Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

Công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, cần tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp, trong đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Đảng viên là đồng bào dân tộc thiểu số Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai xuống tận thôn, bản tuyên truyền về phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số_Ảnh: Tư liệu

Việc tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là một trong những nội dung quan trọng được xác định tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên trong giai đoạn mới”. Theo đó, cần thường xuyên thực hiện xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh kết hợp với củng cố, chấn chỉnh tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một nhiệm vụ, giải pháp then chốt, trực tiếp góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ ngay từ cơ sở.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là vấn đề có tính quy luật, là yêu cầu tất yếu khách quan của công tác xây dựng Đảng và là nhu cầu tự thân của mỗi tổ chức đảng. Trong các yếu tố cấu thành và biểu hiện năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, công tác kiểm tra, giám sát chiếm vị trí rất quan trọng, không chỉ đơn thuần là một khâu của quy trình lãnh đạo, mà còn là một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của tổ chức cơ sở đảng. Hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát trực tiếp góp phần vào xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên; giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, bảo đảm cho các chủ trương, quyết sách của Đảng được triển khai nghiêm túc, qua đó thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo cơ sở cho việc không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng”(1) và “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng”(2). Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta thường xuyên chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh; tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình, chất lượng sinh hoạt đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý‎ đảng viên, đánh giá, xếp loại, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật của nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ cơ sở được nâng lên... Những kết quả trên góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.

Tuy nhiên, chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, thậm chí, một số tổ chức đảng mất sức chiến đấu. Hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi cộm là do chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát ngay từ tổ chức cơ sở đảng, dẫn đến không kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai lầm để chấn chỉnh, sửa chữa, kỷ luật đảng không được thực thi nghiêm minh.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng với nhiều thời cơ, thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là trước sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch, một bộ phận cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi công tác xây dựng Đảng, trước hết là xây dựng tổ chức cơ sở đảng phải đi vào thực chất, ngày càng có chiều sâu. Điều này cũng tất yếu đặt ra yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát phải không ngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các vụ, việc vi phạm từ khi mới manh nha, ngay từ cơ sở. Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng gắn liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, trong thời gian tới, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, tổ chức, lực lượng về công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng. Việc nhận thức đúng và đầy đủ về vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, bí thư cấp ủy cơ sở là yếu tố quyết định tới chất lượng, hiệu quả thực tế của công tác kiểm tra, giám sát, trực tiếp quy định mức độ chuyển biến về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là trong bối cảnh công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng hiện nay còn chưa được quan tâm thỏa đáng, là khâu tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Do đó, cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền với nội dung, biện pháp sáng tạo, phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; làm cho các chủ thể, đối tượng có liên quan nhận thức đúng về công tác kiểm tra, giám sát, thấy rõ việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này là một trong những nội dung cơ bản trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng; thấy rõ vai trò to lớn của kiểm tra, giám sát trong xây dựng đội ngũ đảng viên cũng như trong nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Bên cạnh đó, cần tăng cường phổ biến, tuyên truyền đến các cấp ủy, ủy ban kiểm tra ở cơ sở, đội ngũ đảng viên hiểu rõ nội dung, cách thức, biện pháp, quy trình thực hiện và tham gia công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là quy trình kiểm tra, giám sát của chi bộ. Tập trung giáo dục, tuyên truyền, làm cho các cấp ủy, ủy ban kiểm tra ở cơ sở, đội ngũ đảng viên hiểu rõ những điểm mới trong Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương, nhất là tư tưởng chỉ đạo “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Bên cạnh đó, cần tăng cường phổ biến, quán triệt Quyết định số 89-QĐ/TW, ngày 1-12-2022, của Ban Bí thư, ban hành các quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng của cấp ủy tỉnh và tương đương đến cơ sở; Hướng dẫn số 02-HĐ/TW, ngày 9-12-2021, của Ban Bí thư, hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quyết định số 354-QĐ/UBKTTW, ngày 22-12-2021, của Ủy ban kiểm tra Trung ương, ban hành các quy trình thực hiện kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng..., giúp cho mọi đảng viên, tổ chức đảng nắm vững và biết cách thực hiện nghiêm nội dung, quy trình, cách thức, biện pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là quy trình kiểm tra, giám sát của chi bộ. Kiên quyết đấu tranh, khắc phục các biểu hiện lệch lạc, xem nhẹ hoặc nhận thức không đúng về công tác kiểm tra, giám sát, tách rời công tác kiểm tra, giám sát với nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Trong tiến hành các hình thức, biện pháp phổ biến, cần đặc biệt coi trọng việc tập huấn về quy trình, kỹ năng kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy, ủy ban kiểm tra cơ sở.

Đoàn kiểm tra của Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên  kiểm tra kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh tại Chi bộ Trường Trung học phổ thông Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: phuly.phuluong.thainguyen.gov.vn

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, cơ quan chức năng cấp trên đối với hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; phát huy tính tích cực chủ động của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở. Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ công tác của các tổ chức cơ sở đảng theo thẩm quyền; tăng cường đổi mới phương thức lãnh đạo gắn với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; lấy việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị làm thước đo chủ yếu trong đánh giá mức độ chuyển biến cũng như kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở cơ sở.

Cấp ủy cấp trên cần theo sát tình hình, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ tổ chức cơ sở đảng thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là những thời điểm khó khăn, những nhiệm vụ có vướng mắc cần tập trung giải quyết. Đồng thời, các cấp ủy cơ sở, đặc biệt người đứng đầu cấp ủy, phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Phát huy tốt vai trò của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở, kịp thời tham mưu cho đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy cơ sở các chương trình, kế hoạch, nội dung, biện pháp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phù hợp, chủ động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng ngay từ sớm, không để các vụ, việc từ có dấu hiệu vi phạm thành vi phạm, vi phạm nhỏ chuyển thành sai phạm lớn…

Ba là, phát huy có hiệu quả vai trò của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì ở cơ sở. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng phụ thuộc trước hết vào sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ cương vị chủ chốt, người đứng đầu các tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị ở cơ sở thực đức, thực tài, nhất là có bản lĩnh tránh xa những cám dỗ vật chất, có dũng khí chiến đấu với những biểu hiện tiêu cực, suy thoái ngay trong nội bộ tổ chức đảng và trong chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên. Coi trọng việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ về nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng của đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì ở cơ sở, nhất là nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát.

Làm tốt việc bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ cấp ủy viên và ủy ban kiểm tra đảng ủy ở cơ sở. Nghị quyết số 21-NQ/TW khẳng định: “Đổi mới nội dung, phương thức, phong cách, lề lối làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực của cấp ủy, bí thư cấp ủy ở cơ sở, bảo đảm vai trò hạt nhân và lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở”(3). Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới” nhấn mạnh, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chủ trương, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Như vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm các vi phạm ngay từ cơ sở, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, vấn đề quan trọng là phải gắn giữa kiện toàn với phân công trách nhiệm cụ thể cho đội ngũ cấp ủy viên và ủy ban kiểm tra đảng ủy trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, đồng thời tăng cường công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên cũng như ủy viên ủy ban kiểm tra ở cơ sở. Công tác này đòi hỏi phải được tiến hành một cách bài bản, thường xuyên, liên tục, theo đúng quy định của Đảng.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý đảng viên. Cấp ủy cơ sở cần làm tốt công tác quản lý đảng viên, thường xuyên kiểm tra chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng, công tác quản lý đảng viên của chi bộ và việc thực hiện trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Cùng với việc mỗi cán bộ, đảng viên chủ động xây dựng kế hoạch phấn đấu, rèn luyện, cấp ủy, chi bộ cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên, tạo điều kiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên; tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; phát hiện, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến; kịp thời nhắc nhở, uốn nắn, giúp đỡ đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ hoặc khi có khuyết điểm, có dấu hiệu vi phạm.

Để công tác quản lý đảng viên ngày càng hiệu quả, cấp ủy các cấp, nhất là ở cơ sở, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, coi trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng. Trong sinh hoạt chi bộ phải luôn giữ vững nguyên tắc, thực hiện nghiêm nền nếp chế độ, phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình; gắn quán triệt, thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị với đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ đảng viên; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tiêu cực ngay từ chi bộ. Nội dung sinh hoạt chi bộ cần thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của đảng viên và nhân dân. Trong đó, phải đặc biệt coi trọng sinh hoạt tự kiểm tra, giám sát của chi bộ; thực hiện tốt giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kiểm tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm với tổ đảng, đảng viên, kiên quyết sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách./.

ST.

Truyền thông chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số ở nước ta hiện nay

Truyền thông chính trị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tạo sự đồng thuận xã hội; đơn giản hóa và giúp người dân tiếp cận nhanh chóng các vấn đề chính trị phức tạp. Trong bối cảnh phát triển của khoa học - công nghệ cũng như quá trình chuyển đổi số, hoạt động truyền thông chính trị ở Việt Nam được triển khai phù hợp, mang lại nhiều thay đổi tích cực; tuy nhiên, cũng nảy sinh nhiều khó khăn, thách thức, cần có những giải pháp mới, phù hợp thời gian tới.

Truyền thông chính trị trong bối cảnh mới ở nước ta

Truyền thông chính trị có thể được hiểu là quá trình các nhà lãnh đạo chính quyền, các cơ quan truyền thông và người dân tương tác, trao đổi, bàn bạc về nội dung những thông điệp hoặc đề xuất liên quan đến việc hình thành các chính sách công(1); các giai cấp, đảng phái, nhà nước cung cấp thông tin, giải thích, thuyết phục người dân ủng hộ, tán thành và tuân theo tư tưởng, chủ trương, đường lối trong những giai đoạn lịch sử cụ thể; có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, như tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua sách, báo,…(2) Truyền thông chính trị có sức mạnh to lớn trong việc tạo sự đồng thuận cũng như nâng cao nhận thức của người dân đối với hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền; thấu hiểu hơn các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần hoàn thiện quá trình phân tích, hoạch định và thực thi chính sách, kiến tạo sự phát triển của xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(3); “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được/Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi"(4). Thực tế, khi người dân không hiểu, không tin vào chủ trương, chính sách sẽ dẫn đến sự thờ ơ, không quan tâm thực hiện và những chủ trương, chính sách đó có nguy cơ thất bại trong thực tiễn; ngược lại, khi người dân thấu hiểu, có niềm tin thì quá trình hiện thực hóa các mục tiêu xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước sẽ thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mục đích, hiệu quả và chất lượng của hoạt động truyền thông, Người căn dặn: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”(5); khẳng định tuyên truyền là “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”(6). Lời căn dặn này của Người vẫn còn nguyên giá trị hiện nay, trong đó có nhiệm vụ đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông chính trị.

Quá trình chuyển đổi số quốc gia hiện nay tác động đến sự phát triển trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội,...; đã và đang làm thay đổi mọi mặt của đời sống, trong đó có lĩnh vực thông tin, truyền thông chính trị. Thời gian qua, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mang lại cho nước ta nhiều cơ hội để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, tạo ra không ít khó khăn, thách thức, nhất là trong lĩnh vực truyền thông chính trị, áp lực phải thay đổi cách tiếp cận trong hoạch định và thực hiện chính sách, cũng như nâng cao vai trò của người dân. Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, hình thành các doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh đó, lĩnh vực truyền thông chính trị có vai trò rất quan trọng và cũng chịu sự tác động đa chiều, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, truyền thông chính trị là một quá trình bao gồm các bước: Chủ thể truyền thông (chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước, nhà lãnh đạo) thực hiện cung cấp thông tin cho các thiết chế truyền thông, sau đó, chuyển tải thông tin thành các thông điệp và phổ biến đến người dân. Đồng thời, người dân cũng tác động ngược trở lại và các thiết chế truyền thông cần có khoảng thời gian để phản hồi các nội dung mà người dân quan tâm. Trong bối cảnh chuyển đổi số, quá trình truyền thông chính trị diễn ra nhanh chóng, đòi hỏi các thiết chế truyền thông phải bắt nhịp nhanh với các phương thức, phương tiện và các loại hình truyền thông mới, theo hướng ngày càng hiện đại, hiệu quả, xóa nhòa ranh giới về thời gian, không gian hoặc vị trí địa lý.

Thứ hai, trước yêu cầu ngày càng cao của quá trình truyền thông chính trị, các thiết chế truyền thông cần xây dựng các chiến lược, kế hoạch thực hiện truyền thông khoa học. Bên cạnh đó, người dân được tiếp cận đa dạng hơn các nguồn thông tin, từ chính thống đến các phương tiện truyền thông mới, khiến nhận thức và năng lực tiếp nhận của người dân ngày càng được nâng cao, tác động mạnh mẽ đến quá trình truyền thông chính trị.

Hiện nay, các cơ quan báo chí chủ lực đã và đang xây dựng những phương thức hoạt động truyền thông chính trị ngày càng phù hợp, hiệu quả, cụ thể: Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) chú trọng tính nhanh nhạy, kịp thời phát hiện, đưa tin về những vấn đề mới, “nóng”, được công chúng trong và ngoài nước quan tâm, đồng thời, các chương trình, hoạt động của Đài luôn là cầu nối quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; Thông tấn xã Việt Nam bảo đảm cung cấp kịp thời thông tin thời sự về mọi mặt đời sống xã hội với nguồn tin chính thống được cập nhật liên tục, ngoài ra, chú trọng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng bằng các sản phẩm truyền thông đa dạng, hấp dẫn trên nền tảng công nghệ hiện đại; trong khi đó, Báo Nhân dân vừa là kênh thông tin chính thống, chuẩn mực trong công tác tuyên truyền, có nhiều đóng góp trong các chương trình truyền thông chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, vừa chú trọng xây dựng chiến lược đa dạng hóa đối tượng bạn đọc thông qua các nền tảng số, như đưa vào ứng dụng đọc báo bằng định dạng PDF, đổi mới phương thức tiếp cận bạn đọc trên các phương tiện truyền thông xã hội theo tinh thần “nhân dân ở đâu, Báo Nhân dân ở đó”, chú trọng các chỉ số tương tác trên các nền tảng các phương tiện truyền thông xã hội, như Facebook, Youtube…

Thứ ba, việc tiếp cận, thấu hiểu thông điệp truyền thông của chủ thể truyền thông và người dân có sự khác biệt do vị trí và vai trò của nhà lãnh đạo và người dân là khác nhau. Trong bối cảnh của chuyển đổi số, quá trình trao đổi, nhận thức và tiếp cận thông tin của các chủ thể có độ “vênh” nhất định; đồng thời, khi tiếp nhận thông điệp truyền thông, người dân cũng dễ có sự so sánh với thông tin trên các phương tiện truyền thông xã hội khác. Do đó, đòi hỏi thông điệp của truyền thông chính trị phải có chất lượng, chiều sâu thông tin, gia tăng tính chính xác, chính thống.

Thứ tư, trong bối cảnh của công nghệ số, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có nhiều phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi để chống phá Đảng và Nhà nước ta; do đó, truyền thông chính trị tốt sẽ góp phần đấu tranh hiệu quả với các thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống các hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Để thích ứng với tình hình mới và tận dụng cơ hội mà quá trình chuyển đổi số mang lại, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm chủ động ứng dụng các thành tựu của khoa học - kỹ thuật hiện đại(7); xác định mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp(8). Bên cạnh đó, chuyển đổi số báo chí hướng đến mục tiêu xây dựng các cơ quan báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; làm tốt sứ mệnh thông tin, tuyên truyền phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước; bảo đảm vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội, giữ vững chủ quyền thông tin trên không gian mạng; đổi mới hiệu quả trải nghiệm của độc giả, tạo nguồn thu mới, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nội dung số(9); bảo đảm hoạt động truyền thông chính sách, pháp luật cho người Việt Nam ở nước ngoài(10),…; từ đó, tạo tiền đề cho truyền thông chính trị có các điều kiện để tiếp tục phát triển, người dân được tiếp cận nhanh hơn, đa dạng hơn nguồn thông tin thông qua các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là truyền thông xã hội.

Phóng viên tác nghiệp truyền thông chính tri_Ảnh: TTXVN

Những khó khăn, thách thức

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về chuyển đổi số và báo chí, truyền thông đã được ban hành khá đầy đủ, như Luật Báo chí (năm 2016), Luật An ninh mạng (năm 2018), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015),... và các văn bản dưới luật khác; quy định rõ khung hình phạt đối với các loại hình tội phạm chia sẻ thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi xấu, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của tập thể, cá nhân. Tuy nhiên, hành lang pháp lý về lĩnh vực này vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, chưa bắt kịp và phù hợp với thực tiễn; việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn chậm trễ, quy trình áp dụng, xử lý các hành vi vi phạm còn thiếu chặt chẽ; cách hiểu và vận dụng pháp luật ở nhiều bộ, ngành, địa phương có sự khác nhau dẫn đến có biểu hiện “nhờn luật”.

Thứ hai, trong bối cảnh chuyển đổi số, các hoạt động của Đảng và Nhà nước hiện diện trên môi trường số, nên yếu tố cung cấp thông tin, truyền thông một cách nhanh chóng, thuận tiện và kịp thời là rất quan trọng, nhất là khi các dòng thông tin thay đổi liên tục, không phụ thuộc vào thời gian, không gian. Yêu cầu về tính đa dạng và tốc độ thông tin gây áp lực không nhỏ đối với các chủ thể truyền thông. Hiện nay, có khoảng 77 triệu người Việt Nam đang sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội (chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên); lượng người dùng cũng có xu hướng tăng nhanh (năm 2022 tăng 6,9% so với năm 2021) cho thấy tiềm năng to lớn của các phương tiện truyền thông xã hội, ngày càng có sự chiếm lĩnh không gian thông tin, kéo theo năng lực truyền thông chính trị rộng mở(11). Tuy nhiên, thông tin thiếu tính xác thực, độ bảo mật không cao... cũng đặt ra nhiều vấn đề trong truyền thông chính trị bằng các phương tiện truyền thông xã hội. Bên cạnh đó, việc tiếp nhận, phản hồi của người dân thông qua các phương tiện truyền thông xã hội của các cơ quan quản lý nhà nước, nhà lãnh đạo còn tương đối chậm và chưa hiệu quả.

Thứ ba, các cơ quan báo chí, truyền thông phải đối mặt với nhiều thách thức, sức ép lớn từ sự thay đổi về phương thức tổ chức, quản lý theo mô hình tòa soạn hội tụ, mô hình đa nền tảng và công nghệ; chuyển dịch phương thức truyền thông để tiếp cận đa dạng công chúng; thông qua ứng dụng công nghệ và kỹ thuật để định hướng, dẫn dắt công chúng, đặc biệt đối với các hoạt động mang tính định hướng như hoạt động truyền thông chính trị. Mặt khác, các loại hình báo chí, truyền thông mới ra đời, truyền thông xã hội có thể tiếp cận đại đa số công chúng một cách nhanh chóng, khiến việc cung cấp thông tin truyền thông nói chung, truyền thông chính trị nói riêng ở các thiết chế truyền thông truyền thống cũng gặp trở ngại, từ việc tổ chức, quản lý đến khâu phát hành trên các phương tiện truyền thông.

Thứ tư, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cơ quan báo chí còn chậm, đặc biệt là tuyên truyền đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chính trị; công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa kịp thời, định hướng nội dung chưa rõ nét,... Nội dung và hình thức thông tin, tuyên truyền, đấu tranh còn thiếu hấp dẫn, chưa phù hợp với đối tượng truyền thông.

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông chính trị thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI, “Về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông, “Về việc ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội”; Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng hoạt động truyền thông, báo chí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông”; Chỉ thị số 7/CT-TTg, ngày 21-3-2023, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách”,…; đặc biệt là Quyết định số 407/QĐ-TTg, ngày 30-3-2022, của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”, trong đó, nhấn mạnh cần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác truyền thông dự thảo chính sách, đồng thời, hoàn thiện chính sách, thể chế về công tác truyền thông dự thảo chính sách,… Mặt khác, cần thống nhất quan điểm, chủ trương về truyền thông chính trị, trong đó, chú trọng tăng cường các nội dung tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; truyền thông bảo vệ Đảng, nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế,... Bên cạnh đó, truyền thông chính trị cần được coi là cơ sở để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần vào thành công chung trong nhiệm vụ nhận diện, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ hai, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động truyền thông chính trị; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, chất lượng hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các ấn phẩm báo chí, truyền thông và không gian mạng. Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nhận thức lý luận chính trị cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý, phóng viên, biên tập viên báo chí, truyền thông. Mặt khác, cần nâng cao vai trò của các cơ quan báo chí chủ lực, như Báo Nhân dân, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ,… trong truyền thông chính trị, truyền thông chính sách.

Thứ ba, tăng cường rà soát, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng như nghiên cứu các giải pháp quản lý truyền thông nói chung, truyền thông chính trị nói riêng, bảo đảm phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới; nâng cao chất lượng, quản lý chặt chẽ hoạt động và hiệu quả của nhà quản lý, nhà cung cấp dịch vụ và người dùng internet, mạng xã hội; phân định rõ chức năng, đối tượng, vai trò của báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử,... Bên cạnh đó, xây dựng các thiết chế rà soát, xử lý thông tin sai lệch, bao gồm bảo đảm tính minh bạch thông tin; ban hành quy định pháp lý chặt chẽ, nghiêm minh về việc xử lý những đối tượng sản xuất, phát tán tin giả, tin không chính xác, gây thiệt hại cho cộng đồng.

Thứ tư, báo chí, truyền thông cần coi trọng, kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; truyền bá, phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời, nghiên cứu, kế thừa tinh hoa giá trị và các thành tựu mới của nhân loại. Xây dựng chiến lược, nội dung truyền thông chính trị toàn diện, thường xuyên và lâu dài, sử dụng nhiều loại hình báo chí, truyền thông khác nhau, cách thức thể hiện nội dung hấp dẫn, thuyết phục. Các cơ quan báo chí lớn dựa trên tiềm lực về công nghệ và mạng lưới phóng viên, cộng tác viên chủ động tham gia xây dựng các dự án kiểm chứng thông tin, góp phần phục vụ hiệu quả công tác truyền thông chính trị; nâng cao trách nhiệm, nhận thức trong phát hiện tin giả, tin xấu, độc, tin chống phá Đảng và Nhà nước, từ đó, giúp người dân hiểu rõ tác hại của tin giả và có ý thức tránh phát tán, chia sẻ những nội dung sai lệch.

Thứ năm, các cơ quan báo chí, truyền thông phát huy vai trò dẫn dắt thông tin chính thống, định hướng dư luận xã hội tích cực, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, hiểu biết xã hội, gia tăng sức “đề  kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch trong các tầng lớp nhân dân, cộng đồng mạng; đồng thời, thông điệp truyền thông đưa ra cần định hướng người dân vào những suy nghĩ, cách nhìn tích cực, ngôn ngữ sử dụng nên rõ ràng, tránh bị suy diễn(12). Bên cạnh đó, tích cực đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền hấp dẫn, nhanh chóng, chính xác; cập nhật, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ kỹ thuật, phương tiện đấu tranh hiện đại, nhất là các tiện ích mới nhằm thu hút công chúng tham gia chia sẻ; chú trọng xây dựng hệ thống thiết chế, phương tiện, kỹ thuật đủ mạnh, đủ khả năng tham gia và cạnh tranh với các tập đoàn truyền thông trên thế giới./.

ST.

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2024

"THẦY BÓI XEM VOI" THỜI ĐẠI 4.0!

     Câu chuyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” chắc hẳn rằng là người Việt Nam chúng ta đều đã được nghe. Qua đó, ông cha ta có ý phê phán những kẻ thiếu hiểu biết, phiếm diện, bảo thủ, chủ quan, có cách nhìn nhận sai lệch. Đối với câu chuyện của "Tân" có thể thông cảm nếu anh ta bị KHUYẾT TẬT VỀ MẮT VÀ TAI như những thầy bói kia!

Tuy nhiên, đó sẽ là một câu chuyện khôi hài nếu trong thời đại 4.0, công nghệ thông tin bùng nổ mà anh ta vẫn không biết gì nhưng lại rất thích thể hiện, kiểu “ếch ngồi đáy giếng” còn kêu to. Và đó là câu chuyện của Việt Tân khi đăng trên trang Facebook với nội dung: “Cho đến 2023, nghiệm lại chưa thấy một đất nước cộng sản nào trên thế giới mà người dân của họ được cơm no, áo ấm và cuộc sống hạnh phúc”. Chúng ta hãy cùng vén màn, mở mắt khai thông trí tuệ cho các anh hùng bàn phím.

Để có minh chứng hùng hồn nhất cho luận điệu trên là sai, chúng ta hãy cùng nhìn lại đất nước Việt Nam chúng ta, nhìn lại sự vươn mình trỗi dậy của một đất nước nhỏ bé. Việt Nam, từ một nước thuộc địa, đói kém, trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, qua bao cuộc đấu tranh ác liệt chống lại ách thống trị của các thế lực đế quốc sừng sỏ, tàn bạo để giành lấy độc lập cho nước nhà.

Sau khi dẹp thù trong, giặc ngoài, Việt Nam xây dựng đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã dành được những kết quả đáng tự hào như văn kiện đại hội XIII xác định “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay”

Theo Báo Xây dựng Đảng ngày 18/12 /23 cho biết:
“Sau 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển ấn tượng với những kết quả nổi bật như quy mô kinh tế Việt Nam tăng gấp 12 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng 29,5 lần, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 22 lần, tỷ lệ hộ nghèo cả nước từ 58% năm 1993 xuống chỉ còn 2,23% năm 2021 tính theo chuẩn mới.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu và còn thiếu ăn, Việt Nam đã vươn lên thành trở thành nước có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt 2.779 USD vào năm 2020 và là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.” Như vậy, không chỉ chúng ta ăn no, mặc ấm, mà còn ăn ngon, mặc đẹp.

Xét về chất lượng cuộc sống, theo tạp chí CEOWORLD, Việt Nam đứng thứ 62/165 quốc gia có chỉ số chất lượng cuộc sống tốt, đạt 78,49/100 điểm.
Không những thế, Báo cáo thường niên Expat Insider 2023 của InterNations đã thực hiện khảo sát 12.000 người từ 171 quốc gia, Việt Nam còn nằm trong top 15 quốc gia là điểm đến tốt nhất cho người nước ngoài. Trong đó, có một tiêu chí mà chúng ta “bất khả chiến bại” là có giá cả phải chăng. Người nước ngoài mà còn nhận xét như vậy, chắc chắn chúng ta lại còn cảm thấy sung túc, đầy đủ hơn rất nhiều.

Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2023, Việt Nam đứng thứ 58 trong số các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. So với năm trước, vị trí của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022. Con số đó ngày càng được rút dần một cách nhanh chóng. Đó là tín hiệu đáng mừng, khẳng định con đường từ vực thẳm, bùn đen chúng ta vươn lên, trỗi dậy một cách mạnh mẽ; khẳng định thêm vai trò lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa.

Những con số trên là hoàn toàn khách quan, là những minh chứng rõ ràng nhất cho một đất nước đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ở đó người dân có được độc lập, tự do, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Một đất nước không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ kẻ xâm lược nào.
Bên cạnh chúng ta, một trong những cường quốc lớn mạnh nhất thế giới, cũng đang đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Vậy mà các thế lực phản động vẫn cố gắng lờ đi, xem như không có sự hiện diện đó của cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Ngoài ra, các đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa còn lại, có thể chưa thật sự hùng cường, nhưng chắc chắn, ở đó, người dân được sống trong tự do, phát huy được quyền làm chủ, không bị áp bức, bóc lột, không bị làm nô lệ.

Quay trở lại với phát biểu của Việt Tân, có thể nói, chúng đang ngậm máu phun người. Chúng tự treo cho mình một cái biển dân chủ, để khi nào không ai nhìn thấy mà đứng ra hô hoán như những kẻ vô tri. Thật đáng trách và đáng thương. Đáng trách là vì lộng ngôn, thốt lên những lời trái sự thật, gian dối, mỵ dân, mang tính kích động, xúi dục, cổ xúy cho những hành động chống phá đất nước, phủ nhận công sức, thành quả xây dựng đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đáng thương vì chúng chỉ là lũ tay sai, lầm đường lỡ bước không có lối thoát cho mình, buộc phải làm con rối để được trả công, sống cuộc sống chui lủi, không dám bước ra ánh sáng.
Những hành động đó của chúng chắc chắn sẽ không thể làm thay đổi được sự thật, không làm cho bất kỳ một người dân yêu nước nào nao núng. Ngược lại, sự việc đó chỉ làm cho chúng ta nhìn rõ hơn bộ mặt thật của các anh hùng “Dân chủ giả tạo” trên bàn phím.
Qua sự việc này có thể thấy, câu chuyện thầy bói xem voi là có thật!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁCH XỬ LÝ KHI MẤT SỐ ĐIỆN THOẠI ĐĂNG KÝ TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG!

     Trường hợp bị mất số điện thoại đăng ký tài khoản ngân hàng, người dùng chỉ cần liên hệ nhà mạng hoặc đến phòng giao dịch để đổi số điện thoại đăng ký tài khoản!

Liên hệ nhà mạng để khôi phục số điện thoại
Nếu đánh mất sim đăng ký tài khoản ngân hàng, cần liên hệ ngay với nhà mạng hoặc đến điểm giao dịch gần nhất để đăng ký lại sim. Tùy theo từng nhà mạng mà thủ tục thực hiện sẽ khác nhau. Dưới đây là một số bước cơ bản:
Bước 1: Liên hệ ngay với tổng đài để nhờ nhân viên hỗ trợ khóa sim sau khi đánh mất.

Bước 2: Đến cửa hàng giao dịch gần nhất và mang theo đầy đủ giấy tờ cá nhân bao gồm: CMND/CCCD/Hộ chiếu bản gốc.

Bước 3: Điền các thông tin chính xác vào giấy tờ được cấp tại cửa hàng giao dịch. Nhân viên sẽ thực hiện cấp lại sim.

Sau khi lấy lại được sim và đăng ký chính chủ, người dùng hoàn toàn có thể đăng nhập vào tài khoản ngân hàng và thực hiện giao dịch như bình thường. Trong quá trình đăng nhập xảy ra lỗi, khách hàng có thể liên hệ với hotline của ngân hàng để được hỗ trợ.

Đến phòng giao dịch đổi số điện thoại đăng ký tài khoản

Trong trường hợp không lấy lại được sim, hãy thay số điện thoại khác và đến phòng giao dịch/chi nhánh ngân hàng gần nhất để thực hiện thủ tục đổi số điện thoại đăng ký tài khoản ngân hàng. Thủ tục thực hiện gồm các bước sau:
Mang giấy tờ tùy thân đến chi nhánh ngân hàng gần nhất

Đến chi nhánh/phòng giao dịch ngân hàng gần nhất để yêu cầu đổi số điện thoại. Khi đi mang theo giấy tờ tùy thân như CMND/CCCD/hộ chiếu và xếp hàng chờ giao dịch.

Cung cấp thông tin cá nhân
Khách hàng cần cung cấp thông tin cá nhân cho nhân viên giao dịch và yêu cầu đổi số điện thoại đăng ký tài khoản ngân hàng đang sử dụng.

Xác nhận thông tin thay đổi
Sau khi hoàn tất, nhân viên ngân hàng sẽ kiểm tra và thay đổi thông tin số điện thoại trên hệ thống. Khách hàng sẽ nhận được một tin nhắn SMS để xác nhận việc thay đổi qua số điện thoại vừa đăng ký. Sau 10 - 15 phút, khách hàng có thể đăng nhập Mobile Banking/Internet Banking bằng số điện thoại mới và thực hiện các hoạt động giao dịch./.

Yêu nước ST.

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2024

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Tập Cận Bình trao đổi điện mừng

Nhân kỷ niệm 74 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc (18/1/1950-18/1/2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã trao đổi điện mừng với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao đổi điện mừng với Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Cường. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trao đổi điện mừng với Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc Triệu Lạc Tế.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cũng đã trao đổi điện mừng với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị.

Thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc về tổng thể duy trì xu thế phát triển và đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt sau chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn ra các ngày 30/10-1/11/2022.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân ngày 12-13/12/2023, hai bên ra tuyên bố chung về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược. 

Năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 175,56 tỷ USD (tăng 5,47%); trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,7 tỷ USD, nhập khẩu đạt 117,86 tỷ USD, nhập siêu 60,17 tỷ USD.

Theo số liệu của Trung Quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2022 đạt 234,9 tỷ USD, tăng 2,1%. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác thương mại lớn thứ 4 trên thế giới tính theo quốc gia đơn lẻ, sau Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Trong 8 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc đạt 105,5 tỷ USD, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm 2022.

Về đầu tư, trong 8 tháng đầu năm, đầu tư của Trung Quốc đạt gần 1,3 tỷ USD với 399 dự án, là nhà đầu tư FDI lớn thứ 2 tại Việt Nam (sau Singapore). Trung Quốc duy trì vị trí thứ 6 trên tổng số 143 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư FDI vào Việt Nam với 3.949 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt hơn 25,8 tỷ USD.

Về du lịch, Trung Quốc nhiều năm dẫn đầu về lượng du khách đến Việt Nam; riêng năm 2019 đạt hơn 5,8 triệu lượt người, chiếm 1/3 tổng khách quốc tế đến Việt Nam. Từ tháng 2/2020, do dịch Covid-19 bùng phát, hợp tác du lịch giữa hai nước tạm thời bị gián đoạn.

Từ ngày 15/3/2023, Trung Quốc chính thức khôi phục cho phép các đoàn khách du lịch đi Việt Nam, mở lại một số tuyến bay thương mại giữa các địa phương hai nước (Hà Nội - Bắc Kinh) và điều chỉnh chính sách thị thực, xuất nhập cảnh, kiểm dịch y tế đối với người nước ngoài đến Trung Quốc.

 

Ý nghĩa quan trọng của kỳ họp Quốc hội bất thường lần thứ 5

"Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV diễn ra trong những ngày đầu năm mới 2024 - năm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và hướng tới Đại hội XIV của Đảng", Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh khi phát biểu khai mạc kỳ họp bất thường lần thứ 5, sáng 15/1.

Theo ông Huệ, những nội dung được Quốc hội quyết định tại kỳ họp này có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm 2024 và cả nhiệm kỳ mà còn có ý nghĩa căn cơ, chiến lược, lâu dài.

4 nội dung quan trọng được Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp bất thường lần thứ 5 cũng được ông Vương Đình Huệ khái quát.

Với Dự án Luật Đất đai sửa đổi, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tái khẳng định đây là dự án luật lớn, rất khó và phức tạp, có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của đất nước.

Dự luật này cũng có tác động sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Sau kỳ họp thứ 6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phối hợp chặt chẽ, chỉ đạo các cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo luật.

Dự thảo Luật sau khi được tiếp thu, chỉnh lý gồm 16 chương và 260 điều (bỏ 05 điều, chỉnh lý 250 điều so với dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6).

Đến nay, dự thảo luật đã quán triệt đầy đủ và thể chế hóa các quan điểm, nội dung của Nghị quyết số 18 của Trung ương, phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật, đủ điều kiện để trình Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần trách nhiệm cao, tiếp tục cho ý kiến về dự án luật, tập trung vào những vấn đề lớn, quan trọng, đảm bảo chất lượng cao nhất và xem xét, biểu quyết thông qua tại kỳ họp này.

Với Dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), ông Huệ đánh giá cơ quan chủ trì thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tập trung chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến xử lý tình trạng sở hữu chéo, hạn chế việc chi phối, thao túng tổ chức tín dụng; quy định minh bạch về cơ chế tài chính, hạch toán, quản trị các tổ chức tín dụng.

Các vấn đề về can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, chuyển giao bắt buộc, phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt; xử lý nợ xấu, tài sản đảm bảo các khoản nợ xấu; tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tổ chức tín dụng… cũng đã được chỉnh lý, hoàn thiện.

Chủ tịch Quốc hội nhận định, Dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) có nhiều nội dung chuyên sâu, tác động trực tiếp đến chính sách tài chính, tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô.

Ông kỳ vọng nếu luật được thông qua sẽ đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh, minh bạch, ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng…

Ngoài 2 dự thảo luận quan trọng này, kỳ họp bất thường còn xem xét một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện Nghị quyết về giám sát chuyên đề tại Kỳ họp thứ 6, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định áp dụng một số chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả thực hiện 3 Chương trình mục tiêu quốc gia.

Cũng tại kỳ họp bất thường này, Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến và quyết định một số nội dung quan trọng, cấp thiết về tài chính, ngân sách, bao gồm.

Trong đó có việc bổ sung Kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2021-2025 từ nguồn dự phòng chung tương ứng với nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương năm 2022 cho các nhiệm vụ, dự án đầu tư công; bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ nguồn dự phòng của Kế hoạch đầu tư công trung hạn để thực hiện dự án cấp điện từ lưới điện quốc gia cho huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.