Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

Cơ sở pháp lý xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam


Hiện nay, cơ sở pháp lý chung điều chỉnh lĩnh vực CNQP, CNAN và ĐVCN cao nhất là Hiến pháp 2013 (Điều 14, Điều 68), Luật Quốc phòng 2018, Luật Công an nhân dân và các Luật chuyên ngành khác. Cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực CNQP là Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng năm 2008, điều chỉnh lĩnh vực ĐVCN là Pháp lệnh Động viên công nghiệp năm 2003, điều chỉnh lĩnh vực CNAN là Nghị định 63/2020/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Tuy nhiên, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào tầm Luật điều chỉnh trực tiếp về CNQP, AN và ĐVCN để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, nhất là luật hóa các cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển CNQP, AN; đồng thời, để thống nhất với các Luật ban hành trong thời gian qua quy định về vấn đề này như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quy hoạch, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, … do đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng Luật để điều chỉnh những quy định về CNQP, CNAN và ĐVCN đảm bảo đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

 

Cơ sở lý luận xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam

Công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh và động viên công nghiệp (CNQP, CNAN và ĐVCN) luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng được thể hiện trong các văn kiện chính trị như:

- Nghị quyết Đại hội XI, XII, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng định hướng “Xây dựng, phát triển CNQP, CNAN hiện đại, lưỡng dụng vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại các khu vực phòng thủ”. Nghị quyết cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh,... xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân”. Đồng thời, Nghị quyết đã đề ra các giải pháp cho phát triển CNQP, an ninh: “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, “Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh và liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới. Chủ động tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh”, “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với hội nhập quốc tế và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

- Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, Nghị quyết số 05/BCT ngày 20/7/1993 của Bộ Chính trị đã xác định đường lối xây dựng CNQP và ĐVCN, chỉ rõ xây dựng CNQP phù hợp với khả năng của nền kinh tế, làm nòng cốt cùng các ngành công nghiệp dân dụng bảo đảm nhiệm vụ sửa chữa, phục hồi và sản xuất một phần trang bị, đáp ứng yêu cầu ĐVCN khi tình thế đòi hỏi; yêu cầu cần sớm có hệ thống văn bản pháp quy nhà nước và cơ chế chuẩn bị ĐVCN trong điều kiện kinh tế thị trường.

- Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã khẳng định cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, tạo nền tảng cho công nghiệp quốc phòng, an ninh (CNQP, AN).

- Kết luận số 25-TB/TW ngày 11/4/2017 của Bộ Chính trị về Đề án “Đẩy mạnh phát triển CNQP, AN đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định phát triển CNQP, AN cần phải đặt trong tổng thể phát triển công nghiệp quốc gia, đồng ý với quan điểm những gì công nghiệp quốc gia và CNQP đã làm được thì CNAN không làm nữa, tránh đầu tư trùng lắp.

- Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045” xác định “Phát triển CNQP, AN theo hướng lưỡng dụng, thực sự trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; tăng cường tiềm lực, tận dụng và phát triển liên kết CNQP, AN và công nghiệp dân sinh”.

- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” tiếp tục khẳng định “Phát triển CNQP, CNAN theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, tự lực, tự cường, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia”; đồng thời, nhấn mạnh “Ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về phát triển công nghiệp quốc gia và các lĩnh vực công nghiệp đặc thù như công nghiệp công nghệ số, CNQP, AN, năng lượng,...”, “Thể chế hóa các cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển CNQP, CNAN theo hướng lưỡng dụng, hiện đại”, “Tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết, đầu tư nguồn lực hỗ trợ các cơ sở dân sinh phục vụ CNQP, CNAN. Cơ cấu lại các cơ sở CNQP, hình thành các cơ sở CNAN bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hiện đại theo hướng lưỡng dụng, hiện đại”.

b) Ngoài ra, để phù hợp với đặc thù của CNQP, Bộ Chính trị đã ban hành các Nghị quyết chuyên đề như:

- Nghị quyết số 05/BCT ngày 20/7/1993; Nghị quyết số 27/BCT ngày 16/6/2003; Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 16/7/2011; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/01/2022 về xây dựng và phát triển CNQP đã xác định những quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, giải pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước; trong đó định hướng xây dựng và phát triển CNQP là nhiệm vụ cơ bản vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là ngành đặc thù, phải được chăm lo xây dựng và phát triển theo một cơ chế đặc thù và được ưu tiên trong đầu tư phát triển, phải coi trọng phát triển nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học công nghệ (KHCN), huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ CNQP. Nghị quyết cũng đề ra sách lược ĐVCN và huy động công nghiệp dân sinh trong phát triển CNQP là huy động sự tham gia tích cực, đầy đủ của công nghiệp quốc gia trong các khâu, các bước của CNQP, nhất là việc huy động đội ngũ cán bộ KHCN và các cơ sở công nghiệp dân sinh sản xuất các nguyên, vật liệu chính cho CNQP; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp then chốt của quốc gia để tham gia sâu, thiết thực hơn vào hoạt động CNQP; thực hiện mở rộng phạm vi hoạt động của KHCN dân sinh tham gia nghiên cứu phục vụ CNQP.

- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam” tiếp tục khẳng định mục tiêu xây dựng, phát triển CNQP tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ KHCN cao; huy động sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển CNQP dài hạn, trung hạn phù hợp với điều kiện mới; phải đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động nguồn lực xã hội cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. NTM./.

 

"Quyết tâm xây dựng Đảng vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là mốc son chói lọi trong lịch sử hào hùng 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng, là bước ngoặt lớn trong lịch sử cách mạng nước ta. Từ ngày có Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, các đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng qua các thời kỳ, trong đó có đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, liên tục tiến lên. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa nước ta từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội và sánh vai với các cường quốc năm châu.

Với đường lối chính trị đúng đắn, trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, gắn bó máu thịt với nhân dân và tinh thần đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng, Đảng đã quy tụ, đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, các phong trào đấu tranh cách mạng, xây dựng lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"; tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, thách thức, Đảng tiếp tục khẳng định trình độ trí tuệ, bản lĩnh, tính tiên phong, với bản chất khoa học và cách mạng; đã khởi xướng, không ngừng hoàn thiện, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thành công công cuộc đổi mới, đưa Việt Nam từ nước kém phát triển trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, người dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, uy tín, vị thế trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

Trên cơ sở đánh giá chính xác thế và lực của đất nước, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, với quyết tâm chính trị cao, hết lòng vì nước, vì dân, Đại hội 13 của Đảng đã hoạch định đường lối phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đặt ra các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; khơi dậy mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, lòng nhân ái, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đi được 2/3 chặng đường, đến nay việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ 13 đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả có tính bước ngoặt.

Diễn biến tình hình trong những năm gần đây cho thấy, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi mang tính thời đại. Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác định trật tự thế giới mới. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trong đó châu Á - Thái Bình Dương là địa bàn cạnh tranh quyết liệt nhất.

Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; ráo riết tiến hành chiến lược "diễn biến hòa bình" với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc; triệt để lợi dụng hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để thâm nhập nội bộ, thúc đẩy các yếu tố "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ bên trong.

Các thách thức an ninh phi truyền thống gây ra nhiều tác động tiêu cực; sự xuất hiện, phát triển của không gian mạng cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ 4 với quy mô, tốc độ chưa từng có, đem đến thời đại mới mà quốc gia kém phát triển, đang phát triển có thể tận dụng thời cơ, đi tắt đón đầu, phát triển vượt bậc, vươn lên thành những quốc gia hùng mạnh hoặc bị rơi vào hố sâu tụt hậu nếu không tận dụng được thời cơ.

Để tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, tăng cường tiềm lực, sức mạnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội lần thứ 13 của Đảng đã đề ra; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng, kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống vẻ vang và kinh nghiệm quý báu của Đảng ta; phát huy cao nhất tinh thần "tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc"; không ngừng tìm tòi, mở ra triển vọng mới to lớn để phát triển con người và xã hội.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng. Kiên định phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Đặc biệt coi trọng và không ngừng tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc, mối liên hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Từ Trung ương đến chi bộ, mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức "giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"; Đảng phải huy động cho được toàn bộ trí tuệ, sức mạnh của toàn dân tộc, sức mạnh thời đại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giữ vững độc lập, tự chủ; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; tăng cường đóng góp thiết thực của Việt Nam trong duy trì hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc.

Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; kiên định lập trường, quan điểm và thực hành nghệ thuật ngoại giao thời đại mới trên cơ sở cốt cách con người Việt Nam "dĩ bất biến, ứng vạn biến", "hòa hiếu", "lấy chí nhân thay cường bạo".

Kiên định lập trường, quan điểm và thực hành "dân là gốc", "nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới"; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của đổi mới, phát triển, được sống hạnh phúc trong môi trường an ninh, an toàn, không ai bị bỏ lại phía sau.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; có nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng với phương châm "không ngừng", "không nghỉ", "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", "bất kể người đó là ai", "xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực".

Đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường công khai, minh bạch thông qua chuyển đổi số; mở rộng không gian phát triển; tạo thuận lợi cao nhất cho mọi hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật, đóng góp xây dựng đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, doanh nhân trong và ngoài nước. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát quyền lực với làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, "là đạo đức, là văn minh".

Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước, củng cố tiềm lực quốc gia. Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập. Thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư, sản xuất kinh doanh; huy động tối đa nguồn lực xã hội cho sự nghiệp phát triển bền vững đất nước, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển con người toàn diện; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bàn sắc dân tộc, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước.

Tập trung cao độ các công việc để tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ 14 của Đảng; tổ chức tốt việc tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, kế thừa những thành tựu lý luận quan trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được các thế hệ lãnh đạo của Đảng, trong đó có đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết, đề ra đường lối đúng đắn, đưa đất nước tiếp tục phát triển toàn diện trong thời gian tới.

Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với truyền thống tốt đẹp, khí phách và tinh hoa của dân tộc, không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; với bản lĩnh, kiên định lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên; được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, công cuộc đổi mới đất nước nhất định giành thắng lợi to lớn, Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, ấm no, đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, hùng cường, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công mục tiêu chiến lược mà Đại hội 13 của Đảng đã đề ra và di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cũng là ước vọng của toàn dân tộc "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

Đại tướng, GS.TS Tô Lâm
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng,
Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

 

 

Nỗi niềm đi tìm đồng đội

“Đồng đội đã chiến đấu và hy sinh để tôi được sống, nên giữ đúng lời giao ước với đồng đội trước đây, người còn sống sẽ đi tìm đưa người đã mất trở về”, Trung tướng Hoàng Khánh Hưng, Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ, nguyên Phó tư lệnh, Chính uỷ Bộ tư lệnh Công binh, nguyên Chính uỷ Học viện Kỹ thuật quân sự khẳng định.

Do đó, năm 2011, khi vừa nghỉ hưu, Trung tướng Hoàng Khánh Hưng lập tức tập trung vào việc tìm hài cốt đồng đội và hỗ trợ gia đình liệt sĩ ở các tỉnh thành. Hơn 13 năm làm "công việc không lương", cứ "khi nào có thông tin là tướng Hưng lên đường, dù hành trình có khi lên tới hàng nghìn cây số sang nước bạn Lào...

Sở dĩ có thể bền bỉ với công việc như vậy, theo tướng Hoàng Khánh Hưng là do cơ duyên, đồng đội mách bảo và gia đình ủng hộ vô điều kiện. “Tôi sang Lào 10 lần tìm đồng đội thì 6 lần vợ tôi đi cùng. Nhờ sự động viên đó, nên tôi vẫn liên tục đi tìm đồng đội, bởi thời gian sẽ không đợi chúng ta. Việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ngày càng khó khăn do địa hình, địa vật của chiến trường xưa thay đổi nhiều. Thời tiết nhiều địa phương khắc nghiệt, nên hài cốt theo năm tháng cũng phai tàn”, Trung tướng Hoàng Khánh Hưng chia sẻ.

“Thực tế này đặt ra vấn đề cần giám định gen ADN xác định danh tính liệt sĩ. Tiền giám định gen ADN hiện nay với mỗi mẫu phẩm là 5 triệu đồng. Để xác định thông tin liệt sĩ chưa biết tên phải xác định cả thân nhân, tối thiểu là một mẫu. Do đó, để xác định gen thông tin hài cốt liệt sĩ chưa xác định danh tính cần 2 mẫu với chi phí khoảng 10 triệu đồng. Do đó, để làm được xét nghiệm gen và đưa liệt sĩ trở về cần phải có kinh phí” Trung tướng Hoàng Khánh Hưng chia sẻ.

Trong 13 năm qua, từ vận động nhiều nguồn và chương trình nhắn tin tri ân liệt sĩ, tổng số tiền huy động được khoảng 170 tỷ đồng. Số tiền này góp phần di chuyển hài cốt liệt sĩ từ các chiến trường, nghĩa trang về quê hương đất mẹ, đính chính thông tin trên bia mộ, giúp gia đình liệt sĩ tìm được thân nhân, xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tình nghĩa, tặng quà…

Trong 13 năm, tướng Hoàng Khánh Hưng và đồng đội đã tiếp nhận, xử lý thông tin của hơn 200.000 liệt sĩ; lấy mẫu phẩm của hơn 1.000 thân nhân liệt sĩ để giám định ADN; trả kết quả đúng cho 494 liệt sĩ, tư vấn hỗ trợ để 33.000 gia đình tìm hài cốt; 200 gia đình tìm được hài cốt cha anh mình; đính chính thông tin trên bia mộ cho 1.000 liệt sĩ.

Trên hành trình tri ân đồng đội, tướng Hoàng Khánh Hưng đã thực hiện hàng trăm chuyến đi khắp đất nước nhưng những lần đi tìm mộ liệt sĩ bên nước bạn Lào là gian nan, day dứt nhất. Ông kể, hành trình đi từ Hà Nội lúc 5 giờ sáng, đến Viêng-chăn (Lào) thường là 16 giờ, rồi đi thêm 300 cây số nữa mới đến được nơi theo thông tin cung cấp.

"Thời trẻ, tôi sang Lào nhiều đợt chiến đấu nhưng nay trở lại, những con đường cũ năm xưa dù nhớ như in nhưng đến giờ rất khó định hình do địa hình thay đổi qua năm tháng. Cuộc tìm kiếm có lúc kéo dài nhiều ngày, sáng đi tối lại phải quay ra. Đôi khi đoàn quy tập lại chật vật vì tìm quanh không có nơi để lưu trú.

“Có một lần, chúng tôi tìm được đúng thông tin liệt sĩ do cựu chiến binh Lào cung cấp về 31 ngôi mộ liệt sĩ Việt Nam. Tôi có báo với các đội quy tập liệt sĩ của ta triển khai khai quật lên nhưng đều là đất cả. Việc này khó vì chiến trận ác liệt, khi chôn cất đồng đội, nếu làm chủ được chiến trường, việc chôn cốt còn chu đáo. Nếu không làm chủ được chiến trường, nhiều khi kéo vội ra ngoài hàng rào, chôn lấp khoảng 30 -50 cm đất thôi. Do đó, với khoảng 50 năm nên đến bây giờ, nhiều ngôi mộ không còn gì. Cho nên muốn giám định cũng rất khó. Trong khi đó, để có thể đưa anh em về quê mẹ, nguyên tắc phải còn xương cốt, di vật nên dù thương bạn lắm vẫn đành đắp mộ lại", Trung tướng Hoàng Khánh Hưng bùi ngùi.

“Kinh nghiệm đi tìm mộ liệt sĩ những năm qua cho thấy, trước tiên là biện pháp thực chứng, từ chính các đồng đội cùng đơn vị, kết nối thông tin để tìm về đúng nơi liệt sĩ đã chiến đấu và được chôn cất. Trường hợp sai thông tin và chưa biết tên thì xác định gen là giải pháp khoa học chính xác nhất. Đây cũng là giải pháp dẹp các biện pháp ngoại cảm tâm linh trá hình lấy tiền của nhiều gia đình đi tìm mộ liệt sĩ”, Trung tướng Hoàng Khánh Hưng chia sẻ.

Không chỉ tìm thông tin còn lưu trữ của quân ta. Trung tướng Hoàng Khánh Hưng còn tìm kiếm thông tin đồng đội từ các cựu chiến binh Mỹ. Ngày 19/6/2024 vừa qua tại Hà Nội, cựu chiến binh Mỹ và Viện Hoà Bình Mỹ đã sang thăm Việt Nam, trở lại chiến trường xưa và đã trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, làm việc với Hội Hỗ trợ gia đình liệt sỹ Việt Nam.

Tại những buổi gặp gỡ này, các cựu chiến binh Mỹ đã cung cấp cho Hội Hỗ trợ gia đình liệt sỹ Việt Nam những thông tin quý báu như các hồ sơ ở Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, với 20 vị trí mộ chôn tập thể của Việt Nam. Nếu thực hiện tốt công tác khảo sát lại, khai quật hết được 20 vị trí này, có thể đưa về được khoảng 3.000 hài cốt liệt sĩ.

Những mộ chôn tập thể thường dài 7 m, rộng 3 m, sâu khoảng 3 m. Vì vậy, khi tìm không được dùng máy móc, phải dùng máy siêu âm để tìm và đào thật sâu như trường hợp ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, phải đào sâu 3 m mới tìm được 62 hài cốt liệt sĩ.

Mới đây nhất, từ thông tin của cựu chiến binh Mỹ, Hội đã cử Trưởng ban chính sách đi vào Tiền Giang để xác minh lại 97 ngôi mộ. Hy vọng thời gian tới, có thể tìm kiếm được thêm mộ liệt sĩ dù không biết tên, nhưng đưa các đồng đội, liệt sĩ vào nơi an nghỉ ở các nghĩa trang.

“Cứ có thông tin ở đâu là chúng tôi đi tìm kiếm đồng đội trở về. Các đồng đội đã chiến đấu và hy sinh để tôi và mọi người được sống như ngày hôm nay. Chính điều này thôi thúc tôi phải làm điều gì đó thực tế hơn để tri ân đồng đội, làm thay phần việc của những người đã ngã xuống để giúp gia đình, vợ con họ. Điều mà tôi mong nhất lúc này là việc triển khai xác định danh tính liệt sĩ càng sớm càng tốt bởi việc tìm kiếm và giám định ngày càng khó. khăn hơn", Trung tướng Hoàng Khánh Hưng tâm sự.