Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

Thanh niên Quân đội tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 (ĐCSVN) – Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Là một bộ phận của thế hệ trẻ Việt Nam, thanh niên Quân đội là lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, lực lượng bổ sung, kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội. Với tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuổi trẻ Quân đội luôn xung kích, đi đầu trong các phong trào của thanh niên cả nước; chủ động, tích cực trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, làm lan tỏa, phát huy phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặc biệt, thanh niên Quân đội luôn nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức Đoàn các cấp trong toàn quân đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nhiều hình thức giáo dục đã được triển khai sáng tạo như: Tọa đàm, diễn đàn, sinh hoạt câu lạc bộ lý luận trẻ, sân khấu hóa, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin (giáo dục qua mạng Internet, hội thi kết hợp trực tiếp và trực tuyến...). “Các đơn vị chủ động nắm, quản lý, giải quyết tình hình tư tưởng, định hướng dư luận trong thanh niên; động viên thanh niên Quân đội tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên (1).

Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt;…

Để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực tuyên truyền cho thanh niên Quân đội về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” cho đoàn viên, thanh niên trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 các cấp về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới; nhất là những luận điểm chống phá đối với Quân đội hiện nay. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các cấp về hoạt động quản lý, sử dụng điện thoại, internet và mạng xã hội trong Quân đội, như: Luật An ninh mạng năm 2018; Thông tư số 202/2016/TT-BQP, ngày 12/12/2016 quy định bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội; Chỉ thị số 1492/CT-BV, ngày 17/9/2013 của Tổng cục Chính trị về tăng cường quản lý các trang mạng xã hội trên internet trong Quân đội;… Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thanh niên Quân đội.

Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường bồi dưỡng những vấn đề cốt lõi về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thanh niên Quân đội có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn kiên định, tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Hướng dẫn số 824/HD-TN, ngày 25/9/2018 của Ban Thanh niên Quân đội về việc thanh niên Quân đội tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho thanh niên về việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chú trọng phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh; bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng khai thác, sử dụng tiện ích của các phần mềm, trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube,… để chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài chuyên sâu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội.

Tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm. Đặc biệt, cần phát huy tốt trách nhiệm của tổ chức Đoàn trong quản lý, điều hành, quan tâm chăm lo giải quyết nguyện vọng chính đáng của thanh niên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho cán bộ, đoàn viên thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh gắn với phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở trong Quân đội; xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh; từ đó xây dựng hình mẫu người thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Quân đội và của Đoàn, xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, quan tâm, khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch nói riêng để thanh niên Quân đội thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, xứng đáng là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Lợi dụng cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thúc đẩy “diễn biến hòa bình” - một thủ đoạn thâm độc

Thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta là chiêu trò thường thấy trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Hiện nay, lợi dụng các hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên cũng như kết quả phòng, chống vấn nạn này để chống phá là thủ đoạn rất thâm độc và nguy hiểm. Vì vậy, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những thủ đoạn đó, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị của đất nước và củng cố niềm tin của nhân dân là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng.

Tham nhũng, tiêu cực và “diễn biến hòa bình” là hai trong bốn nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra từ giữa nhiệm kỳ Đại hội VII (tháng 01/1994), đến nay “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”1. Tuy hai nguy cơ này xuất phát từ hai chủ thể khác nhau, một là từ chiến lược phản động của các thế lực thù địch bên ngoài, một là “giặc nội xâm”, nhưng lại có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình” là thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà tham nhũng, tiêu cực là một trong những biểu hiện của nó. Đồng thời, các thế lực thù địch lại triệt để lợi dụng chính các hành vi, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để tạo ra các hoạt động chống phá trong chiến lược của họ. Đây thực sự là một thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

Để thực hiện mưu đồ đó, họ đưa ra các luận điệu xuyên tạc rằng: “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ một đảng ở Việt Nam”; hoặc “Việt Nam không thể phòng, chống tham nhũng thành công; Việt Nam càng chống, tham nhũng càng nặng, bởi vì đó là căn bệnh kinh niên của chế độ một đảng cầm quyền”. Họ còn cho rằng, thực chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ”, “triệt hạ lẫn nhau” trong Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Từ đó, họ công kích chế độ, kêu gọi Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện đa đảng, tam quyền phân lập,... thì mới có thể chống được tham nhũng, tiêu cực.

Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên là hết sức thâm độc, xảo trá, phản động, xuyên tạc những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hòng chia rẽ nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, từng bước hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích của họ là từng bước phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vậy tại sao các thế lực thù địch lại lợi dụng, xoáy sâu vào vấn đề tham nhũng, tiêu cực? Bởi vì, đây luôn là vấn đề “rất nóng”, được dư luận hết sức quan tâm; đó còn là biểu hiện tập trung nhất, rõ ràng nhất của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; là “nguyên liệu”, “mảnh đất màu mỡ”, “cái cớ” để các thế lực thù địch, cơ hội, những kẻ “trở cờ”, bất mãn với chế độ sử dụng tối đa nhằm thổi phồng khuyết điểm, bôi nhọ, xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; bản chất giai cấp công nhân, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt khác, đấu tranh loại trừ tham nhũng, tiêu cực vốn đã là khó khăn, lâu dài, gay go, quyết liệt, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, nó là “giặc nội xâm”, nhiệm vụ chống lại nó “cũng cần kíp như đánh giặc trên mặt trận” thì các luận điệu này càng làm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thêm khó khăn, phức tạp, thậm chí nhiễu loạn trong nhân dân, chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu chúng ta không tỉnh táo, không phân biệt đúng, sai, thật, giả, sẽ rất dễ mắc bẫy của kẻ thù; mà hậu quả là bất ổn về kinh tế, chính trị, thậm chí rối loạn, dẫn đến mất vai trò lãnh đạo của Đảng, sụp đổ chế độ. Vì vậy, cần nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc sai trái, lợi dung cuộc chiến này để thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Chúng ta đều biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực, là “khuyết tật bẩm sinh”, sự tha hóa của quyền lực mà bất kể chế độ xã hội nào trên thế giới cũng đều phải đương đầu với nó. Chính vì thế, tham nhũng không phải là sản phẩm riêng có của chế độ “độc đảng”, hay “bản chất” của thể chế nhất nguyên chính trị như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, rêu rao. Thực tiễn đã chứng minh, dù là các nước phát triển, đang phát triển, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, như: Nhật Bản, Hàn Quốc; hay nhất nguyên chính trị như Trung Quốc, hoặc như các nước có nền kinh tế phát triển cao, thực hiện tam quyền phân lập như ở châu Âu, Bắc Mỹ,... cũng đã và đang phải đương đầu với tệ tham nhũng. Tham nhũng đã từng làm rối ren xã hội, khuynh đảo thể chế chính trị, thậm chí là sụp đổ chính quyền ở một số nước trên thế giới.

Hiện nay, dù có những cách hiểu và diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung lại, đều thống nhất: tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực và lợi ích cá nhân; tham ô, tham nhũng đều có bản chất, nguồn gốc là hành vi của những người có chức, có quyền, lợi dụng chức, quyền đó cấu kết để tham ô, nhận hối lộ, cố ý làm trái pháp luật để vụ lợi; lấy “của công làm của tư”, bòn rút ngân sách của nhà nước, tài sản của tập thể để làm của tư, hoặc của một nhóm người. Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm cho thấy, tình trạng tham nhũng diễn ra ở rất nhiều nước trên thế giới, nếu năm 2020, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100, thì năm 2022, mặc dù có tiến bộ ở nhiều nước, nhưng vẫn không khả quan. Theo thang điểm từ 0 (tham nhũng cao) đến 100 (rất minh bạch), thì chưa có nước nào đạt 100 điểm, cao nhất cũng chỉ đạt 90 điểm (Đan Mạch)2. Ở nhiều nước có chế độ đa đảng, thường xuyên được xếp hàng cao của thế giới về chống tham nhũng, như: Phần Lan, New Zealand, Singapore, Thụy Điển, Na Uy, Úc, Canada,... nơi được cho là dân chủ, minh bạch và có các quy định rất chặt chẽ về phòng, chống tham nhũng, nhưng tham nhũng vẫn còn tồn tại, thậm chí trầm trọng hơn nhiều nước khác. Trên thực tế, đã có nhiều quan chức cấp cao, cả nguyên thủ quốc gia của một số nước phát triển cũng “dính” vào tham nhũng, bị pháp luật xử lý.

Vì lẽ đó, tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội, được cho là “quốc tế nạn”, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực diễn ra ở tất cả các quốc gia, bất kể theo thể chế chính trị nào, một đảng hay đa đảng. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nếu có khác biệt, thì chỉ là ở mức độ và ảnh hưởng nhiều hay ít mà thôi.

Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là “giặc nội xâm”. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và chính phủ”3. Vì vậy, nó rất nguy hiểm, thậm chí là nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm, bởi nó nảy sinh, tồn tại, phát triển một cách ngấm ngầm ngay trong hàng ngũ của chúng ta, nó diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trên tất cả các lĩnh vực, gắn liền với quyền lực, chức vụ, nơi mà hầu hết do đảng viên của Đảng đảm nhiệm. Những năm gần đây, đặc biệt là từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư là Trưởng ban, đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong 10 năm (từ năm 2012 đến 2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Trong 6 tháng đầu năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 452 vụ án/1.409 bị can về các tội tham nhũng (tăng 155 vụ/727 bị can so cùng kỳ năm 2022).

Kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Cũng có nghĩa, không hề có chuyện “phe phái”, “đấu đá, thanh trừng nội bộ”; tất cả, dù là ai, làm gì, ở đâu, khi sai phạm đều bị xử lý nghiêm khắc. Chính những hành động quyết liệt, kiên trì, bền bỉ, bài bản, thận trọng, chắc chắn và kết quả đạt được của Việt Nam, mà trong báo cáo của Tổ chức Minh bạch quốc tế, năm 2022, Việt Nam tăng 03 điểm CPI so với năm 2021, từ 39 lên 42 trên thang điểm 100 và tiến 10 bậc trên bảng xếp hạng, từ vị trí thứ 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2021, lên 77/180, thuộc nhóm nước có tiến bộ nổi bật, cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam những năm qua4. Các nước, các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao sự nỗ lực, cố gắng và những kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, cho rằng: công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam hiện nay là “mạnh mẽ hơn lúc nào hết”; “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam đang phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận rõ tính chất nguy hại của tham nhũng, tiêu cực. Từ đó, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, với ý chí, quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Đây chính là minh chứng sinh động, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng cuộc chiến này để thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN VĂN THÀNH, Học viện Quốc phòng 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc chủ trương của Đảng về “dân thụ hưởng”

 Chủ trương “dân thụ hưởng” là một điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Điều đó, khẳng định sự nhất quán từ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên đều hướng tới mục đích cao cả là vì hạnh phúc của nhân dân; nhân dân thực sự được hưởng mọi thành quả của sự nghiệp cách mạng. Song hòng chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức bóp méo, xuyên tạc chủ trương này. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

Kế thừa quan điểm các kỳ đại hội trước và tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, Đại hội XIII của Đảng bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”1. Đây không chỉ là sự hoàn thiện chủ trương của Đảng trong thực hành dân chủ, tạo cơ sở chính trị, pháp lý thuận lợi để tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ và vai trò chủ thể của nhân dân, mà còn là sự cụ thể, hiện thực hóa, khẳng định mục tiêu quan trọng tối thượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã lựa chọn là vì lợi ích của nhân dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, v.v. Song với mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình xuyên tạc rằng chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước ta chỉ là hình thức, là khẩu hiệu suông, là “chiêu trò” mị dân, lợi dụng dân để củng cố địa vị của giai cấp và thu lợi cho mình. Đặc biệt, lợi dụng tình hình đời sống một bộ phận nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn; nhất là khi Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đã phanh phui, đưa ra xét xử một số vụ án lớn, trong đó có một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các thế lực chĩa mũi rêu rao: chỉ “quan mới được hưởng thụ”, còn dân vạn đời vẫn chỉ nghèo khổ mà thôi; rằng, khẩu hiệu mà Đảng Cộng sản nêu ra chỉ lừa bịp, mị dân, ru ngủ dân để rồi cai trị dân, bao nhiêu quyền hành, bao nhiêu lợi ích quan đều hưởng hết. Thậm chí có kẻ còn “ác khẩu” cho rằng cần sửa lại chủ trương “dân thụ hưởng” thành “quan thụ hưởng”, v.v. Chúng ta không lạ gì những luận điệu, chiêu trò này của các thế lực thù địch; đó hoàn toàn là sự suy diễn, quy chụp thiếu khách quan, lấy hiện tượng quy bản chất, “gắp lửa bỏ tay người”; mục đích của họ không có gì khác là phủ nhận tất cả những nỗ lực và thành quả đạt được mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng, nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Song, thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc này.

“Dân thụ hưởng” là mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân; kế thừa truyền thống của dân tộc và từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, quần chúng vừa là động lực, vừa là chủ thể thực hiện và thụ hưởng chính thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, vì vậy “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách,... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”2. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng, đạo đức, phong cách, mọi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”3. Người cũng yêu cầu Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, cán bộ, đảng viên phải làm cho các giá trị về tự do, độc lập không chỉ là khẩu hiệu cách mạng, mà phải được hiện thực hóa trên thực tế để nhân dân, đồng bào mình được thụ hưởng những giá trị to lớn của nền độc lập, của thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là: tự do, hạnh phúc, cơm ăn, áo mặc, cơ hội được học hành, phát triển toàn diện cá nhân, v.v. Thấm nhuần tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương châm “dân thụ hưởng” luôn được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân”4. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã bổ sung, hoàn thiện, yêu cầu phải thực hiện tốt phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Chủ trương này không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và các nguồn lực trong nhân dân trong tiến trình hiện thực hóa các chủ trương, quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng, mà chủ trương “dân thụ hưởng” còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Ngay ở Điều 1, Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, v.v. Điều này khẳng định, “dân thụ hưởng” là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã và đang từng ngày, từng giờ được hiện thực hóa ở Việt Nam. Nó không phải là khẩu hiệu suông!

“Dân thụ hưởng” được bảo đảm trên thực tế. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam là toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... song có thể thấy rõ nhất là đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên rõ rệt. Mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Các chỉ số cơ bản thể hiện quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân đều tăng dần qua từng năm: năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm phát triển con người cao (đạt mức 0,703), nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển; chỉ số hạnh phúc (các tiêu chí được đánh giá, gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng) của nước ta cũng liên tục tăng tới 12 bậc, từ vị trí 77 năm 2022 lên vị trí 65/150 quốc gia trong năm 2023. Liên hợp quốc đánh giá và công nhận Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ trung bình tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020); chỉ số giáo dục Việt Nam tăng từ 0,618 (năm 2016) lên 0,640 (năm 2020); chỉ số thu nhập tăng 0,624 (năm 2016) lên 0,664 (năm 2020). Tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD của Mỹ đánh giá chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể: có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia (năm 2021), v.v. Điều đó cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững, thực chất. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người; xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý đất nước, xã hội là để mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Đồng thời, thực hiện tốt đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh để mỗi người dân Việt Nam đang hàng ngày, hàng giờ được thực sự thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả lao động của mình. Đặc biệt, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, dịch bệnh (đặc biệt là đại dịch Covid-19) khiến đời sống vô cùng khó khăn thì Đảng, Nhà nước đều kịp thời có các chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ; các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và toàn xã hội đều đoàn kết, giang tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mọi người dân Việt Nam không ai bị bỏ lại phía sau, đều bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí minh: “dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”5, v.v.

Thực tiễn trên là con số biết nói, được các quốc gia, tổ chức uy tín thế giới; ngay cả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng phải thừa nhận. Đó là minh chứng rõ ràng nhất, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa quan điểm, chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, khẳng định chủ trương “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, hay khẩu hiệu để hô hào, mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam; không thủ đoạn xảo trá nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Đại tá NGÔ ĐÌNH PHIẾM - Trung tá VŨ VĂN BÁCH*

Đẩy mạnh việc “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn liền với đấu tranh có hiệu quả phòng chống sự suy thoái phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả thiết thực Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” chính là góp phần to lớn vào bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất BĐCH trong thời kỳ mới. Phải thấy rằng, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị có nội dung sâu rộng có ý nghĩa sâu sắc cả vê nhận thức và thực tiễn. Đối với quân đội phải đưa nội dung học tập về “tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” thành nếp sinh hoạt thường xuyên của mỗi đơn vị, lấy đó làm nội dung cơ bản trong giáo dục nhằm giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH. Trong các chỉ tiêu của mỗi phong trào thi đua phải có nội dung cụ thể học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh. Cần tiếp tục xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu, học tập, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách nghiêm túc, thiết thực, phù hợp với thực tiễn của từng cơ quan, đơn vị; gắn việc học tập với việc chuyển mạnh sang làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các cấp uỷ đảng tiếp tục hướng dẫn cụ thể nội dung kiểm điểm, liên hệ trong việc triển khai thực hiện “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trong sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cơ quan hằng tháng, đưa nội dung này trở thành nền nếp và có hiệu quả thiết thực, có kiểm tra, giám sát, coi đây là một giải pháp quan trọng tạo nên ý thức thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh phong trào thi đua và thường xuyên tuyên truyền kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quân đội và ở các đơn vị. Các cơ quan, đơn vị sớm hoàn thành việc xây dựng chuẩn mực đạo đức, với nội dung ngắn, gọn, được công bố công khai, rộng rãi trong cơ quan, đơn vị. Kết hợp giữa xây dựng và phòng chống suy thoái phẩm chất BĐCH trong quá trình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Chủ trương nhất quán của Việt Nam là đảm bảo quyền con người

 Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền thế giới - ngày ra đời Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (10/12/1948 - 10/12/2023), Việt Nam chúng ta tự hào là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả trong nước và trên thế giới. Những nỗ lực đó góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

Tôn trọng, bảo đảm quyền con người là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ; được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; được thực hiện tích cực, có trách nhiệm trong quá trình triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người.

Ngay từ bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người đã được khẳng định như một chân lý vĩnh cửu và phổ biến: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”1. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta cũng khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”2. Kể từ đó đến nay, với nhận thức “quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”3, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người4 cùng nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản về lao động. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã nỗ lực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người nhằm bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế, phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành tới 36/120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung, ban hành các luật, bộ luật trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

Bên cạnh việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, với sự nhất quán về chính sách coi “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”5, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả ở trong nước và trên thế giới. Việt Nam đã đảm nhận thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và tiếp tục được tín nhiệm giữ vai trò này trong nhiệm kỳ 2023 - 2025. Cần lưu ý rằng, để trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quốc gia ứng viên phải đạt được những tiến bộ vượt bậc trong hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước; đồng thời, phải có đóng góp, đưa ra nhiều sáng kiến và tích cực hành động thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu. Bởi vậy, việc Việt Nam hai lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng cho những nỗ lực tích cực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực quyền con người suốt nhiều năm qua; đồng thời, khẳng định sự coi trọng của bạn bè quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trong các hoạt động thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Trên thực tế, kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc (năm 1977) đến nay, Việt Nam đã luôn chứng tỏ là một thành viên có trách nhiệm với công tác bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thông qua việc tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người; đồng thời, đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Công cuộc đổi mới được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện trong 37 năm qua với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đều hướng vào mục tiêu bảo đảm, bảo vệ các quyền của người dân. Đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no, và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người, đó là điều quan trọng nhất”6. Còn ông Jean Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt thì nhấn mạnh: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”7. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị được bảo đảm, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, được thực hiện minh bạch trong thực tiễn. Theo đó, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; mọi công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, nếu đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Các quyền con người, quyền công dân về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nếu thu nhập bình quân đầu người (GDP) trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD. Nhờ đó, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% (năm 1993) xuống dưới 03% (năm 2020) theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đứng thứ 115/191 quốc gia trong bảng xếp hạng, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng HDI nhanh nhất thế giới giai đoạn 1990 - 2021. Các vấn đề an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Để bảo đảm quyền được sống của người dân trước sự lây lan nhanh chóng của đại dịch Covid-19, Chính phủ Việt Nam đã coi việc bảo vệ sức khỏe, quyền lợi của người dân là ưu tiên cao nhất trong mọi chính sách, chương trình hành động. Ở một số thời điểm, Chính phủ chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế đất nước để bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, bảo đảm an toàn, ổn định xã hội nhằm hỗ trợ cho người lao động và doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, bảo đảm đời sống và an toàn cho người lao động. Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” đã đến tay 36,5 triệu người dân trên cả nước, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỉ đồng8, là một minh chứng cụ thể cho những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người. Đánh giá sự tiến bộ của Việt Nam trên lĩnh vực này, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn của VOV vào ngày 12/9/2023 về mối quan hệ hợp tác Việt Nam - UNDP trong 45 năm qua (1978 - 2023) và những triển vọng trong thời gian tới đã khẳng định: “Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó”.

Cùng với các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền con người, quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng; nhờ đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo được tổ chức, thu hút hàng vạn tín đồ, nhân dân tham dự. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm; xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ; 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tính đến cuối năm 2022, nước ta có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó, có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 cán bộ đã được cấp thẻ nhà báo9. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam lên đến 72,1 triệu người, chiếm khoảng 73,2% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng, internet và chỉ số trung bình thời gian sử dụng internet của người Việt Nam ở mức cao (khoảng 07 giờ/ngày) là minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền, trong nhiệm kỳ 2014 - 2016, Việt Nam đã có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người; là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết, hoặc trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua bằng đồng thuận. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã tự nguyện thực hiện 03 lần công bố Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và tích cực thực hiện hầu hết các khuyến nghị của Hội đồng Nhân quyền sau các kỳ báo cáo; đồng thời, đang tích cực chuẩn bị để hoàn thành đúng hạn nghĩa vụ báo cáo quốc gia chu kỳ IV theo Cơ chế này. Bên cạnh đó, từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hàng trăm lượt sĩ quan, nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại hai Phái bộ ở Cộng hòa Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ quyền con người trên phạm vi quốc tế. Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam đã chứng tỏ ngay vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất diễn ra ngày 06/02/2023. Thêm nữa, việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 03/4/2023 đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Tất cả những nỗ lực đó của Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền là minh chứng thuyết phục khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở trong nước, cũng như trên phạm vi thế giới là nhất quán và liên tục. Những nỗ lực đó góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu; đồng thời, là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

NGUYỄN NGỌC HỒI

Nâng cao chất lượng tự giáo dục, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 Những tác động giáo dục chỉ thật sự phát huy tác dụng và mang lại chất lượng hiệu quả khi thông qua tính tích cực cá nhân của đối tượng giáo dục là người cán bộ, chiến sỹ quân đội. Trước hết, cán bộ, chiến sỹ phải nâng cao trình độ tự ý thức về việc tự tu dưỡng rèn luyện, nhận thức rõ đòi hỏi khách quan về phẩm chất BĐCH trong từng điều kiện cụ thể. Biết tự nhận xét, tự kiểm tra, đánh giá về những mạnh, yếu so với yêu cầu đặt ra và xác định phương hướng, biện pháp tự giáo dục, tự tu dưỡng cho xứng danh BĐCH. Mặt khác, phải có ý chí phấn đấu cầu tiến bộ, luôn tự phê bình theo yêu cầu cao, giải quyết hài hoà các mối quan hệ, tự khép mình vào kỉ luật, trọng danh dự cá nhân, rèn luyện ý chí bền bỉ; hình thành động cơ rèn luyện đúng đắn, có khả năng “miễn dịch” với những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường trong đời sống xã hội hiện nay. Mỗi cá nhân thường xuyên lấy phẩm chất BĐCH làm động lực tinh thần, tự cổ vũ và cổ vũ nhau thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là khi đứng trước những khó khăn, thử thách ác liệt. Mọi cán bộ, chiến sĩ phải xây dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống những tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm chất BĐCH.

Phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong quân đội, của hệ thống chính trị và toàn dân trong giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 Cần thống nhất quan niệm rằng việc giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH không phải là việc riêng của tổ chức quân sự, càng không chỉ trách nhiệm của hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị hoặc cá nhân người cán bộ chính trị. Trước hết cần phát huy vai trò của tổ chức lãnh đạo, chỉ huy trong việc giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH ở đơn vị. Các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy phải thật sự nêu cao trách nhiệm, thường xuyên quan tâm tới nhiệm vụ giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH ở đơn vị. Điều này phải được thể hiện cụ thể trong các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch hoạt động của tổ chức, đồng thời phải làm tốt công tác kiểm tra việc triển khai thực hiện ở các đơn vị. Cán bộ, đảng viên trong các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy phải mẫu mực thể hiện phẩm chất BĐCH ở mọi lúc, mọi nơi để làm gương sáng cho cán bộ, chiến sỹ noi theo.

Các tổ chức như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Công đoàn, Hội đồng quân nhân…đều có trách nhiệm giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH. Thời gian tới phải quan tâm củng cố, phát huy cao độ vai trò của từng tổ chức, từng lực lượng và phối hợp một cách chặt chẽ, thường xuyên tạo ra một hợp lực mạnh mẽ nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH.

Trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cần tiếp tục rà soát, bổ sung, phát triển hệ thống chính sách, luật pháp để quản lý quân đội và đảm bảo quyền lợi của quân nhân. Tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội, phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta. Đây là vấn đề nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ tới cán bộ, chiến sỹ trong việc giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH. Tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội ở các địa phương và Nhân dân cần cộng tác, giúp đỡ bộ đội trong mọi hoạt động huấn luyện, công tác, sản xuất; kịp thời phối hợp giải quyết những vướng mắc về đất đai, thao trường và những vấn đề nảy sinh trong quan hệ quân-dân; cho việc nêu cao trách nhiệm chính trị, tạo thuận lợi cho tuyển chọn thanh niên nhập ngũ, tạo nguồn nhân lực cho quân đội, quan tâm tới quân nhân xuất ngũ trở về địa phương, tạo điều kiện tốt để họ tiếp tục phát huy phẩm chất BĐCH

Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cho cán bộ, chiến sĩ quân đội

 Trong tình hình mới, để nâng cao chất lượng giáo dục theo nghĩa rộng phẩm chất BĐCH, cần phải quán triệt tính toàn diện, coi việc giáo dục là kết quả tổng hợp của các chương trình giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, sẵn sàng chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, và mọi hoạt động văn hóa, xã hội của mỗi đơn vị. Tính chủ đích của giáo dục phẩm chất BĐCH phải được thể hiện thông qua mọi hoạt động, trên tất cả các lĩnh vực đó. Đối tượng cần giáo dục phẩm chất BĐCH là tất cả các tổ chức và con người cụ thể trong quân đội. Đặc biệt phải coi trọng giáo dục đối tượng là chiến sĩ làm nghĩa vụ quân sự, nhanh chóng tạo dựng cho họ ý niệm về phẩm chất BĐCH và có ý thức tự giác rèn luyện. Phẩm chất BĐCH được hình thành và biểu hiện qua tất cả các mối quan hệ và hoạt động của người quân nhân. Vì thế mà khi tập trung xây dựng các mối quan hệ chủ yếu như quan hệ trong nội bộ quân đội, quan hệ với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thì không thể xem nhẹ các mối quan hệ khác của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Giáo dục phẩm chất BĐCH cho cán bộ, chiến sĩ phải phù hợp với yêu cầu của từng đối tượng trên các địa bàn hoạt động cụ thể, bám sát đặc thù của các quân, binh chủng, học viện, nhà trường, đơn vị. Đây chính là vận dụng nguyên lý" phân tích cụ thể một tình hình cụ thể" vào giáo dục phẩm chất BĐCH cho cán bộ, chiến sĩ. Thực tế cho thấy phẩm chất BĐCH là “cái chung” rất sâu sắc nhưng được biểu hiện phong phú, sinh động trong “cái riêng” ở từng đơn vị, con người cụ thể. Chuẩn mực chung của phẩm chất BĐCH phải được cụ thể hoá đến từng đối tượng để giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục. Phương pháp giáo dục cũng không thể máy móc mà phải sáng tạo cho phù hợp với yêu cầu của từng đối tượng trên địa bàn hoạt động cụ thể. Hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng rất đa dạng, có thể sử dụng với hiệu quả cao trong tuyên tryền, giáo dục phẩm chất BĐCH. Các hình thức khác như: tham quan, tiếp xúc nhân chứng lịch sử, thi tìm hiểu về truyền thống quân đội, truyền thống đơn vị…đều có tác dụng rất tích cực để qua đó giáo dục phẩm chất BĐCH cho cán bộ, chiến sỹ. Đặc biệt phải coi trọng sử dụng một phương pháp rất có hiệu quả, đó là phương pháp nêu gương trong giáo dục phẩm chất BĐCH. Phẩm chất BĐCH và bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, của dân tộc là những cái không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cho nên cần chủ động lồng ghép, kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả việc giáo dục phẩm chất BĐCH trong giáo dục bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội, của dân tộc và của từng đơn vị cụ thể.

Không ngừng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam

 Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng quân đội cách mạng là tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội. Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” và Người nhiều lần nhắc nhở “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đối với giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội và phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ".

Trong tình hình hiện nay, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm thấu triệt trong toàn quân nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Tập trung nâng cao chất lượng xây dựng đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những yêu cầu, biện pháp mới, phù hợp với đặc điểm tình hình của Đảng bộ quân đội. Quán triệt và thực hiện tốt chỉ thị số 316 - CT/ĐU của ĐUQSTW ngày 31/7/2008 "về xây dựng các cấp uỷ trong Đảng bộ quân đội trong sạch vững mạnh giai đoạn mới". Đồng thời tiếp tục thực hiện nghiêm túc các quy định về chức năng, nhiệm vụ của 8 loại hình tổ chức đảng trong quân đội; xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh theo quan điểm Đại hội X của Đảng. Chỉ đạo tốt việc thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Đây là một nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nói chung. Việc quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết này cần khắc phục khuynh hướng nhận thức sai trái cho rằng, đây là thời cơ để cán bộ chính trị “lên ngôi”. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải lựa chọn, giáo dục, bồi dưỡng các chính uỷ, chính trị viên đáp ứng yêu cầu cả về phẩm chất và năng lực của người chủ trì về chính trị trong đơn vị. Tuy nhiên, quan trọng và cấp thiết hơn cả hiện nay là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Nghị quyết này vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ thể hiện rõ đặc điểm phầm chất của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn cách mạng mới được nhìn nhận một cách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn tình hình, đó là hiện nay “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng..., làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” [1]. Vì vậy, để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy trong Quân đội và mọi quân nhân, làm cho những phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, nâng lên một tầm cao mới, xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng” và lòng tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.

Trong các chỉ thị, nghị quyết của chi bộ, đảng bộ phải chú trọng nội dung, biện pháp lãnh đạo giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH một cách cụ thể. Các chi bộ, đảng bộ cần phải coi trọng công tác phát triển đảng, bổ sung thường xuyên đội ngũ đảng viên có chất lượng cao. Điểm rất quan trọng để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ta là phải củng cố kiện toàn cơ quan chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị mẫu mực về phẩm chất BĐCH, đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Cán bộ đảng viên và tổ chức đảng trong quân đội phải tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn diễn biến hoà bình nhằm phi chính trị hoá quân đội của các thế lực thù địch.

Làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch

 Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu hiện tập trung những phẩm chất ưu tú của người quân nhân cách mạng, một giá trị văn hóa - đạo đức của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Những phẩm chất đó được xây đắp từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ; được các thế hệ lưu truyền, kế tục và phát huy. Song, với âm mưu thâm độc, nhằm thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch mưu toan xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; nhưng, mọi xuyên tạc của chúng đều trở nên vô ích và sẽ bị phá sản.

Nhận thấy bản chất, sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam và sức “hấp dẫn”, sự lan tỏa những giá trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế lực thù địch càng điên cuồng chống phá. Họ coi việc xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hướng “đột phá” trong mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội, hòng làm suy yếu, biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam. Không chỉ công kích vào những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, bản chất, họ còn tập trung chống phá những nội dung cấu thành, các giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện trong các mối quan hệ cơ bản của Quân đội, nhất là trong quan hệ với nhân dân, với Đảng; gắn với thực tiễn hoạt động các cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, chiến sĩ cả trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ và xử lý các mối quan hệ trong cuộc sống đời thường. Họ ra sức rêu rao rằng, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là do chúng ta “tự gán ghép”, không phải là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Lợi dụng sự vi phạm pháp luật, kỷ luật, hình ảnh, hành động thiếu mẫu mực của một số ít quân nhân, các thế lực thù địch ra sức tô vẽ, phù phép, cường điệu hóa với những luận điệu, như: “Quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”,… rồi lu loa trên các phương tiện truyền thông, nhất là trên Internet, mạng xã hội nhằm chia rẽ Quân đội với nhân dân, với Đảng, vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Âm mưu, chiêu trò này thực sự nguy hiểm khi nó hủy hoại, làm suy yếu, biến chất Quân đội ta một cách “êm thấm”, thực hiện “đánh gục” Quân đội mà “không có tiếng súng”. Điều đó dễ làm cán bộ, chiến sĩ hoài nghi, dao động về tư tưởng, tình cảm, giảm sút niềm tin đối với những giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và bản chất của Quân đội; tạo ra sự “lệch chuẩn” trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ; dễ dẫn đến tha hóa về đạo đức, lối sống. Lâu dần sẽ làm Quân đội ta bị rệu rã về tổ chức, mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Mục đích thâm hiểm của chúng là vậy nhưng không dễ để đạt được. Bởi lẽ, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa - chính trị - đạo đức cao đẹp đã được khẳng định và ngày càng tỏa sáng trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta trong gần 80 năm qua cũng như trong đời sống tinh thần của đất nước. Đó là “báu vật” mà nhân dân đã trao cho Quân đội, không ai có thể phủ nhận hay xuyên tạc. Trong khi nói bừa “Bộ đội Cụ Hồ” là danh từ “tự gán ghép”, không phải là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân thì các thế lực thù địch đã tự vả vào mặt mình khi lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, rằng: cán bộ, chiến sĩ hiện nay không còn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” nữa, v.v. Sự mâu thuẫn đó đã nói lên sự chống phá của chúng là chiến dịch của những ý tưởng phản động về chính trị, bóp méo sự thật, phản khoa học và sự phá sản là kết cục không thể tránh khỏi.

Mặc dù, một số cán bộ, chiến sĩ có lúc, có nơi, có lời nói và hành động làm ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, Quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội,... nhưng, điều đó tuyệt nhiên không làm cho những giá trị của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” mất đi, mà ngược lại, khi những “con sâu” ấy bị loại bỏ, sẽ càng khẳng định Quân đội ta không dung thứ cho những hành vi đi ngược lại phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Và qua đó, giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng lan tỏa tích cực không chỉ trong Quân đội, mà cả trong đời sống tinh thần xã hội; phản ánh sâu sắc bản chất, tính chất cao đẹp, sức sống mạnh mẽ và sức hấp dẫn to lớn của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời sống hiện thực.

Đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch là nội dung trọng tâm, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong “cuộc chiến trong thời bình” của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ta hiện nay. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, chúng ta phải thực hiện tổng thể nhiều nội dung, biện pháp; trong đó, tập trung làm tốt những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhấtđề cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch. Mọi biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, hoặc mắc sai lầm đối với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội ta nói chung, sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” nói riêng đều rất nguy hiểm, sẽ khiến chúng ta phải “trả giá”. Do đó, trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, cũng phải đề cao cảnh giác, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong đấu tranh. Tuy nhiên, tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phải trên cơ sở nhận rõ thực chất những luận điệu xuyên tạc và tính chất nguy hiểm, tác hại của sự xuyên tạc đó. Không thể đánh đồng hiện tượng vi phạm kỷ luật, sự suy thoái, tha hóa về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, chiến sĩ với sự xuyên tạc, chống phá, hạ thấp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch, tuy giữa chúng có quan hệ với nhau nhất định; càng không thể nhầm lẫn những hiện tượng đó với bản chất tốt đẹp của Quân đội ta và giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Muốn đấu tranh có hiệu quả, không chỉ hô hào khẩu hiệu chung chung, mà nhất thiết phải tổ chức tốt việc đấu tranh ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; thường xuyên bồi dưỡng lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và dũng khí đấu tranh.

Thứ haiquán triệt sâu sắc quan điểm và phương châm tích cực, chủ động trong đấu tranh. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực, chủ động “đấu tranh” làm phá sản mọi luận điệu xuyên tạc với việc “giữ vững, nâng cao và phát huy” phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; lấy “giữ vững, nâng cao và phát huy” là chính, tích cực chủ động “đấu tranh” là quan trọng. Kiên quyết khắc phục những biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung. Phải vạch rõ bản chất phản động, phản khoa học và tính chất nguy hiểm, những tác hại của những luận điệu xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Đồng thời, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý chặt chẽ việc sử dụng, tham gia hoạt động trên Internet, mạng xã hội của mọi quân nhân; nắm bắt tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ. Kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính, tự phê bình và phê bình; kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin xấu độc, xuyên tạc.

Thứ bađẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1, thực hiện tốt việc “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”. Trên cơ sở đó, tạo nên sự vững vàng, nhạy bén về tư tưởng, chính trị cho cán bộ, chiến sĩ; gia tăng sức “đề kháng” và khả năng “miễn dịch“tự bảo vệ”, ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động bởi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ tưphát huy tinh thần tự giác, nỗ lực phấn đấu, nêu gương của cán bộ, chiến sĩ. Tinh thần tự giác, nỗ lực phấn đấu, nêu gương trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của cán bộ, chiến sĩ là động lực và sức mạnh to lớn làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch. Việc giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cũng như việc đấu tranh làm phá sản mọi sự xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phụ thuộc quyết định vào cán bộ, chiến sĩ nhận thức và hành động như thế nào, thể hiện cụ thể trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường ra sao. Mọi sự “đổ lỗi” cho hoàn cảnh khách quan nhằm biện minh cho sự suy thoái về đạo đức, lối sống, sự suy giảm hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” của cán bộ, chiến sĩ đều là không đúng và cần phải loại trừ. Trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải thực sự yêu mến, kính trọng nhân dân; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ, giúp đỡ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, vận động, thuyết phục nhân dân tham gia cách mạng, ủng hộ, giúp đỡ Quân đội; giữ nghiêm kỷ luật quan hệ với nhân dân, thực hiện tốt “đi dân nhớ, ở dân thương”, “không đụng đến cái kim, sợi chỉ của nhân dân”, v.v. Trong đó, cần đặc biệt nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị các cấp phải thực sự là tấm gương mẫu mực, trong sáng về tự tu dưỡng, rèn luyện và tiêu biểu trong đấu tranh bảo vệ giá trị, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HƯỞNG

Tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới

 “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý mà Nhân dân ta đã tôn vinh và trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam gần 80 năm qua đã khẳng định: “Bộ đội Cụ Hồ” là sự biểu hiện ở tầm cao và chiều sâu mới của bản sắc, tâm hồn, cốt cách văn hoá Việt Nam, của sự hoà quyện giữa dân tộc và giai cấp, truyền thống và lịch sử, trở thành giá trị tiêu biểu cho con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh và là một biểu trưng độc đáo của văn hoá quân đội cách mạng.

Trước khi về tiếp quản Thủ đô, cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (19/9/1954) 

Trước khi về tiếp quản Thủ đô, ngày 19/9/1954, cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Người căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” (BĐCH) do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta giáo dục, rèn luyện và không ngừng phát triển thông qua hoạt động thực tiễn trong quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta. Phẩm chất đó gắn liền với bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của quân đội song nó không phải là cái “nhất thành bất biến”.

Việt Nam luôn nhất quán tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại:

 Việt Nam luôn nhất quán tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại: không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác và luôn tôn trọng nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, như đã được ghi trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”1. Việt Nam đã từng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược và hiểu rõ những hậu quả và đau thương của chiến tranh. Do đó, Việt Nam luôn đề cao giá trị hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc quốc tế; những hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc hoàn toàn phù hợp với các quy định của Liên hợp quốc, luật pháp Việt Nam và không có mục đích gì khác.

Thực tế đã minh chứng, từ khi chính thức tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Quân đội ta trong hoạt động này là tham gia tích cực vào các nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo. Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi các đơn vị: bệnh viện dã chiến, đội công binh đến tham gia vào các nhiệm vụ khắc phục hậu quả xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình của Liên hợp quốc tại nhiều khu vực ở Châu Phi còn nhiều khó khăn, bất ổn. Các đơn vị y tế của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình y tế nhân đạo, cứu trợ thiên tai, cứu hộ, hỗ trợ người dân vùng nông thôn nghèo khó và các trẻ em mồ côi, tàn tật; đồng thời, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng cho nhân dân bản địa, giúp giảm bớt nghèo đói, cải thiện điều kiện sống và góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng và công bằng. Sự đóng góp của những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao, “là hình mẫu” cho nhiều nước khác. Tỷ lệ sĩ quan Việt Nam đạt xuất sắc và đặc biệt xuất sắc là trên 30%, trong khi đó tỷ lệ bình quân của Liên hợp quốc chỉ là 01% - 02%. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình - Jean Pierre Lacroix đã phát biểu: “Những hoạt động Việt Nam tiến hành gần đây nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động gìn giữ hòa bình rất đáng làm hình mẫu cho nhiều nước khác bởi Việt Nam đã tích cực hợp tác với các đối tác liên quan để đào tạo quân sự; đồng thời, tìm ra những phương thức tốt hơn để có thể đảm bảo hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình của mình đạt hiệu quả tốt nhất”. Tại phái bộ MINUSCA, Trung tướng Daniel Traore, Chỉ huy trưởng lực lượng quân sự Phái bộ khi trao tặng giấy khen cho Trung tá Nguyễn Thị Liên đã nói: “Lòng nhân từ, bác ái và thiện chí của cô thể hiện những giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc. Cô xứng đáng là Đại sứ tuyệt vời của Việt Nam”. Sự thực trên bác bỏ mọi luận điệu sai trái, phản khoa học, không có căn cứ của các thế lực thù địch, nhằm cố tình hạ thấp uy tín của Quân đội, xuyên tạc đường lối đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta.

Tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị cho sinh viên

 Tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị là cơ sở quan trọng để sinh viên nghiên cứu, nắm vững và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Văn hóa chính trị là một thành tố của văn hóa, có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức xã hội, định hướng điều chỉnh các hành vi và quan hệ xã hội đồng thời cổ vũ, thúc đẩy hoạt động của cá nhân và giai cấp. Văn hóa chính trị giữ vai trò to lớn đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong tổ chức xã hội, định hướng điều chỉnh hành vi và quan hệ xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức chống phá nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, gây sự hoài nghi, hoang mang, dao động, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là đòi hỏi tất yếu khách quan mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, vận mệnh và lợi ích của quốc gia - dân tộc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong đó, sinh viên có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Sinh viên là những người được đào tạo cơ bản, được trau dồi những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lực lượng đông đảo có năng lực trong tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, cần quan tâm bồi dưỡng văn hóa chính trị cho sinh viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm giúp họ nâng cao trình độ, kỹ năng, phương pháp đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Cần chú trọng xây dựng môi trường văn hóa chính trị thuận lợi để sinh viên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. (Ảnh: Nguyễn Trường).

Văn hóa chính trị của sinh viên được thể hiện trong tư tưởng, hành vi, phẩm chất và trong các hành hoạt động chính trị thực tiễn của mỗi cá nhân trước tập thể, cộng đồng, xã hội. Hiện nay, đời sống chính trị xã hội đang có những tác động không nhỏ đến nhãn quan chính trị, định hướng chính trị, phẩm chất, tri thức của sinh viên. Đặc biệt, mặt trái kinh tế thị trường làm cho một bộ phận sinh viên dao động về lý tưởng sống; làm nảy sinh tâm lý ngại học, ngại rèn luyện bản thân. Do vậy, cần tăng cường bồi dưỡng văn hóa chính trị để giúp sinh viên hiểu rõ mục tiêu lý tưởng của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; từ đó củng cố niềm tin và nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận cho sinh viên. Giúp sinh viên thêm hiểu biết và nhận thức đúng đắn về nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước hết, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị đối với sinh viên. Giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho sinh viên. Chú trọng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, giúp tiếp thu được những tri thức lý luận khoa học, tinh thần cách mạng; xác định rõ lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác cách mạng, để nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, đặc biệt là khả năng tập hợp, lôi kéo, thuyết phục và cổ vũ quần chúng nhân dân trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, không ngừng tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý luận. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chú trọng phương pháp, phong cách, đạo đức và lối sống của Người. Qua đó, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao trình độ lý luận, khả năng công tác và đạo đức cách mạng, một điều kiện cơ bản để nâng cao văn hóa chính trị và hoàn thiện phẩm chất, nhân cách cho sinh viên. Đồng thời, nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị cho sinh viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi vì, Cương lĩnh chính trị xác định mục tiêu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng, chỉ ra động lực, hình thức, phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược trong những giai đoạn cách mạng mới.

 Thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị đối với sinh viên. (Ảnh: Thùy Chinh).

Nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính trị, đồng thời thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực cụ thể nhằm quán triệt đúng đắn Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, góp phần hoàn thiện phẩm chất, năng lực của người cán bộ. Bất kỳ một sự dao động, nghiêng ngả hoặc tính toán sai trái nào trên những vấn đề thuộc về nguyên tắc của Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thoái không chỉ văn hóa chính trị của cá nhân người cán bộ lãnh đạo mà còn gây hại lớn cho Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh đó, bồi dưỡng văn hóa chính trị cần gắn liền với tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên. Theo đó, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho sinh viên kết hợp với việc đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo chất lượng về phẩm chất đạo đức, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ. Qua đó, giúp họ nêu cao ý thức tự giác trong chấp hành pháp luật của Nhà nước, quy định của các nhà trường, địa phương nơi cư trú. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; coi trọng khơi dậy ở sinh viên tinh thần “7 dám” và phát huy phẩm chất đạo đức lối sống, truyền thống văn hóa dân tộc.

Đồng thời, các tổ chức đảng tại các cơ sở giáo dục đại học phải được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có đủ khả năng lãnh đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của đơn vị; tổ chức đảng phải thực sự đoàn kết, thống nhất, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Thường xuyên phát huy tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết của các cấp uỷ đảng và tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học. Tổ chức Đoàn thanh niên phải thường xuyên củng cố, kiện toàn về mọi mặt, phát huy dân chủ trong quá trình hoạt động, làm cho tổ chức này thực sự là nơi tập hợp, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho sinh viên. Tổ chức Đoàn phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức của đối tượng sinh viên; phải hướng vào nhiệm vụ giáo dục - đào tạo cũng như giáo dục mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đạo đức cách mạng cho sinh viên.

Đặc biệt, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa chính trị thuận lợi cho sinh viên. Môi trường văn hóa chính trị có ảnh hưởng lớn đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm và nhân cách của con người. Do vậy, cần quan tâm xây dựng môi trường văn hóa nhà trường thật sự trong sạch, lành mạnh, nhân văn, dân chủ, đề cao và tôn vinh truyền thống hiếu học, trọng hiền tài, tôn sư trọng đạo. Các cơ sở giáo dục đại học cần trang bị cho học sinh, sinh viên những kỹ năng mềm trong việc xử lý các thông tin, tình huống phức tạp trên không gian mạng. Cung cấp cho họ những thông tin, tri thức pháp luật, các quy định của Nhà nước khi tham gia cung cấp, chia sẻ thông tin, hình ảnh trên các diễn đàn truyền thông, mạng xã hội; hình thành lối ứng xử văn hóa, văn minh; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng; chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.