Thứ Năm, 18 tháng 1, 2024

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, luôn quan tâm chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức đảm đương sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi vẻ vang. Theo Người, việc thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với công tác tổ chức và chế độ hoạt động, lãnh đạo của Đảng.

Các đại biểu biểu quyết thông qua chương trình Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII_Ảnh: TTXVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng - Nội dung và giá trị cốt lõi

Việc vận dụng đúng đắn và sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tập trung dân chủ gắn liền với quá trình ra đời, trưởng thành và đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt gần một thế kỷ qua.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Xây dựng Đảng, có ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức”(1) - “đó là đường lối xây dựng Đảng”. Cùng với ba mặt đó, Người rất coi trọng xây dựng Đảng về mặt đạo đức. Trong hệ quan điểm về xây dựng Đảng, Người nhấn mạnh việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung”. Người còn gọi đây là “Chế độ dân chủ tập trung của Đảng”, chỉ rõ đây là nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức cao nhất, là chế độ lãnh đạo của Đảng.

Theo Người, “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”. “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung”. Giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ và không đối lập nhau. Trong công tác tổ chức và hoạt động của Đảng, khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, Người lưu ý, mọi đảng viên phải tuân theo kỷ luật của Đảng, cá nhân phải phục tùng tổ chức, bộ phận phải phục tùng toàn thể, số ít phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương, tất cả đảng viên phải phục tùng vô điều kiện nghị quyết của Đảng.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trí tuệ của Đảng phải là trí tuệ tập thể, khi bàn bạc, thảo luận, thành nghị quyết, phải có một người hoặc nhóm người phụ trách thì công việc mới chạy. Vì thế, theo Người, “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”, để bảo đảm dù Đảng nhiều người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người; đồng thời, phải chú ý chống lại căn bệnh độc đoán chuyên quyền; hay ngược lại, dựa dẫm vào tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm. Người chỉ rõ, lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ, dẫn tới kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau.

Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Người giải thích: Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc một số mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. “Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm”.

Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: Cá nhân phụ trách là trên cơ sở bàn bạc kỹ lưỡng và phát huy trí tuệ của tập thể, xây dựng kế hoạch rõ ràng rồi thì giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách thi hành, từ đó gắn trách nhiệm và phát huy vai trò của mỗi cá nhân, bảo đảm cho công việc được triển khai kịp thời và có hiệu quả. Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ dựa dẫm, ỷ lại, “cha chung không ai khóc”, “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, kết quả là không ai thi hành, dẫn tới tình trạng thiếu vắng trách nhiệm, làm cho nghị quyết của tập thể thực hiện không đến nơi đến chốn, như thế thì việc gì cũng không xong, thậm chí có khi “hỏng việc”. Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải có tập thể, nhưng phụ trách lại cần phải giao cho cá nhân. Những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng, bổ sung và phát triển quan điểm của V.I. Lê-nin về nội dung tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách: “Nếu trong chế độ tập thể lãnh đạo là cần thiết trong thảo luận những vấn đề cơ bản thì cũng cần có chế độ trách nhiệm cá nhân và cá nhân điều khiển để tránh hiện tượng lề mề và hiện tượng trốn trách nhiệm”. Tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chức của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc lãnh đạo, là chế độ lãnh đạo của Đảng. Không thể hình dung một đảng chân chính và cách mạng mà lại xa rời nguyên tắc quan trọng và cốt yếu này.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của từng tổ chức chính trị đều gắn với mục đích của một giai cấp nhất định. Không có tổ chức chính trị nào lại không có lý tưởng, tư tưởng chỉ đạo và không có nguyên tắc tổ chức nhất định, nếu tổ chức ấy muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của mình. Vì vậy, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của một tổ chức chính trị cũng chính là phương thức tồn tại, vận động và bảo đảm cho việc thực hiện mục đích, lý tưởng của tổ chức chính trị đó. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang trước nhân dân và dân tộc.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng hiện nay

Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức, xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhờ vậy, Đảng luôn thực hiện và giữ vững được sự thống nhất về tư tưởng và hành động, đưa sự nghiệp cách mạng của nước ta vượt qua bao khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đảng hoạt động bí mật, chưa có chính quyền trong tay, trở thành đảng cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng trước giai cấp, nhân dân, dân tộc thật vẻ vang, nhưng cũng ngày càng to lớn, nặng nề, khó khăn, phức tạp. Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước dân tộc về những quyết định chính trị của mình, để xứng đáng vừa “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong bản Di chúc lịch sử.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo trong tổ chức và hoạt động của đảng cộng sản. Chế độ tập trung dân chủ tạo những điều kiện cần thiết để thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, và chế độ đó là nội dung trong nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng được thực hiện trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, nơi có các tổ chức đảng lãnh đạo.

Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn kiện, Điều lệ Đảng đề cập và nhấn mạnh “lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: thực hiện tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc đó được quán triệt, thấm nhuần sâu sắc trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Điều lệ Đảng được Đại hội XI thông qua (năm 2011) xác định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Điều 9, Điều lệ Đảng chỉ rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”(11).

Nhờ xác định đúng đắn và thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả rõ rệttoàn diện trên tất cả các mặt. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, thực tiễn việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội và những năm đổi mới vừa qua, Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó nhấn mạnh bài học: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”.

Yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của nước ta hiện nay là rất to lớn, nặng nề, khó khăn, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Muốn vậy, phải nhận diện cho đúng và kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ, như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”.

Trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, Đảng nêu cao sự thống nhất ý chí và hành động trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thể hiện sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của Đảng. Để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của Đảng trở nên quan trọng, cấp thiết, là vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định đến uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, quyết định sự thành, bại của sự nghiệp cách mạng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ phản ánh những đặc trưng cách mạng của giai cấp công nhân và tác động to lớn đến sự phát triển thắng lợi của phong trào cách mạng do đảng cộng sản lãnh đạo. Vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc này càng to lớn, càng quan trọng trong điều kiện Đảng ta trở thành đảng duy nhất cầm quyền và thông qua Nhà nước để tổ chức, giáo dục, động viên trí tuệ, sức mạnh của toàn dân tộc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối nội, đối ngoại nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng... Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Điều đó đòi hỏi Đảng phải nhận thức sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần phải “Kiên định những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng”, mà ở đó, nguyên tắc tập trung dân chủ phải là nguyên tắc cao nhất, là chế độ lãnh đạo trong sự vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần chú trọng, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng; các cơ chế, quy định của Đảng về dân chủ và phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo đảm phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện; bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đoàn kết và đồng thuận trong xã hội. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc về nguyên tắc tập trung dân chủ và việc thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hệ quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ.

Các đảng viên biểu quyết thông qua nghị quyết_Nguồn: baobinhduong.vn

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa sống còn trong tổ chức và sinh hoạt đảng. Do vậy, đây là một tiêu điểm mà các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc và luôn đòi Đảng ta phải xóa bỏ nguyên tắc này. Nếu xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, sẽ tất yếu thừa nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, và khi đó, tất sẽ dẫn đến sự phân liệt, phân rã trong Đảng, phân tâm trong xã hội, thậm chí dẫn tới rối loạn, mất ổn định về chính trị và những mặt khác của đời sống chính trị - xã hội đất nước. Không thể có một đảng cách mạng chân chính nào mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì Đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, Đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. 

Trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, không nên tuyệt đối hóa hay đối lập tập trung với dân chủ, vì đó chỉ là hai mặt không thể tách rời của một nguyên tắc và là “chế độ lãnh đạo của Đảng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Thực tiễn hoạt động của Đảng cũng đã chứng minh tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của nguyên tắc này; do vậy, phải mở rộng dân chủ mới tạo ra sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ chính trị, nhưng mở rộng dân chủ đến mức độ nào, tập trung đến mức độ nào, vận dụng cụ thể trong thực tiễn đời sống xã hội ra sao luôn là vấn đề lớn và khó, đòi hỏi phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng; cùng với việc không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế về dân chủ. Dân chủ phải có tập trung, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương mới đem lại hiệu quả thiết thực và tạo ra động lực để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Dân chủ càng mở rộng, thì tập trung cũng càng phải cao. Việc thực hành dân chủ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,... của đất nước trong các thời kỳ cách mạng cho thấy, nhờ có mở rộng và phát huy dân chủ, mà trong mọi giai đoạn cách mạng, kể cả lúc hiểm nghèo, khó khăn, gian nan nhất, thì lại là lúc Đảng ta đạt được sự nhất trí cao trong nhận thức và hành động. Nhưng về nguyên tắc, mở rộng dân chủ phải có tập trung; hội nghị cấp ủy bàn định dân chủ để ra nghị quyết và khi đã có nghị quyết thì mọi cấp, mọi đảng viên phải thực hiện đúng, cụ thể hóa trong từng lĩnh vực.

Đi đôi với tăng cường tập trung, phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng; vì “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh. Muốn vậy, bối cảnh mới đòi hỏi Đảng phải hoàn thiện quy trình hướng dẫn thực hành dân chủ trong thảo luận để đi đến quyết định các chủ trương, biện pháp phù hợp. Dân chủ trong sinh hoạt của tổ chức đảng phải tránh được tính hình thức hoặc tiến hành qua loa, chiếu lệ. Thực hiện đúng đắn và đầy đủ quy định mọi đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của Đảng, phát ngôn và hành động đúng tinh thần trách nhiệm của người đảng viên cộng sản, để bảo đảm “Đảng ta tuy muôn người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”, thể hiện sự thống nhất về ý chí và hành động như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Trong thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đảng viên phải có dũng khí và bản lĩnh để nói hết ý kiến của mình với cái tâm trong sáng, trách nhiệm cao và thái độ thẳng thắn, chân thành, có văn hóa cao trong phát biểu và tranh luận, phản biện trong một môi trường chính trị dân chủ. Điều này rất quan trọng, vì nó biểu hiện trình độ phát triển và văn minh của Đảng. Đương nhiên, trao đổi, tranh luận ý kiến trong Đảng là việc làm cần thiết, nhưng phải tránh hiện tượng công kích lẫn nhau. Vì vậy, thực tế cho thấy, dân chủ sẽ trở nên vô nghĩa khi không có sự thống nhất trong hành động, bởi nếu để xảy ra hiện tượng thảo luận tràn lan, vô hạn độ thì chắc chắn sẽ không thể đi đến một quyết định thống nhất nào.

Trong điều kiện mới, nhiều vấn đề quan trọng và mới mẻ, phức tạp, thậm chí chưa có tiền lệ đang đặt ra, đòi hỏi phải xử lý. Mọi quyết định chủ quan, độc đoán, duy ý chí đều không tránh khỏi sai lầm, đặc biệt là trong những bước ngoặt của cách mạng vốn đòi hỏi sự tỉnh táo, thận trọng. Để đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi các chủ trương quan trọng đều phải được bàn bạc và quyết định tập thể. Người lãnh đạo phải bình tĩnh, lắng nghe những ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những ý kiến khác nhau phải được nói hết, nói thẳng và cần trải qua thảo luận dân chủ để đi đến chân lý. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta còn được biểu hiện ở việc thiểu số phục tùng đa số, nhưng cho phép bảo lưu ý kiến. Thực tế sinh hoạt đảng cho thấy, trong quá trình thảo luận (ở tất cả các cấp), không phải lúc nào, trong mọi vấn đề các thành viên đều có ý kiến giống nhau. Những ý kiến khác nhau trong thảo luận, tranh luận là điều bình thường và chính quá trình đó mới giúp chúng ta tiệm cận chân lý, làm sâu sắc hơn nhận thức về chân lý - đây cũng là một biểu hiện của chế độ tập trung dân chủ. Tuy nhiên, khi đã thành nghị quyết trên cơ sở ý kiến đồng thuận của đa số (theo quy định của Điều lệ Đảng), thì thiểu số phải phục tùng và chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết đó, tuy rằng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến của mình. Bảo lưu ý kiến trong Đảng không có nghĩa là người có ý kiến bảo lưu được phép tuyên truyền và hành động theo ý kiến bảo lưu, mà phải nói và làm theo nghị quyết mà đa số đã thông qua. Trong vấn đề bảo lưu ý kiến, tổ chức không được mặc cảm, thành kiến với người có ý kiến bảo lưu; phải coi có ý kiến bảo lưu là việc bình thường, phù hợp với Điều lệ Đảng. Do vậy, trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, cần định kỳ xem xét lại ý kiến bảo lưu và coi đây là việc làm thường xuyên để bảo đảm tính đúng đắn của quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc xem xét ý kiến bảo lưu góp phần làm cho tổ chức đảng và đảng viên nhận thức sâu sắc thêm, giảm thiểu những sai sót, lệch lạc, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của tổ chức đảng và đảng viên.

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là nhiệm vụ then chốt. Trong điều kiện mới, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng càng phải gắn với yêu cầu thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Đảng đã ban hành. Chỉ có tập thể lãnh đạo mới khơi dậy được tinh thần dân chủ trong Đảng, mới huy động được toàn bộ trí tuệ đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Cá nhân phải gắn liền, ở trong tập thể, luôn có ý thức chịu trách nhiệm trước Đảng và trước nhân dân. Điều đó không cho phép cá nhân cán bộ, đảng viên vin cớ “trách nhiệm cá nhân” để phớt lờ tổ chức và vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ để lấn át tập thể, chuyên quyền, độc đoán, đi ngược lại lợi ích chung của tập thể, của nhân dân.

Nguyên tắc tập trung dân chủ đã trở thành một nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng và của cả hệ thống chính trị; vì vậy, sự tồn tại và phát triển của Đảng và cả hệ thống chính trị gắn bó mật thiết, hữu cơ với việc tuân thủ, củng cố, phát triển nguyên tắc đó. Điều đó cũng có nghĩa, nếu xa rời hoặc buông lỏng nguyên tắc ấy sẽ làm cho Đảng mất dần sinh khí, sức mạnh; có thể dẫn tới đánh mất bản chất của Đảng, bị tha hóa, biến chất, dẫn tới nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do vậy, tuân thủ, bảo vệ nguyên tắc tập trung dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng chống mọi biểu hiện xa rời, buông lỏng, xem nhẹ nguyên tắc ấy là biểu hiện rõ ràng nhất tính đảng, phẩm chất đạo đức cách mạng của mọi tổ chức đảng và của mỗi người cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng là di huấn quý báu, là ngọn đèn pha soi đường, trở thành nền tảng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo cho công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh hiện nay./.
ST.

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đổi mới

Đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định hiệu quả hoạch định, bổ sung và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh luôn là công việc hệ trọng hàng đầu của Đảng, được thể hiện bắt đầu từ tư duy lý luận của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đội ngũ cán bộ, cử tri tại quận Đống Đa, Hà Nội_Ảnh: TTXVN.

Tư duy lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ từ Đại hội VI đến Đại hội X

Từ khi bắt đầu khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước đến trước Đại hội lần thứ XI, Đảng ta đã có bước chuyển tư duy rất quan trọng về xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ trong hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đề ra chủ trương: Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo, quản lý. Tuy tại Đại hội VI chưa chính thức đưa ra quan điểm cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, nhưng trong tư tưởng chỉ đạo đã phản ánh được khá rõ vị trí then chốt của cán bộ và công tác cán bộ: “Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng”.

Theo quan điểm của Đại hội VI, đổi mới công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ cán bộ có đủ những tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý. Một khi người làm công tác cán bộ kém về phẩm chất đạo đức, có mục đích không trong sáng, thì công tác cán bộ không sớm thì muộn cũng mắc phải khuyết điểm, sai lầm. Khi tâm và trí của những người làm công tác cán bộ đã bị hoen ố, vẩn đục thì không thể giúp Đảng lựa chọn, xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đức độ, tài năng, ngang tầm nhiệm vụ. Do đó, Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới đội ngũ cán bộ, trước hết phải đổi mới công tác cán bộ và đội ngũ những người làm công tác cán bộ”.

Để đổi mới công tác cán bộ, Văn kiện Đại hội VI của Đảng vạch rõ:

Về quan điểm chỉ đạo: Phải từ lợi ích chung của cách mạng, từ chính sách cán bộ thống nhất của Đảng mà lựa chọn cán bộ một cách công minh. Mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đầu óc địa vị tư lợi, chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa cục bộ và bệnh quan liêu trong công tác cán bộ đều gây ra những hậu quả xấu đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự đoàn kết trong Đảng.

Về định hướng giải pháp, Đại hội chủ trương:

1- “Đổi mới đội ngũ cán bộ bao hàm cả ý nghĩa trẻ hóa... Có khắc phục được quan niệm đẳng cấp, tôn ti theo kiểu phong kiến còn khá nặng nề, chúng ta mới có thể phát hiện và cất nhắc được những cán bộ trẻ ưu tú”.

2- “Chuẩn bị đội ngũ kế tục là nhiệm vụ thường xuyên của các tổ chức đảng và phải được tiến hành theo quy hoạch... Nhân tài không phải sản phẩm tự phát, mà phải được phát hiện, bồi dưỡng công phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụng đúng chỗ, đúng lúc”.

3- “Chống tệ quan liêu, cửa quyền trong công tác lựa chọn, bố trí cán bộ”.

4- “Có cơ chế quản lý cán bộ đúng thì sự đánh giá cán bộ mới chính xác, mới phát hiện, đề bạt được cán bộ tốt, thay đổi những người xấu và yếu kém”.

Đứng trước biến động rất phức tạp của tình hình thế giới trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX, trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới, Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng về cán bộ, nhất là các vị trí hạt nhân lãnh đạo có kinh nghiệm, có bản lĩnh trong đội ngũ cán bộ; coi đây là điều kiện quan trọng hơn hết để đổi mới đúng hướng, vì sự phát triển của tương lai, tránh được đổ vỡ, sai lầm.

Đại hội VII chỉ rõ: “Công cuộc đổi mới là một dịp sàng lọc và thử thách đội ngũ cán bộ”. Do đó, “Đảng phải sáng suốt và tỉnh táo, có quan điểm khách quan và toàn diện, phải thông qua hoạt động thực tiễn, lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu để đánh giá đúng cán bộ. Kịp thời phát hiện những tiềm năng cán bộ trẻ; đồng thời, biết sử dụng có hiệu quả những cán bộ lớn tuổi, từng trải, có kinh nghiệm. Phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các thế hệ cán bộ, vừa phù hợp với yêu cầu đổi mới hiện nay vừa chuẩn bị cho sự phát triển tương lai của đất nước”.

Đổi mới là sự nghiệp mới mẻ, công tác cán bộ cần được tiến hành với tư duy mới, đòi hỏi phải có đánh giá, rút kinh nghiệm, nghiên cứu, bồi đắp, phát triển tư duy lý luận và năng lực chỉ đạo thực tiễn. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) đã chỉ rõ: Công tác cán bộ vẫn là một khâu yếu. Đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ. Ở nhiều nơi vẫn có tình trạng hẫng hụt, lúng túng trong bố trí hạt nhân lãnh đạo. Thiếu những cán bộ giỏi và chuyên gia đầu ngành về công tác đảng, về quản lý nhà nước,... Để khắc phục tình trạng này, Hội nghị chủ trương tiến hành đồng thời nhiều giải pháp, song “trước hết là đổi mới quan niệm và phương pháp công tác cán bộ trong đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, bố trí, nhất là cán bộ chủ chốt”. Tiếp đến phải “khảo sát, đánh giá lại toàn bộ đội ngũ cán bộ hiện có trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch cán bộ”, “dân chủ hóa công tác cán bộ”; “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch”; “cán bộ phải thường xuyên rèn luyện”; “cải tiến hệ thống chính sách, chế độ đãi ngộ cán bộ”.

Công tác cán bộ qua 10 năm đổi mới (1986 - 1996) đã trở thành một động lực quan trọng góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, chính thức bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong giai đoạn mới, tại Đại hội VIII (tháng 6-1996), Đảng khẳng định tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ. Lần đầu tiên trong thời kỳ đổi mới, Đảng chủ trương “Sớm xây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”.

Đảng ta cũng nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng, phạm vi công tác cán bộ của Đảng; không chỉ bao gồm xây dựng cán bộ trong các tổ chức, các cơ quan Đảng, mà còn “phải lo cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực”. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; đồng thời, phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị trong công tác cán bộ. Đại hội nhấn mạnh: “Bố trí và sử dụng cán bộ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn và sở trường. Đề bạt, bổ nhiệm đúng lúc, giao việc đúng tầm” và nhất là “thay thế kịp thời khi cần thiết”. Đây cũng là Đại hội đầu tiên của Đảng chủ trương thực hiện “bổ nhiệm có thời hạn” và “có chế độ cho cán bộ được từ chức hoặc rút chức để nhận công việc thích hợp”.

Cụ thể hóa quyết tâm chính trị của Đại hội VIII về xây dựng đội ngũ cán bộ, Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (tháng 6-1997) đề ra Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khẳng định: “Cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Việc nhận thức cán bộ là “khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt” là sự nâng tầm tư duy của Đảng đối với công tác cán bộ; mở đường, thúc đẩy công tác lý luận của Đảng đi sâu nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ trong điều kiện mới.

Tiếp cận vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ trong mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, đặt trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực, hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân. Về tiêu chí chủ yếu trong đánh giá cán bộ, nếu Đại hội VII chủ trương lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu thì Đại hội IX có sự bổ sung, phát triển rất quan trọng: “Lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đó chủ yếu”.

Bám sát mục tiêu và các tiêu chí đã xác định, Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) đánh giá, bên cạnh một bộ phận cán bộ phát huy tốt vai trò tiền phong gương mẫu, tận tụy với công việc, được nhân dân tín trọng thì “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng..., vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân ... làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng”; Đại hội nhận định: “Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ”.

Do đó, khi tổng kết bài học về xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng yêu cầu: “Đảng phải chăm lo xây dựng rèn luyện cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, phẩm chất chính trị, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài”.

Đại hội X của Đảng đã bổ sung tiêu chí cán bộ trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh: Ngoài những tiêu chí như trước đây, cán bộ phải là những người “kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo..., tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”. Đại hội khẳng định nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp, các ngành của hệ thống chính trị. Một điểm mới của Đại hội X là chủ trương mở rộng quyền tiến cử và tự ứng cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự trong bầu cử và bổ nhiệm cán bộ... “thực hiện cơ chế đảng viên và nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ”.

Sự phát triển tư duy lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ từ Đại hội XI đến nay

Từ Đại hội XI, tư duy của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tiếp tục được phát triển trên những mặt trọng yếu (rõ nhất là về quy hoạch, tạo nguồn đào tạo, bổ nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm, thay thế đối với cán bộ cấp chiến lược và cán bộ chủ chốt các cấp) nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Vấn đề quy hoạch cán bộ đã được đề cập ở nhiều nhiệm kỳ, song trước đây thường được hiểu là quy hoạch ở từng cấp để tạo nguồn cho cấp mình và dự nguồn cho cấp trên. Từ Đại hội XI (tháng 1-2011), văn kiện Đảng mới chính thức xác lập chủ trương “xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược”. Chủ trương này mở ra một giai đoạn mới trong công tác cán bộ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Về bổ nhiệm và thay thế cán bộ, thấu triệt phương châm coi cán bộ là khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt, Đại hội XI nêu rõ quan điểm không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa. Vấn đề thay thế cán bộ và chế tài xử lý cán bộ cũng được đặc biệt quan tâm: “Kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”.

Tiếp nối chủ trương đó, khi lựa chọn ba vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 12-2011) đã dành riêng một nội dung nói về vấn đề cán bộ. Hội nghị chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hội nghị nhấn mạnh nội dung “triển khai thực hiện quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 - 2020; tích cực tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo cán bộ tham mưu, chuyên gia cấp chiến lược”.

Theo chủ trương của Hội nghị, nhân sự được xem xét, bổ nhiệm là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ trì cấp trên phải qua chức vụ quản lý, chủ trì cấp dưới. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, thực hiện lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Theo đó, “những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác”.

Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) nêu các mối quan hệ có tính nguyên tắc cần được thể chế hóa trong công tác cán bộ, đó là: 1- Quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; 2- Giữa quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết trong công tác cán bộ; 3- Giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; 4- Giữa đức và tài; 5- Giữa kế thừa và phát triển; 6- Giữa sự quản lý thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị; 7- Giữa  thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể; 8- Giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát để thực hiện thống nhất, đồng bộ trong Đảng và hệ thống chính trị.

Trên cơ sở đánh giá khoa học, khách quan về công tác cán bộ sau 30 năm đổi mới, khẳng định trong lĩnh vực này đã có những bước tiến rất quan trọng, Đại hội XII cũng chỉ ra rằng: “Việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn... Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược chưa được tập trung xây dựng. Chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu, tư vấn cấp chiến lược”. Từ đó, Đảng ta nhấn mạnh cần: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”. Trên tinh thần đó, ngày 19-5-2018, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” - một Nghị quyết với nhiều đổi mới quan trọng, có tính đột phá về công tác cán bộ.

Điểm mới của Nghị quyết số 26-NQ/TW là đã đưa ra quan niệm và chỉ rõ vị trí, vai trò của cán bộ cấp chiến lược. Đây là những cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; giữ vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thành bại của cách mạng; là lực lượng nòng cốt, vận hành của hệ thống chính trị; đề xuất những ý tưởng mới, sáng tạo, tư duy chiến lược, dài hạn; hoạch định các chủ trương, đường lối, chính sách lãnh đạo, quản lý ở tầm vĩ mô của đất nước. Theo đó, ngày 2-1-2020, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 214-QĐ/TW, Quy định “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”.

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) tiếp tục khẳng định sự chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược gắn với xây dựng người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, địa phương, đơn vị. Ngoài các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể, đã nêu trong Quy định số 214-QĐ/TW, Đại hội XIII của Đảng đề cập tới một số tiêu chuẩn đối với cán bộ cấp chiến lược.

Về tư tưởng chính trị: Cán bộ chiến lược phải có ý chí, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”; kiên quyết đấu tranh phòng, chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Về đạo đức, lối sống: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược phải thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình; luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; tự mình phòng, tránh và đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ; “nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng”.

Về lựa chọn, sử dụng cán bộ, Đại hội XIII nêu rõ: “Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài”. Việc này phải tiến hành đồng thời với quá trình xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài; chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí: Đảng ta coi đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một giải pháp hữu hiệu trong xây dựng, sàng lọc đội ngũ cán bộ. Đại hội XIII xác định phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhân dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đảng khẳng định phải có những giải pháp để cán bộ “không muốn”, “không thể”, “không dám” và “không cần” tham nhũng.

Để cán bộ “không muốn” tham nhũng, cần đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị. Kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí.

Để cán bộ “không thể” tham nhũng, cần “Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện và kịp thời khắc phục những bất cập trong quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nhất là các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí và bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng để vu khống, gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ. Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; từ đó hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để tiến tới không thể tham nhũng”.

Để cán bộ “không dám” tham nhũng, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ án, vụ việc tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. “Kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo quản lý, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, gây phiền hà người dân, doanh nghiệp. Tiếp tục kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách có chức năng phòng, chống tham nhũng. Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động của thanh tra, kiểm toán Nhà nước, kiểm tra Đảng với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử...”.

 Để cán bộ “không cần” tham nhũng, phải “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác”.

Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII đã thông qua Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cũng đã dự thảo các văn bản liên quan. Quyết định này trực tiếp góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiếp tục khẳng định quyết tâm chính trị và hành động quyết liệt của Đảng trong ngăn chặn, giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nam Định_Ảnh: TTXVN

Một số phương hướng phát triển trong tình hình mới

Theo V.I. Lê-nin: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh... đó là then chốt; nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng huấn thị: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Thấm nhuần tư tưởng đó, trong tiến trình đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ về vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ - khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt. Tư duy lý luận của Đảng về xây dựng cán bộ đã có sự phát triển đồng bộ trên các mặt, có thời điểm mang tính đột phá; đặc biệt, đã xác định rõ hơn yêu cầu, tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ; quy định ngày càng rõ trách nhiệm người đứng đầu và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; đồng thời, quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đổi mới có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện.

Một là, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đổi mới là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng phát triển đúng hướng, có hiệu quả; là cơ sở trực tiếp để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng quán triệt, cụ thể hóa, vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với đặc điểm tình hình của từng giai đoạn, từng lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư duy mới đã trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước đang phát triển, đang trên đà hiện đại hóa; kinh tế tăng trưởng khá nhanh trong nhiều năm; đời sống nhân dân có bước phát triển lớn; tình hình chính trị giữ ổn định; bản sắc văn hóa được bảo vệ, phát huy; môi trường đất nước an toàn; quốc phòng, an ninh được tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đại hội XIII của Đảng đánh giá tổng quát: Chúng ta “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Ba là, sự phát triển tư duy lý luận gắn với thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ là cơ sở để củng cố, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và chế độ, đấu tranh với những quan điểm thù địch, sai trái hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới. Niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên đã và đang tiếp tục là điều kiện để tăng cường sức mạnh của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, để thực hiện thành công những nhiệm vụ khổng lồ của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đại hội XIII của Đảng nhận định khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng tiếp tục được củng cố, tăng cường; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được nâng lên, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Để tiếp tục phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới, cần chú trọng một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đổi mới tư duy lý luận xây dựng của Đảng về đội ngũ cán bộ. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Thứ hai, đổi mới tư duy lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ phải kiên trì, thận trọng, thường xuyên, toàn diện, trong từng giai đoạn phải có tính trọng điểm. Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung, một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, lâu dài trong xây dựng Đảng và đổi mới chính trị, rất nhạy cảm vì nó tác động đến tư tưởng chính trị, đến tổ chức, nhân sự, con người trong Đảng và cả hệ thống chính trị, do đó, phải kiên trì, thận trọng, thường xuyên, toàn diện. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phải có tính trọng điểm, với bước đi chắc chắn. Trong tình hình mới, cần thực hiện tốt các giải pháp đột phá: 1- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ; 2- Phát huy dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường đổi mới sáng tạo trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; 3- Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

Thứ ba, phải gắn phát triển tư duy lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ với phát triển tư duy về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ là vấn đề then chốt của xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ sẽ là cơ sở, tạo động lực thúc đẩy xây dựng, phát triển đường lối của Đảng, tiến hành công tác tư tưởng có hiệu quả và xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh sẽ nâng cao uy tín của Đảng và hệ thống chính trị, tạo ra những yêu cầu, nhiệm vụ và môi trường giáo dục, đào tạo, rèn luyện, sàng lọc đội ngũ cán bộ của Đảng. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã nhận thức và giải quyết các mối quan hệ này. Trong giai đoạn mới càng phải nhận thức sâu sắc và giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng các mặt khác trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta./.

ST.

Quan điểm của V.I. Lê-nin về xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh - Ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, trong bối cảnh nước Nga bước vào thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội với muôn vàn gian khó, V.I. Lê-nin đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Những chỉ dẫn quý báu của V.I. Lê-nin vẫn tiếp tục có ý nghĩa to lớn đối với quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam hiện nay.

Quan điểm của V.I. Lê-nin về xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Thứ nhất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân và xã hội.

V.I. Lê-nin khẳng định, khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là hạt nhân lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội trên mọi phương diện, trong mọi lĩnh vực của đời sống. Đây là vấn đề nguyên tắc, vì “nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”. Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhân dân và xã hội bằng hệ tư tưởng khoa học và cách mạng - đó là chủ nghĩa Mác, “lý luận cách mạng duy nhất đúng”, một học thuyết hoàn bị vững như đá hoa cương. Trên cơ sở nền tảng lý luận khoa học này, Đảng vạch ra cương lĩnh chính trị, chiến lược, sách lược đúng đắn; đồng thời, vận động, tập hợp, thuyết phục quần chúng đi theo, ủng hộ và tham gia tích cực, vì “trong quần chúng nhân dân, chúng ta chỉ tựa như một giọt nước trong đại dương, và chỉ khi nào biểu hiện được đúng ý nguyện của nhân dân, thì chúng ta mới quản lý nhà nước được. Nếu không, Đảng cộng sản sẽ không lãnh đạo được giai cấp vô sản, giai cấp vô sản sẽ không lôi cuốn được quần chúng theo mình, và tất cả bộ máy sẽ tan rã”.

Mặc dù khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhưng V.I. Lê-nin cũng nhấn mạnh đến việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hai chủ thể này; trong đó, Đảng tuyệt đối không được lấn sân, làm thay Nhà nước. Do vậy, Người yêu cầu: “cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng... với nhiệm vụ của Chính quyền Xô-viết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ Xô-viết và các cơ quan Xô-viết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động quản lý, phục vụ xã hội nhằm hiện thực hóa chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Đảng vào cuộc sống thông qua hệ thống của mình từ Trung ương đến các địa phương, thông qua các cơ quan, các tổ chức nhà nước; do vậy, phải thiết lập các cơ quan xô-viết (các tổ chức của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa). V.I. Lê-nin viết: “Chừng nào mà những cơ quan xô-viết còn chưa được thiết lập trên khắp nước Nga, chừng nào mà việc xã hội hóa ruộng đất và việc quốc hữu hóa công xưởng chỉ là những ngoại lệ, thì tất nhiên sự quản lý xã hội đối với nền kinh tế quốc dân chưa thể thoát khỏi (nếu chúng ta xét theo quy mô toàn quốc) cái giai đoạn chuẩn bị sơ bộ với những cuộc tranh luận, thảo luận và giải thích”.

Thứ hai, chỉ rõ tác hại của những suy thoái, tiêu cực trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước.

Cùng với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I. Lê-nin cũng chỉ rõ những bất cập, những tiêu cực trong Đảng và trong Nhà nước cần phải được nhận diện và loại bỏ triệt để, bởi nếu không, chúng sẽ làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ, khiến cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thành công.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những tệ nạn, tiêu cực xã hội len lỏi vào các cơ quan đảng và bộ máy nhà nước, gây ra những ung nhọt phá hoại uy tín, sức mạnh của Đảng và của Nhà nước, tàn phá xã hội. Những biểu hiện tiêu cực đó rất đa dạng. V.I. Lê-nin tập trung nhận diện những biểu hiện cơ bản sau:

Một là, chủ nghĩa cơ hội, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân. Biểu hiện của nó là “trên đầu lưỡi thì thừa nhận cách mạng mà trên thực tế thì từ bỏ cách mạng”. Đối với học thuyết Mác, “chúng tước hết nội dung của học thuyết cách mạng, tầm thường hóa học thuyết đó và làm cùn khía cạnh sắc bén cách mạng của nó... Chúng lãng quên, chúng xóa nhòa, chúng xuyên tạc khía cạnh cách mạng, tinh thần cách mạng của học thuyết ấy”. Điều này vô cùng nguy hiểm, vì chủ nghĩa cơ hội làm nhụt ý chí đấu tranh, gây mơ hồ trong nhận thức lý luận, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến họ “bị chủ nghĩa đế quốc mua chuộc và làm hư hỏng”. V.I. Lê-nin chỉ rõ rằng, “mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”. Do vậy, theo V.I. Lê-nin, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong Đảng và Nhà nước, rộng hơn là trong phong trào công nhân, không chỉ là vấn đề của riêng nước Nga, mà còn là vấn đề chung của mỗi đảng cộng sản.

Hai là, quan liêu, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống. Theo V.I. Lê-nin, bản chất của quan liêu là tư tưởng đề cao địa vị, bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, chức quyền: “chủ nghĩa quan liêu có thể dịch ra tiếng Nga bằng danh từ: chủ nghĩa địa vị. Chủ nghĩa quan liêu, tức là đem lợi ích của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng danh vị, tức là hết sức chú trọng đến địa vị mà không đếm xỉa đến công tác; tức là tranh giành nhau để được bổ tuyển”. Những kẻ quan liêu chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mà trở thành những kẻ lười nhác, ích kỷ; thành những kẻ kiêu ngạo, hống hách, những nhân vật có đặc quyền, đặc lợi, thoát ly quần chúng và đứng trên quần chúng. Họ lợi dụng chức quyền, địa vị để thăng quan tiến chức. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, chủ nghĩa quan liêu nặng về giấy tờ hành chính và cán bộ mắc “bệnh quan liêu” thì chỉ biết nghe báo cáo và thường dùng mệnh lệnh để hối thúc công việc, xa rời thực tiễn, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ; do vậy, muốn tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có kết quả thì cần phải tiếp tục đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu.

Nguy hiểm hơn, từ quan liêu dẫn đến hối lộ, tham nhũng phát tác, trở thành hiện tượng nhức nhối, thật sự điển hình của nước Nga và là một trong “ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào... kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”. Nạn hối lộ, tham nhũng không chỉ làm thiệt hại, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn để lại những hậu quả chính trị - xã hội nghiêm trọng và là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin phê phán mạnh mẽ tệ nạn này và chỉ rõ: “nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được... Trong những điều kiện đó, không thể làm được một thứ chính trị nào hết”. Vậy mà, một bộ phận cán bộ, đảng viên “bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa bởi bầu không khí đó, dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm những tính xấu như: tính nhu nhược, tính tản mạn, chủ nghĩa cá nhân, từ lạc quan chuyển sang bi quan”, thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền, cơ hội để “đục nước béo cò”. Do vậy, ngăn chặn nạn hối lộ, tham nhũng, làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt và hết sức phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Ba là, căn bệnh kiêu ngạo cộng sản; vô tổ chức, vô kỷ luật. Theo V.I. Lê-nin, bệnh kiêu ngạo cộng sản thể hiện ở chỗ: “một người ở trong đảng cộng sản, và chưa bị thanh trừng ra khỏi đảng, tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình” chủ yếu thông qua “công tác giáo dục chính trị. Hoàn toàn không phải thế! Đấy chỉ là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa mà thôi”. Do kiêu ngạo cộng sản, họ thường tự cao, tự đại và khi mắc khuyết điểm, sai lầm thì tìm mọi cách che giấu, lấp liếm, không dám thừa nhận và chính căn bệnh này sẽ khiến cho đảng bị tiêu vong. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước lạc hậu, sản xuất nhỏ, “những tập tục của xã hội cũ” còn tồn tại dai dẳng, dẫn đến thói vô tổ chức, vô kỷ luật. Biểu hiện của nó trong Đảng và trong bộ máy nhà nước là phủ nhận tính đảng và kỷ luật đảng, mắc những tính xấu của giai cấp tiểu tư sản là tính tản mạn, tính bấp bênh, không thể kiên quyết, đoàn kết, thống nhất hành động được. Những thói hư, tật xấu này tồn tại dai dẳng do “Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”. Những biểu hiện tiêu cực này mà lan rộng trong phong trào, thì sẽ “hoàn toàn tước vũ khí của giai cấp vô sản, làm lợi cho giai cấp tư sản”. Đây là một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp vì “Chiến thắng bọn đại tư bản tập trung còn nghìn lần dễ hơn là “chiến thắng” hàng triệu và hàng triệu tiểu chủ; mà những người này thì do hoạt động hàng ngày của họ, hoạt động quen thuộc, khó thấy, khó nhận ra, có tác dụng... làm cho giai cấp tư sản phục hồi”.

Thứ ba, chỉ ra phương thức xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả.

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ đảng viên và cán bộ chính quyền, V.I. Lê-nin đã chỉ ra những phương thức cơ bản để xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Đó là:

Bảo đảm phương châm “thà ít mà tốt”, tinh gọn, hiệu quả. Thực hiện phương châm này đòi hỏi công tác xây dựng Đảng và đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước, nhất là ở các cơ quan trung ương phải coi trọng chất lượng, không chạy đua theo số lượng; do vậy, cần rà soát thực hiện sáp nhập, tinh gọn bộ máy, bảo đảm chất lượng kiểu mẫu và phải hoạt động phù hợp với trình độ khoa học hiện đại. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tuyển chọn kỹ lưỡng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trang bị lý luận cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt và “những phần tử ưu tú ấy phải không sợ thừa nhận bất cứ một khó khăn nào và không lùi bước trước bất cứ một cuộc đấu tranh nào để đạt được mục đích”.

Thực hành nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, vì đó là thuộc tính cơ bản của đảng cách mạng đã được V.I. Lê-nin rút ra từ trong thực tiễn cách mạng; theo đó, “chế độ tập trung tuyệt đối và kỷ luật hết sức nghiêm minh của giai cấp vô sản là một trong những điều kiện căn bản để chiến thắng giai cấp tư sản”. Yêu cầu đặt ra là phải thực hành kỷ luật đảng hết sức nghiêm minh, duy trì kỷ luật sắt và mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu trau dồi tri thức, rèn luyện tác phong, tăng cường phẩm chất đạo đức cộng sản.

Thực hành nghiêm tự phê bình và phê bình để tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng luôn được củng cố và phát triển. Tự phê bình và phê bình phải là một nội dung quan trọng, thường xuyên trong sinh hoạt đảng. V.I. Lê-nin viết: “Công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm... - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình, đó là giáo dục và huấn luyện giai cấp, rồi đến quần chúng”.

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Công tác này nếu không được thực hiện tốt thì vô cùng nguy hại, vì “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”.

Để kiểm soát quyền lực, phải xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp nhằm bảo đảm hoạt động của Đảng và của Nhà nước theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời thực thi dân chủ của nhân dân. Đây là một tất yếu khách quan và là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra. Việc kiểm soát quyền lực còn được thực hiện bằng công tác tổ chức. Đảng kiểu mới, Nhà nước kiểu mới phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học, luôn thống nhất về tổ chức, không chấp nhận sự phân tán, ô hợp và bè phái mất đoàn kết nội bộ. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là sự tổ chức... sự thống nhất tư tưởng của giai cấp vô sản dựa trên cơ sở những nguyên lý chủ nghĩa Mác được củng cố bằng sự thống nhất vật chất của tổ chức tập hợp hàng triệu người lao động thành một đạo quân của giai cấp công nhân”; đồng thời, phải làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát đối với tổ chức, con người và công việc. Buông lỏng kiểm tra cũng có nghĩa là buông lỏng lãnh đạo và quản lý; từ đó, dẫn đến sự suy yếu tổ chức và bộ máy, sự hư hỏng và thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Hơn nữa, để kiểm soát tốt quyền lực, cần thực hành dân chủ rộng rãi, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước. Đây là một phương thức hết sức quan trọng, bởi vì sự thành bại của cách mạng phụ thuộc vào niềm tin, vào sự đồng thuận của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Đồng thời, Đảng, Nhà nước phải phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị và về đạo đức; thực hành nghiêm chế độ bãi miễn bất cứ lúc nào đối với những người được bầu ra, nhưng thoái hóa, biến chất. Theo V.I. Lê-nin, cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược để làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước.

Ý nghĩa đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam hiện nay

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị_Ảnh: TTXVN

Thấm nhuần tư tưởng của V.I. Lê-nin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên cơ sở phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Điều này được cụ thể hóa và thường xuyên được bổ sung, phát triển trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể hiện tập trung trong Kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII và XIII của Đảng. Nghị quyết của Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào thực tiễn cuộc sống và tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội; qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đồng thời tạo sự đoàn kết, nhất trí giữa “ý Đảng, lòng dân” và góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, như “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp”; một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, sa sút ý chí chiến đấu, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật; cơ chế kiểm soát quyền lực ở nhiều lĩnh vực, nhất là đối với những người có chức, có quyền trong Đảng và trong hệ thống chính trị chưa thực sự hiệu quả; hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Thực tế đó cho thấy, những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin đến nay còn nguyên giá trị và là vấn đề vô cùng hệ trọng. Do vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị cần được tăng cường theo tư tưởng, chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tuyên truyền, triển khai sâu rộng nội dung Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Để đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, một mặt, phải coi trọng việc học tập, nghiên cứu, tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay; mặt khác, cấp ủy các cấp, các tổ chức đảng phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, học tập, quán triệt, thực hiện  Nghị quyết, Kết luận đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục đích, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, Kết luận đồng thời nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện. Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến từng chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”.

Hai là, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng và phương pháp của V.I. Lê-nin để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về tổ chức.

Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thần “thà ít mà tốt”, vì “Chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm đến mức tối đa những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được”.

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ gắn bó, hài hòa với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và với nhân dân.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số”. Do vậy, Đảng phải thường xuyên liên hệ gần gũi, hòa mình với quần chúng, thực hành dân chủ rộng rãi, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào việc giám sát hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.

Việc giám sát quyền lực của nhân dân đối với hệ thống chính trị được thực hiện chủ yếu thông qua cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Do vậy, “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức hoạt động nhằm phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Bốn là, kết hợp giữa nêu gương người tốt, việc tốt với chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, coi đây là công việc thường xuyên, hằng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Theo đó, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; đổi mới phong cách, lề lối làm việc, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QÐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”.

Chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị dưới mọi hình thức. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, hoặc lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội... để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ.

Xây dựng các lực lượng đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vững mạnh, đủ sức phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Hiện đại hóa các biện pháp kỹ thuật để phục vụ hiệu quả cho công tác đấu tranh; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các lực lượng chuyên trách trong công tác này. 

Đồng bào dân tộc Lô Lô ở xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng nghe phổ biến về pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026_Ảnh: TTXVN

Năm là, chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực quan trọng, then chốt.

Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, kiến tạo phát triển, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả.

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, đi đôi với chống chạy chức, chạy quyền. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để lọt những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, bổ sung những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết.

Từ những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước nhằm không ngừng tăng cường hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng dân” để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

ST.