Thứ Năm, 18 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG - TRÊN “NÓNG”, DƯỚI CŨNG ĐANG “NÓNG”!

     Nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC), trong năm 2023, Ban Thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp đẩy mạnh PCTNTC và đạt được nhiều kết quả!

Công phá vào những lĩnh vực khó
Theo đánh giá của Ban Nội chính Trung ương-Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, các Ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh đã triển khai quyết liệt, toàn diện, từ công tác phát hiện, xử lý đến phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, các địa phương đẩy mạnh PCTNTC trong những lĩnh vực khó, phức tạp, những vụ việc tồn đọng kéo dài. Tập trung chỉ đạo tăng cường, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm nhiều tổ chức đảng, đảng viên sai phạm. Trong đó, các Ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh đã tiến hành 212 cuộc kiểm tra, giám sát.

Sau hơn một năm rưỡi đi vào hoạt động, các Ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh đã đưa 679 vụ án, vụ việc vào diện theo dõi, chỉ đạo (riêng năm 2023 có 260 vụ án, vụ việc). Các cơ quan chức năng ở địa phương đã khởi tố mới 763 vụ án, 2.079 bị can (tăng gần 2 lần so với năm 2022). Nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tồn đọng, kéo dài được chỉ đạo xử lý quyết liệt, dứt điểm. Trong đó, nhiều địa phương đã khởi tố, điều tra các vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, liên quan đến cả cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý và tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Đơn cử như tại Thanh Hóa, các cơ quan chức năng đã tiến hành khởi tố nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh và nhiều giám đốc sở, bí thư huyện ủy...

Bên cạnh đó, các Ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh đã quan tâm chỉ đạo chống tham nhũng, tiêu cực ngay tại các cơ quan chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý nghiêm nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên trong các cơ quan này khi có sai phạm về tham nhũng, tiêu cực. Đơn cử như tỉnh An Giang kỷ luật 15 tổ chức đảng, 72 đảng viên trong các cơ quan bảo vệ pháp luật theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, khởi tố Phó chánh Thanh tra tỉnh. Ngoài ra, nhiều địa phương như Quảng Bình, Cần Thơ kỷ luật cấp phó ngành Thanh tra tỉnh; Lai Châu khởi tố Chánh Thanh tra tỉnh...

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương và lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương chủ trì Hội nghị tổng kết công tác ngành nội chính Đảng và hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh năm 2023, phương hướng, nhiệm vụ năm 2024.

Triển khai nhiều giải pháp đồng bộ
Những kết quả trên khẳng định sự chuyển biến rõ nét, bước tiến mới trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở; khắc phục ngày càng hiệu quả tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Giờ đây, “trên nóng” và dưới cũng đang “nóng” lên. Những kết quả đạt được góp phần tạo bước tiến mới, đột phá trong công tác PCTNTC; qua đó giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội tại các địa phương và củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với công tác PCTNTC của Đảng.

Chia sẻ về kết quả, kinh nghiệm trong công tác PCTNTC của tỉnh Sơn La, đồng chí Nguyễn Hữu Đông, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban chỉ đạo PCTNTC tỉnh Sơn La cho biết, bằng nhiều biện pháp đồng bộ và tinh thần quyết tâm, năm 2023, toàn tỉnh Sơn La phát hiện 31 vụ phạm tội tham nhũng, tiêu cực với 54 bị can, tăng 20% so với trung bình các năm trước đây khi chưa có Ban chỉ đạo PCTNTC tỉnh. 

Theo đồng chí Nguyễn Hữu Đông, để làm tốt công tác phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực thì trước hết phải làm tốt công tác dự báo. Ban chỉ đạo PCTNTC tỉnh Sơn La đã chỉ đạo các cơ quan của tỉnh tổng hợp các loại sai phạm phổ biến, những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực thông qua kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Trên cơ sở đó, Ban chỉ đạo PCTNTC tỉnh phân công một đồng chí trong Ban chỉ đạo trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan có những dạng sai phạm này tổ chức tập huấn, rút kinh nghiệm cho cán bộ, công chức, viên chức để làm tốt công tác phòng ngừa, tránh lặp lại sai phạm. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy Sơn La quyết liệt triển khai việc ký cam kết trách nhiệm và xem xét trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao...

Tại tỉnh Tuyên Quang, tinh thần quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực được khẳng định rõ ngay từ đầu nhiệm kỳ và được Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm lãnh đạo. Đồng chí Phùng Tiến Quân, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Tuyên Quang cho biết, ngay từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành nghị quyết chuyên đề về PCTNTC. Bên cạnh đó, công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo được các đồng chí lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang hết sức chú trọng, duy trì nền nếp, hiệu quả. Có thời điểm, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh tiếp công dân 2 lần/tháng; qua đó chỉ đạo giải quyết, xử lý kịp thời các vụ việc tham nhũng, tiêu cực do nhân dân phản ánh.

Với vai trò là Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh, giai đoạn 2021-2023, các Ban Nội chính tỉnh ủy, thành ủy đã phát hiện, tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo xử lý 780 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; trong đó có 252 vụ án, vụ việc do các Ban Nội chính tỉnh ủy, thành ủy tự phát hiện./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO HỒ CHÍ MINH!

         Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là tổng hòa các phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Người. Phong cách đó được quy định bởi vị trí, vai trò, uy tín, vốn sống, điều kiện chính trị; phản ánh các phẩm chất cốt lõi về tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tri thức, ý chí, tính cách… và gắn liền với thực tiễn hoạt động cách mạng của Bác. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh vừa thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa mang đậm bản sắc văn hóa, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, tạo nên nhiều nét độc đáo, đặc sắc, phong phú; trong đó, tập trung chủ yếu ở những nội dung sau:
Một là, dân chủ nhưng quyết đoán. Hồ Chí Minh khẳng định: Chế độ ta “dân là chủ” và dân là chủ thì cách lãnh đạo phải dân chủ. Người cho rằng, không một ai có thể hiểu biết được mọi thứ, làm hết được mọi việc. Bởi vậy, người lãnh đạo phải tạo được không khí dân chủ trong nội bộ, tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người để phấn đấu cho mục tiêu chung của cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”. Tuy nhiên, phong cách dân chủ không có nghĩa là “cá mè một lứa”, “mạnh ai nấy làm” mà phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô Chính phủ”. Đối lập với phong cách dân chủ là phong cách quan liêu. Hồ Chí Minh kịch liệt phê phán cán bộ quan liêu, những người “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để chữa căn bệnh quan liêu, Người yêu cầu cán bộ phải “theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”.

Cùng với việc thực hiện nghiêm dân chủ, tập thể lãnh đạo, cần chú ý vai trò cá nhân phụ trách, tức là nêu cao trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh, người lãnh đạo có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí làm việc dân chủ, nhưng nếu không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân, thì không thể có những quyết định đúng đắn, kịp thời đáp ứng yêu cầu đặt ra và do đó công việc không thể tiến triển được. Người lưu ý: “Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định”5. Hồ Chí Minh cho rằng, trách nhiệm và tính quyết đoán của người đứng đầu phải luôn được đề cao, đôi khi mang tính quyết định. Phong cách lãnh đạo đúng nhất là phải kết hợp thống nhất giữa dân chủ tập thể với tính quyết đoán. Những hiện tượng coi thường tập thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không nêu cao trách nhiệm cá nhân đều làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo của người cán bộ. Người lãnh đạo giỏi là người dám chịu trách nhiệm trước tập thể, trước quốc dân đồng bào, kịp thời đưa ra những quyết sách đúng trong những thời điểm quyết định. Năm 1946, khi cách mạng bị thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt, việc ta ký Hiệp định Sơ bộ 06-3 và Tạm ước 14-9 với Pháp đã phá tan vòng vây của kẻ thù, loại trừ được 20 vạn quân Tưởng, tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến sau này, đó là một minh chứng về phong cách lãnh đạo dân chủ nhưng quyết đoán của Hồ chí Minh.

Hai là, luôn sâu sát. Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về phong cách lãnh đạo sâu sát. Trong chỉ đạo kháng chiến chống Pháp, Người không những nắm vững tình hình các địa phương cũng như diễn biến các chiến trường để có sự chỉ đạo cụ thể, đúng đắn; mà còn đến nhiều đơn vị, trực tiếp đi chiến dịch cùng bộ đội để nắm tình hình, động viên tinh thần binh sĩ, khen thưởng kịp thời mọi chiến công. Người quan tâm mọi mặt công tác của Quân đội, yêu cầu cán bộ các cấp phải sâu sát, chu đáo tới chiến sĩ: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.

Riêng công tác hậu cần, Người chỉ thị: “Phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ”. Trong chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người nhiều lần đến thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình và kiểm tra cụ thể mọi công việc. Ngoài ra, hằng ngày qua báo cáo của các địa phương, qua báo chí và thư từ của nhân dân gửi đến, thấy có những vấn đề nổi lên, Người yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu và giải quyết kịp thời.

Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. V.I. Lê-nin chỉ rõ, lãnh đạo mà không kiểm tra có nghĩa là không lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, khi đã có đường lối đúng, thì công tác kiểm tra là một trong ba nhân tố cơ bản nhất bảo đảm cho đường lối của Đảng ta thắng lợi. Muốn kiểm tra, giám sát tốt thì cán bộ phải sâu sát, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”. Sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì sự kiểm tra, giám sát “của các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ”, “chưa biết dựa vào quần chúng, nhân dân”. Người nghiêm khắc phê bình tình trạng: “Cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.

Ba là, khéo dùng người, trọng dụng người tài. Truyền thống của dân tộc ta là trọng dụng nhân tài, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hồ Chí Minh cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Người rất quan tâm đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ “đúng người, đúng việc”, và chính cách sử dụng cán bộ của Người là mẫu mực của việc “khéo dùng người, trọng dụng nhân tài”. Sau khi cách mạng thành công, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức đào tạo từ các nước phương Tây, quan lại triều đình phong kiến cũ phục vụ cho đất nước, như: Trần Đại Nghĩa, Huỳnh Thúc Kháng, v.v. Đặc biệt, việc Người tin tưởng giao trọng trách quốc gia cho các đồng chí: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…, là những ví dụ điển hình về điều đó.

Theo Bác, việc dùng người phải đúng năng lực và sở trường, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và phải cho họ hiểu rõ mọi mặt công việc được phụ trách. Dùng người không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém của công tác cán bộ. Đặc biệt, người nhấn mạnh đến việc phải “tìm người tài đức”, tức là phải chủ động phát hiện người tài, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Theo Người, trọng dụng nhân tài là công việc thường xuyên, liên tục, như: người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải biết tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 14-11-1945, trên Báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm về sử dụng nhân tài trong điều kiện khó khăn của đất nước: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”.

Bốn là, cách mạng và khoa học. Hồ Chí Minh khẳng định, điều cốt yếu của người cán bộ là: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Nhiệt tình cách mạng là điều cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng phải thống nhất với tri thức khoa học và dựa trên cơ sở khoa học, nếu không sẽ dẫn tới sai lầm, duy ý chí, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại một cách vô ý thức. Để có tri thức khoa học, người cán bộ phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ chuyên môn. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Vì thế, làm bất cứ việc gì, cán bộ cũng phải có kế hoạch và có đích rõ ràng, vì đích là để nhằm vào đó mà bắn, nếu nhiều đích “thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Để có kế hoạch thực sự khoa học, người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”. Một việc có thể có nhiều cách thực hiện. Bởi vậy, Người yêu cầu: “chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi”. Đặc biệt, Người đòi hỏi: “Công việc gì bất cứ thành công hay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”, v.v.

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh thực sự là bài học quý để mỗi cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, nhằm không ngừng hoàn thiện mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN!

     Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Đảng ta đặc biệt quan tâm xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng. 

NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong hàng loạt tác phẩm, tiêu biểu như: Đường Cách mệnh (năm 1927), Người đặt lên hàng đầu vấn đề Tư cách một người cách mệnh với 23 điểm căn bản, giải quyết hài hòa ba mối quan hệ: với mình, với người, với việc…

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm xây dựng đạo đức cách mạng với một hệ thống với những chuẩn mực cụ thể của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên, gắn liền với điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam.

Sau khi giành được chính quyền, trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên phải giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, xác định vị thế của những công bộc của dân, phục vụ nhân dân, không phải là những “quan cách mạng”. Đặc biệt, năm 1960, tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Di chúc là di sản cuối cùng của Người để lại, trong đó vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1).

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên là nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Các chuẩn mực này được Hồ Chí Minh khẳng định trong nhiều tác phẩm, nhiều bài nói, bài viết, trong những bối cảnh, giai đoạn cách mạng khác nhau, bao gồm những chuẩn mực cơ bản sau: (1) Suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, cho nhân dân, cho dân tộc, cho Tổ quốc. (2) Trung với nước, hiếu với dân. (3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. (4) Nhân, Nghĩa, Dũng, Trí, Tín. (5) Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa. (6) Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất. (7) Kỷ luật nghiêm minh. (8) Tinh thần quốc tế trong sáng. (9) Chống chủ nghĩa cá nhân. (10) Học tập suốt đời.

HOÀN THIỆN DẦN CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức của Đảng ta về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên là một quá trình, từ thấp đến cao, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ, hoàn thiện dần trong suốt hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Trong những văn kiện đầu tiên, ngay từ khi thành lập Đảng, như Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, năm 1930), Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương (thông qua tại Đại hội lần thứ nhất, năm 1935), Điều lệ tóm tắt của Đảng (thông qua tại Hội nghị lần thứ tám Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5/1941),… các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta bước đầu nêu trong “Lệ vào Đảng”, trong “Trách nhiệm, Nhiệm vụ của đảng viên”.

Đến Đại hội II của Đảng (năm 1951), đặc biệt là nhiệm vụ của đảng viên được ghi trong Điều lệ Đảng, các chuẩn mực này được đề cập một cách đầy đủ, bao quát hơn.

Giai đoạn cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong Điều lệ Đảng do Đại hội III của Đảng (năm 1960), thông qua đã khẳng định rõ hơn chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên: “… Đảng gồm những người giác ngộ tiên tiến, gương mẫu, dũng cảm và hy sinh nhất trong giai cấp công nhân, trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và các tầng lớp nhân dân lao động khác, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng mà phấn đấu…”(2).

“Đảng viên phải: Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân dân lên trên lợi ích cá nhân. Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô. Thực hành tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng. Tuyệt đối trung thành và thật thà với Đảng, không giấu giếm, xuyên tạc sự thật với Đảng” (3).

Ngay sau khi giải phóng hoàn toàn miềm Nam, thống nhất đất nước, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cách mạng, của cán bộ, đảng viên được được Đại hội IV của Đảng (năm 1976) xác định và thực hiện trong giai đoạn cách mạng mới là chú trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân và những tiêu cực, thoái hóa trong Đảng. Cụ thể:

“Đảng viên phải là người có giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành với cách mạng, tự nguyện suốt đời hy sinh, phấn dấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (4)     

“Đảng viên phải chăm lo xây dựng Đảng, có ý thức tổ chức và kỷ luật, có tinh thần tự phê bình và phê bình, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất của Đảng” (5);

“Cán bộ, và đảng viên phải lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của quần chúng, kiên quyết chống bệnh quan liêu” (6)

Trước yêu cầu mới của cách mạng, Đại hội V của Đảng (năm 1981) đặt ra yêu cầu: “Đã là đảng viên thì phải phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng. Phải sống trong sạch; phải là tiêu biểu nhất cho con người mới xã hội chủ nghĩa. Người cộng sản phải là tấm gương sáng để quần chúng noi theo. Cán bộ, đảng viên... phải là những chiến sĩ tiên phong, gương mẫu về mọi mặt” (7);

“Đảng viên dù là ở cương vị công tác nào cũng đều phải là những chiến sỹ cộng sản có lý tưởng và hành động theo đường lối của Đảng”(8);

“Sự tuyệt đối trung thành với cách mạng, sự nhất trí với đường lối của Đảng là đòi hỏi hết sức cần thiết đối với mọi cán bộ của Đảng và Nhà nước. Đối với cán bộ lãnh đạo, ngoài nội dung đó, tiêu chuẩn chính trị còn phải thể hiện ở trình độ chính trị và sự mẫu mực về đạo đức xã hội chủ nghĩa, mà điều cần nhấn mạnh là đức tính liêm khiết, sự thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực; không được đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình và của bạn bè lên trên lợi ích của tập thể và của toàn xã hội; không đặt lợi ích cục bộ, của địa phương lên trên lợi ích của Nhà nước, của toàn xã hội”(9) .

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Công tác tư tưởng phải hướng vào việc bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức mới, nâng cao tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản và tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa, khơi dậy ý chí cách mạng của quần chúng” (10) ; “Đảng viên...phải thường xuyên tự rèn luyện về mọi mặt, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, kịp thời sửa chữa những thiếu sót trong công tác và về phẩm chất cách mạng; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống hoái hóa biến chất và mọi biểu hiện tiêu cực trong lối sống..., đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân”(11). 

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã yêu cầu: “Đảng viên...không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức cách mạng; đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực trong lối sống” (12).

“Tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay là: có phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và năng lực thực hiện đổi mới, biết tổ chức và điều hành công việc, trung thực, thẳng thắn, có lối sống lành mạnh, có khả năng đoàn kết, có phong cách dân chủ tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, nói đi đôi với làm, được quần chúng tín nhiệm; Khẩn trương xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại, từng chức danh cán bộ ở các cấp, các ngành và căn cứ vào đó để đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ”(13).

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) yêu cầu: “Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu tự rèn luyện, tự phấn đấu nâng cao đạo đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, khắc phục chủ nghĩa cá nhân” (14). “Mọi cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, ý chí kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết”(15).

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng, qua đó nhiều chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên tiếp tục được khẳng định, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt là Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18/6/1997 về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ 3 tiêu chuẩn chung của cán bộ trong thời kỳ mới:

“- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”(16).

Các tiêu chuẩn đó, có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc. Ngoài các tiêu chuẩn chung nói trên, cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lý kinh doanh… còn phải có các tiêu chuẩn cụ thể phù hợp với từng loại cán bộ.

Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng bộc lộ một số yếu kém, như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn biến ngày càng nghiêm trọng hơn, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999 về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay” xác định: “Cán bộ , đảng viên phải tự giác rèn luyện đạo đức, lối sống cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; gương mẫu giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ cộng sản, đề cao tinh thần đoàn kết, chống chủ nghĩa cá nhân; chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước; đồng thời, chú ý giáo dục, thuyết phục gia đình cùng thực hiện”(17).

Bước sang thế kỷ XXI, từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đã được xây dựng và thực hiện trong các giai đoạn trước đó, đồng thời bổ sung, hoàn thiện những chuẩn mực mới, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân”(18);

“Cán bộ, đảng viên ở bất cứ cương vị nào đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước. Thi hành kỷ luật nghiêm khắc mọi vi phạm về nguyên tắc, nhất là đối với những vấn đề về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng”(19);

Đại hội X của Đảng (năm 2006), yêu cầu: “Cán bộ, đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, thật sự tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong mọi công việc; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết”(20).

Đối với đội ngũ đảng viên, “Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách”(21). Để nâng cao chất lượng đảng viên, Đại hội X của Đảng nhấn mạnh các yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, đặc biệt là phẩm chất đạo đức, lối sống: “Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết. Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác”(22).

Đối với đội ngũ cán bộ, Đại hội X của Đảng xác định: “Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao dộng trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân”(23). “Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ: Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng pháp luật, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”(24).

Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng được cụ thể hóa thông qua nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, kế hoạch của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương, đặc biệt là các văn bản về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thông qua đó, nhiều chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cách mạng được hệ thống hóa, cụ thể hóa.

Trong quá trình xây dựng chuẩn mực đạo đức thời kỳ đổi mới, Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa rất quan trọng. Tại Chỉ thị số 06-CT/TW, một nội dung được Đảng ta đề ra là “các cơ quan, đơn vị xây dựng tiêu chuẩn đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để phấn đấu thực hiện phù hợp với tình hình từng cơ quan, đơn vị”. Ban Chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ban hành Hướng dẫn số 09-HD/BCĐTW, ngày 20/6/2007 về những chuẩn mực đạo đức theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, đặc biệt là sau khi Chỉ thị số 06-CT/TW được ban hành, một số tỉnh, thành, địa phương đã xây dựng các quy định, quy chế, quy ước cụ thể trong thực hiện các tiêu chuẩn đạo đức theo yêu cầu của Cuộc vận động.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) khẳng định: “Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân…Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân… Định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống”(25).

Sau Đại hội XI của Đảng, việc xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có sự gắn bó chặt chẽ với các chỉ thị, quy định của Đảng, đặc biệt là Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 03-CT/TW) và Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp (Quy định số 101-QÐ/TW), trên cơ sở đó việc xây dựng, bổ sung chuẩn đạo đức của cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến mạnh mẽ.

Chỉ thị số 03-CT/TW yêu cầu: “Tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay. Quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”…

Theo Quy định số 101-QÐ/TW, mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình, phê bình; quan hệ với nhân dân; trách nhiệm trong công tác; ý thức tổ chức kỷ luật; đoàn kết nội bộ được quy định rõ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm nêu gương việc thực hiện

Trong nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc... Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 4 đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/01/2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó nhấn mạnh vấn đề xây dựng đạo đức trong Đảng.

Trong các nhiệm kỳ Đại hội trước, Đảng đều thống nhất mục tiêu xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đến Đại hội XII của Đảng (năm 2016) bổ sung mục tiêu xây dựng Đảng về đạo đức: “Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Tập trung thực hiện mục tiêu: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức”(26). Đây là bước phát triển mới tư duy lý luận về xây dựng Đảng phù hợp với yêu cầu khách quan trong giai đoạn mới, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng dầu các cơ quan, đơn vị” (27).

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (Chỉ thị số 05-CT/TW). Chỉ thị số 05-CT/TW đặt ra nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị với phương châm “sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện”. Chỉ thị số 05-CT/TW xác định nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là “tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,...”.

Ngày 30/10/2016, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”, yêu cầu: “Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình”. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, xác định:

“Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài”. Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương.

 Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hàng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên "tự soi", "tự sửa" và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên” (28). “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự "trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân"(29). 

Sau Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khẳng định: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh”.

Ngày 25/10/2021, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 21-KL/TW về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"”, xác định: “Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu. Nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ công chức, viên chức rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân. Kiên quyết chống biểu hiện bè phái, cục bộ địa phương, "lợi ích nhóm"”.

Ngày 25/10/2021, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Ngày 16/6/2022, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lương đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, "tự soi", "tự sửa", đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Phát huy vai trò của cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu”.

Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, nhấn mạnh tầm quan trọng và đặt lên hàng đầu vấn đề “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”. Bởi, xây dựng Đảng về đạo đức phải được bắt đầu từ việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho từng cán bộ, đảng viên của Đảng. Đạo đức của Đảng được xây dựng trên đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, sự tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên là vô cùng quan trọng. Đặc biệt, Đảng đã đưa nội dung “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. “Xây dựng các chuẩn mực đạo đức cách mạng” là một giải pháp mới để xây dựng Đảng về đạo đức. Đại hội XIII của Đảng đã đề cập và nhấn mạnh hầu hết tất cả các mặt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức, với 6 giải pháp trọng tâm là: 1) Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; 2) Thực hiện nghiêm quy định nêu gương; 3) Bổ sung, hoàn thiện các giá trị và xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng; 4) Giáo dục đạo đức cách mạng; 5) Đấu tranh chống quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức; 6) Khen thưởng, kỷ luật cán bộ, đảng viên. 

Có thể khẳng định, dù ở giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta cũng luôn đặc biệt quan tâm, coi trọng việc xây dựng Đảng về đạo đức. Các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên được Đảng ta nhấn mạnh là: thật sự tiên phong, gương mẫu; kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng; hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì mục tiêu cách mạng; gắn bó mật thiết với nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định… của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước; có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có nhân cách và lối sống mẫu mực, lành mạnh, trong sáng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, bản lĩnh, kiên định, đoàn kết, kỷ cương, trung thực, trách nhiệm; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nêu cao danh dự, lòng tự trọng; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và mọi biểu hiện, hành vi tiêu cực; học tập, rèn luyện không ngừng...

Yêu nước ST.

Bộ đội Cụ Hồ ở Nam Sudan

 Năm 2021, Trung tá Trần Đức Hưởng (nay là Thượng tá), cán bộ Cục Gìn giữ hòa bình (GGHB) Việt Nam đảm nhận nhiệm vụ tại Phòng Kế hoạch quân sự, Cục Hoạt động hòa bình Liên hợp quốc, có trụ sở tại thành phố New York, Mỹ, với vai trò sĩ quan kế hoạch. Suốt hai năm bận rộn với cường độ làm việc cao, yêu cầu chuyên môn chính xác tuyệt đối tại LHQ, Trần Đức Hưởng đã giành được tình cảm trân quý và sự tín nhiệm của những đồng sự đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Lần đầu tôi gặp người đồng đội và cũng là đồng hương Hải Phòng Trần Đức Hưởng chính là hôm anh nhận quyết định lên đường làm nhiệm vụ tại trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở Mỹ. Vóc người cao lớn, nước da rám nắng mạnh khỏe và giọng nói trầm, ngữ điệu ấm áp khi anh phát biểu và thể hiện sự quyết tâm trước thủ trưởng Bộ Quốc phòng khiến tôi vô cùng ấn tượng.
Khi đó, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục GGHB Việt Nam (hiện đã nghỉ hưu) nói: “Đồng chí Trần Đức Hưởng là một trong những cán bộ tiêu biểu, đủ năng lực để giải quyết các vấn đề vì có kinh nghiệm thực tế, có kiến thức rộng. Đồng chí cũng là sĩ quan thứ hai của Quân đội ta trúng tuyển vào làm việc tại Phòng Kế hoạch quân sự của Cục Hoạt động hòa bình LHQ. Điều đó góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước trong cộng đồng quốc tế, đồng thời là cơ hội để thúc đẩy hiệu quả quá trình Việt Nam tham gia hoạt động GGHB”.
Trò chuyện với Thượng tá Trần Đức Hưởng, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng, khâm phục bởi quy trình thi tuyển vô cùng khắt khe, nghiêm túc của kỳ thi mà anh đã trải qua. Vị trí anh ứng tuyển có hơn 200 hồ sơ đề cử từ 193 quốc gia thành viên của LHQ. Bằng khả năng ngoại ngữ nhuần nhuyễn, những kiến thức quân sự vững vàng và kinh nghiệm tích lũy được trong nhiều năm tham gia Phái bộ GGHB LHQ tại châu Phi, Thượng tá Trần Đức Hưởng đã xuất sắc vượt qua 3 vòng thi. Anh cũng cho biết, trong thời gian làm việc tại Phòng Kế hoạch quân sự, Cục Hoạt động hòa bình LHQ, bản thân đã luôn nỗ lực hoàn thành tốt việc chuẩn bị và thực hiện kế hoạch quân sự cho các phái bộ.
Đồng thời cùng cộng sự soạn thảo, đánh giá cấp chiến lược và chiến dịch các kế hoạch hoạt động và quy ước giao tranh, giám sát tổ chức biên chế, trang bị và năng lực cho lực lượng quân sự, các đơn vị tại những điểm đóng quân ở các nước... Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc nắm được chủ trương, định hướng của LHQ, từ đó có được những chính sách, kế hoạch thích hợp trong các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng.
Để thực hiện được khối lượng công việc đồ sộ và đặc biệt quan trọng đó, có lẽ chàng sĩ quan Việt Nam mang mũ nồi xanh ấy đã phải trui rèn và quyết tâm cao độ. Người thanh niên từ đồng đất Tiên Lãng, Hải Phòng ấy đã trải qua một quá trình huấn luyện khắc nghiệt với xuất thân từ một chiến sĩ đặc công luôn phát huy tốt truyền thống “Đặc biệt tinh nhuệ-Anh dũng tuyệt vời-Mưu trí táo bạo-Đánh hiểm thắng lớn”. Tại Binh chủng Đặc công, Trần Đức Hưởng đã trưởng thành, trải qua nhiều cương vị chỉ huy-tham mưu và được lựa chọn trở thành cán bộ của Phòng Hợp tác quốc tế, Cục GGHB Việt Nam từ những ngày đầu thành lập.
Khát vọng cống hiến và sự cầu thị đã thôi thúc anh phấn đấu, được Quân đội tuyển chọn cử tham gia các khóa học quan trọng tại Học viện Lục quân Mỹ và tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Quân sự về nghiên cứu chiến lược tại Mỹ. Đó cũng là tiền đề để năm 2019, anh tham gia và hoàn thành nhiệm vụ của một chiến sĩ mũ nồi xanh tại Nam Sudan. Từ quê hương thân yêu, hành trang lên đường đến những vùng chiến sự nóng bỏng và người dân còn rất nhiều khó khăn của Trần Đức Hưởng không chỉ có những kiến thức quân sự khô khan mà còn là một trí tuệ nhạy bén, một nghị lực vượt khó và một trái tim biết rung cảm.
Thượng tá Vũ Hiệp, một đồng đội cùng làm nhiệm vụ với Thượng tá Trần Đức Hưởng tại Phái bộ Nam Sudan chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ của hai người trên đất nước này. Không ít lực lượng làm nhiệm vụ tại đây bị người dân dò xét và trẻ con ném đá, thậm chí được “dằn mặt” bằng những loạt đạn. Nhưng đối với những quân nhân Việt Nam, người dân và các phe phái đối lập tỏ ra niềm nở hơn. Có nhiều tình huống “cân não” nguy hiểm đến tính mạng và có nguy cơ tạo xung đột vũ trang giữa các bên, đã được các anh xử lý hiệu quả, bảo đảm an toàn và vị thế của Phái bộ quân sự.
“Nhiệm vụ của chúng tôi là quan sát viên quân sự, triển khai các hoạt động điều đình, thuyết phục và thiết lập cầu nối giữa LHQ với quân đội chính phủ và quân đối lập. Tuy nhiên những năm trước, việc này gần như không có kết quả do cả hai phía quân chính phủ và quân đối lập đều từ chối gặp mặt. Nhưng vào tháng 7-2019, khi đến đặt vấn đề với Sư đoàn 2, quân đội chính phủ, chúng tôi dù gặp tình thế bất hợp tác ấy nhưng đồng chí Trần Đức Hưởng đã khéo léo thuyết phục để được gặp chỉ huy của họ”-anh Vũ Hiệp nhớ lại.
Khi đó, dù bị từ chối nhưng Thượng tá Trần Đức Hưởng đã lại gần những người lính Nam Sudan và giới thiệu mình đến từ Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh kiên trì thuyết phục: “Đất nước tôi từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên thấu hiểu những gì người dân Nam Sudan đang phải gánh chịu. Tôi ở đây vì muốn hỗ trợ các bạn, muốn chứng kiến một Nam Sudan ổn định, hòa bình lâu dài. Chúng tôi, những người lính GGHB LHQ luôn công tâm, sẵn sàng làm cầu nối giữa quân chính phủ và quân đối lập”. Thật bất ngờ, phía họ đã báo cáo nhanh với chỉ huy và nhận được sự đồng ý gặp mặt, với điều kiện anh cùng một cộng sự phải đi bộ 3km đến tổng hành dinh mà không có lực lượng bảo vệ. Nhưng như vậy thì sẽ không bảo đảm an ninh theo quy định của LHQ, vì vậy, anh đã thuyết phục lực lượng bảo vệ của Phái bộ và cam kết sẽ không để xảy ra sự cố.
Sau thời gian gần 1 giờ đi bộ qua quãng đường 3km nắng chang chang không một bóng cây khiến tất cả mọi người đều thấp thỏm, sự căng thẳng của hai quan sát viên đã biến mất khi có tiếng cười sảng khoái cất lên chào đón. Vị chỉ huy trưởng Sư đoàn 2 lực lưỡng đứng trước sảnh hành dinh, cất lời khen: “Hai ông rất dũng cảm”. Đồng chí Trần Đức Hưởng đáp lời: “Chúng tôi ở đây vì hòa bình, vì bảo vệ tính mạng, an toàn của người dân nên không có lý do để sợ”. Sau câu nói này, hai bên đã có cuộc trao đổi thân thiện, chia sẻ thông tin an ninh, góp phần thúc đẩy việc thành lập Chính phủ lâm thời hợp nhất Nam Sudan, đồng thời giúp các chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam kết nối và thiết lập được mối quan hệ tin cậy, thân thiết với một trong 10 sư đoàn quan trọng của Nam Sudan.
Trên vùng đất lửa này, trái tim nồng ấm yêu thương và trách nhiệm trước người dân vô tội đã tạo động lực cho Trần Đức Hưởng cùng đồng đội có nhiều hoạt động ý nghĩa, mang tinh thần bác ái. Do Nam Sudan thường xuyên xảy ra xung đột quân sự nên đặc thù nhiệm vụ của các sĩ quan Phái bộ là phải đến những vùng đất đang giao tranh hoặc thuộc sự quản lý của các phe nhóm khác nhau, nhiều lần các tổ công tác bị “kẹt giữa hai làn đạn”. Trong đó, kỷ niệm nhớ đời là một lần đường công tác bị nước lũ dâng cao, xe không kịp về căn cứ mà bị kẹt lại tại chiến địa giao tranh giữa đêm.
Đúng lúc này, tổ công tác gặp đoàn xe bán tải của quân chính phủ chở người bị thương đi ngang qua. Khi thấy người bị thương nghiêm trọng mà đoàn không có thiết bị cứu chữa, đồng chí Trần Đức Hưởng đã đề nghị quân y của Phái bộ đi cùng đoàn sơ cứu cho những người lính đang bị thương. Anh bộc bạch: “Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ cứu người là trên hết, không phân biệt thường dân, quân đối lập hay quân chính phủ. Hôm sau, tôi và một đồng nghiệp qua bệnh viện của Quân đội giải phóng nhân dân Nam Sudan hỏi thăm thì được biết người lính bị thương nặng nhất đêm qua đã không còn nguy hiểm đến tính mạng. Quyết định cứu thương của chúng tôi đêm hôm trước đã cải thiện rất nhiều mối quan hệ giữa quân chính phủ và Phái bộ”.
Trong thời gian công tác ở Nam Sudan, Trần Đức Hưởng cũng thường chạnh buồn khi bắt gặp những ngôi làng im lìm thiếu sức sống, lớp học tường trát đất, mái lợp lá đơn sơ vang tiếng học bài của những đứa trẻ gầy guộc trên dọc đường công tác. Anh thường mang theo mình bánh kẹo, thực phẩm và những món đồ chơi nho nhỏ để tặng trẻ em khi gặp. Anh ân cần chăm lo cho các em từng cuốn vở, cây bút và những bộ quần áo mới, dạy các em học nói những câu tiếng Việt đơn giản, tặng giày, bóng và hướng dẫn trẻ chơi bóng... Thế là như thành lệ, mỗi khi thấy bóng những chiến sĩ mũ nồi xanh có dòng chữ Việt Nam đỏ thắm trên ngực, các em nhỏ lại ùa ra chào đón.
Những đóng góp của Thượng tá Trần Đức Hưởng đối với hoạt động GGHB LHQ đã được đơn vị chủ quản đánh giá cao. Đó thực sự là một hành trình đầy tự hào và nhiều thử thách. Còn tôi, luôn nhớ và tin tưởng vào lời hứa của anh trước khi rời Tổ quốc lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng sẽ luôn giữ gìn, phát huy phẩm chất, hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần lan tỏa khí chất và tấm lòng Việt Nam đến với bạn bè quốc tế./.
St

CÙNG NÂNG CAO KHẢ NĂNG “TỰ ĐỀ KHÁNG, MIỄN DỊCH” TRƯỚC THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Không gian mạng là một môi trường chiến lược đã được nhà nước ta cụ thể hóa bằng chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Luật An ninh mạng…. Sự tùy thuộc, gắn kết của các cá nhân, tổ chức, địa phương, khu vực và quốc tế trên môi trường không gian mạng ngày càng trở nên nhanh chóng, chặt chẽ và kịp thời, tùy theo mục đích, yêu cầu, tính chất, phạm vi hoạt động trong thời đại số. Bên cạnh những tiện ích to lớn, không gian mạng vẫn luôn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ, thách thức, nguy hiểm thường trực đối với người dùng Internet.

Việt Nam nằm trong số 20 quốc gia có số người sử dụng Internet cao trên thế giới, hiện có khoảng 70 triệu người sử dụng Internet (chiếm khoảng 68% dân sổ), cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (51,4%) và các nước châu Á-Thái Bình Dương (44,5%). Hiện Việt Nam có khoảng 68 triệu tài khoản mạng xã hội Facebook và 154 triệu thiết bị kết nối Internet. Theo tổ chức We are Social, mỗi người dân Việt Nam dành trung bình khoảng 06 giờ 24 phút mỗi ngày để truy cập Internet, trong đó, dành khoảng 2,5 giờ để vào mạng xã hội. Tỷ lệ người dân lên mạng Internet hàng ngày là 94%.
Quá trình tương tác trên không gian mạng, người dùng chúng ta nên lưu ý việc các thế lực thù địch và tội phạm mạng quốc tế có tổ chức, sử dụng công nghệ cao hiện nay đang ráo riết, chực chờ khai thác “lỗ hỗng bảo mật” từ không gian mạng và sự mất cảnh giác, bất cẩn của công dân số hòng tiếp cận truyền bá những luận điệu sai trái, lệch lạc, phản văn hóa, thù địch, tập hợp lực lượng, kích động thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nếu trước đây chúng chủ yếu tung lên mạng các bài viết có tính xuyên tạc, phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng. Thì hiện nay, chúng đã “thích ứng với thời cuộc", tung lên mạng những vấn đề “rất đời thường”, nhất là tình trạng tham nhũng, tiêu cực để thu hút độc giả. Ví dụ, chúng cắt ghép, sử dụng công nghệ 4.0 để chế các hình ảnh, video, xuyên tạc, bôi nhọ, dựng chuyện tham nhũng không có thật, đời tư nhân sự cấp cao của Đảng liên quan dến một vài cán bộ cấp cao bị xử lý kỷ luật. Các đối tượng thường sản xuất chương trình truyền hình, tung lên các mạng xã hội. Triệt để lợi dụng các phần tử phản động trong các tổ chức chống đối Việt Nam ở nước ngoài tham gia làm diễn giả với cái gọi là “bản tin thời sự hướng về Việt Nam”. Thực chất lại là bè lũ chuyên hùa theo, nói xấu tình hình Việt Nam, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa bằng giọng điệu cực đoan, thù hằn, chống Cộng quyết liệt. Chúng chú trọng đánh vào tâm lý xu hướng đám đông của các hội, nhóm cộng đồng mạng trẻ ở Việt Nam bằng ngôn ngữ, giọng điệu tiếp cận “rất đời thường”, thậm chí chỉ chửi bới thô tục vẫn có thể “câu” được nhiều lượt view, lượt like, comment “khủng” ...
Điều này khiến cho cuộc đấu tranh trên không gian mạng nhằm giữ vững trận địa tư tưởng chính thống tuy thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Công việc đối phó, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các quan điểm sai trái trên mạng xã hội luôn là một quá trình lâu dài, và sẽ “không có nấc thang cuối cùng”. Vì vậy, chúng ta cũng cần khách quan nhìn nhận nó theo hướng đa chiều, một mặt cảnh giác, chủ động biện pháp phòng ngừa tác hại, nguy cơ, hoặc giảm thiểu tác hại của nó chứ không thể tiêu diệt nó một cách triệt để, tận gốc. Bởi trong mưu đồ, thủ đoạn phá hoại của mình, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối về chính trị luôn triệt để tận dụng ưu thế công nghệ, kỹ thuật, sử dụng hạ tầng mạng từ bên ngoài lãnh thổ để câu kết xâm nhập chống phá, phạm tội bên trong lãnh thổ quốc gia. Việc Chúng ta đơn thuần thực hiện giải pháp kỹ thuật bóc, gỡ tin, bài, trang, hội, nhóm… này vừa xong thì chúng lại dễ dàng mọc lên những tin, bài, trang, hội, nhóm khác…. Để thích ứng khi tương tác môi trường không gian mạng, chúng ta cần không ngừng tìm hiểu, học tập để đủ khả năng làm chủ và tương tác an toàn, hiệu quả với nó theo mục đích, phạm vi, nhu cầu hoạt động một cách hiệu quả, áp dụng những giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài theo điều kiện, khả năng. Đó chính là cách tư duy và hành động đúng đắn, phù hợp, thiết thực nhất. Tư duy đó cần phải được cán bộ, Đảng viên và Nhân dân với tư cách “công dân mạng”, “công dân số toàn cầu” hiểu đúng, làm đúng, cùng chung tay góp sức đẩy lùi quan điểm sai trái, thông tin xấu độc từ môi trường không gian mạng hiện nay.
Một trong những “chìa khóa vàng”, chủng "vắc xin" quý giá, hữu hiệu nhất chính là chúng ta biết tiếp cận những nguồn cung cấp thông tin chính thống, tin cậy để từng cá nhân, tổ chức trong xã hội số, quốc gia số, “công dân số toàn cầu” tự nâng cao nhận thức, tri thức, lan tỏa tích cực giúp cộng đồng mạng có đủ khả năng nhận thức đúng-sai, tích cực - tiêu cực, xấu-tốt, từ đó dần hình thành, nâng cao không ngừng “sức đề kháng”, “khả năng tự miễn dịch” trước mọi thông tin sai trái, xấu độc, những luận điệu xuyên tạc, thù địch, phản động. Điều này đặc biệt quan trọng và cần thiết cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên, những người chủ tương lai của gia đình, quê hương, đất nước. Cung cấp, lan tỏa thông tin tốt đẹp, chính thống, biết và thường xuyên thực hiện tốt kỹ năng tiếp cận, xử lý thông tin từ không gian mạng một cách bảo mật, thận trọng và an toàn chính là giải pháp bền vững nhất để cùng nhau đẩy lùi, giảm thiểu các tác hại từ các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên không gian mạng hiện nay./.
ST

HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VIỆT NAM - LÀO ĐƯỢC TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ

 Chiều 18-1, đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam dẫn đầu đã đến trụ sở Bộ Quốc phòng Lào tại thủ đô Vientiane chúc mừng nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập QĐND Lào (20-1-1949/20-1-2024). Đại tướng Chansamone Chanyalath, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào tiếp đoàn.

Thay mặt lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn trân trọng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các đồng chí lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ QĐND Lào nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập QĐND Lào.
Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn vui mừng nhận thấy, trong 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, QĐND Lào đã cùng nhân dân các dân tộc Lào vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, chiến đấu, xây dựng lực lượng không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Lào, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn khẳng định Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong xây dựng, phát triển đất nước ngày nay; bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đất nước Lào sẽ đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, khẳng định vị thế, vai trò trên trường khu vực và quốc tế.
Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn nhấn mạnh, hợp tác quốc phòng song phương Việt Nam - Lào trong thời gian qua tiếp tục được hai bên thúc đẩy, triển khai hiệu quả, đặc biệt trên các lĩnh vực như trao đổi đoàn (nhất là đoàn cấp cao), đào tạo nhân lực, tuyên truyền về quan hệ đoàn kết giữa hai nước và hai quân đội, quản lý và bảo vệ biên giới; bày tỏ mong muốn Bộ Quốc phòng hai nước tiếp tục phối hợp chặt chẽ để triển khai toàn diện, hiệu quả các lĩnh vực hợp tác trên cơ sở các văn kiện đã ký kết.
Nhân dịp này, Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn trân trọng chuyển thư chúc mừng của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam tới Đại tướng Chansamone Chanyalath.
Đại tướng Chansamone Chanyalath cảm ơn Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đến chúc mừng nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập QĐND Lào; nhấn mạnh trong suốt quá trình 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Lào luôn có sự ủng hộ, giúp đỡ của Đảng, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Chansamone Chanyalath cảm ơn sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam dành cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.
ST

KHÔNG ĐỂ XẢY RA TÌNH TRẠNG ĐẦU NĂM ĐỦNG ĐỈNH, CUỐI NĂM VỘI VÀNG

 Sáng 18/1, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khoá XV bế mạc sau 3,5 ngày làm việc.

Phát biểu bế mạc Kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, sau 3,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, dân chủ, trách nhiệm và thống nhất, đồng thuận rất cao, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.
Khái quát về một số kết quả của Kỳ họp, theo Chủ tịch Quốc hội, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi), hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV theo đúng Hiến pháp năm 2013, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, mà trực tiếp là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
“Việc thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp này, cùng với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua và có hiệu lực đồng thời từ 1/1/2025 đã đáp ứng yêu cầu hoàn thiện đồng bộ chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”-Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.
Về việc Quốc hội xem xét, thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), theo Chủ tịch Quốc hội, với các nội dung được sửa đổi, bổ sung rất căn bản, toàn diện và đồng bộ.
Luật Các tổ chức tín dụng sẽ góp phần kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh, ổn định và bền vững của hệ thống; tăng cường tính công khai, minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế phổ biến; hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý nợ xấu, tình trạng sở hữu chéo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong lĩnh vực ngân hàng và phát triển những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại có giá trị gia tăng cao; tăng cường năng lực tài chính, quản trị và chất lượng hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng; phân định rõ thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp; nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tổ chức tín dụng.
Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh, Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn và nhất trí cao thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.
Đây là bước tiếp nối kết quả giám sát tối cao về chuyên đề này của Quốc hội tại kỳ họp trước, khẳng định tinh thần trách nhiệm, đi đến cùng vấn đề giám sát, qua đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm thực hiện hiệu quả 3 chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nhấn mạnh năm 2024 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 và hướng tới Đại hội XIV của Đảng.
Từ thành công của kỳ họp đầu tiên trong năm mới 2024, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, Quốc hội tiếp tục phát huy tinh thần “lập pháp chủ động, giám sát hiệu quả, quyết sách kịp thời, bứt phá phát triển”, để cùng Chính phủ, các cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 và giai đoạn 2021-2025, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt sâu sắc, triển khai đồng bộ, kịp thời, toàn diện các nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội và các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 01/NQ-CP và số 02 /NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm mới, không để xảy ra tình trạng “đầu năm đủng đỉnh, cuối năm vội vàng”; theo dõi sát diễn biến, dự báo tình hình trong nước và thế giới, có giải pháp, chính sách phù hợp, khả thi; trước mắt, quán triệt đầy đủ, nghiêm túc Chỉ thị số 26-CT/TW của Ban Bí thư, tập trung chuẩn bị tốt nhất các điều kiện phục vụ Nhân dân vui xuân, đón mừng năm mới, Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 đầm ấm, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, bảo đảm mọi nhà, mọi người đều có điều kiện vui xuân, đón Tết.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực thi đua, lập thành tích mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, chào mừng kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng./.
ST

LAN TOẢ TINH THẦN QUYẾT LIỆT, CHỦ ĐỘNG TỪ SỚM, TỪ XA CỦA QUỐC HỘI VÀO ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

 Đánh giá về kết quả của Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV, đại biểu Quốc hội nhận định, kỳ họp lần này tiếp tục khẳng định nỗ lực, quyết tâm cũng như tinh thần quyết liệt, chủ động từ sớm, từ xa của Quốc hội để đáp ứng với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh xã hội hiện nay.

Giải quyết triệt để các vấn đề cuộc sống đặt ra.
Sau 3,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV đã thành công tốt đẹp và bế mạc sáng 18/1.
Tại kỳ họp lần này, Quốc hội đã xem xét và thông qua 4 nội dung, bao gồm: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi); Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách.
Chia sẻ bên hành lang Quốc hội, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Hà Nội cho biết, phiên họp bất thường của Quốc hội được tổ chức nhằm giải quyết những vấn đề hết sức hệ trọng liên quan quốc kế, dân sinh, những vấn đề không thể nào chậm trễ hơn được. Chính vì thế nên trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV lần này đã tổ chức đến 5 kỳ họp bất thường.
Theo Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội, các nội dung được quyết định tại kỳ họp bất thường lần này đã lan tỏa tinh thần quyết liệt, chủ động từ sớm, từ xa của Quốc hội, đáp ứng được với những phức tạp, đổi thay nhanh chóng của bối cảnh hiện nay.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, sau khi các quyết định đã được ban hành, cần phải triển khai một cách hết sức quyết liệt để lan tỏa nỗ lực, quyết tâm của Quốc hội vào đời sống xã hội.
“Tôi cho rằng để triển khai hiệu quả những kết luận, quyết định quan trọng từ kỳ họp bất thường này, sau khi các quyết định đã ban hành, chúng ta phải triển khai một cách hết sức quyết liệt để tinh thần của Quốc hội được truyền tải vào các hành động của Chính phủ. Nếu làm được như vậy thì những nỗ lực, quyết tâm của Quốc hội mới có thể được lan tỏa vào trong đời sống xã hội”, đại biểu Bùi Hoài Sơn nêu rõ.
Chung nhận định, đại biểu Lê Thị Thanh Lam-Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Hậu Giang cho biết, kết quả Kỳ họp bất thường lần thứ 5 nói riêng và các kỳ họp bất thường trước đó đã chứng minh cho tính đúng đắn, hiệu quả của việc tổ chức các kỳ họp bất thường, qua đó tiếp tục khẳng định Quốc hội luôn đồng hành cùng Chính phủ, giải quyết triệt để các vấn đề cuộc sống đặt ra, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của cử tri, góp phần quan trọng và tạo cơ sở thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội quan trọng của đất nước.
Nữ đại biểu nhấn mạnh, Kỳ họp bất thường lần thứ 5 tiếp tục khẳng định trách nhiệm, sự nỗ lực, quyết tâm cao của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan, tổ chức liên quan trong công tác chuẩn bị, tiến hành kỳ họp; khẳng định sự đổi mới, nâng cao chất lượng cả về chương trình, nội dung và phương thức điều hành của Đoàn Chủ tịch.
Kết quả kỳ họp đã đáp ứng nội dung và hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra với những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật, nghị quyết của Quốc hội.
“Nhìn chung, công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp được tiến hành chu đáo, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các vướng mắc về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia được tháo gỡ một cách kịp thời, triệt để, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình trong thời gian tới, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt hơn”, đại biểu Lê Thị Thanh Lam nêu rõ.
Tạo động lực mới cho phát triển từ nguồn lực đất đai.
Một trong những nội dung quan trọng tại kỳ họp lần này là Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai (sửa đổi). Đánh giá về đạo luật quan trọng này, đại biểu Bùi Hoài Sơn cho biết, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) đã được chuẩn bị, cho ý kiến rất công phu, kỹ lưỡng. Các đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, cụ thể, làm rõ thêm những vấn đề còn chồng chéo, bất cập trước khi biểu quyết thông qua luật.
“Luật Đất đai là luật rất là khó, có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội và tác động lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đó là lý do tại sao chúng ta đã phải thảo luận rất kỹ, thông qua rất nhiều kỳ họp khác nhau và lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn cho biết.
Theo đại biểu, luật này cũng sẽ liên quan đến nhiều luật khác. Do đó, việc sửa các luật khác cũng phải được thực hiện để Luật Đất đai (sửa đổi) được thực thi một cách tốt hơn, khả thi hơn trong thực tiễn.
Ngoài ra, nhiều dự án hiện nay đang dừng lại vì Luật Đất đai (sửa đổi) chưa thông qua. Với việc Quốc hội đã chính thức bấm nút thông qua luật, đại biểu Bùi Hoài Sơn bày tỏ mong muốn việc triển khai Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ được thực hiện sớm để tháo gỡ các điểm nghẽn và phát huy được các nguồn lực đang gặp khó khăn trong thời gian vừa qua, đưa các nguồn lực này triển khai sớm trong xã hội, từ đó tạo ra động lực mới cho sự phát triển đất nước từ nguồn lực đất đai.
Để luật phát huy hiệu quả ngay sau khi có hiệu lực, đại biểu Lê Thị Thanh Lam cho rằng, Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan cần khẩn trương xây dựng, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết ban hành, hướng dẫn việc chuyển tiếp đúng quy định, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cũng kiến nghị Chính phủ cần tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai, hoàn thành xây dựng cơ sở d.ữ l.iệu s.ố và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung…
Đồng quan điểm, đại biểu Phạm Văn Hòa-Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp nêu rõ, Luật Đất đai (sửa đổi) có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và sức ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ về mọi mặt. Vì vậy, việc thông qua luật nhận được sự quan tâm, chờ đợi của đông đảo nhân dân và các đối tượng chịu sự tác động.
Để luật sớm được thực thi, phát huy hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống, đại biểu đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần quan tâm triển khai kịp thời việc ban hành các nghị định, văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật, tránh tình trạng để luật phải chờ nghị định.
Ngoài ra, công tác phổ biến, tuyên truyền về những điểm mới của Luật Đất đai (sửa đổi), cũng như nội dung trọng tâm của luật tới người dân, doanh nghiệp cũng cần phải được tăng cường, đổi mới để các đối tượng chịu sự tác động của chính sách nắm vững và thực hiện theo đúng quy định./.
ST