Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2024

Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa sức mạnh con người Việt Nam

Độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là mục tiêu cơ bản và xuyên suốt các quá trình cách mạng Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, nhất là trong xây dựng CNXH, đặc biệt là thời kỳ đổi mới đất nước, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều mang tinh thần mục tiêu ĐLDTgắn với CNXH và có những nội dung tương ứng, xác định.

Vừa qua, ở Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021), mục tiêu ĐLDT và CNXH đã được thể hiện rõ cả trong nội dung xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.

Trước hết, như chúng ta đã biết, từ Văn kiện Trung ương 5, khóa VIII (1998), nền văn hóa Việt Nam được xác định là:“nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Nội dung trước hết của phương hướng chung xây dựng nền văn hóa này là: “…phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa…”[1]. Còn, “Tiên tiến: là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiến tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong các phương tiện chuyển tải nội dung’’. Và “Bản sắc dân tộc” bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắt kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”[2]. Như vậy, phương hướng và nội hàm chung của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là đã bao hàm tinh thần vì ĐLDT và CNXH, là phải góp phần đào tạo, rèn luyện con người xứng đáng là chủ thể xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đến Đại hội XIII, một lần nữa khẳng định rằng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển và bảo vệ Tổ quốc”[3]. Do đó, bằng việc khẳng định lại việc xây dựng nền văn hóa này, Văn kiện Đại hội XIII, cũng đồng thời khẳng định một lần nữa tinh thần về mục tiêu ĐLTD và CNXH trong xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam hiện nay.

Hai là, công cuộc đổi mới là toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng, trong đó, bốn lĩnh vực có thể gọi là “trụ cột” đối với sự phát triển chung của đất nước và đã được Đại hội XII(2016) nêu rõ. Đó là: “Phát triển kinh tế - xã hội là trọng tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”[4]. Bốn trụ cột này là cô đọng của tinh thần bảo vệ vững chắc độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và đồng thời là xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Trong thực tế, đó cũng là tinh thần của ĐLDT gắn liền với CNXH. “Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” bảo vệ vững chắc Tổ quốc là tạo môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng đất nước; “nhiệm vụ trọng tâm” - phát triển kinh tế - xã hội, “nhiệm vụ then chốt” - xây dựng Đảng, và phát triển “nền tảng tinh thần của xã hội” được phát huy có hiệu quả sẽ tạo điều kiện, nguồn lực vật chất và tinh thần cho bảo vệ vững chắc ĐLDT. Như vậy, văn hóa là một trụ cột của công cuộc đổi mới xây dựng CNXH, góp phần quan trọng cho mục tiêu ĐLDT.

Đến Đại hội XIII, một mặt, nêu lại tinh thần trên của Đại hội XII, hơn nữa, mặt khác nhấn mạnh rằng, việc: “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng an ninh là trọng yếu, thường xuyên”[5] là một trong những nội dung của “Quan diểm chỉ đạo” thuộc “Tầm nhìn và định hướng phát triển” tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong giai đoạn mới[6].

Ba là, tầm quan trọng nêu trên của phát triển văn hóa vì ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới, còn được Đảng ta nhấn mạnh: “vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển bền vững đất nước” và “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người…”[7]. Vì thế, Đại hội XIII đã khách quan, thẳng thắn đánh giá kết quả cả thành tựu, lẫn hạn chế của phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong những năm gần đây. Thành tựu hay hạn chế của xây dựng văn hóa và con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ, về thành tựu: “Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội”, “Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”[8]…Tuy vậy, “Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng coi trọng chức năng giải trí đơn thuần”… Nghĩa là, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam “chưa có nhiều đột phá, hiệu quả chưa cao”[9] so với các lĩnh vực khác về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh… trong công cuộc đổi mới, giữ vững ĐLDT và định hướng đi lên CNXH của đất nước.

Bốn là, vì thế, việc chú trọng đến xây dựng văn hóa, con người Việt Nam “phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” được nêu ra từ Hội nghị Trung ương 9 khóa XI(2014)[10], nay, lại nhấn mạnh đó là vấn đề cấp bách, do chính từ đòi hỏi của nhiệm vụ cụ thể giữ vững ĐLDT và xây dựng CNXH trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Văn kiện Đại hội chỉ rõ rằng, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải thực hiện những nhiệm vụ lớn lao là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN[11].

Do đó, phải phát huy giá trị văn hóa hướng vào góp phần đắc lực cho thực hiện các nhiệm vụ nặng nề nêu trên. Các nhân lực văn hóa (cán bộ sáng tác, biểu diễn, quản lý…), các lĩnh vực văn hóa (văn học, nghệ thuật, lý luận văn hóa…), các thể thể chế văn hóa (nhà hát, bảo tàng, truyền thông, nhà xuất bản…), các môi trường văn hóa (gia đình, nhà trường, địa phương…)… phải phát huy đồng bộ, bằng những chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động, phù hợp góp phần hiện thực hoá sự nghiệp giữ vững ĐLDT và xây dựng thành công CNXH. Các giá trị văn hóa mang đặc trưng dân tộc - nhân văn - dân chủ - khoa học là nâng cao được chất lượng tinh thần và phát triển toàn diện con người Việt Nam, con người Việt Nam phải trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, qua đó phát huy sức mạnh con người Việt Nam với tính cách là nguồn lực quan trọng nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Năm là, để tiếp tục xây dựng và phát huy hơn nữa giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam vì mục tiêu ĐLDT và CNXH nói chung và góp phần thực hiện những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 -2025, Văn kiện Đại hội XIII đã nêu ra những giải pháp, không chỉ cho trước mắt, mà còn để vận dụng lâu dài và có thể tóm lược lại như sau:

- “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới…”[12]. Đây là vấn đề trước hết và là điểm mới mà Văn kiện nêu ra, cần phải được triển khai nhanh để làm cơ sở lý thuyết và thước đo – chuẩn mực cho thực tiễn xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.

- Về con người, “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyên truyền về lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”, “ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực tệ nạn xã hội”; “Từng bước vươn lên khắc phục hạn chế của con người Việt Nam trong thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”…Về văn hóa, “Bảo vệ và phát huy giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”[13]…Như vậy, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam phải mang tính toàn diện, chú trọng đến lớp trẻ, phải vừa “xây” cái tốt, cái mới, vừa “chống” cái xấu, cái lạc hậu… Tinh thần mới của vấn đề nêu trên còn là, trước đây, chúng ta chỉ nhấn mạnh nhiều đến những mặt mạnh của con người Việt Nam. Nhưng nay, cần phải chỉ ra thêm những điểm yếu và việc khắc phục những điểm yếu này của con người Việt Nam, mà trong thực tế, ngày càng tăng những biểu hiện đáng lo ngại, làm méo mó cả tinh thần và thể xác của không ít người Việt Nam.

- Về môi trường văn hóa, “Có cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phát huy ý thức tự giác của toàn dân xây dựng và thực hiện các chế tài, qui định, qui ước xã hội, bảo đảm công bằng về cơ hội và hưởng thụ văn hóa. Khắc phục sự chệnh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp”… Những tinh thần này, về môi trường văn hóa, thể hiện phương châm xã hội hóa trong hoạt động văn hóa và phản ánh bản chất nhân văn của nền dân chủ XHCN. Về môi trường văn hóa, Văn kiện Đại hội XIII còn lưu ý đến xây dựng và phát huy văn hóa gia đình; nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng; môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết; văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh…[14]

- Đối với các loại hình văn hóa nghệ thuật, phải nâng cao chất lượng, hiệu quả, “Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp, xử lý đồng đều mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển văn hóa – xã hội. Chú trọng nâng cao các giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật. Khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường. Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số”. Và cùng với những vấn đề này, Văn kiện Đại hội XIII còn chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, tập hợp đông đảo văn nghệ sĩ tham gia; khuyến khích tự do sáng tạo, thực thi quyền tác giả”[15].

- Về ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa, phải triển khai khẩn trương, có trọng điểm, “trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”. Đối với ngành công nghiệp và dịch vụ này, trong điều kiện của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0, nếu vận dụng được những thành tựu của nó, với những sản phẩm thông minh và trí tuệ nhân tạo, mới có thể nâng tầm thời đại của sản phẩm văn hóa Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII còn nêu rõ một ngành công nghiệp văn hóa và lĩnh vực văn hóa cụ thể quan trọng cần chú ý tác động. Đó là: phát triển văn hóa gắn với du lịch; xây dựng nền báo chí, tuyền thông, chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại; tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet…[16]

- Đối với lãnh đạo và quản lý văn hóa, “…tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hóa. Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các ngồn lực văn hóa đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả đầu tư cao trong lĩnh vực văn hóa”… Ở nước ta, các lĩnh vực hoạt động, trong đó có văn hóa, đều do Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý để đảm bảo định hướng XHCN, góp phần tích cực vào mục tiêu ĐLDT và CNXH hiện nay.Văn kiện Đại hội XIII còn chỉ đạo việc đổi mới các thiết chế văn hóa để có hiệu quả; đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, có am hiểu văn hóa, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; đổi mới và hiện đại hóa các qui trình, nội dung, phương thức đào tạo để khắc phục sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa…[17]

- Sau nữa, để giữ vững độc lập, tự chủ trong lĩnh vực văn hóa, phát huy sức mạnh con người Việt Nam - nguồn lực quan trọng nhất của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, trong điều kiện toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có khoa học tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời nâng cao sức đề kháng của tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới”[18].

Nghiên cứu tinh thần Văn kiện Đại hội XIII về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam vì mục tiêu ĐLDT và CNXH, nhận thấy một số vấn đề đặt ra cần quan tâm trước hết:

Cần thống nhất về nhận thức khái niệm “văn hóa”. Vì hiện nay, cả trong thực tế và văn bản phổ thông ,cũng như chính thống, hiểu rất khác nhau. Cần thống nhất sử dụng “văn hóa” theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp. Nếu theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, thì văn hóa theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, nội dung: văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, kỹ thuật… Còn, trong các văn kiện đại hội Đảng lại dùng theo nghĩa hẹp, đặt lĩnh vực văn hóa bên cạnh các lĩnh vực khác: kinh tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, đối ngoại, quốc phòng – an ninh…

Cần nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý về văn hóa, nhất là đối với đội ngũ nhân lực, lên tầm nghệ thuật. Lãnh đạo và quản lý con người nói chung là một khoa học. Đội ngũ nhân lực làm văn hóa, trong đó đông đảo là lực lượng sáng tác, biểu diễn, là những văn nghệ sĩ thuộc tầng lớp trí thức – lao động trí óc có nhiều đặc thù về cá tính, tâm tư, về lối sống – tâm lý, về hình thức hoạt động sáng tạo… Do đó, ở đây, công tác lãnh đạo và quản lý càng cần phải nâng cao chất lượng, không chỉ là một khoa học, mà còn là một nghệ thuật.

Công tác lãnh đạo và quản lý về văn hóa hướng vào nhiệm vụ trọng tâm là phát triển toàn diện con người Việt Nam, qua đó phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam vào mục tiêu ĐLDT và CHXH, thì cần phải tiếp tục bồi dưỡng, quán triệt nội dung Văn kiện Đại hội XIII, nhất là nội dung của ĐLDT và xây dựng CNXH hiện nay ở nước ta cho đội ngũ quản lý, tham mưu, sáng tác, biểu diễn…văn hóa.

Hiện nay, thông tin phong phú – phức tạp, đa chiều ,không biên giới đem lại nhiều thuận lợi, nhưng rất nhiều những ảnh hưởng xấu, độc hại, phản động…đến văn hóa nước nhà và con người Việt Nam. Đấu tranh, loại bỏ, hạn chế các hình thức thông tin và sản phẩm văn hóa độc hại, phải được chú trọng hơn nữa – như là cuộc chiến một mất, một còn trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa. Qua đó, làm cho giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam ngày càng phát huy cao độ vì mục tiêu ĐLDT và CNXH của đất nước.

Như đã nói, giải pháp đầu tiên cho xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong thời gian tới, mà Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra, là phải: “xây dựng hệ giá trị quốc gia”,’’hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người’’, "hệ giá trị gia đình’’ Việt Nam. Đây là vấn đề mới mẻ, cần làm ngay, tạo luận cứ khoa học cho đường lối và chính sách liên quan đến văn hóa và con người. Thực tế gần đây cho thấy, những lúc cam go, con người Việt Nam thường bộc lộ hết cả mặt mạnh, mặt yếu – điểm tốt, điểm xấu (trong tình hình dịch bệnh COVID – 19 hiện tại là một ví dụ). Vì thế, việc xây dựng các hệ giá trị này phải nghiên cứu đặt trong bối cảnh có tình huống thử thách của thực tiễn, để xác định được các giá trị xác thực phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam vì mục tiêu ĐLDT và CNXH.

Và, như vậy, thực hiện tốt những giải pháp và chú trọng giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra, nêu trên, đối với xây dựng văn hóa và con người Việt Nam,thì nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mới làm cho văn hóa xứng đáng với vị trí: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" (Hồ Chí Minh)./.

NGƯỜI BẢO VỆ


Một số giải pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

 

Có thế nói, chưa bao giờ công tác lý luận lại cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt như hiện nay. Đó là vì thực tiễn cách mạng, sự phát triển xã hội nước ta cũng như tình hình khu vực và thế giới đang đặt ra cho công tác lý luận hàng loạt vấn đề cấp thiết, phức tạp, bức xúc và gay cấn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thì vai trò của đội ngũ cán bộ lý luận trở nên ngày càng quan trọng và hơn lúc nào hết cần xây dựng đội ngũ này thực sự vững mạnh về mọi mặt; do đó, bất luận trong hoàn cảnh nào, phải kiên quyết phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận với nhiều giải pháp đồng bộ sau:

Một là, thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị trong hoạt động lý luận.

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là định hướng giải pháp căn cốt để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay. Về vấn đề này, V.I. Lê-nin viết: “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít”(8). Trong khi đó, ở nước ta: “Một thời gian dài chúng ta dường như đồng nhất chính trị với lý luận. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, sự đồng nhất này cố nhiên cũng không đúng, nhưng dù sao lúc ấy có lý do khách quan nhất định cho sự đồng nhất trên mức độ nào đó mà không gây tổn hại cho cả lý luận, cả chính trị... Còn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cực kỳ phức tạp, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội. Đối tượng nhận thức và tác động ở đây là những hệ cấu trúc, những quá trình cực kỳ đa dạng và phức tạp, nhiều tầng nấc, là những quan hệ chằng chịt, muôn hình, muôn vẻ... Do đó, ở đây đòi hỏi phải tính đến không biết bao nhiêu là nhân tố có liên hệ; không biết bao nhiêu vòng khâu và cấp độ khác nhau của quá trình phân tích, tổng hợp mới đem lại được căn cứ khoa học cho một quyết định chính trị. Trong những điều kiện như vậy mà đồng nhất chính trị với lý luận khoa học thì thật tai hại - tai hại cho cả khoa học, cả chính trị”(9).

Thực tiễn cách mạng và quá trình hoạt động lý luận trên thế giới và ở Việt Nam đều chứng minh rằng khi lý luận tách rời chính trị, nó sẽ không còn là khoa học chân chính. Đảng cần đến lý luận khoa học làm cơ sở cho đường lối chính trị, cũng như lý luận chỉ thực sự khoa học với định hướng chính trị đúng đắn của Đảng, cả hai đòi hỏi đó đều có tầm quan trọng như nhau, đặc biệt là trong giai đoạn phức tạp hiện nay. Và hai đòi hỏi đó là thống nhất - nó là biểu hiện quan trọng nhất của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Đây chính là kim chỉ nam cho cán bộ lý luận giữ vững định hướng chính trị, không bị rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hai là, phải có bước đột phá trong nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ lý luận và xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận.

Đảng chỉ có thể làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động. Phát triển công tác lý luận của Đảng bằng cách tổng kết thực tiễn, tổng kết những cái mới đang hằng ngày, hằng giờ nảy sinh trong đời sống đất nước và cả thế giới, tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đó là phương hướng cơ bản để làm giàu trí tuệ của Đảng, để hoàn chỉnh và phát triển đường lối của Đảng. Để làm được điều đó, Đảng không thể không đánh giá đúng mức vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ lý luận và xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận trong tình hình mới. Xét đến cùng, việc xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận có phẩm chất chính trị vững vàng, có bản lĩnh khoa học cao, đó là vấn đề then chốt nhất.

Trước thực trạng công tác lý luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra; chất lượng nhiều sản phẩm nghiên cứu khoa học lý luận chưa cao; lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trình độ đội ngũ cán bộ lý luận còn bất cập so với yêu cầu mới. Công tác lãnh đạo, quản lý các hoạt động lý luận, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận, chính trị trong nhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu của xã hội thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy, trong thời gian tới, Ban Chấp hành Trung ương cần tổng kết Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 1-8-2007, “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, trên cơ sở đó xây dựng và ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận trong tình hình mới với những đột phá mới trong nhận thức về mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt là hiện thực hóa các mục tiêu 5 năm (2021 - 2025) và chiến lược đến năm 2045 đưa Việt Nam “trở thành nước phát triển, thu nhập cao” mà Nghị quyết Đại hội XIII xác định.

Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, lý luận. Bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên quan tâm đến công tác tư tưởng, lý luận. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng nâng cao trình độ, rèn luyện phong cách, trau dồi bản lĩnh chính trị của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, công tác nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, kết luận của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu và làm rõ những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận.

Ba là, dân chủ hóa trong nghiên cứu và sinh hoạt lý luận.

Trước đây và cả hiện nay có một số quan điểm cho rằng: “Lý luận coi như đã được giải quyết tất cả ở đường lối, nghị quyết của Đảng, bài nói và viết của lãnh tụ; công tác lý luận chỉ còn lại nhiệm vụ đơn thuần là thuyết minh đường lối, nghị quyết. Điều đó lâu ngày tạo thành thói quen ỷ lại, thậm chí coi chân lý chỉ có thể phát ra từ một vài người, từ đó đi tới chỗ dựa dẫm vào sự “bao cấp tư duy” từ phía lãnh đạo, không thúc đẩy sự tìm tòi, khám phá, mà lẽ ra đó là chức năng đích thực, là lý do tồn tại chính yếu của khoa học lý luận. Lại cũng vì thế mà tạo ra một quan niệm quá đơn giản rằng, hễ nói gì hơi khác với lãnh đạo, với nghị quyết, là coi như sai phạm chính trị, có thể bị quy chụp đủ thứ... Đường lối đổi mới tư duy của Đảng cho phép và đòi hỏi chúng ta khắc phục sai lầm đơn giản đó, một sai lầm đã kìm hãm một thời phát triển tư duy lý luận của Đảng”(10). Điều này càng được minh chứng khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tuân theo đúng quy luật thì đội ngũ cán bộ lý luận, cơ quan nghiên cứu lý luận phải là lực lượng tiên phong đi tìm chân lý, quy luật chính trị để cung cấp luận cứ khoa học để Đảng và người đứng đầu Đảng ta hoạch định Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nước ta. Thế nhưng, thay vì làm điều đó thì một số cán bộ lý luận chỉ thuyết minh, phụ họa một chiều. Đành rằng, việc làm này là cần thiết vì tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề mà Đảng và người đứng đầu Đảng ta đã chỉ ra; đồng thời, cũng là đợt sinh hoạt lý luận sâu rộng và rất có ý nghĩa hiện nay. Vì vậy, một mặt, bản thân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải có trình độ lý luận nhất định và khả năng định hướng cho công tác lý luận trong phạm vi cần thiết và điều hết sức quan trọng là Đảng phải xây dựng, sử dụng đội ngũ lý luận của mình và lãnh đạo lý luận một cách khoa học.

Mặt khác, phải phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận chính trị. Khoa học phát triển có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn, đã là nghiên cứu khoa học thì có thể có sai lầm. Nếu trong chính trị, sai lầm khó tránh khỏi, thì trong tìm tòi khoa học, khả năng phạm sai lầm càng nhiều hơn. Nếu quy ngay những sai lầm đó vào lập trường chính trị, hậu quả có thể rất tai hại. Khoa học cần bầu không khí dân chủ, tự do tư tưởng, vì chỉ trong môi trường ấy, nhà khoa học mới dám có suy nghĩ độc lập và đi đến cùng sự tìm tòi, khám phá của mình. Lý luận, khoa học không thể phát triển, nếu tư tưởng không được giải phóng, nếu thiếu thảo luận, tranh luận. Để đi đến chân lý, nhà nghiên cứu phải rất mực vô tư, khách quan. Chỉ có thái độ thực sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, dám từ bỏ những nhận thức cũ sai lầm, biết nghe lẽ phải, không định kiến, hết sức khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau mới có thể mở mang được kiến thức và đóng góp cho khoa học.

Dân chủ hóa sinh hoạt lý luận, nhưng không thể tách rời tính đảng. Vì vậy, trong nghiên cứu, thảo luận, cần dân chủ và phát huy tự do tư tưởng, nhưng phải dựa trên lý tưởng mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn, nghị quyết Đảng đã thông qua, trong đó mục tiêu tối thượng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Theo đó, cán bộ lý luận “Phải nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”(11). Đây chính là giải pháp cụ thể hóa nguyên tắc tránh “vơ đũa cả nắm” khi phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay.

Bốn là, tạo hệ động lực cho đội ngũ cán bộ lý luận cống hiến, sáng tạo và phát triển lý luận.

Thực chất của giải pháp này là giải quyết vấn đề lợi ích cho đội ngũ cán bộ lý luận. Kết quả công tác lý luận phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Xác định phương hướng nghiên cứu, tổ chức và quản lý quá trình nghiên cứu, kinh phí đầu tư, điều kiện thông tin, các chế độ chính sách,...; mỗi yếu tố có vai trò riêng, không thể coi nhẹ bất cứ yếu tố nào. Ví dụ, hiện nay đang nổi cộm lên vấn đề ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung, đặc biệt cho khoa học xã hội, cho nghiên cứu lý luận; vấn đề quan tâm và đổi mới các chính sách đối với cán bộ lý luận. Những vấn đề đó nếu không được giải quyết thì rất khó nói đến sự phát triển công tác lý luận và phát triển đội ngũ cán bộ lý luận.

Cần sớm đổi mới các chính sách đãi ngộ đối với cán bộ lý luận nói riêng, cán bộ khoa học nói chung. Trong cải cách chế độ tiền lương, cần quan tâm đãi ngộ đúng mức cả về vật chất và tinh thần; cả lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị cho đội ngũ những người làm khoa học, làm công công tác lý luận; vì đa số họ vừa là đảng viên, vừa là người trí thức của Đảng trong các lĩnh vực nghiên cứu, phát triển lý luận; giảng dạy và truyền bá lý luận. Đặc biệt, phải kịp thời phát hiện và tôn vinh những cống hiến của cán bộ lý luận, nhất là những người có tư duy lý luận đột phá vì lợi ích chung, vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đồng thời, tăng cường cung cấp thông tin, mở rộng giao lưu quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khoa học và các cơ quan khoa học tiếp cận rộng rãi và nhanh nhạy với những phát triển mới của thế giới, đó là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận giỏi toàn diện./.

NGƯỜI BẢO VỆ

Nguyên tắc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

 Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận đã khó, đấu tranh với nó còn khó khăn hơn, vì vậy, nhất thiết phải định hình nguyên tắc, đó là:

Một là, tránh “vơ đũa cả nắm”. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận; do đó, cần phân biệt, không đánh đồng lập trường chính trị với nhận thức tư tưởng, nhận thức lý luận. Nhiều khi do nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện mà phạm sai lầm về chính trị thì không nên vội vàng chính trị hóa và quy kết là “tự diễn biến”. Đương nhiên, nhận thức tư tưởng, lý luận sai lầm, nhất là sai lầm có ý thức, có hệ thống sẽ là khởi điểm dẫn đến sai lầm về chính trị. “Tự diễn biến” có quá trình chuyển hóa dần dần, không phải ngay một lúc. Có khi trong quá trình tự tha hóa, do điều kiện tác động nhất định, như qua tự phê bình và phê bình, qua đấu tranh, lại có thể quay về cái đúng. Cho nên đánh giá “tự diễn biến” và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải hết sức cẩn trọng, lưu ý chính xác các giới hạn, các nấc thang thay đổi nhận thức. Đối với họ, chúng ta cũng phải đấu tranh, phê phán, làm rõ đúng - sai thông qua đối thoại, trao đổi, tọa đàm, thuyết phục trên tinh thần đồng chí, tăng cường đoàn kết, đồng thuận, chúng ta phê phán quan điểm sai chứ không phê phán con người, xúc phạm, đả kích cá nhân. Khi họ đã cố tình chạy sang phía kẻ thù thì chúng ta kiên quyết đấu tranh.

Hai là, phải kết hợp giữa phòng và chống. Đây chính là quan điểm được Đảng xác định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”: “Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Để quan điểm này của Đảng đi vào cuộc sống, nhất là trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận, đòi hỏi “xây” phải đi liền với “chống”, không chỉ dừng lại ở khâu triển khai lãnh đạo, chỉ đạo, mà từng tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc biệt là mỗi cán bộ phải thật sự thấm nhuần và thực hiện nghiêm túc.

Ba là, phải thận trọng, kiên trì, chắc chắn. Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận là cuộc đấu tranh với “kẻ thù giấu mặt”, với “kẻ ở trong mình ta”, trong nội bộ ta, đúng như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy, chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thù ở ngoài và ở trong mình ta”(7). Thực chất đây là cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận ngay trong nội bộ ta, nếu không “thận trọng, kiên trì, chắc chắn” thì dễ rơi vào hai khuynh hướng tai hại “tả khuynh” và “hữu khuynh”, khiến hiệu quả phòng, chống không cao. Thực hiện nguyên tắc này, điểm căn cốt phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận, đâu là nguyên nhân khách quan, đâu là nguyên nhân chủ quan để xử lý thật “thận trọng, kiên trì, chắc chắn”.

NGƯỜI BẢO VỆ

Tính nguy hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” đã nhận định: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Không phải “vơ đũa cả nắm”, nhưng trong số đó không thể không có cán bộ lý luận như đã luận chứng ở trên. Theo đó, tính nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận là gấp bội phần so với đội ngũ cán bộ khác.

Thứ nhất, đối với cá nhân, “tự diễn biến” là sự chuyển biến nhận thức tư tưởng từ mặt đúng, mặt tốt, mặt vững vàng, trung kiên sang mặt xấu; nếu không phòng, ngừa, ngăn chặn, có thể dần trở thành chống đối và bị kẻ thù lợi dụng. “Tự diễn biến” là điều kiện cần và khi bị kẻ thù lợi dụng là điều kiện đủ để chuyển sang “tự chuyển hóa” - chuyển hóa cả về chính trị, tư tưởng và hành vi.  Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng”(3). Mấu chốt để nói “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị là ở hệ quan điểm, tư tưởng bị tha hóa, chuyển sang lập trường khác với lập trường tư tưởng, chính trị của Đảng, với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi đã “tự chuyển hóa” thì trở thành kẻ phản bội cách mạng, chạy sang hàng ngũ của kẻ thù. Nếu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rơi vào cán bộ lý luận vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và đứng đầu cơ quan truyền thông thì tính nguy hại vô cùng lớn, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân gắn với âm mưu, thủ đoạn của kẻ phản bội Ya-cốp-lép - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa, Trưởng Ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn là bài học đau đớn.

Thứ hai, đối với sự nghiệp cách mạng, nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ lý luận có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận không chỉ ảnh hưởng xấu đến chất lượng đội ngũ cán bộ lý luận của Đảng, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng; không những không cung cấp được đầy đủ những luận cứ khoa học cho Đảng hoạch định Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo đúng, mà còn có thể tạo ra nguy cơ không nhỏ nếu trong đội ngũ cán bộ lý luận là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cấp chiến lược vướng vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội... Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và con đường xã hội chủ nghĩa!”(4). Và Đảng ta cũng thẳng thắn nhận định: “Trong Đảng đã xuất hiện các ý kiến khác nhau về một số vấn đề cơ bản liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước”(5).

Thứ ba, đối với toàn xã hội: Đội ngũ cán bộ lý luận vướng vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ gây hoang mang, dao động, làm xói mòn, giảm sút lòng tin trong một bộ phận quần chúng với Đảng, Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, đồng thuận xã hội và làm vẩn đục tâm lý xã hội. Đây là hệ lụy đối với xã hội từ những “tấm gương xấu” đó. Về vấn đề này, 65 năm trước, trong bài Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, ngày 7-9-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng”(6). Các thế lực thù địch đã và đang tập trung công kích chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mưu toan làm cho một bộ phận cán bộ, nhân dân suy giảm niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm nảy sinh tâm lý hoặc tư tưởng nghi ngờ những thành tựu trong lịch sử và tương lai của dân tộc, mất lòng tin đối với con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự suy giảm đồng thuận xã hội đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội có thể xem là tác hại lớn nhất với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thậm chí, một số còn mong muốn và trông chờ sự thay đổi về chính trị. Đây là biểu hiện rất nguy hiểm và là nguyên nhân có thể dẫn đến những hành động manh động, những điểm nóng làm mất ổn định chính trị, thậm chí gây đảo lộn trật tự xã hội. Điều này đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây theo kịch bản “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bạo loạn chính trị, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, xã hội chệch hướng con đường, mục tiêu phát triển.

NGƯỜI BẢO VỆ


Nhận diện biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

Lâu nay, trên các diễn đàn học thuật, hoạt động nghiên cứu lý luận và công tác tư tưởng, vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta ít hoặc hầu như không đề cập đến vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận. Phải chăng biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ này chưa đến mức báo động; hay chúng ta sợ động chạm, là “vạch áo cho người xem lưng” để lảng tránh; hoặc chưa đủ căn cứ để xác định một số cán bộ lý luận của Đảng đã hay chưa rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Với phương châm “không có vùng cấm”, công cuộc đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nói chung và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay nói riêng cũng không phải là ngoại lệ; đồng thời, là vấn đề có tính cấp bách hiện nay.

Đội ngũ cán bộ lý luận là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, bao gồm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong hệ thống các trường Đảng các cấp, các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và cán bộ làm công tác lý luận chuyên trách trong toàn quốc có nhiệm vụ nghiên cứu, truyền bá các môn khoa học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đội ngũ cán bộ lý luận, một người có thể vừa là cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, cán bộ làm công tác tuyên truyền, vừa là trí thức cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu. Đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ lý luận, cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đức Bình khẳng định: “Đội ngũ cán bộ lý luận của ta nói chung có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Mấy năm nay, đội ngũ này được bổ sung khá nhiều bằng những lực lượng trẻ, được đào tạo khá hệ thống. Tuy nhiên, tình trạng vẫn là đông nhưng không mạnh... Hệ thống tổ chức nghiên cứu và quản lý công tác nghiên cứu vừa phân tán, vừa trùng lặp, thiếu sự phân công và phối hợp; chưa chú ý đến xây dựng các ngành khoa học trọng điểm và đội ngũ cán bộ đầu đàn; thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất. Kinh phí đầu tư cho khoa học xã hội và nghiên cứu lý luận còn ít”(1).

Biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ lý luận rất phức tạp, cần được phân tích, nhận diện chính xác. Đánh giá không chính xác thì có thể đẩy người của ta sang phía hàng ngũ kẻ thù, rất nguy hiểm. Đối chiếu với 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” ở đối tượng đặc thù là cán bộ lý luận chính trị, bước đầu chúng ta có thể nhận diện như sau:

Rơi vào xét lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Trong nghiên cứu lý luận, nhân danh nghiên cứu đề xuất, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới, một số cán bộ nghiên cứu lý luận cả đương chức lẫn nghỉ hưu cố tình tuyệt đối hóa những luận điểm đơn lẻ của các nhà kinh điển vốn đúng ở thời điểm lịch sử đó, nhưng đến nay không còn phù hợp, bị thực tiễn vượt qua; hoặc khi nghiên cứu các tác phẩm kinh điển có những luận điểm, tư tưởng được các nhà kinh điển trích dẫn lời của người khác (thường là kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin) để quy chụp là sai lầm... Từ đó, từng bước xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng từng luận điểm đến xuyên tạc, phủ nhận từng bộ phận tiến tới toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số cán bộ lý luận được Đảng và Nhà nước cử đi đào tạo, tham quan, nghiên cứu ở nước ngoài, thay vì trau dồi kiến thức, lại bị tác động bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; ca ngợi, tán dương một chiều hình mẫu chủ nghĩa tư bản, tự do tư sản; đồng thời, xuyên tạc, bịa đặt, áp đặt ý chí chủ quan khi đánh giá về Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng; bi quan và dao động với mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trong giảng dạy lý luận chính trị, cố ý lồng ghép quan điểm cá nhân trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng; phụ họa theo các quan điểm sai trái, thù địch của những phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước; cố tình thổi phồng các khuyết điểm, sai lầm của Đảng trước đổi mới, vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước của một bộ phận cán bộ, đảng viên để phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng đối với toàn xã hội tới các thế hệ sinh viên, học viên. Lợi dụng Đảng và Nhà nước ta phát huy dân chủ trong toàn xã hội, một bộ phận trí thức, trong đó có người từng là cán bộ lý luận nhân danh cái gọi là “nhà dân chủ” trong các hội nhóm phản động tung hàng loạt “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “tâm thư” với âm mưu đen tối như: Đòi Đảng, Quốc hội sửa đổi Hiến pháp theo hướng bỏ Điều 4, thực hiện “tam quyền phân lập”, đất đai thuộc quyền sở hữu tư nhân, lực lượng vũ trang phải “trung lập”; kích động các tầng lớp xã hội đấu tranh đòi thay đổi thể chế chính trị; lợi dụng những vấn đề nhạy cảm liên quan tới chủ quyền biển - đảo để xuyên tạc, phân hóa nội bộ và kích động chống phá quan hệ hữu nghị với một số nước láng giềng; phủ nhận công cuộc đổi mới đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, mưu toan hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Thậm chí, có nhóm đã tiến hành soạn thảo và tán phát dự thảo “Cương lĩnh xây dựng đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh” trên cơ sở nền tảng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011), nhưng cắt bỏ tất cả những gì đề cập đến việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ hết các cụm từ “chủ nghĩa Mác - Lê-nin”, “chủ nghĩa xã hội” và “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đảng ta đã tổ chức Đại hội XIII thành công và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(2). Trong khi đó, một số báo chí cho đăng tải những bài viết có xu hướng xét lại lịch sử. Xu hướng đáng báo động là một số cơ quan báo chí và truyền thông hùa theo các quan điểm sai trái, cho đăng tải với tần suất ngày càng nhiều các bài nói, bài viết, hình ảnh của những phần tử cơ hội chính trị, các quan điểm của học giả tư sản trái với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta.

Có thể nói, nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người hay trong một tổ chức không đơn giản chỉ dựa trên một vài biểu hiện bề ngoài. Vì thực tế hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh bản chất bên trong. Vì thế, việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp các dấu hiệu diễn ra có tính hệ thống trong một quá trình nhất định.

 NGƯỜI BẢO VỆ

Vì sao phải bảo vệ tổ quốc? Nội dung, vai trò của bảo vệ tổ quốc

Bảo vệ tổ quốc là một trong những nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của người dân Việt Nam. Vậy tại sao chúng ta phải bảo vệ tổ quốc? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thông qua nội dung sau đây

1. Bảo vệ tổ quốc là gì?

Bảo vệ tổ quốc là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều và vô cùng quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Bên cạnh đó bảo vệ tổ quốc còn là sự nghiệp của toàn dân, là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công  dân. Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc là những sự việc công dân phải thực hiện để góp phần vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. 

Theo đó thì bảo vệ tổ quốc là gắn liền với bảo vệ nhà nước, thể chế chính trị xã hội và lợi ích quốc gia, dân tộc. 

2. Vì sao phải bảo vệ tổ quốc? 

Bảo vệ tổ quốc chính là gìn giữ thành quả của cha ông. Để có một đất nước hòa bình và phát triển như bây giờ thì thế hệ cha ông chúng ta đã phải đánh đổi bằng cả máu và nước mắt để có thể cho chúng ta một đất nước độc lập, hòa bình và tự do như bây giờ. Chúng ta được sống một cuộc sống hạnh phúc, không chiến tranh bom lửa thì chúng ta phải nhớ về sự hi sinh to lớn của thế hệ đi trước. Có thể khẳng định rằng quá trình dựng nước và giữ nước là quá trình đầy gian khổ mà ông cha ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh hùng và bất khuất cùng với tinh thần độc lập tự chủ cho các thế hệ sau này. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu" các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" Đây không chỉ là lời rặn của chủ tịch Hồ Chí Minh là còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi thế hệ người Việt Nam

Cần bảo vệ tổ quốc vì Việt Nam nằm ở vị trí địa chính trị vô cùng nhạy cảm. Việt Nam nằm ở rìa đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á. Phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây giáp với Lào và Campuchia. Phía đông và nam giáp với Biển Đông. Bên cạnh đó thì vùng biển nước ta cũng tiếp giáp với vùng biển của nhiều nước như là Trung Quốc, Thái lan, Campuchia, Indonexia, Malaixia , Philippin, Brunay.... Do đó mà vị trí địa chính trị của chúng ta đặc biệt nhạy cảm và quan trọng khu vực Đông Nan Á, là cửa ngõ ra biển của nhiều nước. Từ Việt Nam chỉ mất khoảng 2 tiếng đồng hồ để bay tới thủ đô của các nước Đông Nam Á. Hơn nữa thì do tiếp giáp với Trung Quốc mà chúng ta dễ trở thành miếng mồi ngon để Trung Quốc và các quốc gia phương Tây có thể nhắm vào, nhằm mục đích tạo dựng căn cứ quân sự cho các hoạt động chiến tranh xâm lược nếu có. 

Bảo vệ tổ quốc chính là bảo vệ những thành viên trong gia đình những người bạn yêu thương. Mỗi gia đình chính là một phần của xã hội của đất nước bởi vậy mà bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng, bảo vệ sự hi sinh anh dũng của ông cha ta cũng chính là ta đang bảo vệ những người mình yêu thương nhất, cho họ có cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc. 

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thông nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị trừng trị theo pháp luật. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. 

3. Trách nhiệm của công dân trong bảo vệ tổ quốc. 

Để có thành quả như bây giờ thì biết bao nhiêu thế hệ phải hi sinh, phải đổ máu xuống để bảo vệ cho nền độc lập của nước nhà. Chúng ta là những người con của đấ nước Việt Nam chúng ta phải biết bảo vệ những thành quả của cuộc cách mạng đó, bảo vệ chủ quyền và độc lập của một dân tộc. 

Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân được cụ thể trong Hiến pháp 2013. Điều 44 quy định: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”. Tại Điều 45 xác định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”. 

 Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, vùng trời, vùng biển Tổ quốc mà còn gắn liền với việc bảo vệ Đảng và Nhà nước; bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt và đội ngũ thanh niên là những người chiến sĩ anh dũng, luôn chắc tay súng canh giữ toàn vẹn từng tấc đất và biển, trời quyê hương.

Luật nghĩa vụ quân sự cũng đã khẳng định, bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được hiểu là nhập ngũ vào quân đội, ngoài ra còn có việc thực hiện nghĩa vụ thay thế, song đều có mục tiêu chung là bảo vệ Tổ quốc. 

Chúng ta cần phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, ngày càng hiện đại. 

Tăng cường thực hiện giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân về nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, đảm bảo sự nhận thức một cách thống nhất trong đất nước về tình yêu đất nước, tổ quốc. 

Luôn luôn chấp hành nghiêm túc các quy định và chủ chương chính sách, đường lối của đảng đề gia. Ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện sức khỏe, bảo vệ tổ quốc không chỉ những việc lớn mà từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày. 

Bản thân nên tích cực tham gia các phong trào bảo vệ trật tự, an ninh trong trường học và tại nơi mình cư trú. Sẵn sàng tham gia nghĩa vụ quân sự, đồng thời tích cực vận động người thân trong gia đình tiến hành tham gia nghĩa vụ quân sự để được huấn luyện đào tạo những kiến thức cơ bản về quân trang. 

Tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa của địa phương như thăm hỏi và tặng quà các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng nhân các ngày kỉ niệm như là thương binh liệt sĩ, thực hiện chăm sóc và dọn dẹp nghĩa trang liệt sĩ,.... Đấy là một cách để chúng ta thể hiện tình yêu quê hương đất nước, thể hiện tình cảm với những con người đã luôn hi sinh hết mình vì dân tộc để cho ta những tháng ngày độc lập và tự do như bây giờ. 

Trên đây là toàn bộ những nội dung và thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến bảo vệ tổ quốc, theo đó hi vọng rằng những nội dung mà chúng tôi viết đã phần nào đó truyền tải đến cho các bạn thêm tình yêu đất nước, tinh thần tự tôn dân tộc, có những đóng góp và gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc. Bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ của tất cả người dân Việt Nam, từ già, trẻ, gái trai ai ai cũng phải có nghĩa vụ phải bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng mà thế hệ cha ông chúng ta đã nằm xuống và gìn giữ nó. 

NGƯỜI BẢO VỆ

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa!

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển tất yếu - bài học truyền thống quý báu của ông cha ta trong lịch sử dân tộc. Tuân thủ quy luật và kế thừa bài học truyền thống đó, Đảng ta đã vận dụng, phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, toàn diện, bền vững.

Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, văn bản làm cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) và Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là một trong hai chiến lược cơ bản, quan trọng hàng đầu của đất nước, đồng thời là chiến lược quốc gia bao trùm, văn bản pháp lý nền tảng mang tính chỉ đạo chiến lược đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược chuyên ngành.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành ngày 25/10/2013 là sự kế thừa, phát triển phù hợp tình hình thế giới, khu vực và tình hình trong nước, từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, năm 2003. Mục tiêu Chiến lược là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là mục tiêu chiến lược phản ánh đúng lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc, phù hợp tình hình thế giới, khu vực, đất nước và có giá trị thực tiễn rất to lớn.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị...; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện sâu sắc sự phát triển tư duy mới của Ðảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), là định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI trong bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có những khó khăn, thách thức rất lớn do biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực; dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ BVTQ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Những kết quả nổi bật có thể kể đến như: Đã bảo vệ có hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bao gồm vùng đất, vùng trời, biên giới quốc gia, biển đảo và thềm lục địa; xử lý hợp lý các tình huống quốc phòng, an ninh trên vùng biển đảo, biên giới và trong nội địa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc; nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân được xây dựng ngày càng vững chắc, trong đó luôn coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, kết hợp kinh tế với quốc phòng; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đạt được những kết quả nhất định, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ; triển khai xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh bước đầu đạt được các kết quả quan trọng. Quân đội luôn xứng đáng là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Thực hiện đúng chính sách “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, chúng ta đã giữ vững được độc lập, tự chủ và môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế được mở rộng, vị thế và uy tín của đất nước được nâng cao, sức mạnh tổng hợp quốc gia BVTQ được nâng lên một bước…

Có thể nói, sự nghiệp BVTQ của chúng ta thời gian qua được thể hiện tổng quát trong lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đó là chưa bao giờ đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay.

Chúng ta BVTQ trong tình hình thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường hội nhập quốc tế, chúng ta đã phát huy được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại. Ở trong nước, chúng ta có sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp BVTQ. Kinh tế, xã hội phát triển, tạo nền tảng vững chắc cho tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, BVTQ; công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt được những quả nhất định, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết, sức mạnh tổng hợp quốc gia được tăng cường. Môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo thuận lợi cho triển khai các nội dung, phương án, kế hoạch của Chiến lược BVTQ. Nền quốc phòng toàn dân được quan tâm xây dựng ngày càng vững chắc, nhất là xây dựng “thế trận lòng dân”, khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, đặc biệt là xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, nhất là xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, có sức cơ động cao, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại, có sức mạnh chiến đấu đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ, xứng đáng là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Khái quát lại có thể khẳng định thế và lực của đất nước ta chưa bao giờ mạnh như hôm nay là điều kiện thuận lợi, cơ hội lớn cho sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Sự nghiệp BVTQ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới

Bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, sự nghiệp BVTQ của chúng ta cũng phải vượt qua những khó khăn, thách thức. Chúng ta BVTQ khi thế giới và khu vực dự báo sẽ còn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta. Các nước lớn sẽ tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thoả hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối nội bộ nước khác. Nhiều điểm nóng về an ninh tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược mới. Khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. An ninh truyền thống cũng như phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng, an ninh mạng... đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia. Châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn.

Ở trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu - nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng. Trên một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm và trong một số nhóm đối tượng còn tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định. Tranh chấp biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... là những nguy cơ lớn luôn luôn có thể xảy ra. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước sẽ còn câu kết với nhau tăng cường các hoạt động "diễn biến hoà bình", "phi chính trị hoá" lực lượng vũ trang với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, công khai và trực diện hơn.

Phát biểu bế mạc tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) ngày 8/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ ra rằng, bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết mới của Trung ương về nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng này. Luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; dựa vào dân, lấy "dân là gốc", khơi dậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hoá, yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng "thế trận lòng dân", lấy "yên dân" là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Phải khẳng định rằng, hiện nay tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược, sách lược phù hợp với tình hình mới, nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh quốc phòng, an ninh, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, đưa đất nước phát triển bền vững, hùng cường.

Thời gian tới, chúng ta cần triệt để phát huy các thuận lợi và cơ hội, vượt qua các khó khăn thách thức, kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ và môi trường hòa bình, ổn định đất nước. Tăng cường hiệu quả các giải pháp hòa bình, trong các điều kiện thời bình, chủ động chuẩn bị đất nước về mọi mặt, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột và chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy./.

NGƯỜI BẢO VỆ