Những ngày qua, trên trang facebook: “VOA Tiếng Việt” có bài viết với tiêu đề “Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu vũ khí bất chấp căng thẳng ở khu vực”. Theo Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, tuy ngân sách hàng năm để nhập vũ khí ước tính là hơn 1 tỷ USD, song năm 2023 Việt Nam không có đơn đặt hàng mới nào; và cho rằng Việt Nam bị thiếu hụt vũ khí hiện đại để tự vệ, đang ở thế mong manh trong một cuộc xung đột tầm cỡ khu vực. Bài viết cũng phân tích: “Việt Nam vận hành các hệ thống phòng không được nhập khẩu từ Nga và Israel, một số hệ thống trong số đó đã được giới thiệu lần đầu tiên cách đây hơn 30 năm. Nước này đang cố gắng cải thiện ngành công nghiệp quân sự của mình nhưng vẫn chưa thể sản xuất được vũ khí cỡ lớn như máy bay hay tàu chiến”.
Mục đích của các thế lực thù địch là nhằm chống phá đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta trước một số diễn biến gần đây trong khu vực, nhất là trên biển Đông. Đặc biệt, bài viết đưa ra những nhận định thiếu khách quan về tiềm lực quân sự nói chung, năng lực công nghiệp quốc phòng nói riêng và khả năng tự chủ về vũ khí, trang bị của ta trong tình hình hiện nay, gây hoang mang, lo lắng cho dư luận. Luận điệu tuyên truyền này của bài viết rõ ràng là không hề có căn cứ, xuất phát từ một số vấn đề sau:
Một là: Đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng đúng đắn, sáng tạo của chúng ta luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về: “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chiến lược quốc phòng Việt Nam” và Kết luận số 31-KL/TW về “Chiến lược quân sự Việt Nam” của Bộ Chính trị khóa XII cũng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đều khẳng định, chúng ta luôn: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Điều đó cho thấy, tư duy về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của chúng ta luôn có bước phát triển và ngày càng hoàn thiện, luôn bảo đảm tính chủ động để sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Chính sách quốc phòng của Việt Nam nhất quán là hòa bình, tự vệ và vì nhân dân.
Hai là: Năng lực của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đã hợp tác chuyển giao nhiều công nghệ và tự chủ sản xuất nhiều chủng loại vũ khí, trong đó có cả các vũ khí thế hệ mới. Công nghiệp quốc phòng Việt Nam có đủ năng lực sản xuất toàn bộ các loại vũ khí trang bị đủ cho các sư đoàn bộ binh cũng như các lực lượng khác.
Ba là: Về việc giải quyết các bất đồng trong vấn đề biển Đông. Việt Nam luôn kiên định với lập trường giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các nước. Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các quốc gia liên quan đàm phán, giải quyết các vấn đề biên giới, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Campuchia đang hết sức tốt đẹp, thông qua các chuyến thăm và hội đàm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong thời gian qua.
Những vấn đề trên một lần nữa khẳng định đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta; khẳng định sức mạnh nội lực của nền quốc phòng toàn dân; khả năng độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc nói chung, tiềm lực quân sự nói riêng, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa trong mọi tình huống./.