Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

Khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực thi công vụ

 

Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Do vậy, Thường trực Chính phủ yêu cầu cần phải tiếp tục có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng cuối năm và thời gian tới.

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 332/TB-VPCP ngày 17-8-2023 kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về nhiệm vụ, giải pháp lớn ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2023.

Thường trực Chính phủ thống nhất đánh giá cao Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời gian ngắn đã chuẩn bị tài liệu phục vụ cuộc họp Thường trực Chính phủ. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, tiếp thu đầy đủ các ý kiến xác đáng tại cuộc họp để tiếp tục hoàn thiện báo cáo, chủ động chuẩn bị nội dung phục vụ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2023 và các dự thảo báo cáo phục vụ Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) và Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, nhất là báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa: chinhphu.vn 

Trong hơn 7 tháng đầu năm 2023, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy trong bối cảnh tình hình quốc tế khó khăn, nhiều quốc gia tăng trưởng chậm; nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát tốt; an ninh năng lượng, lương thực được bảo đảm...; góp phần tạo dư địa thực hiện chính sách ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng trong những tháng cuối năm.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; hoạt động sản xuất kinh doanh, tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp còn hạn chế (theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến ngày 9-8-2023 tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 4,3%, trong khi chỉ tiêu định hướng cả năm là khoảng 14-15%), thị trường bất động sảntrái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn, thủ tục hành chính một số lĩnh vực còn rườm rà... Vì vậy, cần phải tiếp tục có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng cuối năm và thời gian tới.

Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp, người dân

Về nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, Thường trực Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao lựa chọn một số nhiệm vụ, giải pháp quan trọng ưu tiên để tập trung triển khai có trọng tâm, trọng điểm nhằm thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo sinh kế, việc làm cho người dân; khẩn trương tập trung hoàn thiện trình ban hành các quy hoạch; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, các Chương trình mục tiêu quốc gia; thúc đẩy mạnh mẽ thị trường trong nước và mở rộng xuất khẩu; chủ động, tích cực thực hiện tốt công tác truyền thông chính sách, tạo đồng thuận của người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Trong đó, Thường trực Chính phủ lưu ý, về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu, phát huy tinh thần cầu thị, lắng nghe các ý kiến, phản ánh của doanh nghiệp, người dân để khẩn trương có các giải pháp kịp thời, hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp, người dân; tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số..., phấn đấu tiếp tục hạ lãi suất cho vay, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trên tinh thần cộng đồng trách nhiệm, cùng chung tay tháo gỡ khó khăn, "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ"; khẩn trương rà soát, xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền các Thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời tăng cường thanh tra, giám sát, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm.

Về chính sách tài khóa, Bộ Tài chính đánh giá việc triển khai thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất trong thời gian qua; trên cơ sở đó, chủ động nghiên cứu, kịp thời đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền các chính sách miễn, giảm, gia hạn cần áp dụng trong thời gian tới. Có giải pháp khả thi để xử lý dứt điểm, hiệu quả vấn đề trái phiếu doanh nghiệp; đẩy nhanh hơn nữa việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thực hiện tốt công tác truyền thông chính sách.

Về chính sách đất đai, Thường trực Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ động làm việc, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình hoàn thiện Dự án Luật Đất đai sửa đổi để trình Quốc hội ban hành vào kỳ họp thứ 6; khẩn trương ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định về xác định giá đất, các quy định liên quan đến khoáng sản, vật liệu xây dựng, bảo đảm rõ ràng, công khai, minh bạch, thống nhất trong thực hiện.

Xây dựng chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài

Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện tốt nhiệm vụ điều phối quản lý kinh tế vĩ mô và tiếp tục rà soát, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đặc biệt chú trọng xây dựng chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực, trình độ khoa học công nghệ; tăng cường kiểm tra, đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và công tác quy hoạch, bảo đảm chất lượng, tiến độ.

Bộ Công Thương tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, thương mại; khẩn trương hoàn thiện dự thảo cơ chế thí điểm mua bán điện trực tiếp, cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà; kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch Điện VIII. Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 95/2021/NĐ-CP và Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, trình Chính phủ trước ngày 19/8/2023; giao đồng chí Phó thủ tướng Lê Minh Khái chủ trì họp thống nhất sửa đổi ngay các Nghị định này.

Bảo đảm việc làm cho người lao động

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, có giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp, người sử dụng lao động và bảo đảm việc làm cho người lao động; khẩn trương tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, thành viên Chính phủ, hoàn thiện và trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 152/2020/NĐ-CP trong ngày 18-8-2023.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, cơ quan liên quan, các địa phương tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu nông sản, lương thực; bảo đảm dự trữ gạo phù hợp, hiệu quả trong điều kiện hiện nay.

Báo cáo trong tháng 8-2023 về việc thành lập các sàn giao dịch bất động sản, đất đai, việc làm, khoa học công nghệ, tín chỉ các-bon

Thường trực Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ: Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 8-2023 về việc thành lập các sàn giao dịch về bất động sản, đất đai, việc làm, khoa học công nghệ, tín chỉ các-bon..., bảo đảm đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai, minh bạch và thúc đẩy các thị trường phát triển an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững.

Bộ Nội vụ khẩn trương hoàn thiện trình Chính phủ ban hành quy định bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và quy định về khuyến khích, động viên và xử lý cán bộ.

Yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trực tiếp phụ trách, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác xây dựng thể chế và cải cách thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan; thành lập Tổ công tác rà soát, cải cách thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan, bảo đảm thực chất, hiệu quả theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực thi công vụ

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định kinh doanh, thủ tục hành chính và giấy tờ công dân để tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, người dân; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong thực thi công vụ.

Các thành viên Chính phủ chủ động sắp xếp thời gian, hình thức làm việc phù hợp, hiệu quả với các địa phương để nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo tinh thần Quyết định số 435/QĐ-TTg ngày 24-4-2023 của Thủ tướng Chính phủ. 

Thường trực Chính phủ giao Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên theo chức năng nhiệm vụ được giao.

 ĐẨY NHANH THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GÓP PHẦN TẠO NIỀM TIN TRONG NHÂN DÂN

Việc thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia góp phần khẳng định chất lượng thực hiện các chương trình này đối với những đối tượng yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, miền núi, từ đó tạo được niềm tin trong nhân dân.

Ban hành nghị quyết để gỡ vướng trong thực hiện

Theo dự kiến, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5 này, Quốc hội sẽ tiến hành thảo luận và sau đó biểu quyết thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Đánh giá về dự thảo nghị quyết bên hành lang Quốc hội, đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Thừa Thiên Huế bày tỏ tán thành với các nội dung nghị quyết, đồng thời cũng chia sẻ với những khó khăn khi xây dựng nghị quyết để trình Quốc hội tại kỳ họp này.

Theo đại biểu, dự thảo nghị quyết có những nội dung liên quan đến liên ngành, cũng như nhiều nội dung chưa có tiền lệ. Chính vì vậy, để xây dựng được dự thảo, ban soạn thảo và các cơ quan liên quan đã trải qua nhiều khó khăn để hoàn thiện các nội dung trình Quốc hội xem xét thông qua.

Khẳng định việc ban hành nghị quyết là cần thiết, đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh điều này sẽ giúp các địa phương thụ hưởng các chương trình mục tiêu quốc gia tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

Nữ đại biểu cũng chỉ rõ, điều quan trọng của việc thông qua nghị quyết tại kỳ họp này chính là khẳng định chất lượng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đối với những đối tượng phần lớn là người yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, miền núi, từ đó tạo được niềm tin trong nhân dân.

Đẩy nhanh tiến độ ngay từ đầu năm 2024

Trao đổi bên hành lang Quốc hội về thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025; giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021-2025, đại biểu Phạm Văn Hòa - Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Đồng Tháp nêu rõ, cả 3 chương trình mục tiêu quốc gia trong thời gian qua triển khai còn chậm.

Theo đại biểu, nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia là do ách tắc từ cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện còn vướng mắc nên cần có giải pháp tháo gỡ khó khăn.

Do đó, đại biểu tỉnh Đồng Tháp bày tỏ kỳ vọng, Quốc hội sẽ họp tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc để việc giải ngân các chương trình mục tiêu quốc gia được đến tận người dân.

Đây cũng là trách nhiệm của Quốc hội, cơ quan quản lý Nhà nước đối với người dân ở các chương trình nhằm góp phần tăng trưởng GDP và tháo gỡ khó khăn cho người dân ở các vùng, miền được thụ hưởng chính sách.

Bày tỏ đặc biệt quan tâm đến tiến độ giải ngân cho Chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện còn chậm, đại biểu đề nghị tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5 này, Quốc hội cần xem xét nguyên nhân chậm giải ngân là ở đâu.

“Nếu về mặt chủ quan thì cần có chế tài xử lý người đứng đầu; còn về mặt khách quan thì phải có những giải pháp để tháo gỡ kịp thời những vướng mắc”, đại biểu Phạm Văn Hòa nêu rõ.

Theo đại biểu, việc giải ngân chậm không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển GDP mà còn ảnh hưởng tới việc bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó, đại biểu nhấn mạnh, việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nên được thực hiện ngay từ đầu năm 2024.

Sau khi nghị quyết được thông qua, đại biểu cũng khẳng định sự cần thiết phải tổ chức tuyên truyền, vận động để người dân hiểu được và các địa phương, cơ sở phối hợp, triển khai theo đúng thẩm quyền, chức năng nhằm sớm đưa chính sách vào cuộc sống./.


Điều trị "căn bệnh" đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm

 

Trong kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) phát biểu tranh luận tại hội trường ngày 31-5-2023 cho rằng: Hiện tượng cán bộ né tránh, sợ trách nhiệm là có, đã có từ rất lâu rồi và đến hiện tại, tình trạng này dường như nặng và phức tạp hơn. Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, ông Ngô Trung Thành thì nhấn mạnh: “Bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm do sợ sai của cán bộ giờ không chỉ phổ biến ở các địa phương mà đã lây lan lên cấp Trung ương và tiếp tục lan rộng từ khu vực công đến khu vực tư.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “hết sức nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc lớn hay việc nhỏ, việc đơn giản hay phức tạp, nhiệm vụ bình thường hay quan trọng, bí mật”. Vì vậy, hiện tượng cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, không dám làm là đi ngược với lời dạy của Bác Hồ.  

Từ lâu, hiện tượng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm đã được Ðảng, Nhà nước nhận diện, chỉ rõ và đưa vào trong các văn bản chính thức của Đảng, Nhà nước. Đó là, tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu. Thường gặp ở những cán bộ có bổn phận thực thi, giải quyết những vấn đề, những công việc thuộc phạm vi mình phụ trách nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, tìm cách đẩy sang cho người khác, đẩy lên cấp trên, hoặc đẩy xuống cấp dưới...

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
  Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Qua nghiên cứu, theo dõi chúng tôi cho rằng, những cán bộ, công chức mang “căn bệnh” này thường phân thành hai nhóm: Thứ nhất, những cán bộ có hiểu biết, nhưng lại sợ vi phạm pháp luật nên không dám làm. Thứ hai, cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm, cán bộ không muốn làm vì không có lợi ích gì. Nhóm thứ nhất thì có thể khắc phục được ngay. Vì từ trước đến nay, trong bất kỳ thời điểm nào hay ở bất kỳ cơ quan, đơn vị, địa phương nào cũng tồn tại một số ít cán bộ có bản chất như vậy. Vấn đề là cơ quan, đơn vị, địa phương đó có nhận diện được hay không và khi nhận diện được thì xử lý thế nào? Đối với nhóm thứ hai, đây là nhóm cán bộ chiếm khá đông trong số cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm. Đây là trở lực lớn nhất gây tắc nghẽn công việc trong toàn hệ thống, khiến việc giải quyết nhiều công việc chính đáng của người dân, doanh nghiệp bị đình trệ, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vì vậy, cần bắt cho đúng “bệnh” để có những phương thuốc đặc trị. Theo chúng tôi, “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Về khách quan, pháp luật Nhà nước có những điểm thiếu cụ thể, chưa đồng bộ; một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nhất là các văn bản dưới luật còn thiếu tính đồng nhất, khó thực hiện; chưa có quy định trách nhiệm rõ ràng và quy định cụ thể về bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thêm một lý do nữa là công tác thanh tra, kiểm tra của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả, cùng với tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực “không có ngoại lệ, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai” mà Đảng, Nhà nước đã và đang tiến hành công khai quyết liệt và ngày càng hiệu quả những năm qua... làm cho những cán bộ này sợ trách nhiệm, không dám làm hoặc đùn đẩy.

Về chủ quan, “căn bệnh” này sinh ra từ nhận thức về quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ý thức về vị trí công tác, về vai trò, trách nhiệm của một số cán bộ, công chức chưa cao. Xét đến cùng, căn bệnh này sinh ra do thiếu trách nhiệm, nhưng cũng có những trường hợp là một bộ phận cán bộ năng lực hạn chế, trình độ hạn chế, do vậy, việc nắm bắt các quy định của pháp luật cũng hạn chế nên làm việc gì cũng sợ sai, dẫn đến né tránh hoặc đùn đẩy. Một bộ phận khác không phải do trình độ, năng lực hạn chế, nhưng không muốn làm vì không có lợi ích gì... Chữa dứt “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm đồng nghĩa với việc xóa bỏ được những cản trở để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững, vì vậy cần làm tốt một số vấn đề sau:

Thứ nhất, từ góc độ vĩ mô, Đảng, Nhà nước cần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật; tập trung rà soát bất cập, sửa đổi những quy định, nhất là các quy định pháp luật có liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức theo hướng rõ ràng, minh bạch, đồng bộ, thống nhất, không chồng chéo, mâu thuẫn; có hành lang pháp lý bảo vệ, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu khó khăn, dám đột phá vì lợi ích chung. Công tác đánh giá cán bộ cũng cần phải được đổi mới, cách đánh giá cần giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin rằng, nếu mình làm vì lợi ích chung thì sẽ được nhìn nhận, đánh giá đúng. Bên cạnh đó, những trường hợp cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định. Kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc.

Thứ hai, hiện nay, phát triển kinh tế của nước ta theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với tốc độ nhanh nên có thể các văn bản quy phạm pháp luật có chỗ còn chưa theo kịp với thực tiễn, vì vậy cũng có thể dẫn đến cái sai của cán bộ. Nếu như cái sai nào của cán bộ đều bị quy trách nhiệm một cách cứng nhắc, quan liêu, thậm chí là hình sự hóa nó thì dễ dẫn tới hiện tượng sợ trách nhiệm và không dám làm trong đội ngũ cán bộ. Vì vậy, cần quyết tâm không hình sự hóa quan hệ kinh tế đơn thuần; khoan hồng với những vi phạm có tính chất khách quan, không vụ lợi cá nhân, không tham ô, tham nhũng, đồng thời sớm thể chế hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị về khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chúng tôi thiết nghĩ, ý kiến này được cho là “liều thuốc đặc trị” cho tình trạng cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm hiện nay.

Thứ ba, gần 3 năm qua là giai đoạn Đảng ta quyết liệt thực hiện các giải pháp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng, bộ máy Nhà nước và các địa phương. Thế nên có quan điểm cho rằng, việc chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua "gắt quá" nên cán bộ, đảng viên sợ vi phạm pháp luật, sợ “vào lò” mà... không dám làm. Chúng ta không thể đồng tình với quan điểm này. Bởi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Do đó, chống tham nhũng là việc phải làm cương quyết, thường xuyên, liên tục, như rửa mặt, như cơm ăn, nước uống hằng ngày. Tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực “không có ngoại lệ, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai” cần phải tiếp tục bền bỉ hơn nữa. Mọi vi phạm kỷ luật của Đảng phải được xử lý theo quy định của Đảng, mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý theo quy phạm pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình xử lý cũng cần phải phân tích từng trường hợp, từng sự việc một cách khoa học, cụ thể, xem xét kỹ cả yếu tố khách quan, chủ quan, công bằng, công minh, có lý, có tình để dân phục, dân tin và bản thân người bị xử lý kỷ luật cũng tâm phục, khẩu phục. 

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát, trong đó có giải pháp kiểm soát việc thực thi quyền lực của người đứng đầu; xác định, làm rõ trách nhiệm của tập thể và gắn trách nhiệm cá nhân, cá thể hóa trách nhiệm trong từng công đoạn giải quyết công việc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi cán bộ, đảng viên thấy được trách nhiệm của mình, ủy ban kiểm tra các cấp cũng làm hết trách nhiệm của mình. Đây được xem là giải pháp lớn, hiệu quả phòng, chống “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thứ năm, phát huy vai trò gương mẫu về mọi mặt của người đứng đầu. Thủ trưởng phải thật sự tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, sai trái; công tâm, công bằng, thật sự là trung tâm, hạt nhân đoàn kết; trọng dụng người tài, biết trân trọng, lắng nghe các ý kiến đóng góp, thậm chí là các ý kiến khác biệt. Đồng thời, phải quyết liệt xử lý những người không làm được việc hoặc đùn đẩy, sợ sai, né tránh trách nhiệm. Có như vậy mới khắc phục triệt để được “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thực tế cho thấy, vai trò của người lãnh đạo, người đứng đầu rất quan trọng. Bởi vì hiện nay, có nhiều việc không phải cán bộ không làm được, nhưng có thể còn nhiều lý do khiến họ e ngại, trong đó có lý do là sự bảo vệ, tin tưởng của người đứng đầu. Do đó, người đứng đầu nhất thiết phải có bản lĩnh chính trị, đồng thời phải có kiến thức lý luận và thực tiễn sâu sắc để làm điểm tựa cho cán bộ của mình, tin tưởng, khuyến khích họ thực hiện nhiệm vụ. 

Tóm lại, “căn bệnh” đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hiện nay là một trong những trở lực to lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung, từng cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng. Trên cơ sở nhận thức rõ tình trạng này, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp thể hiện trong nhiều văn bản chính thức của Đảng, Nhà nước nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng trên, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Dưới góc độ mỗi cán bộ, đảng viên, hơn lúc nào hết, các công bộc của nhân dân cần chấm dứt ngay việc đùn đẩy, nể nang, né tránh trách nhiệm, thay vào đó là tiên phong, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, vì sự phát triển của đất nước.

Nhà nước Việt Nam xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật CHÍNH TRỊ

 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về các quyền dân sự và chính trị nói riêng được Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, được tiến hành thường xuyên, liên tục, đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác này bằng nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Chính sách pháp luật được truyền tải đến người dân bằng nhiều kênh khác nhau, với sự phong phú, đa dạng về hình thức, phương pháp, cách thức tiến hành; từ các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm chuyên sâu, đến các hình thức phổ thông, tiếp cận mọi người dân trên mọi vùng miền của đất nước. Công tác truyền thông chính sách được đẩy mạnh với các chuyên mục chuyên sâu về phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Trung ương và địa phương, được thể hiện bằng tiếng phổ thông cùng 13 tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài. Các cơ quan báo chí tích cực phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng và thực hiện các chuyên mục pháp luật ngày càng chặt chẽ, sáng tạo, hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội bằng fanpage, zalo, sử dụng nhắn tin qua các mạng di động để tăng tính tương tác, hấp dẫn cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh thực hiện rộng rãi. Đồng thời, chú trọng đăng tải các văn bản pháp luật, nhất là những văn bản pháp luật mới ban hành, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật lên cổng, trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương. Giai đoạn 2013 - 2023, các cấp, các ngành đã tuyên truyền, phổ biến pháp luật trực tiếp cho hơn 9.429.000 lượt người dân; biên soạn và cấp phát miễn phí gần 512.000.000 tài liệu pháp luật, nhiều tài liệu được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài. Qua đó, góp phần quan trọng trong nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền dân sự, chính trị ở nước ta.

 HỌC VÀ LÀM THEO BÁC GÓP PHẦN NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” đã có nhiều phân tích, chỉ rõ những phẩm chất cao quý của một người cách mạng.

Tác giả nhấn mạnh: Đảng ta luôn xác định phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh cam go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng phí, quan liêu, phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, nhằm mục đích xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Nghiên cứu nhiều bài viết trong cuốn “cẩm nang” này của Tổng Bí thư, tôi càng nhận rõ hơn những đúc rút từ thực tiễn phong phú, sinh động của người đứng đầu Đảng ta. Những chỉ đạo của đồng chí luôn thể hiện sự sát sao, quyết liệt, toàn diện và đầy sức thuyết phục, góp phần không nhỏ trong việc làm sáng rõ bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Tác giả khẳng định: Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng về tiền bạc, tài sản thôi thì chưa đủ, mà nguy hại hơn là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc của tham nhũng; không suy thoái, hư hỏng thì làm gì dẫn đến tham nhũng?

Thực tiễn cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta những năm gần đây chỉ ra một bộ phận cán bộ, đảng viên ở cương vị lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, quyền lực, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Bộ phận cán bộ, đảng viên này thiếu ý thức trong thực hiện trách nhiệm nêu gương, không làm tròn bổn phận, nhiệm vụ được giao, không tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân... làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, giảm sút sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong phòng chống suy thoái về đạo đức, lối sống, trước tiên mỗi cán bộ, đảng viên cần “tự soi, tự sửa”, nêu gương thiết thực. Đảng ta cũng yêu cầu trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, có việc tiếp tục chú trọng tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Trong thực tế, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần phải gắn với công việc, sự rèn luyện, tu dưỡng hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, để tạo hiệu quả thiết thực. Cần phát huy vai trò chủ động, tự giác của bản thân cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

Các địa phương, đơn vị nên triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, và nên duy trì thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Học tập đi đôi với làm theo, cán bộ, đảng viên cần nêu gương bằng những việc làm cụ thể.

Coi trọng việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; phát huy dân chủ, thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên với tinh thần thẳng thắn, không “dĩ hòa vi quý”, không nể nang, né tránh, ngại va chạm; đồng thời cũng không lợi dụng tự phê bình và phê bình để gây mất đoàn kết nội bộ, chú trọng tính giáo dục và răn đe.

Làm sao để ngày càng có nhiều tấm gương cán bộ, với chức vụ cao, là điển hình trong học tập và làm theo Bác, thật sự có sức lan tỏa trong xã hội để mọi người cùng noi theo. Làm được như vậy, sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh./. 


Thành tựu đổi mới đất nước là minh chứng sinh động

 Thành tựu của Việt Nam sau gần 40 năm đổi mới đã được khẳng định bằng các số liệu “biết nói”. Trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế-xã hội diễn ra gay gắt, đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, quy mô Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD, đưa nước ta trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, đạt mức 3.512USD.

Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, hiện nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới. Việt Nam coi việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa-xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình hằng năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 3% năm 2020(2).

Với đường lối đối ngoại đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 190 quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia.

Đến nay, đã có hơn 70 quốc gia công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đã ký kết 15 Hiệp định tự do thương mại (FTA) khu vực và song phương. Các FTA Việt Nam tham gia bao phủ khoảng 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế-thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. 

Cách đây hơn 30 năm, năm 1992, đồng chí Nguyễn Phú Trọng trên cương vị Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản công bố bài viết “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?” từng đưa ra nhận định, thất bại của CNXH ở Liên Xô chỉ là tạm thời, còn quy luật khách quan không ai cưỡng lại được vẫn là CNXH sẽ phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản (CNTB). 

Gần 30 năm sau, năm 2021, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu vấn đề: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên CNXH ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều CNTB. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay CNTB, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”. 

Bằng những lập luận khoa học, sắc bén, có sức thuyết phục cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định rằng, ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn trung thành, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đưa đất nước ta tiếp tục phát triển đi lên CNXH phù hợp xu thế tất yếu của thời đại.

Sự lựa chọn phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

 Trong thập niên 1980, tình hình thế giới trải qua những chuyển biến kinh tế và chính trị sâu sắc. Trong đó, Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ. Trên cơ sở nhận định nhạy bén và sáng suốt rằng công cuộc cải tổ ở Liên Xô đi ngược lại những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) thông qua nghị quyết có ý nghĩa lịch sử về thời kỳ quá độ phát triển theo con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam.

Đường lối đổi mới của Đảng ta đề ra tại Đại hội VI là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam mà cụ thể là chính sách kinh tế mới của Lênin. Theo đó, Đảng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; kế thừa và áp dụng thành tựu về quản lý kinh tế theo cơ chế kinh tế thị trường; chấp nhận sự tồn tại đan xen của các loại hình sở hữu nhà nước, tập thể và tư nhân; chăm lo đến lợi ích thiết thân của người lao động.

Đồng thời, Đảng ta quyết định thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, với chủ trương Việt Nam là bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh xác định: “Phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống được những nguy cơ lớn: Sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên”. Cương lĩnh chính trị không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta mà còn đối với phong trào cách mạng thế giới.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm 2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển), một lần nữa khẳng định: "Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016) tiến hành tổng kết 30 năm đổi mới và đưa ra nhận định: “Đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) nhận định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”; đồng thời khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Việt Nam luôn nỗ lực xây dựng, hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền dân sự và chính trị cho người dân

 Việt Nam luôn nỗ lực xây dựng, hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền dân sự và chính trị cho người dân; được hiến định đầy đủ trong Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”1. Đồng thời, quy định rõ: “mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”2. Việc cụ thể hóa Hiến pháp, cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên bằng các bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật cũng luôn được Nhà nước ta quan tâm. Chỉ riêng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022, Quốc hội Việt Nam đã thông qua gần 60 luật, nghị quyết có liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Song song với đó, Việt Nam không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước để bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và khuôn khổ pháp luật về xử lý các hành vi xâm phạm các quyền này, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Quốc phòng, Luật Công an nhân dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, v.v. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức phản biện xã hội cũng được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, v.v. Đồng thời, ban hành, sửa đổi, bổ sung luật, quy định xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự và chính trị của người dân Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam tích cực hoàn thiện các khuôn khổ pháp luật khác, tạo điều kiện thuận lợi nhất, bảo đảm cho cá nhân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương được thụ hưởng các quyền dân sự và chính trị, được tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức và có điều kiện thuận lợi trong thực hiện các quyền này, như: Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, v.v.

Con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam

 Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam”.

Con đường phát triển đi lên CNXH ở Việt Nam được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm ra cách đây hơn một thế kỷ khi Người tiếp cận Luận cương của Lênin về các dân tộc thuộc địa. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô-nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và trực tiếp lĩnh hội tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Người nhận định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất đứng lên tự giải phóng. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(1).

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh”-giáo trình lý luận để huấn luyện các chiến sĩ cộng sản đầu tiên, tạo tiền đề để tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930. Hội nghị thông qua Cương lĩnh, Chính cương và Điều lệ vắn tắt của Đảng.

Đây là những văn kiện đầu tiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng xác định đường lối chiến lược, sách lược cơ bản của cách mạng Việt Nam và tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951) xác định nhiệm vụ hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH. 

Thực hiện Cương lĩnh của Đảng, sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc là yếu tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định thắng lợi của nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước vào năm 1975. 

 NỤ CƯỜI CỦA BÁC 


Bác cười hiền tựa ông tiên

Chòm râu trắng muốt, mái đầu bạc phơ

Cao vời vầng trán ước mơ

Ánh mắt vẫy gọi bến bờ tương lai.


Áo nâu mưa nắng bạc phai

Cao su - đôi dép chông gai dặm trường

Bác là Tổ Quốc, Quê hương

Là cây đại thụ, là đường đấu tranh.


Bác là trang sử liệt oanh

Hùng thiêng sông núi, lưu danh muôn đời

Bôn ba khắp bốn phương trời

Tìm đường chân lý, xây đời tự do.


Bác là áo ấm, cơm no

Nụ cười âu yếm, giọng hò dịu êm

Bên Người con lớn lên thêm

Nụ cười của Bác êm đềm nước non.

(ST)

 KÉO ĐIỆN LƯỚI QUỐC GIA, CƠ HỘI TẠO BƯỚC ĐỘT PHÁ CHO CÔN ĐẢO 

Việc kéo điện lưới quốc gia ra Côn Đảo là cơ hội để tạo bước đột phá thực sự cho huyện Côn Đảo, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo đảm quốc phòng an ninh...

Tiếp tục Kỳ họp bất thường lần thứ năm, chiều 16/1, Quốc hội Quốc hội thảo luận tại hội trường về bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2021-2025 và bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để thực hiện Dự án Cấp điện từ lưới điện quốc gia cho huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Thảo luận nội dung này, đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH tỉnh Sóc Trăng) bày tỏ sự đồng tình cao với dự thảo Nghị quyết bổ sung các nguồn vốn do Chính phủ trình, trong đó có việc phân bổ 2.526,16 tỷ đồng (trong tổng số vốn 37.303,015 tỷ đồng chưa phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương) cho EVN để thực hiện Dự án Cấp điện từ lưới điện quốc gia cho huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại biểu cho biết, hiện nay, nguồn cấp điện cho Côn Đảo chỉ đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt, trong khi dân số cơ học của hòn đảo này đang tăng nhanh. Lượng du khách đến Côn Đảo đã vượt quy hoạch, còn điện cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ du lịch gần như không đáp ứng, trong khi các nhà đầu tư hiện đang mong chờ có điện để triển khai kế hoạch đầu tư.

Chính phủ đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo để trưng cầu ý kiến của các chuyên gia rất kỹ lưỡng, cơ bản đủ căn cứ để Chính phủ không trình phương án đầu tư điện gió, điện mặt trời. Vì vậy, việc cấp điện bằng lưới điện quốc gia sẽ đáp ứng mục tiêu cấp điện ổn định, an toàn, lâu dài và giảm thiểu tác động môi trường sinh thái, đặc biệt là bảo tồn rừng quốc gia và các di tích lịch sử, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

“Đây là dự án đặc thù, vừa sử dụng vốn ngân sách trung ương, vừa sử dụng vốn có của EVN để sử dụng hiệu quả nguồn vốn, sớm triển khai dự án cung cấp điện ổn định và an toàn cho lưới điện” - đại biểu nhấn mạnh.

Đại biểu nêu rõ, với tổng mức đầu tư của dự án trên 4.950 tỷ đồng, trong đó vốn tự có của EVN khoảng 2.423 tỷ đồng, vốn ngân sách trung ương trong dự thảo nghị quyết phân bổ trên 2.526 tỷ đồng trong tổng số vốn 37.303 tỷ đồng cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ nguồn dự phòng của kế hoạch đầu tư công trung hạn để thực hiện dự án kéo lưới điện từ Vĩnh Châu của tỉnh Sóc Trăng ra Côn Đảo với chiều dài gần 104 km, giao cho Bộ Công Thương quản lý nhà nước đối với dự án theo quy định. Dự án đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và phối hợp để triển khai dự án của lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng. Chính phủ đã giao địa phương thực hiện đầy đủ các thủ tục giải phóng mặt bằng dự án, đáp ứng tiến độ, đảm bảo hiệu quả việc sử dụng đất, tránh việc lãng phí tài nguyên. Yêu cầu chủ đầu tư thực hiện đánh giá tác động môi trường, đảm bảo triển khai dự án tuân thủ theo quy định về môi trường. Giám sát triển khai dự án đúng tiến độ và quy định.

Đại biểu kiến nghị Chính phủ trong quá trình triển khai dự án cần lưu ý đến các vấn đề về luồng hàng hải và công tác quy hoạch cảng biển Trần Đề của tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời triển khai đúng quy định về đánh giá tác động môi trường.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị xây dựng cơ chế, chính sách chặt chẽ để khuyến khích huyện Côn Đảo phát triển theo hướng kinh tế xanh. Kinh nghiệm thực tiễn từ đảo Cô Tô, bước ngoặt là vào năm 2013 khi lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh thực hiện kéo điện lưới ra đảo. Khi có điện, có nước và có tàu ra đảo đã giúp kinh tế Cô Tô bừng sáng, đời sống của người dân được cải thiện nhanh chóng. Cô Tô được ví là hòn ngọc, là nàng thơ, là một trong những hòn đảo tiền tiêu vọng gác thiêng liêng của đất nước. Cô Tô vươn lên trở thành điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch trong và ngoài nước.

“Với Côn Đảo, địa chỉ đỏ cách mạng, mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc, tôi tin tưởng đây không chỉ là cơ hội để tạo bước đột phá thực sự cho huyện Côn Đảo, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo đảm quốc phòng an ninh mà còn mang ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ theo Quyết định 417 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ, điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2045” - đại biểu nhấn mạnh.

Cũng về nội dung này, đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông) đề nghị, nghị quyết phải thể hiện rất rõ là sử dụng 2.526,16 tỷ đồng dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2021-2025 trong tổng số 37.303 tỷ đồng theo khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết 93 mà Quốc hội đã thông qua.

Đại biểu cũng nhận xét, dự thảo nghị quyết mà Chính phủ trình Quốc hội không nêu rõ chủ đầu tư là cơ quan nào. Theo quy định của Luật Đầu tư công và các luật có liên quan, nếu như trong trường hợp Quốc hội không quyết định chủ đầu tư thì chủ đầu tư sẽ phải là Ủy ban Quản lý vốn, bởi vì hiện nay Tập đoàn Điện lực Việt Nam là trực thuộc Ủy ban Quản lý vốn. Do đó, đại biểu đề nghị trong nghị quyết của Quốc hội phải giao rất rõ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam là chủ đầu tư đối với dự án này.

“Tôi được biết là hiện nay Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đã đầu tư vào đây một số tiền tương đối lớn, cũng hơn 2000 tỷ rồi thì tiếp tục giao số vốn này và giao cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư” - đại biểu nói./.


Không thể phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm các quyền dân sự và chính trị

 rong những năm qua, việc triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp về đảm bảo các quyền dân sự và chính trị cho người dân với nhiều thành tựu đạt được là nỗ lực rất lớn của Việt Nam. Qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là thực tiễn sinh động, không ai có thể phủ nhận.

Cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) là một trong ba trụ cột của Bộ luật nhân quyền quốc tế - nhóm văn kiện nền tảng cho sự hình thành và phát triển các tiêu chuẩn nhân quyền cơ bản trên thế giới. Nội dung cơ bản của ICCPR khẳng định những quyền cốt lõi của con người, với quyền tự quyết của mọi dân tộc và 18 nhóm quyền của mỗi cá nhân.

Lâu nay, các thế lực thù địch và những kẻ đội lốt nhân quyền luôn dùng mọi thủ đoạn để phủ nhận, xuyên tạc những thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người nói chung, các quyền dân sự và chính trị nói riêng. Họ vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền; vi phạm tự do ngôn luận, báo chí; dân chủ hình thức,… nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm suy giảm uy tín của Việt Nam với thế giới, kêu gọi, gây áp lực để đạt được mục đích của mình. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh, từ khi gia nhập Công ước ICCPR vào năm 1982, Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp đảm bảo các quyền dân sự, chính trị cho công dân và đạt nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên các mặt. Đây không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm thành viên của Công ước, mà còn là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân.

Trước hết, Việt Nam luôn nỗ lực xây dựng, hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền dân sự và chính trị cho người dân; được hiến định đầy đủ trong Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”1. Đồng thời, quy định rõ: “mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”2. Việc cụ thể hóa Hiến pháp, cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên bằng các bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật cũng luôn được Nhà nước ta quan tâm. Chỉ riêng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022, Quốc hội Việt Nam đã thông qua gần 60 luật, nghị quyết có liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Song song với đó, Việt Nam không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước để bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và khuôn khổ pháp luật về xử lý các hành vi xâm phạm các quyền này, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Quốc phòng, Luật Công an nhân dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, v.v. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức phản biện xã hội cũng được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, v.v. Đồng thời, ban hành, sửa đổi, bổ sung luật, quy định xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự và chính trị của người dân Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam tích cực hoàn thiện các khuôn khổ pháp luật khác, tạo điều kiện thuận lợi nhất, bảo đảm cho cá nhân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương được thụ hưởng các quyền dân sự và chính trị, được tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức và có điều kiện thuận lợi trong thực hiện các quyền này, như: Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, v.v.

Hai là, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về các quyền dân sự và chính trị nói riêng được Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, được tiến hành thường xuyên, liên tục, đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác này bằng nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Chính sách pháp luật được truyền tải đến người dân bằng nhiều kênh khác nhau, với sự phong phú, đa dạng về hình thức, phương pháp, cách thức tiến hành; từ các diễn đàn, hội thảo, tọa đàm chuyên sâu, đến các hình thức phổ thông, tiếp cận mọi người dân trên mọi vùng miền của đất nước. Công tác truyền thông chính sách được đẩy mạnh với các chuyên mục chuyên sâu về phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Trung ương và địa phương, được thể hiện bằng tiếng phổ thông cùng 13 tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài. Các cơ quan báo chí tích cực phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng và thực hiện các chuyên mục pháp luật ngày càng chặt chẽ, sáng tạo, hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội bằng fanpage, zalo, sử dụng nhắn tin qua các mạng di động để tăng tính tương tác, hấp dẫn cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh thực hiện rộng rãi. Đồng thời, chú trọng đăng tải các văn bản pháp luật, nhất là những văn bản pháp luật mới ban hành, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật lên cổng, trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương. Giai đoạn 2013 - 2023, các cấp, các ngành đã tuyên truyền, phổ biến pháp luật trực tiếp cho hơn 9.429.000 lượt người dân; biên soạn và cấp phát miễn phí gần 512.000.000 tài liệu pháp luật, nhiều tài liệu được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài. Qua đó, góp phần quan trọng trong nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền dân sự, chính trị ở nước ta.

Ba là, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thi hành kịp thời, đầy đủ, nhất quán và nghiêm minh pháp luật về bảo đảm các quyền dân sự và chính trị của người dân. Tiêu biểu như: quyền bầu cử và ứng cử của công dân được quy định cụ thể, được bảo đảm thực thi nghiêm minh, không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp. Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021 - 2026), tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt 99,6%, cao nhất từ trước đến nay và có thể nói khó có quốc gia nào khác sánh được. Điều đó cho thấy, người dân ngày càng ý thức được quyền của mình và quyền chính trị đó ngày càng được Nhà nước ta đảm bảo tốt hơn.

Các thế lực thù địch thường xuyên tạc, vu khống Việt Nam “bóp ngặt” tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, đó chỉ là những xảo ngôn thiếu căn cứ. Bởi lẽ, không có một quốc gia nào “bóp ngặt” tự do ngôn luận, báo chí mà lại có số lượng các cơ quan báo chí đông đảo, với đầy đủ các loại hình và phát triển mạnh mẽ như vậy. Lại càng không thể là một quốc gia đứng tốp đầu về tốc độ phát triển internet và người dùng mạng xã hội như Việt Nam. Hiện nay, nước ta có 797 cơ quan báo chí, gồm 127 báo và 670 tạp chí; đến tháng 01/2023, Việt Nam có 72,1 triệu người dùng Internet, tương đương 73,2% dân số; có hơn 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số và khoảng 161,6 triệu kết nối di động đang hoạt động, tương đương 164% dân số. Các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách không chỉ diễn ra tại nghị trường Quốc hội, mà còn diễn ra sôi nổi tại các cuộc tọa đàm, hội thảo, bàn luận,… với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội và người dân. Đây là minh chứng khẳng định quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Về tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta nhất quán tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; mọi công dân có quyền theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,7 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, hơn 55 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc, gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đều hòa hợp và bình đẳng, Nhà nước không phân biệt đối xử, tạo điều kiện tốt nhất cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia vào đời sống chính trị xã hội, xây dựng đất nước. Quốc hội khóa XV có 05 vị chức sắc là đại biểu và hàng chục nghìn chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã nhiệm kỳ 2021 - 2026 và là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các hội, đoàn thể chính trị xã hội các cấp, v.v. Về vấn đề dân tộc, Việt Nam không chỉ bảo đảm các quyền bình đẳng cho người dân, mà còn có chính sách ưu tiên đặc biệt để các dân tộc phát triển; luôn quan tâm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa; tạo điều kiện để họ tham gia hệ thống chính trị, quản lý xã hội, quản lý nhà nước, ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội khóa XV có 89/499 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,8%, nhiều nhất từ trước đến nay.

Cùng với đó, các quyền cơ bản của người dân theo Công ước ICCPR: quyền được đối xử bình đẳng trước tòa án và các cơ quan tài phán khác; quyền an ninh cá nhân và bất khả xâm phạm thân thể; quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; quyền được xuất cảnh khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và được quay trở lại nước mình; quyền có quốc tịch; quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; quyền thừa kế; quyền tự do hội họp và lập hội; quyền có việc làm; quyền về nhà ở; quyền được giáo dục và đào tạo; quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động văn hóa; quyền được tiếp cận với bất kỳ địa điểm và dịch vụ công cộng,... đều được Việt Nam quan tâm bảo đảm toàn diện, thực chất.

Ngày 22/3/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nội dung, cho phép nộp Báo cáo thực thi ICCPR lần thứ 4 tại Việt Nam và đã được đăng tải trên website của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc. Việc này thể hiện sự cam kết thực hiện của một quốc gia thành viên có trách nhiệm, phản ánh khách quan, minh bạch sự phát triển và nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị của người dân. Những thành tựu đó đã góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; là động lực quan trọng để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Đó là những minh chứng sinh động, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực chống phá.

Thượng tá, TS. PHẠM CÔNG THƯỞNG, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng