Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHIM TRUYỆN "MƯA ĐỎ" TÁI HIỆN CUỘC CHIẾN ĐẤU ANH DŨNG 81 NGÀY ĐÊM BẢO VỆ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ!

     Cuộc chiến đấu và hi sinh anh dũng của quân và dân ta trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị sẽ được tái hiện chân thực, sinh động trong phim truyện điện ảnh “Mưa đỏ”. Đây là dự án phim chiến tranh có quy mô lớn nhất của Điện ảnh Quân đội nhân dân (QĐND) trong 10 năm trở lại đây. "Mưa đỏ" dự kiến ra mắt năm 2025!

Tái hiện sinh động hình ảnh người lính
Vừa qua, Điện ảnh QĐND đã bắt tay vào sản xuất phim truyện điện ảnh “Mưa đỏ”. Có mặt tại buổi casting diễn viên cho bộ phim, chúng tôi thấy được không khí sôi nổi, khí thế làm việc hăng hái của ê kíp đang nỗ lực, dành trọn tâm huyết cho dự án phim này. Hơn 300 diễn viên đăng ký casting phim là một tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự quan tâm của thế hệ trẻ đối với phim về đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng.

Kịch bản phim truyện điện ảnh “Mưa đỏ” được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai, do chính ông chắp bút. Sau thành công của những tiểu thuyết "Nắng đồng bằng, "Ăn mày dĩ vãng", "Phố", "Ba lần và một lần", "Cuộc đời dài lắm"...“Mưa đỏ” là tiểu thuyết đậm chất sử thi mới nhất của ông, kết quả sau nhiều năm trăn trở, nghiêm túc, sáng tạo trong lao động nghệ thuật của nhà văn.

Tác giả Chu Lai đã mượn phông nền của sự kiện lịch sử điển hình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị) làm nền tảng hồi ức lại những số phận người lính trước tháng ngày bom đạn giày xéo, quần thảo tại Thành cổ để dựng lại bức tranh bi tráng về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ trong 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Tuy nhiên, tác giả Chu Lai không chỉ phản ánh tinh thần, sức mạnh chiến đấu, mà còn thẳng thắn chỉ ra những tổn thất, hi sinh rất lớn ...Trong "Mưa đỏ", những âm thanh, hình ảnh về sự chia cắt, tan vỡ, cái chết,… được soi chiếu cận cảnh, rõ nét cho thấy tính chất ác liệt của cuộc chiến.

Xen lẫn những trang miêu tả cuộc chiến ác liệt là sự bình yên, lãng mạn đầy chất thơ của tình yêu nảy mầm trong lửa đạn và tình thân, tình đồng đội ấm áp. Tác phẩm của nhà văn Chu Lai đã bước lên sân khấu kịch nói, sân khấu chèo, trước khi được chuyển thành phim truyện điện ảnh.

Đạo diễn phim là Nghệ sĩ ưu tú Đặng Thái Huyền - người từng khẳng định tên tuổi qua nhiều bộ phim về đề tài chiến tranh và hậu chiến của Điện ảnh QĐND. Đạo diễn Đặng Thái Huyền cho biết, Điện ảnh QĐND với dự án phim “Mưa đỏ” có 2 buổi casting ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi có các gương mặt triển vọng được lựa chọn, ê kíp làm phim sẽ có buổi casting vòng 2. 

“Chúng tôi không chỉ tìm một ngôi sao cho màn ảnh mà đang tìm kiếm gương mặt mới, trẻ, tâm huyết, quan trọng là khi họ diễn, chúng tôi thấy được hồn cốt của nhân vật từ tiểu thuyết “Mưa đỏ” đang được tái hiện sinh động trên màn ảnh. Những gương mặt đó, khi lên phim, sẽ phải khiến cho khán giả như thấy được hình ảnh chiến sĩ của ta chiến đấu và hi sinh thế nào trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Chúng tôi muốn thấy được sự sống động trong từng vai diễn trên màn ảnh”, đạo diễn Đặng Thái Huyền tâm sự.

Có mặt tại buổi casting phim “Mưa đỏ”, bạn trẻ Phạm Thanh Long - diễn viên sân khấu Lệ Ngọc cảm thấy tự hào khi được tham gia casting dự án phim chiến tranh này. Để chuẩn bị tốt cho buổi tuyển chọn diễn viên này, Long đã dành nhiều thời gian để xem các bộ phim chiến tranh và trau dồi kỹ năng diễn xuất.

“Em muốn được hóa thân vào nhân vật người lính ngày trước để thấy được những khó khăn, gian khổ, hiểu được những nỗi đau, mất mát của cuộc chiến để có được nền hòa bình hôm nay”, Phạm Thanh Long chia sẻ.

Đầu tư phim trường rộng gần 50 ha
Theo Thượng tá Nguyễn Thu Dung, Giám đốc Điện ảnh QĐND, đây là kịch bản hay và xúc động song đòi hỏi kinh phí lớn mới đáp ứng được quy mô và nội dung. Sau gần 10 năm ấp ủ, Điện ảnh QĐND đã tiến hành chuyển thể từ tiểu thuyết văn học sang kịch bản điện ảnh. Tháng 3 vừa qua, dự án sản xuất phim truyện “Mưa đỏ” đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định thực hiện.

Bộ phim có thời lượng từ 110 đến 120 phút, phản ánh cuộc chiến đấu anh dũng, kiên cường của Nhân dân và cán bộ, chiến sĩ quân đội Nhân dân Việt Nam trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Bên cạnh đó, là cuộc đấu trí của Việt Nam trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris; tố cáo tội ác chiến tranh, ca ngợi khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất và tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc của nhân dân Việt Nam. Bộ phim lấp lánh những nét đẹp của tình đồng đội, đồng chí, tình cảm thiêng liêng về gia đình, sự lãng mạn trong tình yêu đôi lứa.

Theo Thượng tá Nguyễn Thu Dung, đây là dự án phim truyện điện ảnh đầu tiên được Điện ảnh QĐND đầu tư xây dựng, phục dựng bối cảnh trên phim trường với diện tích gần 50ha. Việc tái hiện bối cảnh lịch sử và không khí hào hùng của thời đại trong khuôn khổ một bộ phim hơn 100 phút đòi hỏi những tiêu chuẩn rất cao. Hình tượng nhân vật, kết cấu kịch bản, phục trang, đạo cụ, cho đến từng chi tiết trong phim đều phải được thiết kế thật tỉ mỉ, sắc nét và chặt chẽ, đúng với lịch sử. Làm phim về lịch sử đã khó, phim lịch sử chiến tranh càng khó hơn. 

“Mưa đỏ” có nhiều cảnh chiến tranh, đòi hỏi đảm bảo hiệp đồng tốt giữa các bộ phận. Quá trình làm phim có sự tham gia, phối hợp của các quân binh chủng trong quân đội, cùng nhiều vũ khí, trang bị, đạo cụ, phương tiện phục vụ cảnh quay, với số lượng nhân sự tham gia lên tới hàng nghìn người.

Bối cảnh phim phần lớn được thực hiện tại các địa điểm ở tỉnh Quảng Trị. Một số điểm quay khác được bố trí ở Thừa Thiên - Huế, Hà Nội và Paris (Pháp). Điện ảnh QĐND đã phối hợp với bộ đội công binh tiến hành rà phá bom mìn trên diện tích 50ha phim trường tại tỉnh Quảng Trị, trong đó có những bối cảnh chính là hai bên bờ sông Thạch Hãn, Thành cổ Quảng Trị để an toàn cho đoàn phim.

Dự kiến, “Mưa đỏ” sẽ hoàn thành vào tháng 7/2025. Bộ phim hứa hẹn mang đến cho khán giả những cảm xúc chân thực nhất, tố cáo những tội ác của chiến tranh nhưng đồng thời cũng ngợi ca khát vọng hòa bình, độc lập thống nhất của Nhân dân Việt Nam./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT SỐ SỰ KIỆN TRONG NGÀY 05/8 VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

🌷 Ngày 05-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục những nỗ lực để cứu vãn sự bế tắc của Hội nghị Phôngtennơblô bàn về quan hệ Việt - Pháp bằng các cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Quốc hội, lãnh tụ Đảng Xã hội Vanhxăng Ôriôn (Vincent Auriol), Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp, Giáo sư Êmin Can (Emile Kalm) cùng một số nghị sĩ... Tài liệu “Nhật ký Hành trình” thuật lại công việc vị Chủ tịch nước Việt Nam đã làm: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần và báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu vào, rồi bảo anh em xem.

Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tuỳ tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Ôubrắc, thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!”.

🌷 Ngày 05-8-1947, nhân dịp Đại hội Báo giới họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng và khích lệ: “Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khăn, các bạn đã cố gắng làm trọn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm” và nhắc nhở: “… Lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích. Chiến sĩ ở các mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch. Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công!”.

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh quy định chức Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia (lúc này là Võ Nguyên Giáp) có quyền hạn và chức vụ như Bộ trưởng và là thành viên Hội đồng Liên bộ trong Hội đồng Chính phủ.

🌷 Tháng 8-1948, Bác viết thư gửi ông Trưởng ty Bình dân học vụ Hà Tĩnh khen việc “tỉnh Hà Tĩnh đã có mấy làng thanh toán nạn mù chữ” và thư gửi đồng bào Quỳnh Côi (Thái Bình) là huyện đầu tiên trong cả nước đã thanh toán nạn mù chữ, trong đó, Bác khẳng định: “Đó là một thắng lợi vẻ vang… Thắng lợi đó là: Do sự săn sóc của các vị phụ lão và thân hào, thân sĩ; do sự giúp đỡ của các cơ quan và đoàn thể; do sự tận tụy của nam nữ giáo viên; do lòng hăng hái của toàn thể đồng bào trong huyện. Chúng ta cũng phải nhắc đến sự đôn đốc của Nha và Ty Bình dân học vụ”.

🌷 Ngày 05-8-1965, nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác viết thư bày tỏ: “Bác rất vui lòng khen ngợi thành tích vẻ vang về xây dựng và chiến đấu của các chú. Tuy còn non trẻ... Hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta...”.

🌷 Ngày 05-8-1969, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm ông bà Trịnh Đình Thảo và Đoàn cán bộ của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam vừa ra thăm miền Bắc./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VĂN HÓA LÀ HỒN CỐT CỦA DÂN TỘC!

     "Văn hóa còn thì dân tộc còn và ngược lại, văn hóa mất thì dân tộc mất” bởi văn hóa chính là hồn cốt tinh thần của dân tộc. Có vai trò “soi đường cho quốc dân đi”, văn hóa đúng nghĩa là những giá trị tinh túy nhất được trưng cất trở thành những giá trị cao đẹp, đặc sắc nhất, nhân văn và tiến bộ nhất của một dân tộc!

Người có văn hóa là người có đời sống tâm hồn phong phú, không phải chỉ có ăn ngon, mặc đẹp mà phải được sống trong tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng... Ngược lại những thói hư, tật xấu, sự bỉ ổi chính là vô văn hóa, sự lớn hèn, vị kỷ, lòng tham, sự vô cảm trước cuộc sống, trước đồng loại chính là sự phi văn hóa, phản văn hóa. 

Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống lịch sử lâu đời, một dân tộc văn hiến, trọng hiền tài, nhưng những kẻ làm chương trình để một đứa trẻ phát biểu về văn hóa như kẻ thất học là không thể chấp nhận. Những kẻ tự gặm nhấm tâm tư, đề cao cái tôi, lấy tiểu xảo, lấy sự kỳ quặc thay cho tài năng, sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, họ cho đó là đổi mới, là sáng tạo, là siêu nghệ thuật...coi sáng tạo văn hóa nghệ thuật như một thú vui, giải trí, một cuộc chơi thỏa mãn những cảm nghĩ của cá nhân mình… 

Những con người tư duy ở đáy của xã hội sẽ không nhận thức được văn hóa là giá trị sáng tạo tinh hoa, tinh túy; là hồn cốt, sinh khí; là động lực, là sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc. Văn hóa còn là dân tộc còn. Văn hoá soi đường cho quốc dân đi./.
Môi trường ST.

Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam


- Thể chế đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNQP, AN và ĐVCN, trong đó có giải pháp về cơ chế, chính sách đặc thù cho CNQP, AN. Tuân thủ mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu chiến lược trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân.

- Đảm bảo phù hợp, thống nhất với Hiến pháp 2013, Luật Quốc phòng 2018, Luật Công an nhân dân 2018 và các văn bản pháp luật liên quan.

- Bảo đảm tính kế thừa, phát triển những quy định của pháp luật hiện hành về CNQP, AN và ĐVCN đã được thực tiễn kiểm nghiệm còn phù hợp; đồng thời, bổ sung những vấn đề mới để giải quyết những nội dung về CNQP, AN và ĐVCN đặt ra trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

- Bảo đảm gắn kết chặt chẽ và tận dụng tối đa năng lực của CNQP và CNAN. Không đầu tư trùng lặp, những gì CNQP làm được và đã làm thì CNAN không đầu tư và ngược lại.

- Nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm của một số nước phù hợp với điều kiện và thực tiễn Việt Nam về tổ chức, hoạt động của CNQP, CNAN và ĐVCN; pháp luật và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. NTM./.

 

 

Mục đích xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam


- Hoàn thiện các cơ chế, chính sách đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển CNQP, AN và ĐVCN trước mắt và lâu dài, bao gồm cả đảm bảo cơ chế, chính sách đặc thù cho những lĩnh vực đặc biệt quan trọng của CNQP, CNAN. Tập trung vào các nội dung: Nguồn vốn cho đầu tư; nghiên cứu phát triển vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ công nghệ cao, công nghệ lưỡng dụng; thu hút, gìn giữ nguồn nhân lực chất lượng cao, khuyến khích nhân tài phục vụ xây dựng và phát triển CNQP, AN; triển khai các dự án đầu tư, nghiên cứu phát triển sản phẩm mũi nhọn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở CNQP nòng cốt, cơ sở CNAN, cơ sở ĐVCN.

- Phát huy vai trò chức năng, nhiệm vụ của CNQP, CNAN và ĐVCN trong đảm bảo vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức đổi mới, sắp xếp hệ thống cơ sở CNQP, cơ sở CNAN phù hợp đặc thù CNQP, CNAN, ĐVCN và gắn với phương thức tác chiến của Quân đội, nhiệm vụ của Công an, đáp ứng với kinh tế thị trường, hội nhập toàn cầu; bảo đảm tập trung, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về CNQP, CNAN và ĐVCN.

- Huy động các thành phần kinh tế, doanh nghiệp ngoài lực lượng vũ trang nhân dân có tiềm lực về tài chính, KHCN tham gia đầu tư phát triển CNQP, AN và thực hiện nhiệm vụ ĐVCN, tham gia sản xuất, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân; đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế. NTM./.

 

Cơ sở thực tiễn xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam


 

- Qua tổng kết thực hiện Pháp lệnh Động viên công nghiệp và Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng trên phạm vi toàn quốc cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, đến nay việc thực thi các Pháp lệnh về CNQP, ĐVCN đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập như:

Việc thực hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về CNQP và ĐVCN của Bộ Quốc phòng chưa phát huy tối đa hiệu lực, hiệu quả. Chức năng, nhiệm vụ các khối: Đặt hàng - giao nhiệm vụ; nghiên cứu, sản xuất - sửa chữa; khai thác sử dụng chưa được phân định rõ. Hệ thống các cơ sở CNQP tuy nhiều về số lượng (79 cơ sở CNQP nòng cốt, 37 cơ sở công nghiệp động viên) nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, tính quy tụ về công nghệ, sản phẩm chưa cao. Sự gắn kết giữa nghiên cứu thiết kế với sản xuất, sản xuất với sửa chữa chưa chặt chẽ. Chuyển đổi hoạt động của các Viện nghiên cứu sang mô hình tự chủ về tài chính còn vướng mắc. Chưa có cơ chế phát huy vai trò chủ lực của các cơ sở CNQP nòng cốt để kết hợp chặt chẽ với công nghiệp dân sinh trong ĐVCN; chưa khai thác thế mạnh của từng vùng, từng địa phương để thực hiện ĐVCN gắn với thế bố trí tác chiến chiến lược và khu vực phòng thủ.

Cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và quản lý sản xuất quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ ĐVCN chưa đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Đối tượng doanh nghiệp và lĩnh vực công nghệ được ĐVCN còn hẹp, chưa sát với thực tiễn (chưa phù hợp với xu thế hội nhập thế giới để tiếp cận tích cực hơn nữa nguồn lực công nghiệp của các thành phần kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; lĩnh vực còn bó hẹp chỉ gồm cơ khí, luyện kim, hoá chất và điện tử). Sự thu hút, tạo động lực để huy động và tận dụng năng lực sẵn có của doanh nghiệp ngoài lực lượng vũ trang nhân dân, các thành phần kinh tế dân sinh tham gia sản xuất quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ ĐVCN còn hạn chế; cơ chế ưu tiên sử dụng các sản phẩm do CNQP sản xuất chưa được hoàn thiện (thiếu văn bản quy định hướng dẫn thực hiện cụ thể dẫn đến chưa áp dụng hiệu quả trong thực tiễn). Mức độ tham gia phát triển kinh tế đất nước của CNQP chưa tương xứng tiềm năng.

Cơ chế ưu tiên nguồn lực cho xây dựng và phát triển CNQP, ĐVCN còn hạn chế; chưa có chính sách hiệu quả để thúc đẩy KHCN trở thành động lực cho phát triển CNQP; các chính sách về đào tạo, gìn giữ, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, huy động và đầu tư nâng cao tiềm lực cho CNQP chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hiệu quả chưa cao. Việc áp dụng Luật Sở hữu trí tuệ trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo mới vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ còn lúng túng. Thiếu các quy định đặc thù trong mua sắm vật tư kỹ thuật (vật tư, linh kiện, thiết bị, máy móc chuyên dụng) phục vụ cho nhiệm vụ CNQP (do những sản phẩm này thường là các sản phẩm đặc thù, được nước ngoài bảo mật và quản lý chặt chẽ, nhiều trường hợp không thực hiện được theo luật Đấu thầu và các quy định về nhập khẩu hàng hóa).

Hợp tác quốc tế về CNQP chủ yếu vẫn diễn ra một chiều, phần lớn là nhập khẩu vũ khí trang bị kỹ thuật từ các nước; sản phẩm CNQP chưa thâm nhập sâu rộng vào thị trường xuất khẩu vũ khí. Hoạt động xuất khẩu vũ khí trang bị quân sự và xúc tiến thương mại quân sự chưa được quy định trong Pháp lệnh. Sản phẩm quốc phòng xuất khẩu, năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của nhiều doanh nghiệp CNQP còn hạn chế.

- Kết quả tổng kết quá trình xây dựng và phát triển CNAN từ Đại hội Đảng lần thứ XI đến nay đã chỉ ra nhiều vướng mắc, bất cập như:

Việc thực hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về CNAN của Bộ Công an chưa tập trung và còn phân tán ở nhiều đầu mối cơ quan trực thuộc; thẩm quyền, trách nhiệm, phân cấp, phân quyền trong xây dựng, phát triển CNAN chưa đồng bộ, kịp thời và hiệu quả. Hệ thống cơ sở CNAN chủ yếu là đơn vị sự nghiệp công lập (09 doanh nghiệp, 58 cơ sở nghiên cứu, cơ sở sản xuất) lại bố trí phân tán, chưa hình thành hệ thống độc lập. Khả năng tự chủ tài chính của một số cơ sở nghiên cứu còn thấp ảnh hưởng đến chuyển đổi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập sang mô hình tự chủ về tài chính.

Kinh phí ngân sách nhà nước đầu tư cho CNAN còn hạn hẹp; việc huy động các nguồn lực để đầu tư cho CNAN có nhiều hạn chế; nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ còn thấp. Nhiều dây chuyền sản xuất của cơ sở CNAN đã dần lạc hậu, xuống cấp nhưng chưa được đầu tư, đổi mới thiết bị, công nghệ, dẫn đến năng lực sản xuất của các doanh nghiệp an ninh hạn chế, sản phẩm CNAN có chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, thiếu tính cạnh tranh, dẫn đến tỷ lệ cung ứng sản phẩm CNAN thấp.

CNAN phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế được giao: việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra; trình độ kỹ thuật, công nghệ còn yếu; nguồn nhân lực CNAN thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, đặc biệt chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhà khoa học kỹ thuật đầu ngành, chuyên gia quản trị doanh nghiệp và công nhân lành nghề có trình độ, kinh nghiệm kỹ thuật, tay nghề cao. Công tác nghiên cứu, thiết kế sản phẩm chưa hiệu quả, chưa sản xuất, nghiên cứu được sản phẩm yêu cầu công nghệ, kỹ thuật cao.

Hoạt động xúc tiến thương mại, xuất nhập khẩu sản phẩm CNAN có nhiều hạn chế, bất cập tương đồng như CNQP. 

- Từ thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới những năm gần đây, dự báo chiến tranh trong tương lai và yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới:

Thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới những năm qua và dự báo trong tương lai cho thấy, ngoài chiến tranh truyền thống còn xuất hiện chiến tranh phi quy ước, chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh thông tin; tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chịu sự tác động mạnh của xung đột quân sự Nga - Ucraina. Chi tiêu quốc phòng toàn cầu tăng cao nhất trong lịch sử, nhiều loại vũ khí mới ra đời, trong đó vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng, tấn công an ninh mạng được sử dụng là chủ yếu; đồng thời, phương thức, quy mô, phạm vi, không gian, thời gian, môi trường, lực lượng và thủ đoạn tác chiến.... để tiến hành chiến tranh rất đa dạng.

Tình hình an ninh phi truyền thống, tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao và những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng ngày càng gia tăng...; các thế lực thù địch triệt để sử dụng môi trường không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm hại an ninh quốc gia, tuyên truyền chống chế độ, kích động biểu tình, bạo loạn, thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đối với nước ta....

Trước tình hình đó đòi hỏi phải xây dựng tiềm lực CNQP, AN tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng, quy hoạch sắp xếp các cơ sở CNQP, AN phù hợp với thế trận phòng thủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu đảm bảo tại chỗ cho các lực lượng khi có tình huống xảy ra; thực hiện ĐVCN rộng khắp để chủ động ngăn ngừa từ sớm, từ xa, đẩy lùi và sẵn sàng đối phó thắng lợi trong mọi tình huống, đủ nội lực đánh bại mọi hình thức chiến tranh xâm lược, bảo vệ an ninh quốc gia.

Từ các lý do nêu trên, việc xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp là rất cần thiết, nhằm thể chế đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng, hoàn thiện hành lang pháp lý đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ CNQP, CNAN và ĐVCN trong tình hình mới, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật có liên quan. NTM./.

 

 

Cơ sở pháp lý xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp Việt Nam


Hiện nay, cơ sở pháp lý chung điều chỉnh lĩnh vực CNQP, CNAN và ĐVCN cao nhất là Hiến pháp 2013 (Điều 14, Điều 68), Luật Quốc phòng 2018, Luật Công an nhân dân và các Luật chuyên ngành khác. Cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực CNQP là Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng năm 2008, điều chỉnh lĩnh vực ĐVCN là Pháp lệnh Động viên công nghiệp năm 2003, điều chỉnh lĩnh vực CNAN là Nghị định 63/2020/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Tuy nhiên, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào tầm Luật điều chỉnh trực tiếp về CNQP, AN và ĐVCN để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, nhất là luật hóa các cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển CNQP, AN; đồng thời, để thống nhất với các Luật ban hành trong thời gian qua quy định về vấn đề này như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quy hoạch, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, … do đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng Luật để điều chỉnh những quy định về CNQP, CNAN và ĐVCN đảm bảo đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.