Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa: TTXVN 

 

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Hội thảo quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại được tổ chức ngày 6-9-2022. Ảnh minh họa: quocte.vn

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

BẢO VỆ THÀNH TỰU CHỐNG THAM NHŨNG TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã lớn tiếng quy chụp đó là bản chất, là căn bệnh nan y không thể khắc phục của chế độ.

Chúng liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, phủ nhận kết quả phòng, chống tham nhũng. Đấu tranh với những luận điệu sai trái này là trách nhiệm không chỉ của mỗi cán bộ, đảng viên.

Sự xuyên tạc trắng trợn, phản khoa học

Trong bài “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế” của Trần Ngọc Tuấn trên RFA ngày 23-6-2022 đã đặt ra câu hỏi “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”, từ đó người này lớn tiếng khẳng định: Muốn chống tham nhũng phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại của Việt Nam… Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng, nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ. Đây cũng là luận điệu được lặp đi lặp lại trong các bài viết của Võ Thị Hảo trên một số trang mạng. Để củng cố cho luận điểm này, chúng rêu rao “Việt Nam nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng”.


Luận điệu quy kết tham nhũng gắn với bản chất chế độ xã hội là sự xuyên tạc trắng trợn, phản khoa học, bởi:

Thứ nhất, tham nhũng là khuyết tật của xã hội, xuất hiện ở mọi quốc gia. Theo thống kê trong giai đoạn 2003-2011, Thụy Điển có 1.248 vụ việc bị cáo buộc tham nhũng liên quan đến mua sắm công, cấp giấy phép, các vấn đề quy hoạch… Theo báo cáo dựa trên phân tích số liệu thống kê tham nhũng khu vực công do Bộ Tư pháp Mỹ công bố: "Số liệu cụ thể và tầm cỡ chính trị của các quan chức dân cử Illinois và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, những người bị liên đới, truy tố hoặc bị kết tội vào năm 2020 là đáng kinh ngạc". Báo cáo năm 2020 cho thấy, chỉ riêng bang Illinois có 31 trường hợp bị kết án tham nhũng khu vực công…

Thứ hai, nếu tham nhũng chỉ có ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, gắn với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản thì sẽ không có sự tồn tại của Tổ chức Minh bạch quốc tế, cũng không có sự kiện tháng 12-2003, đại diện hơn 120 nước trên thế giới đã họp tại Mexico để thông qua Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, cũng không có Ngày Quốc tế chống tham nhũng 9-12.

Nhìn vào chỉ số cảm nhận tham nhũng do Tổ chức Minh bạch quốc tế đưa ra năm 2021, Việt Nam đạt 39/100 điểm, xếp thứ 87/180 quốc gia được đánh giá thì chắc chắn, luận điệu cho rằng tham nhũng là bản chất, chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, thật khôi hài, không có căn cứ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Có phải phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là thanh trừng nội bộ?

Để phủ nhận những thành tựu trong công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, các thế lực thù địch lại tiếp tục đưa ra luận điệu chống tham nhũng ở Việt Nam chẳng qua chỉ là trò “đấu đá nội bộ”, “tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích trong Đảng”, “trò đánh trống, khua chiêng nhằm che mắt thế gian”. Đài RFA đăng tải bài viết với nhan đề: “Có ai tin câu: Chống tham nhũng ở Việt Nam không có vùng cấm”; hay VOA là: “Một cuộc “thanh trừng” trong Đảng ở Việt Nam”… Tất cả chỉ là những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, đánh mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.

Tham nhũng được Đảng và Nhà nước ta xác định là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm”, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, thậm chí là một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Vì thế, nhất định phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ hiện tượng này ra khỏi đời sống xã hội. Để giải quyết vấn đề này, cần quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cả quốc gia, dân tộc, đó hoàn toàn không phải là thanh trừng nội bộ hay tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích như các thế lực thù địch đã rêu rao. Bởi:

Thứ nhất, Đảng xác định phòng, chống tham nhũng là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Thứ hai, cùng với sự quán triệt trong chủ trương, đường lối, chỉ trong thời gian ngắn, nhiều quy định của Đảng, nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước đã được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc nâng cao mức độ tuân thủ Công ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, với sự lãnh đạo sáng suốt, quyết liệt trong thực hiện của Đảng và Nhà nước ta, hoạt động phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả vượt trội, củng cố được niềm tin của quần chúng nhân dân và sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế.

Năm 2022, theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Tổ chức Minh bạch quốc tế, Việt Nam là 1 trong số 6 quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương có tiến bộ nổi trội. Trong bảng xếp hạng CPI 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, Việt Nam đã tiến 10 bậc, từ xếp thứ 87 (năm 2021) lên 77 (năm 2022).

Có phải phòng, chống tham nhũng sẽ làm suy yếu nền kinh tế?

Trước những thành tựu không thể phủ nhận của công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch lại tiếp tục sử dụng chiêu bài cho rằng chống tham nhũng sẽ làm suy yếu nền kinh tế, làm cho các hoạt động kinh tế bị tê liệt. RFA ngày 28-11-2022 đăng bài của Francesco Guarascio với luận điệu: “Cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài VOA tiếng Việt hôm 29-11-2022 rêu rao: Chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư, tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư.

Luận điệu này là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi:

Thứ nhất, tham nhũng được coi là một tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Làm cạn nguồn đầu tư nội địa, gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô, kìm hãm hoạt động của các đơn vị kinh tế... Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành hiểm họa nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ.

Thứ hai, nếu chiến dịch chống tham nhũng làm tê liệt nền kinh tế thì hoạt động này sẽ không được cộng đồng quốc tế và các quốc gia đặc biệt quan tâm giải quyết vấn nạn này. Đơn cử, chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 6-12-2021 cũng phải công bố chiến lược mới chống tham nhũng và chống các hoạt động tài chính bất hợp pháp. Bộ Tài chính nước này đưa ra các biện pháp xử lý những đối tượng lợi dụng thị trường bất động sản ở Mỹ để che giấu tài sản… nhằm làm trong sạch nội bộ và tiếp tục phát triển đất nước.

Trên thực tế, với tất cả những thành tựu đã đạt được trên mặt trận này, niềm tin của nhân dân đã từng bước được củng cố, vị thế của chúng ta trên trường quốc tế được nâng cao, Việt Nam đang trở thành thị trường được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hướng đến.

Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18-11-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, làm “nhụt chí” những người khác”./. 

St

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ CÁN BỘ BẰNG THỂ CHẾ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

 “Nuôi dạy và giữ gìn cán bộ” là vấn đề trọng tâm, bao trùm toàn bộ tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những chỉ dẫn của Người về vấn đề này là yêu cầu tiên quyết, góp phần bảo đảm thực hiện tốt chủ trương “xây dựng đội ngũ cán bộ” và “làm tốt công tác bảo vệ cán bộ” của Đảng ta trong giai đoạn mới. 

Bảo vệ cán bộ bằng thể chế - Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh 

Cán bộ là đội ngũ những người ưu tú, giữ vị trí tiên phong trong lãnh đạo và tổ chức các hoạt động nhằm mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Để có được đội ngũ cán bộ tốt, Người yêu cầu thực hiện tốt hai mảng công việc song trùng là “nuôi dạy cán bộ” và “giữ gìn cán bộ”. Trong đó, nuôi dạy cán bộ là tạo lập các điều kiện, tiền đề giúp cán bộ có môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực trước yêu cầu, nhiệm vụ công tác; giữ gìn cán bộ là bảo vệ trước các nguy cơ mất cán bộ. 

Tuy không trực tiếp bàn luận, song thông qua các bài nói, bài viết về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề bảo vệ cán bộ trên cả hai phương diện. Theo nghĩa rộng, bảo vệ cán bộ là hoạt động bao hàm trong đó cả phòng, chống các nguy cơ gây “mất cán bộ” và “nuôi dưỡng” bằng cách tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cán bộ phát triển phẩm chất, năng lực. Với nghĩa này, toàn bộ công tác cán bộ, xét đến cùng chính là bảo toàn đội ngũ “cán bộ tốt” đáp ứng yêu cầu của “việc cách mạng”. Theo nghĩa hẹp, bảo vệ cán bộ chính là giữ gìn cán bộ, như giữ gìn vốn quý, trước các nguy cơ gây hại làm mất cán bộ. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ cán bộ bằng thể chế có thể khái quát những quan điểm cơ bản sau: 

Thứ nhất, để bảo vệ cán bộ hiệu quả, nhất thiết phải lập các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động của chế độ mới. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người đã xác định “Vấn đề thứ ba” trong “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu” để hình thành tổ chức, bộ máy và “phải có một hiến pháp dân chủ” để thiết lập các khuôn khổ, nguyên tắc pháp lý nền tảng cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong chế độ mới. Các khuôn khổ, nguyên tắc này là nền tảng định hình những việc được làm, nên làm và những việc không nên làm, không được làm của mọi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của chế độ mới. Khi các khuôn khổ, nguyên tắc hoạt động được xác lập thì cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ có những nền tảng chuẩn mực để tuân theo, biết những nghiêm cấm để tránh xa, nghĩa là cán bộ được làm việc trong hệ thống khuôn khổ, nguyên tắt này. 

Thứ hai, xác lập “lối làm việc” của cán bộ và cơ quan quản lý, sử dụng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cán bộ phát triển tốt hay suy thoái rồi bị đào thải đều thể hiện trong quá trình thực thi công vụ, nên “sửa đổi lối làm việc” là một trong những yêu cầu tiên quyết. Nhiều sai lầm, khuyết điểm, căn bệnh trong lối làm việc được Người chỉ ra cặn kẽ và xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến “mất cán bộ”. Để “giữ gìn cán bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý”. Người nêu những nguyên tắc nền tảng cho lối làm việc của cán bộ, bao gồm: “Lề lối làm việc phải dân chủ”, “theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân”; “Lề lối làm việc: Mọi việc bất kỳ to nhỏ, phải có kế hoạch, phải bàn bạc kỹ. Phải giải thích cho dân hiểu rõ, sao cho dân vui vẻ thi đua làm. Hết sức tránh bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh”. Tuân theo các nguyên tắc này nghĩa là cán bộ đi đúng con đường trở thành “cán bộ tốt”; thực hiện không đúng nguyên tắc này, thậm chí vi phạm, làm ngược, đồng nghĩa cán bộ có biểu hiện chệch hướng, sa vào “cán bộ kém”, có nguy cơ bị đào thải. “Giữ gìn cán bộ” là mục tiêu chính yếu của “phong trào sửa đổi lối làm việc”. 

Thứ ba, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong quản lý, sử dụng cán bộ. Việc quản lý, sử dụng cán bộ có liên hệ mật thiết đến bảo vệ cán bộ. Trong thực tế, cùng một khuôn khổ thể chế, song với thực tiễn quản lý, sử dụng khác nhau, có cơ quan tạo cảm hứng, động lực cho cán bộ gắn bó lâu dài và phát triển; ngược lại, có cơ quan tạo tâm lý tiêu cực dẫn đến nguy cơ mất cán bộ. Người thẳng thắn chỉ ra “khuyết điểm lớn” của một số cơ quan là “thiếu óc tổ chức”. Khuyết điểm này vừa khiến “việc cũng đến hỏng”, vừa không quản lý, sử dụng cán bộ tốt dẫn đến nguy cơ “mất cán bộ”. Cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ tốt tức là thực hiện tốt các nguyên tắc, khuôn khổ hoạt động của chế độ mới, thực hành “lối làm việc” mới, kiến tạo môi trường với những điều kiện thuận lợi cho cán bộ rèn luyện, phát triển. Việc quản lý, sử dụng cán bộ tốt cũng góp phần loại trừ những nguy cơ tiêu cực từ cơ chế quản lý và môi trường làm việc gây hại đến cán bộ. Người nhấn mạnh: “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại. Thí dụ: người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích”. 

Mục tiêu của việc bảo vệ cán bộ là giúp “cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc”. Trong quản lý, sử dụng cán bộ, Người nêu ra những định hướng nguyên tắc gồm: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; dựa vào công việc và sở trường của cán bộ để giao việc; kỷ cương gắn liền với tình đồng chí yêu thương; chí công vô tư; cảnh giác, đấu tranh với thành phần xấu. Theo Người, làm được như vậy là giúp cho Đảng có “cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc”. Không làm được như vậy sẽ có “một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. 

Thứ tư, xác lập yêu cầu, nguyên tắc trong kiểm soát và đánh giá cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem kiểm tra, kiểm soát là nhân tố quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo đúng. Người yêu cầu “phải luôn luôn kiểm soát cán bộ” để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Khi phát hiện khuyết điểm thì phải tùy nặng nhẹ mà xử trí cho đúng mức để mọi người biết mà tránh. Xử lý kỷ luật phải tuân thủ phương châm “giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải hết sức chú ý vấn đề dân chủ và kỷ luật. Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”. Đánh giá cán bộ để có cơ sở “giữ gìn cán bộ”. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Yêu cầu, chuẩn mực dùng để đánh giá cán bộ phải phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, xét người và xét việc, cả quá khứ, hiện tại và tiềm năng trong tương lai. Khi xem xét phải chú ý cả hiện tượng và bản chất, không nên chỉ xem xét mặt bên ngoài, xem xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ đó. 

Thứ năm, xác lập quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, “đoàn thể”, nhân dân trong “giữ gìn cán bộ”. Theo Hồ Chí Minh, bảo vệ cán bộ bao gồm tự bảo vệ và được bảo vệ. Tự bảo vệ nghĩa là cán bộ chủ động, tự giác thực hiện các biện pháp phòng vệ trước các nguy cơ hoặc đấu tranh trước các “kẻ địch” đang tấn công, gây hại. Dù là yêu cầu tự thân, song mỗi cán bộ chỉ có thể tự bảo vệ trên cơ sở được xác lập rõ quyền hạn, trách nhiệm công tác và mối quan hệ với các chủ thể khác. Theo Người, cán bộ có quyền được thực thi công vụ theo quy định, thụ hưởng chính sách, được ý kiến, chăm lo, được che chở bảo vệ. Theo Hồ Chí Minh, “cán bộ tốt là làm đúng nghĩa vụ của đảng viên”, trong đó có kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch của cách mạng. Để cán bộ có thể tự bảo vệ, Người nêu cơ chế: “Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh”. Đó chính là mối quan hệ giữa các cán bộ trong tự bảo vệ. Được bảo vệ nghĩa là cơ quan quản lý, sử dụng cán bộ và nhân dân thực hiện các hoạt động bảo vệ cán bộ. Cơ quan, tổ chức có quyền quản lý, sử dụng cán bộ, đồng thời có trách nhiệm phải “nuôi dạy” và “giữ gìn cán bộ”. Để tẩy sạch các căn bệnh, khuyết điểm gây tổn hại đến cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra năm cách: Chỉ đạo (giao phụ trách nhưng định rõ phương hướng, cách thức công tác); nâng cao (tìm cách cho học tập); kiểm tra; cải tạo; giúp đỡ (bảo đảm điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc). Người nhấn mạnh, dựa vào dân để “giữ gìn cán bộ” là tất yếu thắng lợi. Nhân dân có “trăm tai nghìn mắt” nên thấy hết mọi điều, từ ưu điểm đến hạn chế. Theo Người, “Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”; “tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”. Nhân dân bãi miễn cán bộ thông qua cơ chế dân chủ theo quy định của pháp luật. 

Một số khuyến nghị hoàn thiện thể chế bảo vệ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh 

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ cán bộ là nhiệm vụ tất yếu, quan trọng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Thực hiện chủ trương của Đại hội, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” với yêu cầu “cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”. Đặc biệt, tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” đã khẳng định “Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ”. Để việc bảo vệ cán bộ bằng thể chế ngày càng thiết thực và hiệu quả, trong thời gian tới, cần quan tâm thực hiện một số quan điểm: 

Một là, thể chế bảo vệ cán bộ không trái với các khuôn khổ, nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, đặc biệt là Hiến pháp và Điều lệ Đảng. Điều này đặt ra khi một số quy định pháp luật còn bất cập, không phù hợp thực tiễn, cần sửa đổi, bổ sung hoặc trong trường hợp cần ban hành các quy định mới. Trong trường hợp đó, thể chế bảo vệ cán bộ không được trái Điều lệ Đảng. 

Hai là, thể chế bảo vệ cán bộ phải xác định được các chủ thể tham gia với những quy định chi tiết về quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ. Hiện nay, thể chế khuyến khích bảo vệ cán bộ “6 dám” cần xác định được lực lượng thực hiện với những quy định cụ thể, chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ. Nhiều văn bản pháp quy trong hệ thống chính trị đã quy định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, những quy định về quyền và nghĩa vụ giám sát của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Dựa trên các quy định này, thể chế bảo vệ cán bộ cần cụ thể hóa, chi tiết hóa, bổ sung thêm để trả lời rõ ràng, xác đáng những câu hỏi lớn đang đặt ra: Ai bảo vệ cán bộ? Nội hàm của quyền bảo vệ cán bộ? Nội dung của trách nhiệm bảo vệ cán bộ? Phối hợp như thế nào trong bảo vệ cán bộ?... 

Ba là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được các tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp. Các tiêu chí này là cơ sở để xác định xếp loại cán bộ. Trong đó, cần chú ý khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Xử lý nghiêm việc lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cần cụ thể hóa hơn nữa các tiêu chí đánh giá, để cán bộ biết khuôn khổ của “6 dám” để thực hiện; cơ quan quản lý, sử dụng có thẩm quyền biết khuôn khổ để “xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm”. Các tiêu chí này cũng là cơ sở để tổng kết, đánh giá “đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ”, qua đó quyết định nhân rộng thực hiện, điều chỉnh hoặc không tiếp tục thực hiện. 

Bốn là, thể chế bảo vệ cán bộ cần xác lập được cơ chế kiểm soát cán bộ và phương cách thực hiện. Cơ chế kiểm soát cán bộ nói chung, cán bộ “6 dám” nói riêng cần xác lập trên nguyên tắc: (i) thực hiện kiểm soát để thúc đẩy cái mới, cái tiến bộ chứ không phải làm cho thoái giảm; (ii) xác định rõ chủ thể với quyền hạn, trách nhiệm cụ thể; (iii) vừa tuân theo quy trình kiểm tra, kiểm soát chung, vừa phải xác định những đặc điểm riêng. Về phương cách, cần làm rõ nội hàm, phạm vi, cách thức của kiểm soát từ trên xuống, từ dưới lên, kiểm soát nội bộ, kiểm soát từ bên ngoài bởi nhân dân. Trong kiểm soát, cần minh định rõ những biểu hiện là nguy cơ, sai phạm hiện hữu và các mức độ của sai phạm. Đó là cơ sở để xác định mức độ, biện pháp kiểm soát và hình thức, biện pháp xử lý sau đó./. 

St

SẬP BẪY LỪA ĐẢO QUA MẠNG: VIỆT NAM ĐỨNG TOP ĐẦU TRÊN THẾ GIỚI

 Trong báo cáo về tình trạng lừa đảo qua mạng năm 2023, do Liên minh Chống lừa đảo toàn cầu (GASA) và Dự án xã hội chống lừa đảo phối hợp công bố cho thấy, trong khi cả thế giới là 53 tỷ USD, thì riêng Việt Nam chiếm tới 16 tỷ USD.

Thời gian qua các cơ quan chức năng ở Việt Nam liên tục phát đi những cảnh báo về nạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng, thế nhưng tỷ lệ nạn nhân sập bẫy lừa vẫn liên tục tăng cao.

Theo thông tin của Bộ Công an, đơn vị này đã liệt kê 24 hình thức lừa đảo trực tuyến, từ những hình thức tinh vi nhất như lừa đảo bằng các video deepfake (hình ảnh, thông tin giả mạo, sai sự thật), đến giả danh cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án, cán bộ thuế gọi điện qua giao thức internet hăm dọa người bị hại, sau đó chiếm đoạt thông tin cá nhân và chiếm đoạt tài sản. Kẻ xấu còn dựng ra nhiều kịch bản để lừa người dùng vào bẫy, dụ dỗ nạp tiền làm nhiệm vụ online, giả mạo người thân yêu cầu chuyển tiền, giả mạo luật sư, cam kết lấy lại tiền… Theo thống kê của đơn vị này, trong 11 tháng đầu năm 2023, cơ quan này đã nhận được gần 16.000 phản ánh về các trường hợp lừa đảo trên mạng internet; trong đó, 91% liên quan đến giả mạo, lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng-tài chính.

Theo thống kê của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), trong 11 tháng đầu năm 2023, cơ quan này đã nhận được gần 16.000 phản ánh về các trường hợp lừa đảo trên mạng internet; trong đó, 91% liên quan đến giả mạo, lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng- tài chính.

Nguyên nhân khiến người dân Việt Nam trở thành nạn nhân sập bẫy lừa đảo ở top đầu thế giới, đã được các chuyên gia phân tích chỉ ra.

Ông Philip Hùng Cao, Chiến lược gia và Nhà truyền bá về Zero Trust cho biết, 16 tỷ USD là con số rất lớn để thấy rằng Việt Nam là vùng trũng trong khả năng nhận thức thông tin và sử dụng mạng. Ngành công nghiệp, lừa đảo qua mạng có tỉ suất lợi nhuận 2.500% trong năm qua, dự đoán năm 2024 tỷ suất lợi nhuận càng tăng.

Ông Võ Văn Khang, Phó Chủ tịch Chi hội phía Nam của Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (Vnisa) lưu ý tội phạm mạng tại Việt Nam đang ngày càng phình to. Hiện nay, lừa đảo được xem là một ngành công nghiệp bởi vì không còn đơn giản xuất phát từ một cá nhân hay nhóm nhỏ.

Ngành này hình thành và bùng phát 5 năm qua song song trong thời buổi phát triển tiến bộ của khoa học công nghệ. Những đối tượng lừa đảo có các giáo trình, phương pháp tâm lý học, công cụ hiện đại để tiếp cận các nạn nhân.

Phó Chủ tịch Vnisa đánh giá tỉ lệ người dùng Việt Nam sử dụng công nghệ luôn luôn đứng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết về internet chỉ ở mức trung bình trên thế giới. Đó là điều kiện để các đối tượng xấu khai thác.

"Đối tượng lừa đảo sử dụng các phương thức có sẵn, có các nhánh tiếp cận theo hình phễu, hiểu rõ các nạn nhân tiềm năng và tỉ lệ lừa thành công rất cao. Những người thường được hướng đến là người có đồng tiền nhàn rỗi hoặc muốn làm việc nhẹ lương cao"- ông Khang cho hay.

Điều đáng nói, rất nhiều nạn nhân bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, nhưng phần vì ngại, phần vì tâm lý xấu hổ nên họ âm thầm không nói ra, nên càng không thể thông tin cảnh báo tới nạn nhân khác.

Thêm nguyên nhân nữa là thời gian qua, hình thức lừa đảo trực tuyến không mới, nhưng các đối tượng lừa đảo đã chuyển hướng vào các nạn nhân mới. Đó là người cao tuổi, sinh viên, người lao động có thu nhập thấp và cả trẻ em. Lý do bọn lừa đảo nhắm vào các đối tượng này là vì họ đều có điện thoại thông minh, nhưng khả năng nhận diện các dấu hiệu, hành vi lừa đảo còn khá thấp.

Để ngăn ngừa vấn nạn lừa đảo qua mạng, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền đến người dân nhận diện các chiêu thức lừa đảo; phối hợp với các bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước, các nhà mạng viễn thông xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật nhằm kiểm soát chặt chẽ, hạn chế, xóa bỏ tình trạng sim rác; việc thuê, mượn tài khoản ngân hàng; bảo vệ thông tin bí mật cá nhân.

Điều quan trọng nhất là người dân cần nâng cao ý thức cảnh giác khi sử dụng mạng để tránh những rủi ro. Theo các chuyên gia an ninh mạng, người dùng nên chậm lại, suy nghĩ kỹ trước khi click chuột hoặc tắt hết các kết nối khi không cần dùng đến như wifi, bluetooth…, để hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng lừa đảo.

Điều quan trọng nhất là khi "sập bẫy" lừa đảo, người dân nên tham gia tố giác tội phạm nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ để giúp cơ quan công an trong công tác tập hợp thông tin, tuyên truyền và điều tra vụ án, xử lý đối tượng./.

St

Toàn quân phấn đấu hoàn thành tốt các mặt công tác- Bài 1: Tiếp tục nâng chất lượng huấn luyện, diễn tập

LTS: Năm 2023, toàn quân hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ với kết quả cao hơn năm trước, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước ghi nhận, biểu dương. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi ngày càng cao, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2024 và yêu cầu toàn quân quán triệt, triển khai thực hiện toàn diện, hiệu quả, tập trung đột phá hoàn thành tốt các mặt công tác. Năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động khắc phục khó khăn, triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đổi mới, đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, đặc biệt là tổ chức diễn tập với nhiều nội dung, phương pháp mới với yêu cầu ngày càng cao. Năm 2024, công tác huấn luyện cần tiếp tục được nâng tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường diễn tập và huấn luyện làm chủ trang bị, khí tài mới Năm 2023, Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu) đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai làm tốt công tác chuẩn bị cho huấn luyện; hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn huấn luyện được triển khai đồng bộ từ trên xuống dưới. Cán bộ các cấp được tập huấn, bồi dưỡng chu đáo trước khi bước vào huấn luyện; tập trung vào những nội dung mới, khó, nhất là ở các đơn vị thực hiện tổ chức, biên chế mới. Theo Trung tướng Thái Văn Minh, Cục trưởng Cục Quân huấn, trước khi bước vào huấn luyện, toàn quân tổ chức hơn 3.800 lớp tập huấn cho gần 233.000 lượt cán bộ các cấp. Qua tập huấn, trình độ tổ chức, phương pháp huấn luyện của cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu huấn luyện. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả được tiến hành sâu sát, cụ thể, khách quan, thực chất. Trong năm, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đã tổ chức hơn 90 đoàn kiểm tra công tác chuẩn bị và huấn luyện tại các đơn vị, kịp thời phát hiện những vấn đề bất hợp lý để điều chỉnh, thống nhất trong toàn quân... Năm 2023, toàn quân đã tổ chức huấn luyện đạt kết quả khá toàn diện cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Các đơn vị đã coi trọng huấn luyện khai thác, làm chủ trang bị kỹ thuật có trong biên chế, nhất là trang bị kỹ thuật mới. Đặc biệt, xác định diễn tập là hình thức huấn luyện cao nhất nhằm tổng hợp kiến thức và kiểm tra đánh giá kết quả huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của cơ quan, đơn vị, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu đã quyết liệt chỉ đạo nâng cao chất lượng diễn tập, tổ chức nhiều cuộc diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng, diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp bảo đảm sát thực tế chiến đấu với yêu cầu ngày càng cao, đặc biệt là cuộc diễn tập của Quân đoàn 12 ngay sau khi đơn vị thành lập. Cuộc diễn tập có bắn đạn thật của Quân đoàn 12 có quy mô tương đối lớn, với sự tham gia của nhiều lực lượng, thành phần, quân, binh chủng, sử dụng nhiều loại vũ khí, trang bị (VKTB), có cả các loại VKTB mới, hiện đại do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo, sản xuất. Theo Thiếu tướng Trương Mạnh Dũng, Tư lệnh Quân đoàn 12, cuộc diễn tập là dịp kiểm nghiệm công tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, làm chủ VKTB kỹ thuật, nhất là VKTB mới; đồng thời nâng cao năng lực, trình độ tổ chức chỉ huy, phối hợp hiệp đồng của các lực lượng tham gia diễn tập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. “Chúng tôi sẽ phát huy kết quả cuộc diễn tập, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu" theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”, Thiếu tướng Trương Mạnh Dũng khẳng định. Năm qua, các quân khu cũng tăng cường chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện có bắn đạn thật với sự tham gia của nhiều lực lượng. Các cuộc diễn tập của đơn vị chủ lực có sự phối hợp hiệp đồng chiến đấu của LLVT địa phương trong khu vực phòng thủ và các đơn vị quân, binh chủng, mang tính toàn diện và tổng hợp cao, sát thực tiễn tác chiến trong tình hình mới; có sự kết hợp linh hoạt giữa nghệ thuật quân sự truyền thống với phương pháp tác chiến hiện đại nhằm nâng cao trình độ chỉ huy, tham mưu, tổ chức thực hành diễn tập và chất lượng huấn luyện, SSCĐ. Điểm nổi bật trong công tác huấn luyện năm 2023 là toàn quân đã tích cực huấn luyện thuần thục các bài bắn những loại súng có trong biên chế; huấn luyện lực lượng bắn tỉa biên chế trong các đại đội trinh sát đơn vị bộ binh, huấn luyện chiến thuật cơ bản, vững chắc từng người đến cấp trung đội, nhất là coi trọng huấn luyện làm chủ các loại trang bị, khí tài mới, được cải tiến... Đại tá Bùi Thế Tài, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) cho biết: Là đơn vị được Bộ Quốc phòng chọn làm điểm thực hiện biểu tổ chức biên chế đơn vị bộ binh thời bình có biên chế hỏa lực mạnh, Sư đoàn đã chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, đặc biệt là tập trung huấn luyện sử dụng thành thạo các loại vũ khí mới được trang bị; kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng huấn luyện “chay”, thiếu thực tế; tăng cường thời gian thực hành, huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, huấn luyện theo nhiệm vụ, huấn luyện gắn với địa bàn và đối tượng tác chiến. Quá trình huấn luyện, đơn vị tăng cường sử dụng mô hình trực quan và thực hành động tác mẫu để bộ đội dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; đội ngũ cán bộ thường xuyên kiểm tra, kịp thời khắc phục những mặt hạn chế. “Cùng với tổ chức chặt chẽ các cuộc diễn tập, nhất là diễn tập chỉ huy-cơ quan cấp sư đoàn và trung đoàn, đưa một số hỏa lực mới được biên chế vào diễn tập bắn đạn thật, chúng tôi thường xuyên kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực và luyện tập các phương án SSCĐ để nâng cao trình độ chỉ huy cho cán bộ các cấp và rèn luyện bộ đội có khả năng ứng phó tốt với mọi tình huống”, Đại tá Bùi Thế Tài cho biết. Tiếp tục đổi mới, đột phá nhiệm vụ huấn luyện Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định chủ đề năm 2024 là “Cơ bản hoàn thành điều chỉnh tổ chức lực lượng”; toàn quân quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội năm 2024 của Quân ủy Trung ương; tiếp tục đổi mới, đột phá nhiệm vụ huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo. Tại Hội nghị tổng kết công tác tham mưu toàn quân năm 2023, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu: Các cơ quan, đơn vị cần xác định rõ công tác huấn luyện là nhiệm vụ chính trị trung tâm, thường xuyên của toàn quân; là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, của mọi tổ chức, mọi quân nhân và dân quân tự vệ. Tăng cường huấn luyện cơ động, huấn luyện đêm, cường độ cao, kết hợp tốt giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực cho bộ đội, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng...; huấn luyện khai thác, sử dụng thành thạo VKTB có trong biên chế, nhất là VKTB mới, bảo đảm thuần thục chiến thuật, sát với nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn, môi trường và phương án tác chiến, nâng cao khả năng xử trí linh hoạt các tình huống trong chiến đấu... Cùng với đó, các đơn vị tập trung nâng cao chất lượng diễn tập, nhất là diễn tập đối kháng, diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng, diễn tập khu vực phòng thủ...; tăng cường diễn tập vòng tổng hợp, diễn tập có bắn đạn thật ở các cấp và tổ chức, tham gia các hội thi, hội thao đạt kết quả cao. Công tác tổ chức quản lý, điều hành huấn luyện phải bảo đảm chặt chẽ; chấp hành nghiêm quy tắc bảo đảm an toàn trong huấn luyện. Để nâng cao chất lượng huấn luyện, Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu toàn quân tập trung làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ trực tiếp huấn luyện; tăng cường kiểm tra, bảo đảm đánh giá kết quả thực chất, kiên quyết chống "bệnh thành tích", kịp thời rút kinh nghiệm khắc phục những khâu yếu, mặt yếu. Các cơ quan, đơn vị chủ động làm tốt công tác bảo đảm cơ sở vật chất, trường bắn, thao trường, tận dụng mọi nguồn lực bảo đảm phục vụ kịp thời nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập. “Cùng với triển khai thực hiện hiệu quả các dự án đồ dùng, trang thiết bị huấn luyện, các cơ quan chức năng bám sát cơ sở, bảo đảm kịp thời số lượng, chất lượng vũ khí, đạn dược, vật tư, xăng dầu, tài liệu, mẫu biểu cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ trong toàn quân; kiên quyết loại bỏ các loại vật chất, mô hình học cụ không đúng tiêu chuẩn...”, Trung tướng Thái Văn Minh cho biết. Nguồn: Báo QĐND

NHẬN THỨC SÂU SẮC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 Trong cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Ðảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh", các bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong suốt hàng chục năm qua đã được tập hợp rất khoa học, giúp người đọc hiểu rõ tư tưởng xuyên suốt, nhất quán của người đứng đầu Ðảng ta về nhiệm vụ khó khăn, phức tạp này. Những quan điểm, chỉ đạo đều gắn lý luận với thực tiễn phong phú, sinh động, nêu bật những kinh nghiệm quý báu đã được đúc rút từ quá trình đấu tranh kiên trì, bền bỉ.

Trước hết, cuốn sách giúp chúng ta có nhìn nhận đúng đắn về tham nhũng, tiêu cực. Ðó là: Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; nó là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực. Hiểu rõ những điều ấy, chúng ta thêm tin tưởng, ủng hộ cuộc đấu tranh đầy cam go mà Ðảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang triển khai ngày càng quyết liệt, đồng thời kiên quyết bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Ðảng và chế độ. Về chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư chỉ rõ phải coi là "chống giặc nội xâm", tức là chống những thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; lấy tiền tài, của cải, vật chất do người khác "biếu xén", "cho, tặng", hối lộ,... Những người có chức, có quyền thì dễ mắc phải những điều ấy, bởi quyền lực thì luôn luôn có nguy cơ bị "tha hóa".

Vì vậy, Tổng Bí thư luôn yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm.

Thực hiện các quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định nhằm kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị, kiểm soát quyền lực ngay trong những cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Việc thể chế hóa chủ trương, quy định của Ðảng về phòng chống tham nhũng, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước cũng được đẩy mạnh nhằm hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để "không thể" tham nhũng.

Cùng với đó, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng đi vào chiều sâu, xử lý nghiêm minh những đối tượng vi phạm đã có tác dụng răn đe trong đội ngũ cán bộ, đảng viên để "không dám" tham nhũng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, phải tiến hành xử lý thì hậu quả nặng nề, không chỉ thiệt hại tài sản của quốc gia, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế-xã hội, mất mát về đội ngũ cán bộ, mà còn làm giảm niềm tin của nhân dân vào Ðảng và chế độ.

Qua cuốn sách có thể thấy, cùng với quan điểm phải đấu tranh quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, Tổng Bí thư cũng rất coi trọng việc phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và luôn quán triệt: Vấn đề căn cơ trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm mà trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và nhất là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, tức là trị tận gốc tham nhũng, tiêu cực.

Ngay từ khi đất nước mới bước vào công cuộc đổi mới, dưới bút danh Phan Chính, Tổng Bí thư đã có bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 8/1986: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng", trong đó chỉ rõ: Hiện nay, Ðảng ta có gần 2 triệu đảng viên. Trong bước chuyển biến của cách mạng, trước những khó khăn về kinh tế, đời sống, xã hội, đông đảo cán bộ, đảng viên đã giữ vững phẩm chất cách mạng, có lối sống trong sạch, lành mạnh, cố gắng học tập và rèn luyện để nâng cao năng lực công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong cách mạng. Song, trong đội ngũ đảng viên cũng còn nhiều hiện tượng tiêu cực chưa được ngăn chặn, thậm chí có chiều hướng phát triển. Ðây là vấn đề nghiêm trọng làm tê liệt sức chiến đấu của nhiều đảng bộ, làm xói mòn uy tín của Ðảng. Chúng ta cần quan tâm làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong Ðảng.

Ngày 9/12/2016, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Tổng Bí thư khẳng định, đây là một Nghị quyết rất quan trọng, đề cập đến một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Cùng với việc cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Ðảng mà Ðại hội XII đề ra, Nghị quyết đưa ra 4 nhóm giải pháp, trong đó tập trung vào việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Quan điểm chỉ đạo của Ðảng là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở.

Tại những phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư luôn yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; không chỉ tập trung ngăn chặn, đẩy lùi mà cần chủ động tấn công, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Việt Nam hiện là một nền kinh tế mở, hội nhập sâu rộng với quốc tế, nếu chúng ta không quyết liệt trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực thì môi trường đầu tư của Việt Nam liệu sẽ còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, những gì người lãnh đạo cao nhất của Ðảng Cộng sản Việt Nam viết trong cuốn sách này không chỉ là thông điệp tới cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân mà còn là thông điệp và cam kết mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế về quyết tâm phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Ðảng Cộng sản Việt Nam./. 

St

CÁ NHÂN TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" GÓP PHẦN PHÒNG, CHỐNG CHỦ NGHĨA 

Chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc “nội xâm” vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện rất đa dạng, tinh vi, khó lường, xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, trong nhiều đối tượng, lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với Quân đội, nó là lực cản kìm hãm sự tiến bộ, sáng tạo và là nguồn gốc của mọi sự lệch chuẩn của quân nhân; đồng thời là một trong những căn nguyên của các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm phai nhạt hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm tổn hại nghiêm trọng đến bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội. Vì thế, phát huy vai trò văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần phòng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, nhưng rất cấp thiết của Quân đội ta hiện nay.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị văn hóa - chính trị - đạo đức của thời đại, là sự tiếp nối truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nét đặc trưng của giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở sự tận trung với Đảng, với nước, trọn hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, toàn quân đã phát huy tốt giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhờ gìn giữ, phát huy tốt giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, nên “đơn vị trở thành cái nôi nuôi dưỡng phong trào thi đua cách mạng và những giá trị văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần trực tiếp phát triển con người mới trong lực lượng vũ trang, đạt được mục tiêu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, phù hợp đòi hỏi của tình hình mới”.

Tuy nhiên, trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường và âm mưu, hoạt động chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, một số cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đầy đủ, chưa nêu cao trách nhiệm trong gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, thiếu tự giác tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, phải xử lý hình sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, việc đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình hiện nay vẫn luôn là vấn đề cấp thiết, cần tiến hành toàn diện, đồng bộ nhiều giải pháp trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là giải pháp quan trọng hàng đầu, cần được triển khai thực hiện hiệu quả ở các cơ quan, đơn vị; tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”. Vì thế, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong Quân đội. Nội dung giáo dục tập trung vào nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và toàn thể cán bộ, chiến sĩ về 05 đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được xác định tại Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương; những chuẩn mực văn hóa, đạo đức của quân nhân cách mạng. Để đạt hiệu quả cần tổ chức giáo dục bằng nhiều hình thức, biện pháp, phù hợp với điều kiện của đơn vị, đối tượng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, đơn vị văn hóa nghệ thuật, đẩy mạnh sáng tác âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật về “Bộ đội Cụ Hồ”, tăng cường quảng bá văn học nghệ thuật Quân đội, v.v. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng cần gương mẫu chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; kịp thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái, lệch lạc, nói không đi đôi với làm; kiên quyết đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội bất mãn về chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” thời kỳ mới. Đây là vấn đề cốt lõi nhất, quyết định chất lượng, hiệu quả việc phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” ở các cơ quan, đơn vị toàn quân trong tình hình mới. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cần bám sát vào đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp; đưa nội dung phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ; xây dựng chương trình hành động với nội dung, chỉ tiêu, biện pháp thiết thực, quy định thời gian thực hiện cụ thể; kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh, xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, giữ gìn, phát huy truyền thống Quân đội, các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Đội ngũ chính ủy, chính trị viên cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên, cấp mình, nhất là kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị trong phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” gắn với hoạt động của đơn vị. Đồng thời, thông qua chế độ báo cáo, giao ban, nắm chắc tình hình mọi mặt liên quan đến phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, đánh giá đúng điểm mạnh, yếu, chỉ rõ nguyên nhân, tập trung giải quyết những khâu yếu, mặt yếu. Người chỉ huy các cấp, tăng cường chỉ đạo các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra các đơn vị thuộc quyền chấp hành điều lệnh, điều lệ, các quy chế, quy định, chế độ, nền nếp; phê bình, nhắc nhở những nhận thức, hành vi sai trái, làm ảnh hưởng đến phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Cơ quan chính trị chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, tuyên truyền nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng gắn với phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Phong trào Thi đua Quyết thắng là động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Để đạt hiệu quả cần phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng và phong trào Thi đua Quyết thắng; xây dựng ý thức tích cực, tự giác thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu thi đua, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, làm cho phong trào thi đua phát triển sâu rộng, bền vững trong từng cơ quan, đơn vị. Không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua theo hướng sát thực, hiệu quả gắn với phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, tránh phô trương, hình thức; kiên quyết khắc phục những biểu hiện lệch lạc, bệnh thành tích trong thi đua và làm tốt việc bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình tiên tiến. Tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua, kịp thời uốn nắn những thiếu sót, khuyết điểm, đưa phong trào thi đua phát triển đồng đều, vững chắc. Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng thi đua, khen thưởng các cấp; phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chủ trì và các tổ chức quần chúng, tạo sức mạnh tổng hợp đưa công tác thi đua, khen thưởng phát triển toàn diện, lập nhiều thành tích mới.

Bốn là, xây dựng cơ quan, đơn vị có môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh, phong phú. Môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú giúp cán bộ, chiến sĩ tiếp nhận các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” để phát triển, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách; đồng thời, vô hiệu hóa sự tấn công của những yếu tố phản văn hóa, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bảo vệ “trận địa” tư tưởng văn hóa của Đảng trong Quân đội. Do đó, cần giáo dục, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa. Qua đó, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, đảng viên, quần chúng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện xây dựng môi trường văn hóa quân sự. Tiếp tục giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa quân sự, cốt lõi là hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Phát huy vai trò tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa quân sự. Tổ chức chặt chẽ việc quy hoạch xây dựng doanh trại gắn với quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, cảnh quan, công trình văn hóa đảm bảo thống nhất, thiết thực, tạo môi trường và điều kiện sống tốt về tinh thần và sức khỏe của bộ đội. Mở rộng giao lưu văn hóa với Quân đội các nước, tạo điều kiện để phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, Quân đội; tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa tiên tiến, tốt đẹp, lành mạnh từ bên ngoài. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và những giá trị văn hóa tốt đẹp của Quân đội. Chăm lo xây dựng các mối quan hệ trong sáng, lành mạnh trong Quân đội; trong đó, chú trọng xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở, sự đoàn kết, thống nhất, tin tưởng lẫn nhau; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy chế, quy định trong thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong tham gia xây dựng tổ chức đảng, tăng cường hiệu lực người chỉ huy các cấp. Trong thực hiện cần đa dạng hóa phương thức, như: tọa đàm dân chủ; giao lưu văn hóa, hoạt động liên kết giữa bộ đội với nhân dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, cách mạng, văn hóa dân tộc. Đẩy mạnh hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, tích cực tham gia phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo”, v.v. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hệ thống thiết chế và các hình thái hoạt động văn hóa quân sự bảo đảm chính quy, tinh gọn, thống nhất, cơ cấu hợp lý; quản lý, tổ chức hoạt động hiệu quả. Chủ động sáng tạo ra các hình thức hoạt động mới theo phương châm: ngắn gọn, nhỏ lẻ, linh hoạt, kịp thời, phù hợp với điều kiện, khả năng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng cao của bộ đội. Kịp thời chỉnh đốn những hoạt động văn hóa không phù hợp, gây tốn kém, lãng phí; khắc phục bệnh phô trương, hình thức.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là kết tinh những giá trị văn hóa cao đẹp từ bản sắc dân tộc, truyền thống Quân đội, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế thừa, phát huy trong quá trình sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu. Giữ vững, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là nhiệm vụ rất quan trọng góp phần quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.

St

Xuất bản hai cuốn sách về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa ra mắt hai cuốn sách về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn công lao to lớn của Bác Hồ đối với cách mạng Việt Nam, về tấm gương đạo đức thanh cao của Người, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ bảy có sửa chữa, bổ sung cuốn sách "Đạo đức Bác Hồ - Tấm gương soi cho muôn đời" của Tiến sĩ Trần Viết Hoàn. Cuốn sách gồm một số bài viết ngắn gọn, mộc mạc, chân thực nhưng hết sức sinh động về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác cũng như những sinh hoạt đời thường của Người. Những chỉ bảo ân cần cùng những lời dạy thiết thực về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là sự kết tinh những giá trị đạo đức, nhân văn của Người; là vũ khí để nhân dân ta đấu tranh chống lại các hiện tượng tha hóa về đạo đức xã hội hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Người cho rằng, mọi thói hư, tật xấu của cán bộ, đảng viên đều xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình. Chủ nghĩa cá nhân vô cùng nguy hiểm, nó sinh ra hàng trăm thứ bệnh, đó là bệnh: quan liêu, tham nhũng, bè phái, xu nịnh, hiếu danh, kiêu ngạo. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân ta phải dùng phương thuốc tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên, triệt để mới đánh bại và quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bao năm tháng trôi qua, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đến nay vẫn còn nguyên giá trị và mang hơi thở của thời đại. Cuốn "Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh" do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ chủ biên được xuất bản lần thứ 3; trước đó, cuốn sách đã xuất bản vào các năm 1997 và 2010. Cuốn sách gồm 3 chương: "Phương pháp và phương pháp cách mạng", "Hệ thống phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh", "Phong cách Hồ Chí Minh". Cuốn sách đã đi tới những kết luận bước đầu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, góp phần đưa công tác nghiên cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới. Các tác giả đã cố gắng làm rõ những nội dung của phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, tính thống nhất, mối quan hệ giữa phương pháp Hồ Chí Minh với phương pháp cách mạng Việt Nam, phong cách Hồ Chí Minh với phong cách của những người cộng sản chân chính... Hai cuốn sách khẳng định tầm quan trọng của việc vận dụng sáng tạo phương pháp cách mạng và phong cách Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhằm góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Nguồn: Báo Dân trí

VÂNG LỜI BÁC “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” LUÔN SÁT CÁNH CÙNG NHÂN DÂN KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC

Là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, Người cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ đoàn kết quân dân, coi đó là yếu tố thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết quân dân có ý nghĩa hết sức to lớn, nếu đoàn kết quân dân tốt, bộ đội được nhân dân tin tưởng, giúp đỡ thì nhất định sẽ giành được mọi thắng lợi. Tháng 8-1948, tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, Hồ Chí Minh nói: “Bộ đội ta được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ đoàn kết quân dân là mối quan hệ máu thịt, biện chứng, hữu cơ, từ hai phía: “Muốn giết địch thắng trận, thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”. Người yêu cầu: “Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn như thế, thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”. Người nhắc nhở phải xây dựng tình đoàn kết quân dân trở thành đạo đức, truyền thống của quân đội. Gặp gỡ các đại biểu quân đội, thương binh và quân nhân phục viên nhân dịp Tết Đinh Dậu, tháng 1-1957, Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn, nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển”. 

Hồ Chí Minh cũng căn dặn, đoàn kết quân dân phải được xây dựng bền chặt cả trong kháng chiến cũng như trong kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội phải thật sự vì nhân dân hy sinh, vì nhân dân phục vụ trong kháng chiến cũng như khi hòa bình. Người chỉ rõ trong chiến đấu: “Bộ đội thì hết lòng bảo vệ, giúp đỡ nhân dân, nhân dân thì hết lòng thương yêu, giúp đỡ bộ đội, cùng bộ đội đánh giặc” và trong hòa bình: “Nay chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã trở lại, nhiệm vụ của quân đội ta là: Thi đua học tập, củng cố quốc phòng, giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc, giúp nhân dân tăng gia sản xuất, làm lực lượng trụ cột cho công cuộc hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của nước ta”.

Trong những biện pháp tích cực, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện công tác dân vận, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở từng cán bộ, chiến sĩ phải tự giác, nỗ lực: “Tất cả mọi quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền… Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự đoàn kết quân dân phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Vì theo Người, quân đội luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

Gần 80 năm qua, nhất là những năm gần đây, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng phấn đấu trưởng thành, phát triển, lớn mạnh về mọi mặt, trong đó có thành công của công tác dân vận. Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương luôn khẳng định, biểu dương: Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng. Những năm qua, quân đội làm rất tốt công tác dân vận, khẳng định rõ chức năng đội quân công tác, tích cực, chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu. Qua đó, quân đội đã thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. 

Thực tế luôn chứng minh cán bộ và chiến sĩ toàn quân đã tiến hành toàn diện, sâu sắc công tác dân vận, thực hiện tốt quân dân một ý chí. Điển hình như trong năm 2023, toàn quân đã tích cực triển khai công tác dân vận, góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết quân dân: Như hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, trong đó có 8.120 đơn vị cấp đại đội và tương đương với tổng kinh phí hơn 60 tỷ đồng; tổ chức Hội thi “Dân vận khéo” có 428 đơn vị cấp trung đoàn và tương đương, 277 đơn vị cấp sư đoàn và tương đương tham gia; hỗ trợ kinh phí và vận động xây 616 nhà tình nghĩa tặng đối tượng chính sách và người có công có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở với số tiền gần 50 tỷ đồng, phụng dưỡng 910 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Các cơ quan đơn vị quân đội cũng duy trì hoạt động kết nghĩa với gần 11.650 cấp ủy, chính quyền và tổ chức chính trị - xã hội; huy động 104.500 lượt cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ và gần 5.500 phương tiện tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn với tổng kinh phí cho các hoạt động là 1.700 tỷ đồng...

Có thể khẳng định, quân đội ta đã thật sự xứng đáng được Đảng, Nhà nước và nhân dân tự hào, tin tưởng, xứng đáng với truyền thống hào hùng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, quân đội ta là một quân đội anh hùng”. 

Bên cạnh thành công, thắng lợi là cơ bản, công tác dân vận của quân đội vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm. Đó là việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, đơn vị kết nghĩa trong nắm bắt tình hình tư tưởng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ở một số cơ quan, đơn vị làm chưa tốt, chưa thực sự chủ động; các hình thức hoạt động dân vận của một số cơ quan, đơn vị thiếu sinh động; vẫn còn những vi phạm kỷ luật dân vận chậm được phát hiện, xử lý kịp thời… Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được Đảng ta chỉ ra là: Quân đội phải kiên quyết khắc phục bằng được những hạn chế, khuyết điểm… Không để các thế lực thù địch lợi dụng hạn chế, khuyết điểm để thổi phồng, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của quân đội, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. 

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nguyện: “Tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, củng cố ngày càng sâu sắc hơn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng; thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất như Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang tin tưởng, giao phó, kỳ vọng./.

St