Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

RAO GIẢNG THIÊN ĐƯỜNG DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN VÀ HẠNH PHÚC NHƯNG CHẲNG PHẢI THẾ ĐÂU!: "Ở TRONG CHĂN MỚI BIẾT CHĂN CÓ RẬN"!

     Hãy tưởng tượng một quốc gia ph*ản độ*ng và phân biệt chủng tộc đến mức cuộc vận động bảo vệ người da đen “Black Lives Matter” bị coi là “khẩu hiệu k*hủng b*ố” ngay bên trong biên giới của nó!

Hãy tưởng tượng một quốc gia bất bình đẳng về kinh tế đến mức một phần nghìn dân số "thượng đẳng" của đất nước có nhiều của cải hơn 90% dân số bên dưới của quốc gia đó. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia bất bình đẳng về chủng tộc đến mức sở hữu trung bình về tài sản hộ gia đình của người da đen theo tỷ lệ chỉ bằng 7 xu trong khi tài sản trung bình của các hộ gia đình da trắng là 1 đô la (tức là người da đen chỉ có tài sản tương đương 7% so với da trắng - người dịch). 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phân biệt giới tính đến mức phụ nữ của họ kiếm được 82 xu trong khi đàn ông có công việc tương tự được trả 1 đô la. Quốc gia đó luôn có 15% đến 20% phụ nữ đã từng bị c*ưỡng hi*ếp, trẻ em gái và phụ nữ thường xuyên bị quấy rối tình dục và hứng chịu bạo lực gia đình. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phân biệt giới tính đến mức quyền của phụ nữ trong việc làm chủ cơ thể của chính họ và các quyết định sinh sản của họ bị tấn công liên tục vì chế độ gia trưởng. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phân biệt chủng tộc đến mức các bang của họ thông qua luật cấm quyền bầu cử của những người không phải da trắng và cấm nội dung giảng dạy trung thực về lịch sử áp bức chủng tộc lâu dài và liên tục của đất nước, bao gồm hai thế kỷ rưỡi của chế độ nô lệ da đen. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phân biệt đẳng cấp đến mức họ đánh thuế giáo viên, thư ký và nữ nhân viên phục vụ ở mức cao hơn so với việc đánh thuế các công ty và đầu sỏ tài chính ký sinh trên chính sức lao động của họ, mức thuế đó là 13% so với 3%. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia theo chủ nghĩa đẳng cấp và chuyên quyền đến mức để mặc cho một đại dịch gây ch*ết người tràn lan chỉ để nhằm tạo ra sự gia tăng sự thâu tóm của cải quá mức vốn đã cực kỳ vô lý trước đó, hàng trăm nghìn công dân của họ c*hết vì căn bệnh này vì không được chữa trị. 

Hãy tưởng tượng một “nền dân chủ” theo kiểu giai cấp và chuyên quyền đến mức nó hầu như không thể thay thế vị tổng thống tỷ phú p*hát x*ít của mình, luôn là một tên trùm tập đoàn bảo thủ đã hứa trước với những người ủng hộ giàu có của hắn rằng “Không ai có thể thay đổi tiêu chuẩn, về cơ bản sẽ không có gì thay đổi” khi hắn trở thành giám đốc điều hành hưởng lương từ các trùm tư bản. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tự xưng là quê hương và trụ sở của nền dân chủ trong khi chính trị và chính phủ của quốc gia đó được cấu trúc để khiến phần lớn dư luận dân chúng không thích hợp dưới sự cai trị ẩn giấu của chế độ tư bản độc tài không được hưởng quyền bầu cử thực sự. 

Hãy tưởng tượng một “nền dân chủ” p*hản độ*ng đến mức nó không tôn trọng ý kiến của đa số khi chỉ cấp cho người lao động mức lương tối thiểu bằng một nửa mức sống tối thiểu hoặc cho phép thông qua luật cấm người lao động tổ chức các công đoàn hoặc đòi hỏi một dự luật để ngăn chặn đàn áp cử tri, phân biệt chủng tộc và bầu cử cánh hữu của các khu vực bầu cử. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phản động đến mức các quan điểm về yếu tố đạo đức được đa số dân chúng ủng hộ về việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mọi công dân là một quyền con người cơ bản lại bị hạ thấp là “quan điểm quá cấp tiến” bởi các phương tiện truyền thông doanh nghiệp thống trị và tầng lớp chính trị đầu sỏ của nó. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia không lành mạnh đến mức có tỷ lệ béo phì là 42% cùng với nhiều số liệu kh*ủng k*hiếp khác về sức khỏe khiến quốc gia đó trở thành quốc gia giàu có không lành mạnh nhất thế giới, trong khi hệ thống chăm sóc sức khỏe dựa trên lợi nhuận của nó có giá cả đắt nhất thế giới. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tuyên bố là tượng đài của “chủ nghĩa tư bản thị trường tự do” ngay cả khi giai cấp thống trị tư bản của họ hoàn toàn dựa vào sự hỗ trợ và bảo vệ của chính phủ. 

Hãy tưởng tượng một “nền dân chủ” để cho chính nó được chủ trì bởi những kẻ biến thái theo chủ nghĩa p*hát x*ít, những kẻ đã tạo ra một loại virus gi*ết ch*ết gần 700.000 người dân của chính nó cho đến thời điểm này. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tự gọi mình là mô hình “dân chủ”, nhưng: không có được cuộc bầu cử trực tiếp tổng thống của mình; cấp cho các thành phần cánh hữu da trắng, chiếm tỷ lệ rất thấp trong dân số, được quyền đại diện quá mức trong cơ quan lập pháp đầy quyền lực của mình; nhân viên của tòa án tối cao thao túng toàn bộ quyền lực của nó áp đặt lên dân chúng bởi những người được bổ nhiệm suốt đời và đều thuộc cánh hữu; đưa ra các cuộc bầu cử và chính sách chỉ để bán cho các nhà quản lý ngân hàng vận động hành lang chịu chi số tiền lớn; chỉ cấp quyền lực cho hai đảng chính trị, cả hai đều chỉ là tổ chức tội phạm của chế độ độc tài tư bản, thực tế không hề được bầu chọn và có mối liên quan khăng khít với nhau, thực chất chỉ là hai nhánh của "đảng kinh doanh". 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tự hào về “báo chí tự do” như một “quyền lực thứ tư” dân chủ vĩ đại trong khi các phương tiện truyền thông của nó bị chi phối bởi một số ít các tập đoàn mà chủ sở hữu và người quản lý của nó luôn tận tâm tẩy não, nhồi sọ nhằm tạo ra sự đồng ý của quần chúng đối với chế độ độc tài đó. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia có những người đứng đầu truyền hình biết nói những điều không thể nói trong hơn mười phút về những vấn đề nghiêm trọng nhất trước khi dẫn người xem chuyển hướng đến một loạt các quảng cáo có tính thao túng chuyên nghiệp để bán hàng hóa và dịch vụ cho những người giàu có. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tôn vinh và cổ vũ sự tàn ác trong xã hội nhằm bão hòa dân số của mình bằng những hình ảnh cổ vũ bạo lực tàn bạo và gi*ết người hàng loạt, đồng thời đề cao quyền lực ích kỷ và coi của cải là mục đích thực sự duy nhất của cuộc sống, là ý nghĩa thực sự duy nhất của “bản chất con người”. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia trao quyền cai trị tự do cho các tập đoàn vi trùng xã hội để gây ô nhiễm dư luận và tư tưởng bằng những lời nói dối độc hại và thông tin sai lệch về những vấn đề có ý nghĩa nghiêm trọng như thảm họa khí hậu và các chế độ chính trị khác. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia có những ưu tiên quá sai lệch đến mức hàng chục triệu trẻ em của họ sống dưới mức nghèo đói cùng cực trong khi hơn một nửa ngân sách tùy ý chi tiêu của chính phủ được dùng để trả cho một đế chế quân sự có hơn 800 căn cứ trên hơn 100 quốc gia, đồng thời dành một khoản trợ cấp công khổng lồ cho các công ty “quốc phòng” hoạt động vì lợi nhuận. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia rởm đến mức tự xưng là “vùng đất của tự do” khi mà hệ thống giam giữ hàng loạt của nó chiếm gần 25% số tù nhân trên toàn thế giới, trong khi quốc gia này chỉ là nơi sinh sống của chưa đầy 5% dân số thế giới. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia phân biệt chủng tộc khi có 60% da trắng nhưng 2/3 số tù nhân của họ lại là da đen và gốc Latinh. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia có bộ máy cảnh sát bạ*o lự*c đến mức đã gi*ết hơn 32.000 công dân của quốc gia kể từ năm 2000, với ít nhất 60% nạn nhân là người da đen, người gốc Latinh, thổ dân da đỏ và người gốc châu Á. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia bạo lực đến mức luôn có hơn 35.000 ca tử vong liên quan đến s*úng đ*ạn mỗi năm. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia bão hòa bởi s*úng đ*ạn đến mức có đủ v*ũ k*hí - bao gồm 20 triệu v*ũ k*hí t*ấn c*ông quân sự được bán hàng năm - cho tất cả phụ nữ, trẻ em và đàn ông, với gần 400 triệu khẩu s*úng đang lưu hành. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia sinh thái k*hủng kh*iếp đến mức cần thêm ít nhất bốn hành tinh nữa để có thể duy trì tỷ lệ sử dụng tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm bình quân đầu người - điều này xảy ra bởi nó thường xuyên đầu độc đất đai, không khí, nước, thực phẩm và đồ uống. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia đang vượt quá các nhu cầu cấp bách một cách kh*ủng kh*iếp trong quy hoạch xã hội và môi trường với sự thống trị của chế độ vô chính phủ về tư bản và tỷ suất lợi nhuận. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia được cho là “hậu phân biệt chủng tộc” khi giả dối tôn vinh tưởng nhớ về một nhà lãnh đạo dân quyền vĩ đại của người da đen mà họ đã hành quyết hơn nửa thế kỷ trước, trong khi vẫn đày đọa phần lớn dân số da đen của mình trong các cộng đồng phân biệt chủng tộc d*ã m*an và bất bình đẳng. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia không biết gì về lịch sử của chính mình đến mức hầu hết các công dân của nó không thể biết khi nào hoặc tại sao nó được thành lập, hoặc khi nào và tại sao nó g*iết lẫn nhau trong một cuộc nội chiến lớn và ai đứng về phía nào trong cuộc xung đột kinh hoàng đó. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia không biết gì về lịch sử phương Tây và thế giới, đến nỗi chỉ một thiểu số nhỏ dân số của họ biết Adolf Hitler và Đức Quốc xã của hắn ta là gì và ai đã chiến đấu với ai trong Thế c*hiến thứ hai. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia mà công dân không có khả năng nhận ra rằng các đảng chính trị lớn của nó đều đã trở thành các đảng theo chủ nghĩa ph*át x*ít. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia để cho hai đảng chính trị thống trị của mình trở nên p*hát x*ít nhưng không thể nói như vậy ngay cả sau khi các đảng đó đã cố gắng lật đổ cuộc bầu cử tổng thống của quốc gia và đang công khai chuẩn bị cư*ớp đi cuộc bầu cử tiếp theo. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia tuyên bố là nhà vô địch toàn cầu về tự do, dân chủ và chính trực trong khi xâm lược, chiếm đóng, lật đổ chế độ và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, gi*ết c*hết hàng chục triệu người trên con đường chinh phục của nó. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia đồi bại đến mức gọi việc nhập ngũ vào các lực lượng vũ trang của mình để gi*ết và hành hạ mọi người trên khắp thế giới là “sự phục vụ”. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia xoắn đến mức gọi cuộc tấ*n c*ông và xâm lược của đế quốc và giết người hàng loạt ở nước ngoài là “bảo vệ quê hương” và “bảo tồn tự do”. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia giàu có nhưng không cung cấp đầy đủ thức ăn, quần áo, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho tất cả người dân của mình nhưng lại cấp các hợp đồng “cộng thêm chi phí” trị giá hàng nghìn tỷ đô la cho các nhà sản xuất phương tiện h*ủy di*ệt hàng loạt giàu có. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia dành phần khổng lồ trong chi tiêu tùy ý của liên bang vào tình trạng c*hiến tr*anh vĩnh viễn có thể làm n*ổ tung thế giới nhiều lần thay vì cho việc sử dụng vắc-xin, thuốc men và các hàng hóa và dịch vụ y tế khác để đánh bại đại dịch đã gi*ết ch*ết hơn 4 triệu người trên toàn thế giới. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia nơi mà một nhóm chủng tộc đặc quyền tưởng tượng một cách ngớ ngẩn rằng họ chứ không phải các chủng tộc bị áp bức bởi họ mới là những người phải chịu đựng sự phân biệt chủng tộc nhiều nhất trong cả nước. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia thảm hại đến mức một phần "cánh tả" của họ quan tâm lo lắng nhiều về quyền truy cập của các thành phần ph*át x*ít vào Twitter và Facebook vào năm 2021 hơn là về việc để người mất trí truy cập vào mã h*ạt nh*ân của quốc gia từ năm 2017 đến năm 2021. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia chìm trong thảm họa đến nỗi hơn một phần ba dân số từ chối tiêm vắc-xin để bảo vệ bản thân và những người khác khỏi một đại dịch c*hết người. 

Hãy tưởng tượng một quốc gia vô cùng thiếu hiểu biết đến mức dân số của nó coi “nhập cư bất hợp pháp” là mối quan tâm nghiêm trọng hơn là vấn đề lớn nhất của chúng ta tại bất kỳ thời điểm nào hiện nay - thảm họa khí hậu. 

Nhưng, tất nhiên, bạn không cần phải tưởng tượng một đất nước như vậy. 

Bởi tất cả những điều này, và còn k*hủng kh*iếp hơn nhiều, để có thể chiêm nghiệm đều được rút ra từ kỷ lục đang diễn ra của quốc gia tự cho mình là vĩ đại nhất trên thế giới - Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. 
Bạn có cần tưởng tượng nữa không?
Ảnh: Paul Street ghi lại cảnh Người vô gia cư ở Mỹ trong một khoảnh khắc về đêm trên một khu phố.
Yêu nước ST!

 THỦ TƯỚNG: 5 YẾU TỐ NỀN TẢNG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM - ẤN ĐỘ HỢP TÁC THÀNH CÔNG

Trong chương trình thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ, trưa 31/7, tại thủ đô New Delhi, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Ấn Độ.

Diễn đàn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ phối hợp với Liên đoàn Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ tổ chức.

Với nền tảng quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ đang phát triển tốt đẹp, kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng từ mức 200 triệu USD năm 2000 lên gần 15 tỷ USD vào năm 2023, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 8,5 tỷ USD, nhập khẩu đạt 5,9 tỷ USD.

Ấn Độ có 410 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,03 tỷ USD, đứng thứ 25/146 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 16 dự án với tổng số vốn đầu tư là hơn 14 triệu USD, chưa tính đầu tư của Tập đoàn Vingroup tại Ấn Độ.

Tại Diễn đàn, các đại biểu, cộng đồng doanh nghiệp hai nước được giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh, mong muốn hợp tác đầu tư của mỗi bên; đồng thời đề xuất các giải pháp thúc đẩy hợp tác hai nước, nhất là trong các lĩnh vực mà hai bên có tiềm năng, thế mạnh như hạ tầng, điện tử, viễn thông, công nghệ sinh học, dược phẩm, năng lượng tái tạo, kinh tế xanh, kinh tế số, Tr.í t.uệ Nh.ân t.ạo (AI), bán dẫn, vật liệu mới, sản xuất ôtô, hàng không, du lịch...

Phát biểu tại Diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết lịch sử quan hệ Việt Nam-Ấn Độ bắt nguồn từ quá trình giao lưu văn hóa, tôn giáo từ hơn 2.000 năm trước và được hai lãnh tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru gây dựng và vun đắp. Hai nước luôn ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và giành độc lập dân tộc.

Trải qua hơn 5 thập kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao, việc nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược toàn diện đã mở ra không gian hợp tác mới về chuỗi giá trị và tài nguyên chiến lược, an ninh kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, môi trường, khoa học công nghệ, kết nối tài chính, nhân lực chất lượng cao, giáo dục, an ninh quốc phòng... Trong đó, hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại đã trở thành điểm sáng và là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước.

Nhắc lại ấn tượng với tuyên bố của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm Các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) tại Hàng Châu (Trung Quốc): “Việt Nam là trụ cột mạnh mẽ trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ” và “quan hệ song phương giữa hai nước dựa trên sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và hội tụ những quan điểm về các vấn đề khác nhau trong khu vực và toàn cầu”, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định để đạt được những thành công này, bên cạnh yếu tố nền tảng là quan hệ hữu nghị tốt đẹp lâu đời giữa hai nước, hai dân tộc; sự hỗ trợ và quan tâm của chính phủ hai nước, phải kể đến sự góp sức và đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp hai bên.

Thủ tướng nhấn mạnh: “Quan hệ truyền thống tốt đẹp, hữu nghị giữa hai dân tộc, hai đất nước; tin cậy chính trị cao, thị trường rộng mở; văn hóa, văn minh, lịch sử tương đồng, ý tưởng tương thông; cùng chung khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, phát triển kinh tế nhanh và bền vững” là 5 yếu tố nền tảng để các doanh nghiệp hai nước đến với nhau để hợp tác thành công, hiệu quả, góp phần vun đắp cho quan hệ hai nước.

Thông tin tới Diễn đàn về những yếu tố nền tảng cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã trở thành một trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, nằm trong nhóm 20 nền thương mại hàng đầu, xếp thứ 32 trong top 100 giá trị thương hiệu quốc gia mạnh trên thế giới; đã ký 16 FTA với hơn 60 nước.

Nhấn mạnh những thành tựu đạt được khẳng định sự đúng đắn của các chủ trương, quan điểm phát triển của Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Việt Nam đang tập trung thực hiện 6 trọng tâm về đối ngoại; chính sách quốc phòng "4 không”; phát triển kinh tế; bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Cùng với đó, Việt Nam đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng và đào tạo nhân lực, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Thông tin về tình hình kinh tế-xã hội và môi trường đầu tư của Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam không ngừng được cải thiện. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã xếp hạng Việt Nam vào danh sách top 20 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Nhiều tổ chức, chuyên gia uy tín quốc tế tiếp tục đánh giá cao kết quả và triển vọng của kinh tế Việt Nam.

Cho biết Việt Nam xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, tạo kết nối lan tỏa giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy hợp tác công-tư để phát triển mạnh mẽ kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Chính phủ Việt Nam luôn khuyến khích các doanh nghiệp Ấn Độ mở rộng hợp tác đầu tư vào các lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu thu hút và ưu tiên cao như: công nghệ cao, điện tử, khoa học công nghệ, AI, xây dựng kết cấu hạ tầng, năng lượng tái tạo, năng lượng mới (hydrogen), công nghệ sinh học, đổi mới sáng tạo, nông nghiệp công nghệ cao, dược phẩm…

Trên tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Việt Nam hợp tác đầu tư với nguyên tắc “3 bảo đảm” và “3 cùng” gồm bảo đảm khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn là hợp phần quan trọng của kinh tế; coi trọng, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi nhất để khu vực này phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng; Bảo đảm các quyền lợi và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nhà đầu tư; Bảo đảm ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội; ổn định về chính sách, không ngừng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để các nhà đầu tư yên tâm kinh doanh, hoạt động lâu dài tại Việt Nam. Đặc biệt, cùng lắng nghe và thấu hiểu giữa doanh nghiệp với Nhà nước và người dân; Cùng chia sẻ tầm nhìn và hành động để hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển nhanh và bền vững; Cùng làm, cùng hưởng, cùng thắng và cùng phát triển.

Cho rằng quan hệ hợp tác kinh tế song phương giữa hai nước chưa tương xứng với tiềm năng; với tinh thần “Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau”, “cùng làm, cùng thắng”, để quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đi vào chiều sâu và thực chất hơn, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các bộ ngành, hiệp hội của Ấn Độ hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động đối thoại, kết nối đầu tư, là cánh tay nối dài giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp hai nước; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư, kinh doanh hiệu quả tại Ấn Độ; tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều hàng hóa của Việt Nam tiếp cận được thị trường Ấn Độ.

Hai bên cùng thúc đẩy, triển khai các biện pháp hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 20 tỷ USD trong thời gian tới; tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển (ODA); tiếp tục hợp tác chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau trong các diễn đàn quốc tế và khu vực cùng quan tâm; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để sớm mở thêm đường bay thẳng giữa Việt Nam-Ấn Độ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn các tập đoàn, doanh nghiệp Ấn Độ tiếp tục đầu tư, mở rộng đầu tư vào Việt Nam, hợp tác đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực bán dẫn, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ.ổi s.ố, chuyển đổi xanh (hydrogen), dược phẩm năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học…; quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn, đặc biệt là trong các lĩnh vực mà Việt Nam có tiềm năng; coi Việt Nam là điểm đến chiến lược cho xây dựng các Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ cao; thường xuyên có những khuyến nghị, tham mưu cho chính phủ, các bộ, ngành, địa phương để tháo gỡ các rào cản trong quá trình sản xuất, kinh doanh và hoàn thiện thể chế chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, quản lý thông minh, đào tạo nguồn nhân lực.

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam tăng cường đối thoại để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư Ấn Độ tại Việt Nam; rà soát, cải cách thủ tục hành chính; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường ứng dụng công nghệ số, phân cấp, phân quyền, giảm chi phí tuân thủ, chi phí đầu vào của người dân, doanh nghiệp; chuẩn bị các điều kiện về hạ tầng để thu hút đầu tư...

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh trên tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, “đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã thực hiện phải có kết quả đo đếm được”, Chính phủ Việt Nam cam kết luôn lắng nghe, đồng hành, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các nhà đầu tư Ấn Độ nói riêng đầu tư kinh doanh thuận lợi, hiệu quả và bền vững tại Việt Nam.

Tại Diễn đàn, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính và lãnh đạo các bộ, ngành, các doanh nghiệp hai nước trao 6 thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực hàng không, du lịch, văn hóa, dược phẩm... Trong đó, Tập đoàn SOVICO và Tập đoàn Adani thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hàng không, sân bay và logistics; Hãng hàng không quốc gia Việt Nam hợp tác với đối tác Ấn Độ về quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam tại Ấn Độ…

Trong khuôn khổ Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Ấn Độ, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính và lãnh đạo các bộ, ngành, các doanh nghiệp hai nước, Hãng hàng không Vietjet công bố đường bay Đà Nẵng-Ahmedabad (Ấn Độ) và đón hành khách thứ 200 triệu.

Vietjet mang đến nhiều lựa chọn cho người dân hai nước và du khách với các đường bay thẳng kết nối Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh với các đại đô thị của Ấn Độ là New Delhi, Mumbai, Ahmedabad, Kochi, Tiruchirappalli cũng như các điểm đến nổi tiếng Bodh Gaya, Varanasi… Đường bay kết nối thành phố Ahmedabad của Ấn Độ với Đà Nẵng sẽ phục vụ hành khách từ tháng 10/2024.

Như vậy, Vietjet hiện là hãng hàng không có nhiều đường bay thẳng nhất giữa Việt Nam với Ấn Độ, khai thác 56 chuyến bay mỗi tuần trên 7 đường bay. Tổng lượng khách vận chuyển giữa Việt Nam và Ấn Độ của Vietjet đạt gần 1,3 triệu lượt hành khách.

Vị khách thứ 200 triệu của Vietjet là một doanh nhân Ấn Độ, ông Sandeep Mehta. Vietjet dành tặng vị khách đặc biệt 1 năm bay quốc tế miễn phí./. 

 TAO QUỲ NỬA ĐỜI NGƯỜI RỒI, ĐÃ ĐỨNG LÊN ĐƯỢC LÀ KHÔNG QUỲ XUỐNG NỮA

Vĩ tuyến 17 ngày và đêm - Bộ phim dựa trên câu chuyện có thật:

Đồng chí Ba Thuận, Bí thư Chi bộ của xã, khi bị trung tá cảnh sát Trần Sùng bắt và tìm cách làm lung lạc, hắn hứa sẽ thả ông nếu cùng hắn quỳ xuống thề "Xoá bỏ hận thù". Ông đã đanh thép trả lời "Tao quỳ nửa đời người rồi, đã đứng lên được là không quỳ xuống nữa!"

Trần Sùng tiếp tục lấy cái chết ra để đe doạ, bắt ông bỏ niềm tin vào lý tưởng của Đảng, Ba Thuận đã dõng dạc nói: “Nhìn vào mắt mày, tao thấy mày đang run sợ. Còn tao, dù có chết tao vẫn luôn tin vào Đảng, tin đất nước sẽ sum họp, non sông sẽ thống nhất”.

Khi bị thiêu sống, Ba Thuận vẫn hét lên động viên bà con: “Đừng kêu khóc trước mắt kẻ thù. Trong chiến tranh, sinh tử là lẽ thường tình".

 TRÁI NGỌT: NAM SINH HÀ TĨNH KHIẾM THỊ "HỌC BÀI BẰNG ĐÔI MẮT CỦA BÀ" TRÚNG TUYỂN 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TOP ĐẦU

Nam sinh Đỗ Nam Khánh là con trai của người mẹ khiếm thị Nguyễn Thị Thanh Tình (SN 1985). Sinh ra thiếu vắng tình thương của người bố, một mình mẹ nuôi nam sinh Đỗ Nam Khánh lớn khôn.

“Từ nhỏ, mắt Khánh đã kém, nhìn không rõ. Người thân đã đưa con đi nhiều bệnh viện để chạy chữa, song vẫn không có kết quả. Đến năm lớp 6, Khánh mất hẳn thị lực, mắt con chỉ phân biệt được ngày, đêm. Hai mẹ con đều bị khiếm thị do di chứng của chất đ.ộ.c da cam từ ông ngoại. Biết con buồn, mẹ luôn động viên con phải cố gắng”

12 năm học phổ thông, Khánh luôn có mẹ và bà ngoại đồng hành. Mẹ em là người phụ nữ khiếm thị, chỉ nhìn được các vật ở khoảng cách gần nhưng suốt quá trình học, chị Tình luôn đạp xe dẫn Khánh đến lớp đều đặn.

Khánh nói, sau giờ học ở lớp, bà ngoại sẽ hỗ trợ em đọc bài trong sách giáo khoa. “Đến lớp em tập trung ngồi nghe giảng, vì em không thể ghi chép nên được các giáo viên, bạn bè hỗ trợ rất nhiều. Mọi người luôn dành tình yêu, quan tâm em một cách đặc biệt. Về nhà, bà ngoại sẽ đọc sách giáo khoa cho em nắm lại kiến thức”, nam sinh cho hay.

Nỗ lực vươn lên học tập, thành quả ngọt ngào đến với Khánh với việc 12 năm liền em đều đạt học sinh giỏi toàn diện. Chia sẻ về dự định ngành học sau khi được 6 trường đại học tuyển thẳng, nam sinh Đỗ Nam Khánh cho hay, em sẽ theo học Ngành công tác xã hội, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) để thực hiện ước mơ.

Chị Nguyễn Thị Thanh Tình, mẹ của Nam Khánh, chia sẻ: “Sắp tới tôi sẽ đưa con ra Hà Nội nhập học. Tôi đang nhờ mọi người kết nối để tìm nhà trọ cho con. Hành trình phía trước đầy khó khăn nhưng tôi mong con luôn vững vàng, vượt khó để chiến thắng số phận”.



 

Dân là gốc. Có dân là có tất cả

Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được Đảng, Nhà nước ta thấu triệt, vận dụng, là cơ sở tạo nên cội nguồn sức mạnh đoàn kết, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đảng ra đời là vì lợi ích của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”, chứ không phải vì lợi ích của người lãnh đạo.

Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục phát triển và đổi mới hiện nay, “dân là gốc” tiếp tục là kim chỉ nam trong tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta. 

 Quân giải phóng miền Đông Nam bộ hành quân trong Chiến dịch Đông Xuân năm 1964 - 1965. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát
“Dân là gốc”, tức dân là nền tảng cho mọi thành tựu của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử của đất nước cho thấy, từ thời phong kiến, triều đại nào biết thực thi chính sách an dân, lấy dân làm gốc ắt quy tụ được lòng dân, đất nước hưng thịnh, thái bình.

Có dân là có tất cả


Đi ngược lại với điều này, đất nước rơi vào loạn lạc, bị các thế lực ngoại bang xâm lăng bờ cõi…

Sức mạnh từ nội lực nhân dân 

Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta dưới triều nhà Lý công bố năm 1042 đã xác định: “Chăm lo đến đời sống người dân trăm họ, chỉnh đốn pháp luật sao cho giảm bớt nỗi khổ của dân, xóa bớt bất công trong thiên hạ”. Sự ra đời của Bộ luật Hình thư đầu tiên đã ghi nhận những thay đổi trong nhận thức của triều Lý so với các triều đại trước đó về tầm quan trọng của lòng dân đối với vận mệnh của một quốc gia. Những quyết sách quan trọng của triều Lý về chính trị, kinh tế, giáo dục, luật pháp cũng rất chú trọng chăm lo đến cuộc sống người dân. Nền tảng vững chắc ấy đã giúp triều Lý phát triển hưng thịnh trong hơn 200 năm.

Kế thừa những di sản triều Lý, triều đại nhà Trần trong hoàn cảnh đất nước bị giặc xâm lăng, bài học “lấy dân làm gốc” đã được vua tôi nhà Trần thấm nhuần, thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng năm 1284, tập hợp được sức mạnh, thống nhất được ý chí của quân dân, nhờ đó đã ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Một câu chuyện minh chứng cho chân lý “lấy dân làm gốc” là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dốc lòng tâu vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

Lịch sử đã minh chứng, có dân là có tất cả, không biết dựa vào dân sẽ phải chịu thất bại. Nhà Hồ lâm vào cảnh nước mất, nhà tan, thất bại trước giặc Minh hung tàn cũng bởi không thấu triệt chân lý này. Đến thời Hậu Lê, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được phát huy, sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân dân nhà Lê đã đánh bại giặc Minh, khôi phục xã tắc. Nguyễn Trãi, khi thay mặt Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” đã nêu rõ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Bản Tuyên ngôn độc lập của triều Lê đã khẳng định tư tưởng vì dân và an dân. Nhà chính trị, quân sự kiệt xuất Nguyễn Trãi cũng khẳng định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, thể hiện quan điểm quốc gia muốn tồn tại dài lâu và vững mạnh đều phải dựa vào dân, đặt mục đích yên dân lên hàng đầu, bởi dân có yên thì nước mới thịnh.

Không chỉ là tư tưởng xuyên suốt qua các triều đại phong kiến, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ đất nước của dân tộc thế kỷ XX, sức mạnh của quần chúng đã được minh chứng ngay từ những năm 1930-1940 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh của công nhân, nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người dân đang sống trong cảnh lầm than nô lệ đã được khích lệ, gắn kết với nhau để nhất tề đứng lên. Tinh thần ấy đã làm nên thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân - phong kiến trên đất nước ta, dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử có đoạn: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đây chính là khát vọng cháy bỏng, là mục tiêu sống của mỗi con người. Bài học nằm lòng “lấy dân làm gốc” của cha ông đến thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục là ngọn đuốc soi đường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đặc biệt coi trọng sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, quyết giữ vững nền độc lập dân tộc, đưa kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ở cuộc kháng chiến đó, có những dân công hỏa tuyến, những bà mẹ Việt Nam ngày đêm đào hầm nuôi giấu cán bộ, những nắm gạo sẻ chia của từng gia đình được gom lại, giúp bộ đội ta có thêm sức mạnh, niềm tin để vững bước vào trận đánh lớn. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất cho ý chí và sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, cũng là một trong những nhân tố quyết định để làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sức mạnh từ nội lực nhân dân một lần nữa làm nên đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối.

Có thể thấy, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, chăm lo đời sống nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong sự lãnh đạo của Đảng. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận, phương châm hoạt động cách mạng của Người: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”...

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự và chung vui Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân thôn 5, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, ngày 14/1/2021.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể. Tại Đại hội VI của Đảng, một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong toàn bộ hoạt động của mình là Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học này tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.

Đánh giá quá trình đổi mới, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, một trong năm bài học mà Đại hội đúc kết là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Tại Đại hội XIII, tư tưởng dân là gốc đã được đúc kết thành bài học riêng, với những nguyên tắc cơ bản, đồng thời tiếp tục được phát triển bổ sung. Theo đó, để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, văn kiện Đại hội nhấn mạnh việc dân giám sát và dân thụ hưởng. 

Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013 - văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của đất nước - cụm từ “nhân dân” được viết hoa một cách trang trọng, điều mà các bản Hiến pháp trước đó chưa thể hiện đã cho thấy sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân - chủ thể của đất nước, đồng thời khẳng định bản chất Nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Theo nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý - người trực tiếp tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp, từ khi nghiên cứu chủ trương sửa đổi đến khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hai chữ nhân dân được viết hoa, khẳng định mạnh mẽ quan điểm “lấy dân làm gốc”. Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp, chủ thể của quyền lực Nhà nước. Tầm vóc của Hiến pháp, sức sống của Hiến pháp cũng chính từ hai chữ “Nhân dân” đó.

Thông điệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta muốn khẳng định đến toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế rằng, ở Việt Nam, mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đất nước ta vì thế mà đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành quả này thuộc về nhân dân.

Qua đại dịch COVID-19, điều này càng được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quan điểm “vì dân” được thể hiện xuyên suốt trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Với một đất nước đang nỗ lực vươn lên, rất nhiều khó khăn phía trước, nhưng trong mọi đường lối của Đảng, sự điều hành của Nhà nước đều trước sau như một, chấp nhận thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá, phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Khó có thể kể hết ra đây những chỉ đạo, những quyết sách kịp thời trong hơn hai năm qua để hỗ trợ người dân vượt qua đại dịch, hay phục hồi kinh tế đất nước. Tuy là một nước còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới.

Khẳng định "dân là gốc" tiếp tục là tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây đã nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải tôn trọng nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Phải kiên quyết loại bỏ thái độ bàng quan, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân; kiên quyết loại bỏ mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền lực để xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

CĐ, VS (st)

 

Trong quá trình lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm, chăm lo đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội các cấp, đặc biệt là cán bộ chính trị có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Những cán bộ chính trị, chính uỷ cấp trung đoàn, sư đoàn có đầy đủ đức, tài, tiêu biểu về bản lĩnh, lập trường chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống, giỏi về công tác đảng, công tác chính trị”(1).

Trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng quân đội về chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, V. I. Lê-nin căn dặn phải thường xuyên chú trọng đến hoạt động công tác chính trị, đừng chỉ lo mặt chiến đấu mà làm suy yếu công tác chính trị. Là người trực tiếp sáng lập, giáo dục, rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị. Do đó, ngay từ những ngày đầu cách mạng, trong hoạt động của các đội tự vệ cứu quốc, đội tự vệ công nông…, Người đã chỉ rõ: “Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái đoàn ngoài đến làm”(2). Người còn nhấn mạnh: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên ấy tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”(3). Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội là một nội dung, biện pháp quan trọng để tăng cường bản chất giai cấp công nhân, sự lãnh đạo tuyệt đội, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội là một bộ phận quan trọng của Đảng, là người nắm vững chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và tiến hành các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong cơ quan, đơn vị, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất về nhận thức, hành động từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

Với cương vị là Bí thư Quân ủy Trung ương, trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu rất cao đối với quân đội trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là yếu tố nền tảng, cơ bản quyết định bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Tổng Bí thư khẳng định: “Vấn đề then chốt để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội hiện nay là xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm nhiệm vụ”(4). Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó, vấn đề then chốt là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là cán bộ chính trị các cấp, chính uỷ trung đoàn, sự đoàn và tương đương. Cán bộ chính trị là người chủ trì về chính trị, chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp uỷ cấp mình về mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Do vậy, cán bộ chính trị được coi là “linh hồn, mạch sống” của cơ quan, đơn vị, ở đâu có bộ đội là ở đó có cán bộ chính trị, có hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị.

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị là tăng cường giáo dục mục tiêu, lý tưởng cách mạng; về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, không mơ hồ, dao động, ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đồng chí Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, quân đội sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù”(5). Vì vậy, thông qua chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

Bên cạnh đó, chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội còn là nâng cao tính chiến đấu, phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội của các thế lực thù địch; xây dựng trận địa chính trị, tư tưởng vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, sự việc. Đây là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, song trước hết thuộc về cán bộ chính trị trong việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là bóc trần những âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hoá” quân đội. Tổng Bí thư yêu cầu: “Tập trung quán triệt, thực hiện tốt nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”(6).

Cán bộ, chiến sĩ, học viên Học viện Biên phòng tìm hiểu cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng_Ảnh: TTXVN

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân quan tâm, chú trọng đến việc chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chính trị, đặc biệt, từ khi có Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX, ngày 20-7-2005, “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, Nghị quyết số 513-NQ/ĐUQSTW (của Đảng ủy Quân sự Trung ương, nay là Quân ủy Trung ương) lãnh đạo triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết số 513-NQ/QUTW. Ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ chính trị đủ về số lượng, chất lượng, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao hiện nay; được đào tạo cơ bản, có trình độ đại học và sau đại học, có năng lực, trình độ, phương pháp, tác phong công tác tốt, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị; thật sự là hạt nhân, trung tâm đoàn kết, nắm chắc nguyên tắc sinh hoạt đảng. Nhiều cán bộ chính trị trẻ ở cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn rất năng nổ, nhiệt tình, trách nhiệm, nắm chắc chức trách, nhiệm vụ được giao, có kỹ năng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, tham gia hội thi cán bộ chính trị giỏi các cấp đều đoạt giải cao; cơ quan chính trị thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng cán bộ chính trị thông qua tổ chức các hội thi, hội thao, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cử đi học nâng cao trình độ. Tổng Bí thư đánh giá: “Công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được đặc biệt chú trọng; mối quan hệ đoàn kết, thống nhất, gắn bó ngày càng được củng cố; nguyên tắc tổ chức và chế độ sinh hoạt đảng ngày càng được tăng cường; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ ngày càng được nâng cao”(7).

Đội ngũ cán bộ chính trị các cấp tích cực, chủ động nêu cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt để hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó; tự mình nghiên cứu, học tập, để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của cơ quan, đơn vị được tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị có lúc, có nơi chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức; một số cấp ủy, tổ chức đảng các cấp nhận thức chưa sâu sắc về vai trò của cán bộ chính trị là người chủ trì về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của cơ quan, đơn vị; còn có sự phân biệt chức vụ, quyền hạn giữa cán bộ quân sự và cán bộ chủ trì; việc thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp chăm lo, bồi dưỡng cán bộ chính trị của cơ quan chính trị chưa thật sự linh hoạt, sáng tạo; một số cán bộ chính trị chưa tích cực, chủ động tự bồi dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, còn trông chờ, dựa dẫm vào cấp trên, dẫn đến trong giải quyết công việc của một số cán bộ chính trị các cấp còn lúng túng, bị động.

Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do: 1- Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp về tầm quan trọng của việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị chưa sâu sắc, toàn diện. 2- Nội dung, hình thức, phương pháp chăm lo xây dựng chưa sáng tạo, hiệu quả. 3- Công tác kiểm tra, đánh giá của cấp trên đối với cán bộ chính trị chưa thường xuyên. 4- Tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng, rèn luyện về năng lực, phẩm chất của một số cán bộ chính trị các cấp chưa cao.

Một số biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội qua cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng về tầm quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ chính trị quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(8); nghị quyết của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, từ đó cụ thể hóa vào từng cơ quan, đơn vị, có kế hoạch bồi dưỡng, tạo nguồn, sắp xếp bố trí cán bộ chính trị vào những vị trí lãnh đạo, quản lý phù hợp, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện các nhiệm vụ được giao; cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên theo dõi, đánh giá đúng năng lực thực tiễn, phẩm chất đạo đức, lối sống, uy tín của cán bộ chính trị của cơ quan, đơn vị mình, từ đó tham mưu, đề xuất với cấp trên đưa ra những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ đúng, trúng, khơi dậy được tính sáng tạo, năng động của cán bộ chính trị trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; thường xuyên đổi mới công tác đánh giá cán bộ chính trị ở các cơ quan, đơn vị theo hướng lấy hiệu quả công việc, uy tín với cấp dưới để xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ, đưa vào kế hoạch tạo nguồn phát triển. Mỗi đồng chí trong cấp uỷ, tổ chức đảng phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, đề cao tinh thần, trách nhiệm, mạnh dạn, thẳng thắn góp ý, phê bình, nhắc nhở cán bộ chính trị khi thực hiện chưa đúng nhiệm vụ, có biểu hiện lơ là hay mất dân chủ, từ đó, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, cùng với tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở các cơ quan, đơn vị nắm chắc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất về nhận thức, hành động. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: “Chăm lo xây dựng các cấp uỷ, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nhất là cấp cơ sở”(9).

Hai là, tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy tinh thần “7 dám” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị lần thứ sáu Quân uỷ Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025, ngày 3-7-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Phải chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ theo tinh thần “7 dám: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”(10); người cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy sẽ bỏ lỡ thời cơ, dẫn đến thất bại trong xử lý các tình huống. Theo đó, cần tiếp tục quán triệt quan điểm của Đại hội XIII của Đảng về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”(11); từ đó, điều chỉnh, bổ sung những cơ chế, chính sách để cán bộ chính trị phát huy năng lực, sở trường, thế mạnh của bản thân, nhất là cơ chế, chính sách về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xây dựng chi ủy, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; khuyến khích, động viên cán bộ chính trị có những sáng kiến, phương pháp tiến hành hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị đem lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, đặc điểm tình hình của mỗi cơ quan, đơn vị.

Cần đánh giá khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch năng lực, phẩm chất, uy tín của cán bộ chính trị để bổ nhiệm, sắp xếp các vị trí lãnh đạo, quản lý phù hợp; những cán bộ chính trị được đào tạo cơ bản, có trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác tốt, có phẩm chất đạo đức phải được cân nhắc bổ nhiệm, đưa vào nguồn kế cận phát triển; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ cán bộ chính trị, nhất là cán bộ chính trị trẻ; có cơ chế, chính sách trong giải quyết mối quan hệ giữa cán bộ chính trị và cán bộ quân sự linh hoạt, sáng tạo, thể hiện được vai trò, vị thế của cán bộ chính trị ở các cơ quan, đơn vị hiện nay. Có những cơ chế, chính sách tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ chính trị trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; nếu cán bộ chính trị được phiếu tín nhiệm thấp, chất lượng công việc không cao thì đưa vào diện xem xét để kiện toàn, thay thế, khắc phục tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ chính trị trong quân đội nói riêng hiện nay.

Ba là, tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ chính trị thông qua các hoạt động thực tiễn ở cơ quan, đơn vị.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường bồi dưỡng cán bộ chính trị các cấp thông qua phân công, giao nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất của cấp trên; đưa ra các tình huống khó khăn, phức tạp để rèn luyện bản lĩnh, ý chí, động cơ phấn đấu vươn lên; qua đó, bổ sung kiến thức, vốn sống, kinh nghiệm phục vụ hữu ích cho quá trình công tác. Luân chuyển cán bộ chính trị ở những vị trí công tác phù hợp với năng lực, sở trường, thế mạnh để lãnh đạo, chỉ huy đơn vị được tốt hơn; tổ chức các hội thi, hội thao cán bộ chính trị giỏi các cấp, tìm hiểu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, giảng dạy chính trị cho các đối tượng. Cấp trên bồi dưỡng cho cấp dưới những kinh nghiệm, phương pháp giải quyết, xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống; phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ chính trị tổ chức những buổi diễn đàn, ra nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, điều hành sinh hoạt chi bộ, hội ý các đồng chí trong cấp uỷ ở thực địa; xử lý các tình huống đột xuất trên địa bàn đóng quân, như phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả do thiên tai, mưa lũ gây ra… Lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ cấp dưới thuộc phạm vi, quyền hạn quản lý luôn phát huy được dân chủ, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong thực hiện nhiệm vụ; cơ quan, đơn vị luôn đoàn kết, ổn định, phát triển. Đó chính là kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ các cấp phản ánh năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chính trị và cũng là căn cứ để bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ chính trị ngày càng trưởng thành về mọi mặt, thật sự là chỗ dựa vững chắc của Đảng để xây dựng trận địa chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của đội ngũ cán bộ chính trị trong tự bồi dưỡng, rèn luyện về năng lực, phương pháp, tác phong công tác, phẩm chất đạo đức, lối sống, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Muốn lãnh đạo cách mạng thành công, bên cạnh phẩm chất chính trị, lòng trung thành, nhiệt tình cách mạng, Đảng phải có tri thức, nắm vững quy luật, biết vận dụng quy luật và có năng lực tổ chức thực tiễn”(12). Với tinh thần đó, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ chính trị dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải thấm nhuần tư tưởng lấy “tự học làm cốt” theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nhấn mạnh: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”(13); đồng thời, Người cũng kịch liệt lên án, phê phán bệnh “Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”(14); từng cán bộ chính trị đặt ra yêu cầu cao cho bản thân trong quá trình công tác, chịu khó học tập, tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống, nhất là cán bộ chính trị trẻ; không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; có thái độ tự học, tự rèn luyện nghiêm túc, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” điều chỉnh thái độ, hành vi đúng với môi trường quân sự. Đồng thời, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp phải luôn đặt mình vào trong tổ chức, chịu sự kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng, mọi hành động, việc làm đều ảnh hưởng đến tổ chức đảng; vì vậy, nói và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, quy định đơn vị; đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, luôn vì sự phát triển của cơ quan, đơn vị, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội là yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Nhất định quân đội ta, lực lượng vũ trang ta sẽ hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, mãi xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân”(15)./.

-----------------------------------------

(1), (4), (5), (6), (7), (15) Nguyễn Phú Trọng (2023), “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.330, 28, 37, 41, 83, 40, 104
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.539, 502
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 5, tr. 484
(9) Quân uỷ Trung ương (2020), số 174-BC/QUTW Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI nhiệm kỳ 2020-2025, Nxb Quân đội nhân dân, tr. 34
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 6, tr. 318
(10) Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị lần thứ sáu Quân uỷ Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng, https//:chinhphu.vn, ngày 3-7-2023
(11) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 1, tr.187
(12) Nguyễn Phú Trọng, Kiên quyết, kiên trì phòng, chống đấu tranh phòng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.516
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 15, tr.113
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 11, tr.98, 350

CĐ, VS (st)

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: CẢ THẾ GIỚI ỦNG HỘ CU-BA NHƯNG HOA KỲ VẪN TIẾP TỤC CẤM VẬN - AI MỚI LÀ ĐỘC TÀI?

         Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết lên án lệnh cấm vận của Mỹ đối với Cu-Ba, đến nay đã là năm thứ 30 liên tiếp. Đợt bỏ phiếu gần nhất có 185/189 nước ủng hộ và chỉ có Mỹ và Israel đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết nói trên, trong khi Ukraine và Brazil bỏ phiếu trắng. Lệnh cấm vận thương mại kéo dài hàng thập kỷ của Mỹ đã gây ra thiệt hại tài chính kỷ lục và khiến người dân của Cu-Ba chịu khổ cực trong những tháng gần đây.

Người Mỹ luôn rêu rao cái gọi là dân chủ, nhân quyền và ghét độc tài. Thế nhưng chính họ mới là kẻ độc đoán, bá quyền số một thế giới. Chỉ có hai nước bỏ phiếu chống là Mỹ và đồng minh chiến lược Israel nhưng như thế là đủ để lệnh cấm vận Cu-Ba vẫn tiếp tục duy trì. Tất cả các đồng minh của Mỹ (trừ Israel) đều ủng hộ bỏ cấm vận Cu-Ba, thế nhưng chừng đó là chưa đủ để Hoa Kỳ thay đổi thái độ. 

Chân lý thuộc về kẻ mạnh và chính Mỹ chứ không phải ai khác mới là kẻ độc tài, vi phạm dân chủ, nhân quyền và quyền tự quyết dân tộc của người Cu-Ba. Công lý, bình đẳng, bác ái mà họ rêu rao có chăng chỉ là trò hề nước lớn, vì mục đích bá quyền, tiêu chuẩn kép. Cu-Ba và Hoa Kỳ khác tư tưởng, ý thức hệ và người Mỹ vẫn chưa nuốt trôi nỗi nhục thất bại tại Cu-Ba và Fidel Castro trước đây. Độc tài, bá quyền, sen đầm quốc tế lại đi rao giảng dân chủ, nhân quyền. Đúng là kẻ thiếu thứ gì thì hay nói về thứ đó./.
Yêu nước ST.

 

Nét đặc sắc trong tư duy lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội “7 dám”

Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã có bài phát biểu quan trọng mang tầm chiến lược, định hướng căn bản để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quân đội thực hiện tốt mọi nhiệm vụ đề ra trong những năm tới, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đặc biệt, bài phát biểu nhấn mạnh về công tác cán bộ với tinh thần “7 dám”, thể hiện sự đúc kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn trong tư duy lý luận của Tổng Bí thư.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương dự Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020 - 2025_Nguồn: qdnd.vn

Dựng nước đi đôi với giữ nước là truyền thống quý báu, quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử. Kế thừa truyền thống đó, từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, “Đảng ta luôn luôn chú trọng nhiệm vụ xây dựng và tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên nhiều chiến công hiển hách, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, xứng đáng là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng”(1). Phát huy truyền thống anh hùng, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân đã triển khai được nhiều công tác quan trọng, với những hoạt động cụ thể, toàn diện, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực ngày càng có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, nổi lên là cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraina, Israel - Hamas… đã tác động sâu sắc đến sự ổn định toàn cầu; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; cùng với các vấn đề an ninh phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, thiên tai, động đất gây hậu quả nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, khu vực; tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. Ở trong nước, “áp lực lạm phát tăng cao; giá xăng, dầu, nguyên, vật liệu, các yếu tố đầu vào có biến động mạnh, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; mặt khác, dịch bệnh, thiên tai, bão lũ có những diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn, thiệt hại cho sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân; các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng cơ hội này để chống phá chúng ta với các thủ đoạn thâm độc hơn, gay gắt hơn…”(2).

Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020 - 2025, đã nhấn mạnh đến công tác bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; cấp trên phải làm gương cho cấp dưới, chỉ huy phải mẫu mực trước toàn đơn vị; theo tinh thần “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung(3). Đây là nét đặc sắc trong tư duy lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác cán bộ, là sự đúc kết, khái quát sâu sắc về lý luận và thực tiễn, mang tính biện chứng, lôgic, dễ nhớ, dễ thuộc. Tinh thần “7 dám” không chỉ là định hướng tư duy, hành động, mà còn thể hiện tình cảm, niềm tin và yêu cầu cao của người đứng đầu Đảng, Quân ủy Trung ương đối với đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới.

Tinh thần “7 dám” của người cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề cập đến tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Ở Người, hội tụ tư duy lý luận khoa học và hành động đặc biệt sâu sắc, sáng tạo và đổi mới. Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự vận dụng nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm. Ngày 13-2-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ngày nay), trong đó Người nhấn mạnh: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cổ vũ tinh thần đổi mới, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm trong phát triển sản xuất và xây dựng hợp tác xã. Cũng chính Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu gương cho quần chúng trong việc chủ động, kiên quyết khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, đường mòn lối cũ, chậm đổi mới. Thấm nhuần tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát tinh thần “7 dám” của cán bộ quân đội nói riêng, cán bộ, đảng viên nói chung.

Trước hết là “dám nghĩ”. Về bản chất, dám nghĩ trong “7 dám” là tư duy lý luận, thể hiện được cái tâm - tầm - trí của người cán bộ. Dám nghĩ vì lợi ích chung của tập thể, của xã hội; đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Dám suy nghĩ tích cực để có sáng kiến mới, phát kiến mới mang lại hiệu quả trong công việc chứ không phải dám nghĩ để đạt được lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tùy theo chức trách, nhiệm vụ thì “dám nghĩ” đến chiến lược, sách lược mang tính định hướng dài hạn và cả trong ngắn hạn cho cơ quan, đơn vị, địa phương, ngành... Cán bộ cấp tổ chức thực hiện thì “dám nghĩ” đến sáng kiến để đề xuất biện pháp, cách thức thực hiện mang lại hiệu quả tốt nhất. Đó là tư duy, cách nghĩ của người cán bộ, đảng viên vì nước, vì dân.

Thứ hai, biện chứng của tư duy là ngôn ngữ, nói cách khác ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất” của tư duy. “Dám nghĩ” thì phải “dám nói”. Với cách tiếp cận này, “dám nói” thể hiện được “cái dũng” của cán bộ, biện chứng với những điều dám nghĩ tích cực. Nói và dám nói có mối quan hệ nhưng không đồng nhất. Dám nói có nội hàm rộng, sâu, chứa đựng tư duy phản biện, sáng tạo, tự phê bình và phê bình, phản ánh bản chất dân chủ của một Đảng chân chính cách mạng. Nghĩ mới chỉ trong tư duy. Tư duy phải thể hiện bằng lời nói và hành động, mà ở đây là dám nói, tức là nói những điều không phải nằm trong sách vở mà từ thực tiễn, từ cuộc sống, từ đòi hỏi của yêu cầu đổi mới và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Công cuộc đổi mới với hai từ “đổi mới” đã chứa đựng trong đó cái mới, cái dám, cái bản lĩnh. Không có những người dám nói, dám chất vấn, dám phản biện thì xã hội không thể phát triển. Những chất vấn trong các kỳ họp Quốc hội đã đem lại nguồn sinh khí mới, sinh lực mới, chất lượng mới, không chỉ thể hiện ở bề nổi, mà còn có tác dụng to lớn trong chỉ đạo thực tế. Đây là bài học lớn từ di sản của Bác, được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết, cô đọng. Tuy nhiên, dám nói nghĩa là phải nói đúng nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng người; nói trên tinh thần xây dựng; nói để phản biện xã hội, để đạt được cái thống nhất chứ không phải đụng đâu nói đó, nói một cách tùy tiện, nói để thỏa mãn cái tôi.

Thứ ba, biện chứng của lý luận là gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, nói phải gắn với làm. Do vậy, cái dám thứ ba mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến là “dám làm”. Dám làm thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của người cán bộ, đó cũng là thước đo bản lĩnh, năng lực triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao của cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý thì dám làm là năng lực xây dựng kế hoạch, chương trình hành động với các phương pháp tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, chính xác, phát huy được sức mạnh tập thể. Đối với cán bộ tổ chức thực hiện thì dám làm là khả năng vận dụng linh hoạt năng lực, trình độ cá nhân, khả năng phối hợp, làm việc nhóm để thực hiện ý định của cấp trên một cách nhanh chóng, hiệu quả; biến lý luận thành thực tiễn. Dám làm còn được hiểu là làm đúng, làm đủ và làm tròn nhiệm vụ được giao trên tinh thần quyết tâm, tư duy khoa học, sáng tạo..., khác với làm liều, làm ẩu, làm qua loa, đại khái, làm cho xong việc, làm đối phó với cấp trên, làm chỉ vì lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân.

Thứ tư, trong mối quan hệ biện chứng nguyên nhân - kết quả thì dám chịu trách nhiệm là kết quả của dám nghĩ, dám nói, dám làm. “Dám chịu trách nhiệm” chính là bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Dám chịu trách nhiệm còn là sự thể hiện năng lực dám tiếp nhận phê bình, đóng góp từ tập thể, kể cả từ cấp dưới để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình.

Tâm lý sợ trách nhiệm, sợ sai sót, làm việc cầm chừng trong thực thi công vụ là hiện tượng khá phổ biến đang diễn ra hiện nay. Đây không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ việc “sợ trách nhiệm, sợ sai sót”, thụ động trong công việc. Người cán bộ, lãnh đạo là người được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, phải thực hiện nhiệm vụ trên cương vị, chức trách của mình. Nếu họ không dám hoặc không thể thực hiện trách nhiệm đó thì phải bị loại ra khỏi bộ máy công quyền. Nhiều tập thể, cá nhân bị xử lý kỷ luật thời gian qua do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm trái quy định, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, tham nhũng... Hệ lụy của vấn đề này đã dẫn đến tâm lý cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai sót. Thậm chí, một số cán bộ ở nhiều nơi vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại, không dám quyết, không dám làm, sợ sai, không dám chịu trách nhiệm. Hậu quả của thực trạng này dẫn đến làm chậm quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là những công việc cần sự khẩn trương, kịp thời, làm chậm sự phát triển xã hội; dẫn tới việc cải cách, đổi mới không được thúc đẩy, tư duy đột phá không có cơ hội để bộc lộ, tạo tâm lý trông chờ, đùn đẩy, trì trệ. Tình trạng an toàn để “giữ ghế”, tâm lý “co cụm” là hết sức nguy hiểm, làm cho cán bộ không thể hiện được toàn diện năng lực, phẩm chất của mình để cống hiến cho xã hội.

Thứ năm, là “dám đổi mới, sáng tạo”. Dám đổi mới, sáng tạo là sự đánh giá năng lực tổng hợp dựa trên nền tảng tri thức khoa học với bản lĩnh chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Đổi mới và sáng tạo là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển. Cán bộ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững chắc, nắm chắc xu thế phát triển sẽ mạnh dạn dám đổi mới, sáng tạo. Nói cách khác, dám đổi mới, sáng tạo là chuỗi nhân quả được rút ra từ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Dám đổi mới về cách nghĩ, cách nói, cách làm; dám thay đổi tư duy bảo thủ, tiêu cực; dám sáng tạo là cách thức vận dụng tri thức mới ứng dụng vào quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Mỗi ý tưởng đổi mới, sáng tạo của cán bộ thường xuất phát từ đam mê, khát vọng cống hiến cho xã hội, cho đất nước. Để phát huy tiềm năng, trí tuệ, sự nhiệt huyết và khích lệ cán bộ mạnh dạn đề xuất ý tưởng đổi mới, sáng tạo thì sự tin tưởng, tôn trọng của cấp ủy có ý nghĩa quan trọng.

Thứ sáu, là “dám đương đầu với khó khăn, thử thách”. Dám đương đầu với khó khăn, thử thách là phẩm chất dũng cảm, cao quý, đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết của người cán bộ. Phẩm chất dám đương đầu với khó khăn, thử thách giúp người cán bộ tiên phong sẵn sàng đảm nhận, thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; lấy lợi ích của tập thể và quốc gia - dân tộc làm mục tiêu chi phối mọi hoạt động tu dưỡng, rèn luyện, học tập, công tác; không xâm phạm, gây hại đến lợi ích chung. Hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải dám đương đầu với khó khăn, thử thách.

Thứ bảy, là “dám hành động vì lợi ích chung”, việc gặp phải những khó khăn, thử thách khi thực hiện nhiệm vụ là điều đương nhiên. Tuy nhiên, cán bộ phải dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung mới là thước đo thực sự về bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực công tác của cán bộ các cấp, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, điều hành. Họ là những người cán bộ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, đặt lợi ích tập thể lên trên, để dấn thân, cống hiến vì sự nghiệp chung.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chính vì đã sẵn sàng quên mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho lý tưởng cộng sản vẻ vang, biết bao đảng viên cộng sản là anh hùng, chiến sĩ trên mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong các ngành hoạt động khác. Họ không đòi danh, đòi lợi. Họ một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Họ là những đảng viên bình thường nhưng phẩm chất cách mạng của họ thật là cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc”(5). Phát huy tinh thần đó, trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên, y sĩ, bác sĩ, chiến sĩ quân đội, công an tình nguyện xung phong đến tuyến đầu chống dịch, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, thậm chí hy sinh cả tính mạng để cứu chữa bệnh nhân, bảo vệ sức khỏe nhân dân,… là những minh chứng cho cán bộ dám tiên phong đương đầu, dám hành động vì lợi ích chung, ngay cả những việc khó khăn, phức tạp, chưa có tiền lệ.

Có thể thấy, “7 dám” là những phẩm chất tiêu biểu, có quan hệ chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong phẩm chất, nhân cách của người cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ quân đội nói riêng. Dù trên cương vị nào, cán bộ, đảng viên cũng cần phải phát huy tinh thần “7 dám”, góp phần vào công cuộc phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Cú (tỉnh Hà Giang) cùng nhân dân trên địa bàn tuần tra, bảo vệ đường biên, cột mốc_Ảnh: TTXVN

“7 dám” - Phương châm hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội thời kỳ mới

Tinh thần “7 dám” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là phương châm hành động trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng, cán bộ, đảng viên nói chung trong thời kỳ mới. Bởi lẽ, thực hiện tốt tinh thần “7 dám” sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(6).

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, quân đội của dân, do dân và vì dân. Suốt chiều dài lịch sử chống xâm lược, nhất là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, quân đội luôn tiên phong và đóng vai trò nòng cốt trên mặt trận chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, quân đội càng phải quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Để tinh thần “7 dám” lan tỏa, thấm sâu vào tư duy, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, trở thành động lực khơi dậy khát vọng đóng góp cho phát triển đất nước, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, cần chú trọng thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng trong quân đội, nhất là cán bộ chủ trì, người chỉ huy cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện nghiêm Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”; Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, về “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng về chủ trương này.

Hai là, phát huy mạnh mẽ tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung, luôn tiên phong trên mọi lĩnh vực quân sự, cũng như làm chủ được khoa học - công nghệ, làm chủ được kỹ thuật, các trang bị hiện có của quân đội. Tiếp tục xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại; bảo đảm được các tình huống chiến lược có thể xảy ra. Dám đổi mới, xây dựng quân đội mạnh, làm chủ khoa học, kỹ thuật chính là biện pháp hiệu quả góp phần đẩy lùi chiến tranh.

Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tình hình mới. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng nhanh, chắc, đồng bộ; đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật; ứng dụng hiệu quả các đề tài nghiên cứu trong xây dựng quân đội. Kịp thời tiếp thu tri thức, khoa học - kỹ thuật của nhân loại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Bốn là, tăng cường kỷ luật, pháp luật, công khai minh bạch trong công tác đào tạo, bố trí, sử dụng, quản lý cán bộ, đề bạt cán bộ, bảo đảm lựa chọn được những người có đức, có tài, “vừa hồng, vừa chuyên” vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt và người đứng đầu. Lấy kết quả, hiệu quả, sản phẩm thực tế để đánh giá cán bộ; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Năm là, các cấp ủy, tổ chức đảng trong quân đội cần thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để Đảng đủ sức mạnh ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng. Đồng thời, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quy chế dân chủ cơ sở, tạo môi trường tốt, dân chủ để cán bộ, đảng viên rèn luyện, dám bày tỏ chính kiến, cống hiến trí tuệ, sức lực cho Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng những mô hình, giải pháp hiệu quả; biểu dương, khen thưởng xứng đáng; ưu tiên bố trí, sử dụng cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả, có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Tinh thần “7 dám” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện nét đặc sắc trong tư duy lý luận về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. “Các bài nói, bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương thể hiện sự am hiểu sâu sắc, tư duy chiến lược của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam; trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật quân sự Việt Nam và bằng nhãn quan chính trị sắc bén, những kinh nghiệm phong phú trong thực tiễn cách mạng. Những quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư là định hướng quan trọng để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới”(7). Thực hiện tốt tinh thần “7 dám” là đòi hỏi khách quan, bảo đảm cho quân đội đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới./.

----------------------------------------

(1), (7) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 7, tr. 14
(2), (3) Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 3-7-2023, https://baochinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-tai-hoi-nghi-quan-uy-trung-uong-102230703162529438.htm
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 340
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 468
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 157 - 158

CĐ, VS (st)