Nghiên
cứu Tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư có giá trị cả về mặt lý luận và
thực tiễn trong việc tiếp tục kiên định và sáng tạo để xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Như
chúng ta đều biết, trong nghiên cứu về sự vận động đi lên của xã hội
loài người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định sự
phát triển tất yếu của xã hội loài người là sẽ đi đến chủ nghĩa cộng
sản, mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội, là chế độ thay thế chủ
nghĩa tư bản. Trong các nghiên cứu của mình, C.Mác và Ph.Ăng-ghen chỉ
ra mô hình của xã hội cộng sản và xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương
lai cũng như con đường, biện pháp để đi đến các xã hội đó. Trải qua thời
gian, quá trình nhận thức, hoạt động thực tiễn, lý luận về mô hình chủ
nghĩa xã hội cũng như biện pháp để đi đến chủ nghĩa xã hội của các nhà
kinh điển có những thay đổi nhất định, thể hiện quan điểm phát triển,
không giáo điều của các ông khi nghiên cứu về sự phát triển xã hội.
Chính bản thân các ông cũng khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý
luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải
học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”.
Kế
thừa các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, khi lãnh đạo nước Nga Xô
viết thực hiện cách mạng, xây dựng đất nước, V.I.Lê-nin cũng đã bổ sung
một số lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội cũng như con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội, mà nhận định về thời kỳ quá độ cũng như chính sách kinh
tế nới (NEP) là một minh chứng cho sự kiên định, đồng thời là sự sáng
tạo của V.I.Lê-nin. Trên cơ sở đó, V.I.Lê-nin đã từng nhắc nhở “Chính vì
chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào
đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một
kim chỉ nam sinh động cho hành động”
và do đó, nếu quên điều này “thì chúng ta sẽ làm cho chủ nghĩa Mác trở
thành phiến diện, quái dị, chết cứng, sẽ vứt bỏ linh hồn sống của nó, sẽ
phá hủy cơ sở lý luận cơ bản của nó – tức là phép biện chứng, học
thuyết về sự phát triển lịch sử toàn diện và đầy mâu thuẫn; như thế
chúng ta sẽ phá hủy sự liên hệ giữa chủ nghĩa Mác với những nhiệm vụ
thực tiễn nhất định của thời đại, những nhiệm vụ có thể biến đổi ở mỗi
bước ngoặt mới của lịch sử”.
Ông khẳng định: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái
gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ
nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn
trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã
hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”.
Theo ông, điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc đòi hỏi phải áp
dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản trên cơ sở “sao cho những
nguyên tắc ấy được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp, cho thích hợp với những đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước ‐ dân tộc”.
Tiếp
cận chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực
tiễn Việt Nam, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước có xuất phát
điểm là nước thuộc địa nửa phong kiến. Đó là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội; là “cách mạng thuộc địa không chỉ trông chờ vào
kết quả của cách mạng vô sản ở chính quốc, hơn nữa cần phải chủ động và
có thể giành thắng lợi trước, và bằng thắng lợi của mình sẽ góp phần vào
sự nghiệp cách mạng ở chính quốc”...
Kế
thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong Tác
phẩm, Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba
tư cách: Chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể”.
Như vậy, có thế thấy, việc xem xét chủ nghĩa xã hội với tư cách một chế
độ cần phải đặt trong trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ
thể, trong đó bao hàm việc xem xét chủ nghĩa xã hội với tư cách một chế
độ. Với tư cách một chế độ, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã được thực hiện
ở nhiều quốc gia trên thế giới. Thành công có, mà thất bại cũng đã gặp
phải. Điều đó cho thấy, trong thời gian tới, quá trình hiện thực hóa lý
luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một mặt, cần kiên định, giữ vững các nguyên tắc nền tảng; mặt khác, phải căn cứ vào tình hình thực tiễn cụ thể để xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi, lộ trình phù hợp.
Trong
giai đoạn hiện nay, tiếp tục kiên định và sáng tạo trong xây dựng chủ
nghĩa xã hội còn đòi hỏi chúng ta phải tránh căn bệnh “kiêu ngạo cộng
sản”. Bởi bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng phải đối mặt
với không ít khó khăn, trở ngại. Đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ rõ, về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Về văn hóa, xã hội,
khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và
nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hóa, đạo đức xã
hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Về chính trị,
suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống và tình trạng tham
nhũng, lãng phí vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong
khi đó, các thế lực xấu, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để chống phá,
gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng chí Tổng Bí thư cũng nhấn
mạnh rằng, trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình
thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã
hội chủ nghĩa. Cùng với đó là tình hình thế giới biến động khôn lường,
cả về vấn đề sinh thái, vấn đề quan hệ giữa các nước và tác động của
công nghệ thông tin tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội tới mỗi quốc
gia, mỗi tổ chức, cá nhân. Điều đó cho thấy, chúng ta cần tiếp tục kiên
định và sáng tạo để chủ nghĩa xã hội ngày càng được hiện thực hóa ở
Việt Nam.
Tại
sao phải “kiên định” và “sáng tạo”, “kiên định” và “sáng tạo” có mối
quan hệ với nhau như thế nào? Về vấn đề này, Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Kiên
định phải gắn liền với sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định
phù hợp với thực tiễn, với yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển đất
nước”. Bởi nếu chỉ “kiên định” một
cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, nhưng nếu
không kiên định, mà “đổi mới”, “sáng tạo” một cách vô nguyên tắc thì
cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”. Chúng ta
cần kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược
của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn đề,
từng thời điểm và tuỳ theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư
tưởng lớn của Bác Hồ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, như đồng chí Tổng Bí thư
nhấn mạnh: “là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các
nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp
tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Theo
nghĩa đó, cần nắm vững những nguyên lý nền tảng, bản chất khoa học và
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng đi lên
chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật vận
động của lịch sử xã hội loài người. Con đường phát triển của nước Việt
Nam là không chịu sự chi phối, sự hướng lái của bất cứ thế lực bên ngoài
nào và chỉ có con đường của chủ nghĩa xã hội thì mới đem lại độc lập,
tự do cho dân tộc, cho mỗi người dân. Trong Tác phẩm, đồng chí Tổng Bí
thư dẫn lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và
chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân
tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho
tất cả mọi người, cho các dân tộc”. Đồng thời, cần phải
kiên định đường lối đổi mới, bởi chính đường lối đổi mới được thể hiện
qua hơn 35 năm đổi mới đã minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối này.
Cần kiên định với nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi “sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”,
đặc biệt là các nguyên tắc: tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, đoàn kết, gắn bó mật
thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật… Các nguyên tắc này thống nhất và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Coi nhẹ hoăc bỏ qua một nguyên tắc nào trong các nguyên tắc trên cũng
làm cho Đảng suy yếu, mất vai trò lãnh đạo như sự sụp đổ vai trò lãnh
đạo của một số Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu thời kỳ những
năm 90 của thế kỷ XX là một minh chứng.
Kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần tuân theo quy luật kế
thừa và đổi mới trong phát triển. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng ở Việt
Nam không phải bắt đầu từ hư vô, mà có sự kế thừa những thành quả của
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kế thừa những giá trị vật chất và
tinh thần của cha ông, là tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, thương
yêu, đùm bọc nhau, là ý chí vươn lên chống lại những hoàn cảnh khắc
nghiệt. Đồng thời, chủ nghĩa xã hội được xây dựng ở Việt Nam còn kế thừa
thành tựu phát triển của chủ nghĩa tư bản với tư cách là một nấc thang
trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Song, đó không phải
là sự kế thừa một cách nguyên xi, mà như đồng chí Tổng Bí thư nhắc nhở:
“nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất
công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những
thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ
nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà
nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương
nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm
khoa học, phát triển”. Đó còn là kế thừa truyền thống
trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục
tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở
chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững độc lập, tự chủ
về đường lối; nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế để đề ra đường lối đúng và tổ
chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng; gắn bó máu thịt giữa
Đảng và nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và
mục tiêu phấn đấu; đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ
trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình
thương yêu đồng chí; đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng dựa trên
những nguyên tắc và mục tiêu cao cả.
Với tư cách là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đòi hỏi Đảng phải luôn nhận
thức rõ “bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc, đầy đủ hơn”, chăm lo, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, bởi đây “là
giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản
Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, hiện
đại; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
Cùng với đó, cần chú trọng đến giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và
đội ngũ thanh niên với tư cách là chủ nhân tương lai của đất nước.
Kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đòi hỏi phải đấu tranh
phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Bởi đây là những tệ
nạn ảnh hưởng xấu đến mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc. Nó cũng yêu cầu đấu tranh chống lại mọi biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”; đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái thù địch.
Kiên định và sáng tạo trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam yêu
cầu Đảng cần thường xuyên tự đổi mới, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây
dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức cán bộ. Tiếp tục
nâng cao bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền khoa học trong hoạch
định và thực hiện đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam
và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế, cụ thể hóa, triển
khai thực hiện đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình
độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ,
đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán
bộ cấp chiến lược. Chỉ có như vậy, Đảng mới nâng mình
lên, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước, của sự vận động
không ngừng của những nhân tố khách quan và chủ quan.
Kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đòi hỏi Đảng tiếp tục tổng
kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận về đổi mới. Đổi mới là một sự nghiệp
chưa có tiền lệ, Đảng phải vừa làm, vừa tổng kết kinh nghiệm để không
ngừng bổ sung, phát triển lý luận. Vì vậy, công tác tổng kết thực tiễn
có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nghiên cứu lý luận của Đảng.
Nhiệm vụ tổng kết thực tiễn xuất phát từ bài học lớn mà Đại hội VI của
Đảng (tháng 12-1986) đã đúc kết là Đảng phải hành động theo quy luật
khách quan, xuất phát từ thực tiễn mà xây dựng đường lối, phát triển lý
luận. Các nhiệm kỳ đại hội của Đảng đều nhấn mạnh đến yêu cầu tổng kết
thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách. Tầm
quan trọng đặc biệt của thực tiễn trong công tác lý luận của Đảng xuất
phát từ chính vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và tiêu
chuẩn của lý luận; từ đặc điểm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là xây dựng một chế độ xã hội hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ,
phải vừa làm, vừa tổng kết kinh nghiệm để phát triển lý luận. Thực tiễn
là cơ sở của lý luận, bởi mọi tri thức được hình thành dù gián tiếp hay
trực tiếp, đều có nguồn gốc từ thực tiễn. Thực tiễn là động lực của lý
luận, bởi hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, biến đổi bản thân
con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện các năng lực của chính
mình, trong đó có năng lực nhận thức. Thực tiễn luôn đề ra những nhu
cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển nhận thức, đòi hỏi phải có tri
thức mới, nhất là những tri thức được khái quát thành lý luận để trở lại
chỉ đạo thực tiễn. Thực tiễn là mục đích của lý luận, bởi lý luận không
chỉ nhằm giải thích thế giới, mà quan trọng hơn - còn nhằm chỉ đạo thực
tiễn, cải tạo thế giới.
Trong
thời gian tới, nội dung hoàn thiện lý luận đổi mới rất rộng, bao gồm
toàn bộ thể chế phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cần chú ý
đến một số nội dung cơ bản sau: trong lĩnh vực kinh tế, đó là
tiếp tục hoàn thiện, phát triển lý luận về nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền
kinh tế, về kinh tế tập thể, về các hình thức sở hữu, về quản lý vốn nhà
nước, về kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh. Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường,
đó là xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ
mới; xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con
người Việt Nam; về biến đổi cơ cấu xã hội trong mối liên hệ với phân
tầng xã hội, phân hóa giàu - nghèo gắn với sự phát triển, nâng cao năng
lực của giai cấp công nhân, vị trí, vai trò của giai cấp nông dân; về
ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong lĩnh vực chính trị, đó là
tiếp tục hoàn thiện lý luận, giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; bảo đảm tránh chồng chéo, nâng cao
hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò,
quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển. Đó còn
là tiếp tục hoàn thiện lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền và cầm quyền
khoa học. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đó là
vấn đề chiến lược trong điều kiện đối tượng, đối tác và phương thức
chiến tranh thay đổi; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân trong tình hình mới; bảo vệ chủ quyền an ninh biên
giới, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của đất nước; bảo vệ an ninh chính
trị, an ninh văn hóa, an ninh mạng, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác
với các nước, các tổ chức quốc tế trong bối cảnh mới.
Kiên định và sáng tạo
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là làm sao để chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng thấm sâu vào
các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
đảng viên. Bởi, chỉ có hiểu biết, có nhận thức sâu sắc thì mới có thể
thực hiện đúng, giữ vững nguyên tắc, không dao động, dân túy, “tả
khuynh” hay “hữu khuynh”. Do đó, cần không ngừng tăng cường công tác
giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho các tầng lớp nhân dân, trước
hết là đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý, đảng viên; đẩy mạnh kiểm tra,
giám sát việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành cơ
chế, chính sách, nhằm tránh trục lợi, sai lệch quan điểm, chủ trương,
đường lối của Đảng. Đồng thời, cần lấy tiến bộ xã hội, hiệu quả kinh tế -
xã hội, sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân, sự vững mạnh của đất nước,
đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội làm mục tiêu để thực
hiện./.