và đối ngoại đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”.

Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… Tính đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức với 193 quốc gia (gồm 192/193 nước thành viên Liên Hợp Quốc). Đảng ta thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân, phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam cũng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng.

Trong năm 2023, chúng ta chứng kiến một số sự kiện quốc tế tích cực. Chúng ta tiếp tục tăng cường sự tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác, tạo những dấu ấn mới, củng cố vững chắc quan hệ với các nước giềng. VN đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác, trong đó có việc nâng tầm và tạo những đột phá. Chuyến thăm VN thành công của TBT,CTN TQ Tập Cận Bình và Phu nhân cùng Đoàn Đại biểu Cấp cao Đảng, Nhà nước TQ cùng với chuyến thăm TQ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngay sau Đại hội XX của Đảng CSTQ; Việt Nam – Hoa Kỳ thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững là những dấu ấn lịch sử quan trọng, thể hiện thành công từ việc xây dựng lòng tin trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta… 

Trong khi VN và TQ đang tập trung xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau thì chúng bịa đặt, công kích rằng thực chất Đảng ta không theo “ngoại giao cây tre” mà chọn chia sẻ tương lai chung với TQ, lệ thuộc vào TQ. 

Nhìn lại những năm qua, từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, quan hệ VN – TQ đã không ngừng mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. TQ hiện là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu thứ 2 của VN. VN là đối tác thương mại lớn thứ 4 và lớn nhất trong khu vực ASEAN của TQ, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2022 đạt 175 tỷ USD và đã đạt 155,58 tỷ USD sau 11 tháng của năm 2023. TQ đứng thứ 6 trong số 144 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào VN, với vốn lũy kế đạt 26 tỷ USD. Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác khác như quốc phòng, an ninh, hạ tầng, giao thông, nông nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục, đào tạo, thể thao, khoa học, công nghệ… cũng được tăng cường.

Và VN không phải là quốc gia duy nhất thiết lập mối quan hệ ngoại giao với TQ. 4 đối tác thương mại lớn nhất của TQ là Mỹ (327,2 tỉ USD), Nhật Bản (157 tỉ USD), Hàn Quốc (153,4 tỉ USD) và Australia (116,1 tỉ USD). Năm 2023, kim ngạch thương mại Nga – TQ đạt 114,5 tỉ USD đánh dấu mức tăng 40,6% so với một năm trước và lần đầu tiên đưa Nga vào danh sách 5 đối tác thương mại hàng đầu của TQ. Những năm gần đây, các địa phương ở TQ đưa vào vận hành và khai thác nhiều tuyến đường sắt liên vận kết nối với châu Âu, phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy trao đổi thương mại giữa hai bên. Tháng 11/2023, TQ và Uruguay đã tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên đối tác chiến lược toàn diện trong cuộc hội đàm giữa hai nguyên thủ và nhất trí tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, như kinh tế thương mại, nông nghiệp, văn hóa và hợp tác xây dựng Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI). Điều này cho thấy, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, khát vọng chung của toàn nhân loại. Chính vì vậy, không thể nói rằng, cứ hợp tác với TQ là “lệ thuộc”!

Những thành tựu đã đạt được cũng như thực tiễn sinh động về hoạt động đối ngoại của VN trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là minh chứng rõ ràng nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của VN mà các thế lực thù địch rắp tâm chống phá! Để cuối cùng khẳng định rằng: không có gì cao quý hơn lợi ích quốc gia - dân tộc!./.

St

HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN - BIỂU HIỆN TẬP TRUNG CỦA SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC

Giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thường xuyên kết hợp được xây dựng đạo đức mới đi đôi với đấu tranh chống lại những hiện tượng phi đạo đức. Người ý thức sâu sắc rằng, cách mạng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, luôn luôn có những thế lực thù địch chống phá quyết liệt.

Kẻ địch thường có ba loại: Chủ nghĩa đế quốc; thói quen truyền thống lạc hậu, tư tưởng tiểu tư sản; chủ nghĩa cá nhân. Nhận thức như vậy để thấy rõ đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch một cách kiên quyết, không khoan nhượng, thực sự khó khăn, lâu dài.

Suy đến cùng, đạo đức cách mạng mà chúng ta xây dựng là đạo đức tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình; còn cái phi đạo đức nguy hiểm nhất, trở thành "giặc trong lòng", "giặc nội xâm", cần phải chống là chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chủ nghĩa cá nhân là một loại vi trùng độc hại, làm tha hóa các quan hệ vốn có của mỗi đảng viên:

Với mình thì tự cao, tự đại, tự phụ, kiêu ngạo, lo thu vén lợi ích riêng; trong lãnh đạo, quản lý thì độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thích địa vị, quyền hành; đối với quần chúng thì coi thường, coi khinh. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, cần phải kiên quyết sửa chữa, quét sạch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô... Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”; cái gì không phải chủ nghĩa xã hội là cá nhân chủ nghĩa, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hoá Đảng. Đây là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính trí tuệ, tính đạo đức, tính nhân dân,... chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân thì cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. 

Do vậy, chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính. Người cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết trên trán chữ “cộng sản” là được họ yêu mến”, mà phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là “địch nội xâm”, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”. Do vậy, điều quan trọng là đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. 

Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ bằng nhiều hình thức phong phú gắn với những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội. Cuộc đấu tranh đó không kém cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù ngoại xâm, bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không lộ nguyên hình, nó ẩn ấp trong tư tưởng, suy nghĩ của mỗi cá nhân và hành vi của mỗi cá nhân đó. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví một cách hình ảnh: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng tốt lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”. 

Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, khéo dỗ dành ta đi xuống dốc, vì thế càng nguy hiểm. Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nó chờ dịp để phát triển, che lấp đạo đức cách mạng, ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Người kết luận: "Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó".

Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân"", vì, như Người phân tích: "Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình".

Chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện đa dạng, luôn biến hóa “muôn hình vạn trạng”, bởi thế, có nhiều người mơ hồ (hoặc cố ý mơ hồ), cho rằng đó là căn bệnh người khác mắc phải, còn mình thì không. Tuy nhiên, dù biến tướng thế nào vẫn có thể nhận diện được nếu hiểu nguồn gốc, bản chất căn bệnh này: “Chủ nghĩa cá nhân là một loại giá trị và nguyên tắc đạo đức, là hệ thống lý luận chính trị, kinh tế và đạo đức của giai cấp tư sản”. 

Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của xã hội cũ dựa trên chế độ tư hữu, là sự đối lập giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3-2-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra các loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống (tất cả có 19 biểu hiện): Bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh.

Tóm lại, do chủ nghĩa cá nhân mà phạm phải nhiều sai lầm, làm mất nhân cách con người, uy tín của cán bộ, đảng viên; chủ nghĩa cá nhân là một trong ba nguy cơ đối với Đảng cầm quyền.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về bản chất, cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân đối với một Đảng cẩm quyền, vì khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm, thực hiện những giải pháp nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách có hiệu quả.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những giải pháp thiết yếu đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân là mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận đối với mỗi đảng viên trong Đảng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, cũng như là để chống chủ nghĩa cá nhân. 

Thứ hai, nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là nội dung quan trọng tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ: “Quan tham vì dân dại”. Do thiếu hiểu biết nên nhân dân không có khả năng thực hành với tư cách của làm chủ. Ngược lại nếu họ hiểu biết nắm vững được pháp luật, nắm vững quyền làm chủ của mình, họ sẽ đấu tranh, bảo vệ quyền làm chủ của mình.  

Thứ ba, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng, thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. 

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát cán bộ, đảng viên của các cơ quan nhà nước, thực hiện kỷ luật nghiêm minh, của các tổ chức Đảng. Bởi theo Người, nếu thiếu những điều đó thì con người dù làm bất cứ việc gì, ở bất cứ ngành nào cũng dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị suy thoái, hủ hoá.

Đấu tranh chống lại cái sai, cái xấu, cái ác phải đi liền với xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, hướng vào xây và lấy xây làm chính, là một nhiệm vụ chủ yếu, lâu dài. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định chủ nghĩa cá nhân là sự biểu hiện tập trung nhất của suy thoái đạo đức, lối sống tha hóa nhân cách cộng sản, trở thành nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền. Quan niệm, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng có giá trị lâu dài và tính thời sự cấp thiết. Chính vì vậy, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, học tập và làm theo quan điểm này của Người là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng với tư cách là giải pháp hàng đầu ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (khóa XII)./.

St