Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tiêu cực hiện nay, cần nghiên cứu, vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

1- Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, chủ nghĩa cá nhân không có nhiều điều kiện để phát triển. Khi đã giành được chính quyền, do cán bộ, đảng viên nắm giữ các chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các lĩnh vực gắn liền với nhiều quyền lợi và lợi ích, nên chủ nghĩa cá nhân vị kỷ có môi trường phát triển. Cùng với đó, “sinh trưởng trong một xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen… Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân” (1). Hơn nữa, “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra” (2); “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng” (3). Từ thực tế đó, đồng thời dự báo chiều hướng phát triển của tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian, tâm sức để giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng, phải là công bộc của dân, Chính phủ phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh. Người nhấn mạnh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Nhưng để xây dựng được chính phủ phục vụ nhân dân, thực sự là công bộc của dân, thì việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, trước hết, phải chú ý giải quyết hết các vấn đề liên quan tới đời sống của dân, phải có tinh thần chí công vô tư; đồng thời, nghiêm khắc phê phán, lên án những căn bệnh, như cậy thế, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, óc bè phái đang ngự trị trong đầu óc của không ít cán bộ, đảng viên.

Trong công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước, nhất là khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ có cơ hội phát triển. Số đông cán bộ ta vẫn giữ được truyền thống cách mạng, hết sức trung thành, tận tụy với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, nhưng cũng có cán bộ, đảng viên ỷ thế cậy quyền, ngông nghênh, lấy của công dùng vào việc tư; tư túng, kéo bè kéo cánh, kiêu ngạo, coi khinh dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng”. Những thói hư, tật xấu đó là do cán bộ, đảng viên không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, gian giảo, xảo quyệt. Đây là một kẻ địch bên trong mỗi con người. Đối với đế quốc bên ngoài, ta có thể dùng súng, dùng đạn để bắn. Với kẻ địch trong người thì không thể dùng lựu đạn mà ném vào được. Nó vô hình, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút trong ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Người sa vào chủ nghĩa cá nhân chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, của gia đình mình, mà không nghĩ đến lợi ích chung của tập thể, của Đảng và nhân dân. Nếu có nghĩ đến, thì bao giờ cũng đặt lợi ích của mình và gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung. Đây là một bệnh chính, sinh ra nhiều chứng bệnh khác. Do vậy, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình” (4). “Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể” (5). Người nhấn mạnh, đây là nguyên tắc tối cao của Đảng, là tính Đảng. Mỗi đảng viên phải khắc ghi điều đó (6).

Bác Hồ bên các cháu thiếu nhi_Ảnh: Tư liệu

2- Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung cũng như từng mặt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng; tiến hành nhiều cuộc vận động, chỉnh đốn, làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị; ban hành các chỉ thị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,… Đặc biệt, các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đã được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, thường xuyên, liên tục; được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, đã thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, “lợi ích nhóm”, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Sự suy thoái trên, suy cho cùng là do mắc phải chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, thể hiện trong quan hệ giữa đảng viên với nhau, giữa đảng viên và nhân dân, nhiều người chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình; đặt lợi ích của mình lên trên, lên trước lợi ích của Đảng, Nhà nước, của tập thể, cơ quan, đơn vị. Trong công việc, không ít đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng việc chung để mưu cầu lợi ích cá nhân, đánh bóng tên tuổi. Ở đây là cả lợi ích vật chất và tinh thần. Những người này bề ngoài lấy danh nghĩa là tập thể, việc chung của cơ quan, đơn vị, nhưng thực chất thì chỉ nghĩ làm sao có lợi nhất cho bản thân mình.

Trong quan hệ với nhau, chủ nghĩa cá nhân làm cho ít có sự quan tâm, sẻ chia, giúp đỡ, thiếu tình đồng chí yêu thương lẫn nhau, mà thay vào đó là sự thờ ơ, vô cảm, đố kỵ, ganh tị, kèn cựa địa vị. Không ít người quan tâm đến nhau một cách giả tạo, không xuất phát từ tình yêu thương con người.

Vì cá nhân chủ nghĩa, tham danh lợi, tiền tài, một số cán bộ, đảng viên sẵn sàng sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để tranh quyền, đoạt lợi nhằm đạt được mục đích của mình. Họ nói xấu, hãm hại người tốt, người giỏi, đứng về phe này chống phe kia, hình thành “nhóm lợi ích” cục bộ, bè phái, ê kíp để loại bỏ đối thủ của mình. Không ít cán bộ, đảng viên đã lồng ghép, đan xen lợi ích, phe nhóm mình trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách, khiến nhiều chủ trương, chính sách tốt đẹp bị méo mó, người dân không được thụ hưởng đầy đủ các lợi ích mà chính sách mang lại. Cũng vì lợi ích cá nhân, trong thực thi công vụ, không ít cán bộ, đảng viên đã gây khó dễ, tìm cách “vòi vĩnh” người dân và doanh nghiệp để trục lợi, nhất là trong những ngành, lĩnh vực nhạy cảm, nhiều lợi ích, dễ phát sinh tham nhũng, như quản lý đất đai, bất động sản, tài chính - ngân hàng, đầu tư công,…; thậm chí, có sự móc ngoặc giữa cán bộ, đảng viên trong cơ quan và giữa các đơn vị, cơ quan khác nhau nhằm bòn rút tiền của, tài sản của nhân dân. Những vụ án, vụ việc trong thời gian gần đây, ví như vụ Việt Á, vụ án ở Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC)… đã minh chứng cho điều này, làm suy giảm vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; suy giảm niềm tin của nhân dân, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Các đại biểu tham quan Triển lãm "Khát vọng cống hiến - Lẽ sống thanh niên" trong khuôn khổ Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 - 2027_Ảnh: TTXVN

3- Để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình cho cán bộ, đảng viên.

Để chống chủ nghĩa cá nhân, cần tăng cường, đổi mới hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng gắn với việc thực hành chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, phải khắc sâu lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là công bộc của dân.

Cán bộ, đảng viên cần xây dựng tác phong liêm chính, chí công vô tư, tính tổ chức, ý thức kỷ luật, đi sâu, đi sát, gần gũi với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe nhân dân. Từ lời ăn tiếng nói đến mỗi cử chỉ, hành động phải chuẩn mực, đúng đắn. Trong giải quyết công việc, phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước. Nếu lợi ích chung của Đảng, của nhân dân mâu thuẫn với lợi ích của cá nhân thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng, của nhân dân. Chỉ khi làm được điều đó, uy tín, vị thế, niềm tin của nhân dân với Đảng cầm quyền mới được củng cố và tăng cường.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, xem đây là vũ khí sắc bén để giáo dục cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thông qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên sửa chữa được khuyết điểm, phát huy ưu điểm, ngày càng tiến bộ. Cần thực hiện tự phê bình và phê bình với một thái độ thành khẩn, tinh thần xây dựng, đoàn kết, thân ái, vì sự tiến bộ của tổ chức, đoàn thể, của đồng chí và của chính bản thân mỗi người.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiểm soát quyền lực.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng và tiêu cực, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quản lý kinh tế - xã hội, nhất là trong những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Chú trọng hoàn thiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là của những người ở những vị trí và lĩnh vực công tác có nguy cơ tham nhũng cao; cũng như cơ chế bảo vệ và khen thưởng người tố cáo tham nhũng; kiên quyết, kiên trì xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng, các chế tài trừng trị, răn đe để không dám tham nhũng và cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng.

Rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền càng cao trách nhiệm càng lớn, không để bất kỳ quyền lực nào, dù lớn đến đâu, đứng ngoài sự kiểm tra, giám sát; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm tập thể và cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm.

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ. Đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, công khai, bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân và báo chí.

Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhất là nhân dân có vai trò rất lớn trong việc giám sát, phản biện xã hội, đấu tranh chống các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực.  Thiết lập và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài nhà nước thông qua vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và hoạt động của báo chí, truyền thông. Cần phát huy được tối đa sự tham gia của đông đảo nhân dân, “phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” (7). Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để nhân dân tích cực, chủ động tham gia chống tham nhũng, tiêu cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không muốn liêm cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM” (8).

Để phát huy tốt hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và của báo chí, các cấp ủy, chính quyền cần nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những phản ánh về các biểu hiện suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, “lợi ích nhóm” trong cán bộ, đảng viên; xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí…

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan báo chí, giữa các cơ quan báo chí với nhau trong việc thông tin, tuyên truyền về công tác phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan báo chí, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan kiểm tra, thanh tra, các bộ, ngành liên quan… để giải quyết, xử lý những vụ việc do báo chí phát hiện.

Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền.

Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tấm gương của người đứng đầu có tác động rất lớn đến suy nghĩ, tư tưởng, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

Trong thời gian qua, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” diễn ra gây bức xúc trong xã hội, để lại hậu quả nghiêm trọng đều liên quan đến vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Khi người đứng đầu sa vào chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh của cơ quan, đơn vị, bản thân người lãnh đạo, tác động tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm, làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng. Ngược lại, nếu người đứng đầu có đạo đức, nhân cách, năng lực chuyên môn, có tác phong liêm chính, hết lòng vì sự phát triển của cơ quan, đơn vị sẽ được mọi người kính trọng, có tác dụng dẫn dắt tư tưởng và hành động đối với cán bộ, đảng viên, góp phần vào sự thành công của mọi chủ trương, đường lối cũng như củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Bên cạnh việc phát huy vai trò nêu gương, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, xử lý nghiêm người đứng đầu trong việc để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” tại tổ chức, cơ quan, đơn vị mình trực tiếp quản lý.  Thực tế cho thấy, “nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, xảy ra khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Để xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, cần đổi mới phương thức tuyển chọn, đánh giá bổ nhiệm cán bộ, đổi mới việc bầu cử trong Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ./.

ST.

Phản bác luận điệu xuyên tạc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “đấu đá nội bộ, phe cánh”

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm để tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội, nhất là về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta. Chúng rêu rao rằng, “đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái”…(?!). Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc, nhằm làm giảm sút uy tín của Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn trên, đồng thời phải tích cực đấu tranh phản bác.

Cần “phương thuốc đặc trị” cho căn bệnh tham nhũng

“Bệnh tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt trong một thuật ngữ chung nhất là tham ô. Người cho rằng: “Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân”. Đó là “giặc nội xâm”, là loại giặc “vô hình, vô cảm”, là “kẻ địch trong người, trong nội bộ” vô cùng nguy hiểm. Nó “luôn luôn lẩn lút trong mình ta”, “khó thấy, khó biết”; đó là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phải làm cho quần chúng nhân dân khinh ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân,…

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (năm 1994), Đảng ta xác định tham nhũng và tệ quan liêu là một trong bốn nguy cơ, thách thức lớn, cản trở công cuộc đổi mới đất nước. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII khẳng định: “Tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”; Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta”. Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đầy lùi... Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”(6).

Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay” xác định, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Đại hội lần thứ XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí”. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Như vậy, việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra; từ vị thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng; từ đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các “phe cánh”, mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững, củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đồng chí Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực_Ảnh: Tư liệu

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực khẳng định sức mạnh của kỷ luật đảng, không có trường hợp ngoại lệ đối với bất kỳ ai nếu lòng dạ không trong sáng; nói và làm trái với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; vi phạm những điều đảng viên không được làm; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe nghiêm khắc đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không tham lam, không hám danh lợi, chức tước, bổng lộc. Từ đó, khơi dậy ý chí, khát vọng vươn lên không ngừng trong toàn xã hội, ở mọi lĩnh vực, ngành nghề; động viên, khích lệ, cổ vũ nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh”.

Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW, ngày 1-2-2013, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban chỉ đạo, nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của toàn xã hội, tạo ra tâm lý phấn khởi, khí thế mới trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131.000 đảng viên. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến tháng 12-2020, đã thi hành kỷ luật hơn 87.000 cán bộ, đảng viên, trong đó, có trên 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.

Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 11-2022, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 69 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có 7 Ủy viên Trung ương Đảng, 6 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng gồm 5 bộ trưởng, nguyên bộ trưởng; 7 bí thư, nguyên bí thư tỉnh ủy; 2 chủ tịch, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; 18 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng và tương đương; 13 chủ tịch, nguyên chủ tịch tỉnh; 4 nguyên phó bí thư thường trực tỉnh ủy; 20 sĩ quan cấp tướng.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát các tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp khi có dấu hiệu vi phạm để xử lý kỷ luật theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Nhiều vụ án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đã để lại những hậu quả lớn, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, được cơ quan, chức năng phát hiện, điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử trước pháp luật, như: Vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao); các vụ án xảy ra tại Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Công ty AIC; vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát… Đặc biệt, sau khi ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh được thành lập, kiện toàn, nhiều địa phương đã tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát, khởi tố, truy tố nhiều tập thể, cá nhân có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy, sức mạnh và uy tín của Đảng ngày càng được củng cố, tăng cường, nội bộ đoàn kết, thống nhất, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Cùng với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng, Nhà nước tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Năm 2022, tăng trưởng GDP của cả nước ước đạt 8,02%, mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2022. Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của một nền kinh tế đều phục hồi, phát triển mạnh. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2021. Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 25 nền kinh tế hàng đầu thế giới về thương mại. Công tác phát triển văn hóa, xã hội được đặc biệt quan tâm. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Những kết quả thực tiễn nêu trên là minh chứng thuyết phục, đập tan luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch khi cho rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”. Đồng thời khẳng định, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là đúng đắn, kịp thời, hiệu quả. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nhụt ý chí, chùn bước, ngược lại càng làm đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thêm tin tưởng, phấn đấu cho sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 24 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương _  Ảnh: TTXVN

Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Hiện nay, bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt, phức tạp hơn, nhất là tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi, còn xảy ra ở nhiều nơi, ở hầu hết các lĩnh vực… Thực tế đó đòi hỏi phải tiếp tục giương cao ngọn cờ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đồng thời, đập tan luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Một là, đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng để tăng cường sức mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng: “Nhất hô bá ứng”, “Tiền hô hậu ủng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt” để nói lên sự đoàn kết, thống nhất về nhận thức, hành động, vì sự nghiệp cách mạng chung và công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng. Theo đó, trong chính nội bộ Đảng phải trên dưới đồng chí, đồng lòng, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực; tránh nói khác, làm khác với quan điểm, chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, cần gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân, giữ gìn đạo đức cách mạng trong sáng, hết lòng, hết sức vì nhiệm vụ chung.

Hai là, phát huy vai trò nêu gương của lãnh đạo chủ chốt các cấp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Lãnh đạo chủ chốt các cấp phát huy vai trò nêu gương trong công việc, đời sống, sinh hoạt hằng ngày, phải thực sự liêm khiết, chính trực, nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều; nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương; là hạt nhân đoàn kết, quy tụ sức mạnh trí tuệ của tập thể trong thực hiện các nhiệm vụ; xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; luôn đặt lợi ích của Đảng, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Khi phát hiện trong cơ quan, đơn vị, địa phương có dấu hiệu bè phái, cục bộ, nội bộ không đoàn kết, thống nhất, cần chấn chỉnh, xử lý dứt điểm, không để kéo dài; đặc biệt, cán bộ chủ chốt các cấp phải có “đức, tầm, tâm, trí” trong điều hành, giải quyết những việc khó, việc mới, các vấn đề phức tạp nảy sinh nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất cho cơ quan, đơn vị, địa phương phát triển. Lãnh đạo chủ chốt các cấp ngoài năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý, cần phải thực sự trong sạch, coi trọng danh dự, uy tín. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất.

Ba là, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, “kiểm tra, giám sát là thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương. Theo đó, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát, nhất là tập trung vào những nội dung trọng tâm, trọng điểm dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như đấu thầu, giải phóng mặt bằng, xây dựng công trình, dự án, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ…; nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp. Các thành viên của ủy ban kiểm tra các cấp nắm rõ chức trách, nhiệm vụ; tiến hành kiểm tra, giám sát khách quan, công tâm, minh bạch, không được có động cơ cá nhân, áp đặt, bao che; có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, điều tra, truy tố, xét xử.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tham khảo có chọn lọc mô hình, kinh nghiệm, cách thức phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở các nước trên thế giới… Trên cơ sở các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cấp ủy các cấp cụ thể hóa vào điều kiện cụ thể ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương; rà soát, điều chỉnh, bổ sung những quy định của đơn vị đúng với tinh thần chỉ đạo của Trung ương; phát huy vai trò, trách nhiệm của bộ phận tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong phát hiện và lấp những “lỗ hổng” pháp lý để cán bộ, đảng viên không dám, không thể và không muốn tham nhũng, tiêu cực./.

ST.

Tổng kết các phương pháp tiếp cận để tiếp tục phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong tiến trình tìm tòi, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã có những đột phá và sáng tạo lý luận nổi bật, góp phần đưa nước ta đạt được những thành tựu, to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Để có được những sáng tạo lý luận ấy, nhiều phương pháp tiếp cận đã được áp dụng và rất cần được tổng kết kỹ lưỡng, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển, nâng tầm lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hướng tới 40 năm đổi mới.

Vai trò của tổng kết các phương pháp tiếp cận trong phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), một hệ thống tri thức và phương pháp luận từ quá trình vận dụng lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đã được đúc kết thành hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống đó là kết quả của sự vận dụng, chuyển hóa từ lý luận CNXH khoa học của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam; tạo thành cơ sở lý luận, nguyên lý và phương pháp để giải quyết các vấn đề thực tiễn của sự nghiệp đổi mới.

Các tổng kết lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, các công trình nghiên cứu đều thống nhất khẳng định vai trò hàng đầu của hệ thống lý luận này, coi đây là nguyên nhân cơ bản của những thành tựu “to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của quá trình đổi mới đất nước, làm cho nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Theo đó, việc tổng kết thực tiễn nghiên cứu và phát triển lý luận thời kỳ đổi mới cũng là một hướng đi quan trọng để khẳng định tầm vóc, giá trị cùng những vấn đề đặt ra cần giải quyết một cách thấu đáo, toàn diện và khoa học nhằm phát triển lý luận về CNXH ở Việt Nam trong bối cảnh mới. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới _Ảnh: Tư liệu

Trong các hướng, lĩnh vực tổng kết lý luận về CNXH thời kỳ đổi mới, rất cần có sự tổng kết về phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận. Lĩnh vực này tuy là “công cụ” nghiên cứu, nhưng lại có vai trò quan trọng, vì cũng như trong sản xuất công cụ là yếu tố quyết định năng suất, hiệu quả thì quá trình tổng kết này còn có thể mở ra những hướng nghiên cứu mới và trực tiếp góp phần đổi mới tư duy.

Trên thực tế, tổng kết lý luận về thời kỳ đổi mới nói chung hay về một lĩnh vực là CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nói riêng, đã được triển khai ở nhiều cấp độ, lĩnh vực chuyên ngành...; theo đó, chủ thể tổng kết có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây, phương pháp duy vật lịch sử vẫn là nền tảng cơ bản, nhưng khi các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tiếp hợp và kết hợp với phương pháp nền tảng ấy, thì cả hai cùng đều đạt tới một trình độ mới trong phát hiện và phân tích. Tổng hợp lại, chúng ta sẽ có một cái nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về quá trình phát triển lý luận, nhất là về cách thức, chủ thể, động lực, lộ trình phát triển tư duy..., để hình thành nên khoa học về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Tổng kết các phương pháp tiếp cận còn có vai trò quan trọng trong việc góp phần hệ thống hóa phương pháp, tư tưởng của Đảng; góp phần phát triển tư duy khoa học chính trị - xã hội, dần định hình “khoa học chính trị” mang bản sắc Việt Nam trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó, chính việc tiến hành tổng kết sẽ bổ sung những cách tiếp cận mới để tiếp tục giải quyết những vấn đề lý luận chưa được làm rõ, góp phần xử lý các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn đổi mới hiện nay. Và qua đây, từ góc độ phương pháp, việc tổng kết các cách thức tiếp cận cũng góp phần xác định “Lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” như một khoa học. Với ý nghĩa đó, việc tổng kết phương pháp nghiên cứu không chỉ là công việc mang tính lý thuyết, hàn lâm, mà còn có vai trò, tầm quan trọng không thể xem nhẹ, nhất là trong “định hình” và “định hướng” lý luận về CNXH và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Xét về nguyên tắc, nội dung, mục đích nghiên cứu là yếu tố quyết định cho phương pháp và cách tiếp cận trong nghiên cứu, nhưng cần phải thấy rằng, một góc nhìn mới cũng có thể giúp thấu thị thêm các tầng bản chất của sự vật, hiện tượng hoặc giúp cho chủ thể có thể đưa ra được những kiến giải mới, cách thức mới trong khi giải quyết các nan đề. Với nhận thức như vậy, giới nghiên cứu nước ta đã khá mạnh dạn trong mở rộng hướng tiếp cận nghiên cứu; trong đó, có các phương pháp tiếp cận khác nhau, khá phong phú và đa dạng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. 

Khái quát về các phương pháp tiếp cận chủ yếu và những gợi mở nhằm tiếp tục phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Những phương pháp tiếp cận chủ yếu đã được sử dụng thời gian qua 

Tiếp cận từ giác độ thực tiễn

Trước đây, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã xây dựng, vận dụng quan điểm thực tiễn, “đứng vững trên mảnh đất hiện thực”, soi chiếu nó bằng phương pháp duy vật lịch sử và làm cho CNXH chuyển biến từ không tưởng thành khoa học. Đối với Việt Nam, tiếp cận vấn đề thực tiễn chính là phải chỉ ra được những khó khăn, bất cập, ách tắc, sai lầm, khuyết điểm... mà sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam gặp phải và cần có sự dẫn đường, trợ lực của lý luận để soi rọi, giải quyết.

Muốn thấy rõ vấn đề thực tiễn và giải quyết được vấn đề thực tiễn thì trước hết phải đổi mới tư duy theo hướng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”; từ đó, không chỉ khẳng định các thành tựu đạt được, mà còn phải dũng cảm, thẳng thắn vạch ra những sai lầm, như trong bố trí cơ cấu kinh tế, phân phối, lưu thông, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và cả trong cơ chế quản lý nền kinh tế... Cách tiếp cận này được sử dụng rất rõ ở đầu thời kỳ đổi mới và nhờ đó, Đảng ta đã nhận thức, xác định đúng và trúng nhiều vấn đề thực tiễn nóng bỏng cần phải xử lý, như khủng hoảng kinh tế - xã hội, những bất cập trong cung cách lãnh đạo, quản lý, sự giáo điều, chủ quan, duy ý chí trong quan niệm về CNXH và công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

Từ đây, lại xuất hiện một vấn đề lý luận cơ bản, căn cốt “mà thực tiễn đã vô tình húc phải” (V.I. Lê-nin) và cần phải làm rõ; đó là: CNXH ở Việt Nam là gì và biện pháp nào để xây dựng? Xây dựng CNXH là một quá trình chủ động, tự giác; do đó, nhận thức lý luận đầy đủ, phù hợp với thực tiễn luôn có vai trò quyết định trong xác định tầm nhìn chiến lược, trong hoạch định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng. Cách tiếp cận từ giác độ vấn đề thực tiễn cho thấy rằng, chính nhận thức chưa đầy đủ về CNXH là nguyên nhân sâu xa, từ phía chủ quan, đã dẫn tới những sai lầm, bất cập, khuyết điểm trong quá trình xây dựng CNXH nói chung và trong thời kỳ trước đổi mới nói riêng. 

Vì vậy, việc làm rõ phương pháp tiếp cận thực tiễn không chỉ giúp chúng ta thấy được những vấn đề nổi cộm, cần đến sự soi sáng, dẫn đường của lý luận, mà còn làm rõ hơn nhận thức căn bản, mang tính nguyên tắc: Thực tiễn xây dựng CNXH có vai trò vừa thúc đẩy, vừa kiểm chứng quá trình đổi mới tư duy lý luận về CNXH ở Việt Nam.        

Tiếp cận hệ thống  

Trong phương pháp luận của khoa học hiện đại, lý thuyết hệ thống xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, phát triển nở rộ và được ứng dụng rộng rãi vào nhiều ngành khoa học. Nó không chỉ là sản phẩm của khoa học thông tin - điều khiển học, mà còn là sự xác nhận những nguyên tắc tư duy triết học; đó là: Cần phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể mọi sự vật, hiện tượng, những vấn đề nảy sinh trong sự vận động và quan hệ tác động qua lại giữa các hệ thống. Cách tiếp cận hệ thống này ngày càng được khẳng định trong tư duy quản trị quốc gia.        

Trước các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, muốn cắt nghĩa và giải quyết chúng một cách toàn vẹn, không rơi vào phiến diện, thì tiếp cận hệ thống là cần thiết. Trên thực tế, chúng ta đã triển khai phương pháp này theo 2 phương diện: Thứ nhất, nhận thức lại quan niệm đã có của chúng ta về CNXH, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách toàn vẹn, chỉnh thể, thống nhất và cập nhật; đồng thời, tiến hành nghiên cứu sâu sắc và chỉnh thể tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH để bổ sung vào hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; qua đó, khẳng định cơ sở khoa học của quá trình đổi mới, hiệu chỉnh những nhận thức bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn phát triển mới.

Tiếp cận hệ thống lý luận về CNXH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cũng chính là một giải pháp có thể đưa ra những gợi ý khoa học cho việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Có thể thấy, hàng loạt các công trình nghiên cứu cấp quốc gia, trọng điểm (các công trình KX từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây) hoặc các nghiên cứu chuyên ngành về cơ sở lý luận của tiến trình đổi mới đã triển khai theo hướng này. Chính cách tiếp cận hệ thống với cơ sở lý luận của CNXH ở Việt Nam đã giúp chúng ta khắc phục được những nhận thức lý luận vừa giáo điều, vừa thiếu khoa học và còn chưa toàn diện... một thời có ảnh hưởng tới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.      

Thứ hai, sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam cũng đã được tiếp cận như một hệ thống chỉnh thể, bao gồm nhiều thành tố, bộ phận tương tác qua lại với nhau; để từ đó, thúc đẩy toàn bộ hệ thống phát triển. Những nghiên cứu về hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế, những tổng kết về các giai đoạn đổi mới theo mốc thời gian (tổng kết về quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam sau 10 năm, 20 năm, 25 năm 30 năm và gần đây là 35 năm đổi mới) đều sử dụng phương pháp hệ thống. Cũng từ phương pháp tiếp cận này, chúng ta có sự bổ sung ở tầm lý luận, làm cho tư duy đổi mới mạch lạc hơn; theo đó, các yếu tố, sự kiện quan trọng được phản ánh khá đầy đủ, nhưng không lan man hoặc sa đà vào những tiểu tiết vụn vặt, mà vẫn làm nổi bật lên các “khâu đột phá”, “trọng tâm”, “trọng điểm”, “then chốt”... 

Tiếp cận mô hình

Trước một sự vật hoặc một hệ thống tương đối phức tạp, để tìm hiểu, nghiên cứu, người ta thường mô hình hóa nó; thêm vào đó, trong khi vận dụng một lý thuyết vào thực tiễn, người ta cũng thông qua một mô hình cụ thể để khai triển. Lý thuyết về phương pháp mô hình và cách tiếp cận mô hình ra đời từ nhu cầu, thực tiễn đó.

Tiếp cận mô hình là hướng tư duy từ thao tác thực tiễn xây dựng CNXH, nói cụ thể hơn, chính là quá trình từ lý luận chuyển hóa thành thực tiễn ở tầm quốc gia và bao giờ cũng phải thông qua một mô hình cụ thể. Chúng ta thấy, trong lịch sử của CNXH hiện thực đã có những khái quát lý luận về “mô hình Liên Xô”, “mô hình Nam Tư”, “mô hình kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp”, “mô hình chuyển đổi”... Mô hình có giá trị gợi mở để chủ thể học tập, tránh mò mẫm; mô hình cũng là sự thử nghiệm để rút kinh nghiệm, sau đó triển khai đại trà trong thực tiễn; ngoài ra, còn có cả mô hình mới để thí điểm, thử nghiệm một tư duy đột phá...

Từ đó, trong lý luận của đổi mới bắt đầu xuất hiện tư duy và cách tiếp cận mô hình, như tiến hành nhận xét, đánh giá, phê phán về mô hình quản lý kế hoạch hóa tập trung; xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); xây dựng mô hình CNXH của Việt Nam trong thời kỳ quá độ; nhận thức chung về mô hình CNXH thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tiếp cận mô hình đã có một số nghiên cứu khởi dẫn(1), là những nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và hoàn thiện dần nhận thức lý luận về các đặc trưng của CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các thao tác khái quát, so sánh, phân tích, tổng hợp trong cách tiếp cận mô hình sẽ giúp chủ thể có thể đưa ra nhận thức về những đặc điểm, đặc trưng, cấu trúc và cách vận hành của một mô hình nhất định.

Hiện nay, chúng ta đang tiến hành xây dựng nhận thức mới về CNXH ở Việt Nam thông qua tiếp cận mô hình với các thuật ngữ, như “đặc trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam”; “con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”; “phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam”; “những mối quan hệ lớn cần được giải quyết”...    

Tiếp cận cơ chế 

Cơ chế là khái niệm được dùng để chỉ một quy luật vận hành của một hệ thống hay một sự vật, hiện tượng nào đó, mà trong nó, sự tương tác giữa các yếu tố với nhau kết thành hệ thống và cũng nhờ vào đó mà hệ thống này hoạt động.

Tiếp cận cơ chế giúp chủ thể nghiên cứu, tổng kết quan sát mối quan hệ giữa các thành tố, sự tương tác lẫn nhau của chúng và để trả lời câu hỏi xây dựng CNXH như thế nào; từ đó, hình thành thuật ngữ “con đường đi lên CNXH của Việt Nam”(2); cơ chế phối hợp giữa các chủ thể xây dựng CNXH: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng cơ chế quản lý mới, mà nổi bật là cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN...

Chúng ta đã tiếp cận cơ chế để đổi mới cơ chế quản lý - khâu đột phá trong đổi mới tư duy vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XX; sau đó, là đổi mới các cơ chế về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cơ chế thực hành dân chủ ở cơ sở cuối những năm 90 của thế kỷ trước; cơ chế xây dựng Đảng cầm quyền vào thập niên đầu của thế kỷ XXI...    

Tiếp cận chủ thể (gồm chủ thể hành động và chủ thể tư duy)

Trước hết, tiếp cận chủ thể chính là để trả lời câu hỏi ai là người xây dựng CNXH ở Việt Nam? Đổi mới ngày càng làm rõ, mở rộng chủ thể đa số qua các Cương lĩnh: “nhân dân lao động” (Cương lĩnh năm 1991), “nhân dân” (Cương lĩnh năm 2011) và tiêu biểu là toàn thể dân tộc trong khối đại đoàn kết với nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng; cùng với việc tiếp tục khẳng định các giai tầng “cơ bản”, như giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức... đã xuất hiện và khẳng định những cơ cấu xã hội mới, những giai tầng mới, mà điển hình là đội ngũ doanh nhân.

Tiếp đó, tiếp cận chủ thể là để làm rõ hơn vấn đề chủ thể tư duy về CNXH và lý luận về CNXH ở Việt Nam: Bên cạnh những “chủ thể truyền thống” như các vị lãnh tụ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, thời kỳ đổi mới còn làm rõ thêm nhiều chủ thể góp phần cho đổi mới tư duy lý luận. Họ là các nhà quản lý đã trăn trở, tìm tòi những hướng đi, cách làm để đổi mới; các nhà khoa học đã góp phần xây dựng luận cứ lý luận và thực tiễn cho quá trình đổi mới công tác, nhiệm vụ lãnh đạo - quản lý.

Đặc biệt là chủ thể nhân dân - một lực lượng có nhiều đóng góp quan trọng cho quá trình đổi mới tư duy về CNXH ở Việt Nam. V.I. Lê-nin từng khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”(3). Chính chủ thể này đã đóng góp, gợi mở cho nhiều đổi mới về biện pháp để xây dựng CNXH ở nước ta. Không chỉ thông qua những kiểm định và khẳng định trên thực tế tính đúng đắn của đổi mới tư duy và hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong thực tiễn, nhân dân còn có những đóng góp quan trọng qua những tìm tòi, đột phá, sáng tạo. Qua chủ thể này, chúng ta thấy rõ được vai trò gợi mở của những sáng kiến từ quần chúng. Điều này được thể hiện qua việc nhân dân sáng tạo và “dũng cảm” đột phá cơ chế cũ, cán bộ lãnh đạo có tác phong dân chủ, biết lắng nghe dân, thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng, thể hiện sự gặp gỡ, thống nhất giữa “lòng dân” với “ý Đảng”. Khi hai chủ thể này gắn bó với nhau, học hỏi lẫn nhau thì có thể tạo ra bước tiến lớn về chất trong tư duy lý luận của Đảng. Đó là một bài học quý từ quá trình đổi mới, cần tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong thời gian tới, hướng đến tổng kết những đột phá, sáng tạo lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới.      

Tiếp cận chủ thể nhân dân không chỉ phản ánh tinh thần chủ động của những chủ nhân của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, mà còn thể hiện tính chất dân chủ của đổi mới và sâu hơn, như một tổng kết kinh nghiệm của Đảng: Sự nghiệp đổi mới để xây dựng CNXH ở Việt Nam là của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân, do nhân dân sáng tạo và là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo.

Tiếp cận này cho thấy thêm một khía cạnh rằng, tham gia vào công cuộc xây dựng CNXH và hoàn thiện lý luận này còn có cả một “hệ sinh thái xã hội”, bao gồm các nhà hoạt động thực tiễn và các nhà lý luận. Tham gia vào tổng kết kinh nghiệm và phát hiện vấn đề của đổi mới, không chỉ là những người làm công tác lý luận, mà còn là các nhà quản lý và cả những người đang trực tiếp lao động sản xuất, như công nhân, nông dân và hiển nhiên, có cả đội ngũ trí thức trên nhiều lĩnh vực. Đây là điểm khác biệt rõ nét khi so sánh thời kỳ đổi mới với thời kỳ trước đây, khi việc hoạch định chủ trương, đường lối và lý luận về cách mạng XHCN dường như chỉ là công việc của các cán bộ lãnh đạo và của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tiếp cận từ giác độ lợi ích

Theo quan điểm của triết học Mác, lợi ích có vai trò rất to lớn đối với hoạt động của con người, là động lực sâu xa của lịch sử. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đều khẳng định, động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động chính là lợi ích. Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình thần thánh, Hệ tư tưởng Đức..., C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ lợi ích chính là sản phẩm hoạt động của con người, là sự kết tinh, đối tượng hóa bản chất con người. Khi nói về vai trò của lợi ích, triết học Mác cho rằng, lợi ích là cái liên kết các thành viên trong xã hội; được đặt trong quan hệ giữa con người với nhau và làm cơ sở quan trọng cho việc xác lập các quan hệ xã hội. Đồng thời, các ông cũng khẳng định rằng, lợi ích không chỉ là nguyên nhân sâu xa của mọi mâu thuẫn xã hội, mà còn là động lực của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng, cải biến xã hội, qua đó thúc đẩy lịch sử phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến lợi ích của nhân dân, của cả cộng đồng người và lợi ích của những con người cụ thể, vì Người cho rằng, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa chế độ XHCN so với các chế độ xã hội trước đó. Người khẳng định, chỉ có CNXH mới “chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn”(4). Vì vậy, ngay từ những ngày đầu xây dựng chế độ xã hội, Người yêu cầu phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(5).

Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó, cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội(6). Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Nhìn chung, kế thừa di sản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những nghiên cứu về động lực lợi ích và xử lý hài hòa các lợi ích trong quá trình đổi mới là hướng tiếp cận rất quan trọng và có liên quan chặt chẽ, được xem là sự tiếp nối tự nhiên của phương pháp tiếp cận chủ thể trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Tiếp cận nhân học   

Con người là chủ thể của mọi quá trình phát triển, là mục tiêu giải phóng, cũng là động lực, chủ thể và là sản phẩm của sự nghiệp xây dựng CNXH. Cách tiếp cận nhân học tỏ ra có lợi thế trong việc nghiên cứu toàn diện vấn đề con người hiện đại. Những quan hệ cụ thể của con người, từ các phương diện khác nhau, như con người kinh tế - chính trị (giai cấp, nghề nghiệp, địa vị...), con người xã hội (dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới, lối sống...), con người nhu cầu (lợi ích, khát vọng...) được nghiên cứu một cách tổng hòa trong nhân học. Có thể xem đây là một biểu hiện của phương pháp lịch sử - cụ thể khi tiếp cận với vấn đề con người.  

Nhiều nghiên cứu xã hội học, dân tộc học, tâm lý xã hội đã sử dụng cách tiếp cận nhân học để có được những kết quả nghiên cứu thấu đáo hơn, sâu rộng hơn. Điển hình là những nghiên cứu kiểu như “Con người - cách nhìn mới về những vấn đề không mới”. Tiếp cận nhân học làm rõ đặc trưng sinh động của xã hội và con người trong mô hình CNXH mà chúng ta đang xây dựng. Cách tiếp cận này giúp cho việc nghiên cứu về cấu trúc, đặc trưng, cách vận hành của xã hội đầy đủ hơn và chính xác hóa các quyết định trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách.

Tiếp cận lộ trình phát triển tư duy

Nhận thức là một quá trình được hoàn thiện dần dần thông qua thời gian và hoạt động của con người. Nhiều vấn đề của lý luận về CNXH ở Việt Nam đã dần chín muồi theo một lộ trình mà các nhà nghiên cứu thường diễn đạt là “quá trình đổi mới tư duy” về một lĩnh vực cụ thể nào đó. Chẳng hạn, tư duy của  Đảng ta về kinh tế thị trường, đã chuyển biến từ “chú trọng hạch toán kinh doanh” (Đại hội VI) đến “cơ chế kinh tế thị trường” (Đại hội VII), rồi “kinh tế thị trường” (Đại hội VIII) đến “nền kinh tế thị trường” (từ Đại hội IX đến Đại hội XII) và hiện nay, kế thừa tinh thần của các đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”(7)

Tiếp cận lộ trình theo thời gian và theo trình độ tư tưởng là phương pháp tiếp cận khá phổ biến hiện nay trong giới nghiên cứu ở nước ta. Phương pháp này giúp cho chủ thể có thể nhận thức rõ những khía cạnh lịch sử phát triển của tư tưởng và những quy luật vận động của tư duy lý luận nói chung.

Tiêp cận thời đại 

Đây là một sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh cách đây gần một thế kỷ, “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”(8)Hiện nay, nhận thức chung về môi trường, điều kiện cần cho sự phát triển quốc gia là: Không một nước nào có thể phát triển bình thường trong trạng thái bị cô lập và tự cô lập. Theo đó, phương pháp tiếp cận thời đại luôn cần thiết và khá phổ biến.

Cách tiếp cận này giúp cho Đảng, Nhà nước ta nhận thức rõ những xu thế lớn của thời đại mà Việt Nam cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, làm rõ và khẳng định xu thế đi lên CNXH thể hiện ra qua những khúc quanh co, “dích dắc”, biến động phức tạp khôn lường của kinh tế, chính trị thế giới; để khẳng định những giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thế giới đương đại. Đồng thời, cách tiếp cận thời đại giúp cung cấp thêm những cắt nghĩa mới, luận giải “Tại sao Mác đúng?”(9); để cập nhật những thành tựu nghiên cứu về CNXH hiện đại thông qua cải cách, đổi mới, “làm mới chủ nghĩa Mác” của các đảng cộng sản, các trào lưu XHCN quốc tế và của các nhà nghiên cứu mác-xít trên thế giới.

Lý luận về CNXH của Việt Nam còn được cập nhật hóa những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, những giá trị trong kho tàng, di sản của khoa học xã hội hiện đại cả về ý tưởng và phương pháp; từ đó, cần tiến hành “gạn đục, khơi trong”, tiếp thu có chọn lọc, trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin những giá trị lý luận phù hợp và vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”(10).

Qua hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã có những đột phá và sáng tạo lý luận nổi bật, góp phần đưa nước ta đạt được những thành tựu, to lớn, có ý nghĩa lịch sử (Trong ảnh: Một góc Thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 35 năm đổi mới)_Nguồn: zing.vn

Tiếp tục hoàn thiện các phương pháp tiếp cận, nghiên cứu để phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với bối cảnh mới

Lịch sử tư tưởng chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng, nhờ phương pháp khoa học (chủ nghĩa duy vật lịch sử) mà lý luận về CNXH của nhân loại đã được C. Mác  và Ph. Ăng-ghen chuyển hóa từ không tưởng trở thành khoa học. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và phát triển lý luận, C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin không chỉ kế thừa nhiều thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học tiền bối, mà còn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận hiện đại của khoa học đương thời (bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng). Từ “ba phát kiến vĩ đại của học thuyết Mác” (chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết về giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân) các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tham khảo, kết hợp rất nhiều thành tựu của các ngành khoa học đương thời (cả về kết quả nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu) để kiến tạo nên học thuyết cách mạng và khoa học của riêng mình.

Không chỉ cống hiến về phát kiến và phương pháp, các nhà kinh điển của CNXH khoa học còn nêu tấm gương mẫu mực trong việc kế thừa các thành tựu và phương pháp khoa học đương thời của các bậc tiền bối, cho dù một số tác giả không hoàn toàn cùng lập trường tư tưởng; như V.I. Lê-nin từng bình luận: Mác đã phát hiện ra “cái hạt chân lý sâu sắc trong cái vỏ thần bí của chủ nghĩa Hê-ghen”(11) là phép biện chứng. Quá trình lập thuyết của các ông cho thấy, phải kiên định với mục tiêu, vững vàng trên phương pháp duy vật lịch sử, đồng thời cũng phải luôn sáng tạo, cởi mở để cập nhật những thành tựu và phương pháp khoa học hiện đại - Đó là chỉ dẫn rất có giá trị về phương pháp luận cho hậu thế.

Một mặt, cần kiên định quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử của chủ nghĩa Mác, với các kết luận về vai trò quyết định của sự phát triển của lực lượng sản xuất, của đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và “xây dựng giai cấp công nhân hiện đại”; cùng với đó là những nghiên cứu về tác động biện chứng, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, xây dựng hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta; sự kết hợp giữa bối cảnh, xu hướng khách quan của thế giới với vai trò chủ động, tự giác của con người đang vươn lên nắm được quy luật vận động khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Mặt khác, kinh nghiệm của hoạt động nghiên cứu lý luận gần đây còn chỉ ra rằng, trong nghiên cứu nếu chỉ “khư khư” với một vài phương pháp thì rất có thể lâm vào các tình thế kiểu như “sự tráo trở của phương pháp”. Kết quả là, những kết luận hoặc nhuốm màu “giáo điều” hoặc không đưa ra được những nhận thức mới và như vậy, sẽ không thể giúp ích gì cho phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia. Tệ hại hơn, kiểu nghiên cứu này còn làm giảm lòng tin xã hội đối với công tác nghiên cứu, tổng kết lý luận nói chung và về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nói riêng.  

Cùng với việc vận dụng trung thành và sáng tạo phương pháp duy vật biện chứng về lịch sử, việc tiếp cận và sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành đã mang lại nhiều thành tựu về lý luận và tính chất cập nhật tươi mới cho phong cách nghiên cứu lý luận thời kỳ đổi mới. Những nhận thức mới của Đảng ta về CNXH ở Việt Nam là kết quả của quá trình đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Trong quá trình đó, chúng ta đã thấy được sự hỗ trợ, bổ sung cách tiếp cận và kết quả nghiên cứu tích hợp của nhiều ngành khoa học hiện đại.

Theo đó, tổng kết lý luận thời kỳ đổi mới cũng rất cần chú ý đến lĩnh vực phương pháp nghiên cứu; bao gồm: Việc vận dụng phương pháp duy vật lịch sử trong đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; tích hợp và tiếp cận các phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành trong nghiên cứu lý luận; vận dụng một số thành tựu về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội hiện đại để giải quyết các vấn đề lý luận cấp thiết, đặt ra trong thời kỳ đổi mới.

Lịch sử nghiên cứu về CNXH ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đã xác nhận: Đa dạng hóa phương pháp tiếp cận để phát triển lý luận luôn là một hướng đi cần thiết, góp phần giúp cho Đảng, Nhà nước, toàn quân và toàn dân ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và cần được tổng kết một cách thấu đáo, kỹ lưỡng để tiếp tục phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phù hợp với thực tiễn phát triển mới, hướng tới 40 năm đổi mới./.

ST.

Đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định tầm quan trọng đặc biệt của tư duy lý luận. Ph.Ăng-ghen từng nhấn mạnh: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Công cuộc đổi mới và sự phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn liền với sự phát triển lý luận cách mạng và thể hiện sinh động ở sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tư duy lý luận là giai đoạn cao nhất của tư duy, là quá trình mà tư duy tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận và thường được thể hiện ra ở các giả thuyết, các lý thuyết có quan hệ tương hỗ với nhau. Thực tiễn cho thấy, việc đổi mới và phát triển tư duy lý‎ luận là nhân tố mang tính quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, nhất là trong những lúc cam go, bước ngoặt của lịch sử.

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã phê phán những sai lầm chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động nóng vội, chủ quan, không tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Đại hội kiên quyết đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế, coi đổi mới tư duy là khâu “đột phá” cho toàn bộ quá trình đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Đảng ta khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”. Nhờ chọn đúng khâu đột phá mà Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Hội nghị tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2016 - 2021, bàn phương hướng, nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ 2021 - 2026 của Hội đồng Lý luận Trung ương_Ảnh: Tư liệu

Là đảng duy nhất cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội, mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận để nâng cao trình độ và năng lực lý luận của Đảng cầm quyền. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bên cạnh thời cơ, thuận lợi, đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn mới đang đặt ra đối với đổi mới tư duy lý luận của đảng… Đặc biệt, trước yêu cầu “không thể để kéo dài tình trạng còn lạc hậu của lý luận so với sự vận động và đòi hỏi của thực tiễn. Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn”, “phải có tầm nhìn vượt trước”, càng đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa của đội ngũ lý luận trên cả nước.

Công cuộc đổi mới hơn 36 năm qua đã thực sự thể hiện năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới và quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta từng bước hoàn thiện và hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới đất nước. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của nước ta; là sự phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, trên cơ sở đúc kết những bài học thành công và thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, kế thừa có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại. Có thể khẳng định, tư duy lý luận của Đảng ta ngày càng phát triển, kết quả nghiên cứu lý luận từng bước đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị, “Về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”, các chương trình, đề tài, đề án tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đã chú trọng bám sát yêu cầu của thực tiễn, tập trung nghiên cứu, giải đáp và làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn đặt ra, những vấn đề l‎ý luận mới, khó, còn nhiều‎ ý kiến khác nhau, nhất là về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dân chủ xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đã góp phần làm chuyển biến nhận thức, tư duy lý luận của Đảng trên một số nội dung quan trọng, cụ thể là:

Một là, mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa, phát triển với những nhận thức quan trọng.

Hai là, khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam. Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển.

Ba là, khẳng định bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới phương thức vận hành của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; hoàn thiện mô hình tổ chức của Nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Bốn là, nhận thức sâu sắc hơn bản chất, tính cách mạng, tính tiên phong của Đảng; vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới; đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ…

Năm là, quán triệt sâu sắc phương châm bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh và tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy” trên cơ sở xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển quan trọng, Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia được xây dựng.

Sáu là, hoàn thiện và nhận thức sâu sắc hơn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; chú trọng nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Bảy là, nghiên cứu, bổ sung nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nghiên cứu cụ thể hóa biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thành 27 biểu hiện; vấn đề nêu gương của người đứng đầu; vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội; nghiên cứu những tư tưởng, học thuyết mới, tiến bộ trên thế giới...

Cùng với những thành tựu đạt được, Đảng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận, tư duy lý‎ luận của Đảng nhiều mặt vẫn còn hạn chế, “công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu l‎ý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu; một số vấn đề mới, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”. 

Bối cảnh quốc tế tiếp tục có những diễn biến mới, phức tạp, khó lường. Cùng với đó, mục tiêu phát triển đất nước đến những cột mốc trọng đại năm 2025, 2030, 2045 là lớn lao, để đạt được đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm rất lớn của toàn Đảng, toàn quân và nhân dân ta. Điều này càng đòi hỏi tư duy lý‎ luận của Đảng ta phải có những bước đổi mới và phát triển ngang tầm, không cho phép sự lạc hậu của lý luận là lực cản, làm trì trệ hay kéo lùi sự phát triển‎; công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu l‎ý luận càng phải được quan tâm hơn nữa. Đặc biệt, những cuộc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận lớn trong thời gian tới, như tổng kết 40 năm công cuộc đổi mới (1986 - 2026), góp phần hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh 1991... đặt ra nhiều thách thức, nhưng cũng là cơ hội để Đảng ta đổi mới, phát triển tư duy lý‎ luận, trí tuệ và năng lực cầm quyền, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Sự đổi mới tư duy lý luận của Việt Nam, một mặt đặt nền tảng lý luận cần thiết cho quá trình đổi mới thực tiễn; mặt khác, là sản phẩm của chính quá trình này. Để hình thành nên tư duy mới ấy, nhiệm vụ cấp thiết phải làm là kết hợp một cách biện chứng những nguyên lý lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống và tinh hoa văn hóa dân tộc, với những nhận thức mới về thế giới hiện đại, về con đường phát triển mang các sắc thái đặc thù của thời đại và dân tộc. Điều này rất quan trọng vì tư duy mới đó được hình thành từ chính thực tiễn sáng tạo của dân tộc Việt Nam.

Để thúc đẩy hiệu quả hoạt động nghiên cứu lý luận, góp phần vào quá trình đổi mới, phát triển tư duy lý luận của Đảng, cần tập trung thực hiện một số yêu cầu, nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy đảng về vị trí, vai trò của công tác nghiên cứu lý luận. Từ đó, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về công tác nghiên cứu lý luận theo tinh thần của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất trong định hướng nghiên cứu lý luận phục vụ xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045; tổng kết thực tiễn những vấn đề lý luận lớn, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận ở Trung ương; phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu ở địa phương, đơn vị đối với công tác lý luận.

Thứ hai, nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn để phục vụ công tác xây dựng Đảng và sự nghiệp phát triển đất nước; tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, định hướng chính sách; giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học và các cơ quan quản lý xã hội; giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận ở Trung ương với yêu cầu tổng kết thực tiễn ở cấp địa phương.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới phương thức học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược, đi vào nền nếp, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng chất lượng, hiệu quả, siết chặt kỷ luật, kỷ cương.

Thứ tư, củng cố các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan có chức năng định hướng, quản lý, tham mưu, tư vấn, nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về lý luận chính trị; đẩy mạnh cơ chế đặt hàng của cấp ủy, chính quyền, địa phương với các cơ quan nghiên cứu lý luận.

Thứ năm, thực hiện nghiêm quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị. Đây là một chủ trương đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng ta. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Thực hiện nghiêm Quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, tạo môi trường dân chủ, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân”. Quy định về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị tại các cơ quan Đảng, Nhà nước (Quy định số 285-QĐ/TW, ngày 25-4-2015) ghi rõ: “Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị là bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân được tự do sáng tạo, độc lập suy nghĩ, kiến nghị, được tôn trọng, tiếp thu ý kiến, vận dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu trong các hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị, phù hợp với pháp luật hiện hành”. Mặc dù quy định giới hạn nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, song đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng, tạo cơ sở chính trị quan trọng để phát huy dân chủ, tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ trong nghiên cứu lý luận chính trị góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện nghiêm quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, xây dựng cơ chế bảo vệ người có tư duy đổi mới, sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh làm Trưởng đoàn dự Hội thảo Lý luận lần thứ 17 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Cộng sản Trung Quốc theo hình thức trực tuyến với chủ đề: "Kinh nghiệm về sáng tạo quản lý xã hội trong thời đại thông tin hóa"_ Ảnh: Tư liệu

Thứ sáu, mở rộng hợp tác quốc tế, trao đổi lý luận với các đảng cầm quyền, đảng tham chính trên thế giới. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra các quyết sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, Đảng ta “không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại... Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, học viện, nhà trường có chức năng, nhiệm vụ về công tác lý luận cần tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản, đảng cầm quyền và các đảng chính trị trên thế giới. Cùng với việc tổ chức thực hiện tốt kế hoạch hội thảo, trao đổi, đối thoại lý luận chính trị, cần nghiên cứu triển khai các hình thức hợp tác thiết thực, như trao đổi thông tin, tư liệu, hợp tác nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, phối hợp nghiên cứu những vấn đề cùng quan tâm trong hoạt động hợp tác quốc tế. Qua đó, cầu thị, tiếp thu những kinh nghiệm quý, những bài học thành công của các nước phù hợp với Việt Nam, đồng thời giới thiệu đường lối, chính sách và quảng bá giá trị lý luận đặc sắc của Đảng ta với thế giới; quyết liệt phê phán, đấu tranh không khoan nhượng với sự tiếp thu, trích dẫn, sử dụng dễ dãi kết quả nghiên cứu mới của các học giả, tổ chức nghiên cứu nước ngoài chưa được kiểm định trong thực tiễn.

Thứ bảy, tạo cơ chế, môi trường thuận lợi, bố trí nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu lý luận. Đầu tư nguồn lực tài chính thỏa đáng cho công tác lý luận; xây dựng quy định về quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu và cơ chế tài chính đặc thù, nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu khoa học lý luận có chất lượng, hiệu quả, ngày càng gắn kết với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong tình hình mới. Đặc biệt coi trọng việc thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ làm công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị có chất lượng của Đảng./.

ST.