Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

Giữ vững quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển trong tình hình hiện nay.

  Quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là một công cụ sắc bén để phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó cũng là công cụ nhận thức quan trọng để Đảng ta kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử

Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đều bắt nguồn từ việc Đảng ta luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng.

Đó là sự kiên định và sáng tạo trên cơ sở tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thời đại. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước ta luôn vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn, góp phần xây dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước như ngày nay.

Một công cụ sắc bén để phân tích các vấn đề xã hội

Quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là một công cụ sắc bén để phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó cũng là công cụ nhận thức quan trọng để Đảng ta kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Quan điểm khách quan yêu cầu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải phản ánh trung thực sự vật, hiện tượng với tất cả bản chất, những mối quan hệ vốn có của nó; nắm vững và tôn trọng những quy luật khách quan của hiện thực; đồng thời, không rơi vào chủ quan duy ý chí; không được lấy ý chí chủ quan, ý muốn chủ quan, nguyện vọng, tình cảm cá nhân để áp đặt cho thực tế.

Đảng ta luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng.

Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét toàn diện các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành và những mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng; cả hiện tại, quá khứ và xu hướng phát triển trong tương lai; phải đồng bộ, không cục bộ, phiến diện. Song trong mối liên hệ cụ thể, từng giai đoạn phải nắm đúng trọng tâm, then chốt, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, tránh dàn trải, không viển vông, ảo tưởng. Trong quá trình xem xét toàn bộ mối liên hệ, bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng, phải dự báo được khả năng vận động, phát triển; chống mọi biểu hiện trì trệ, bảo thủ.

Quan điểm lịch sử, cụ thể chỉ rõ trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét đúng các quá trình, các giai đoạn phát triển của các sự vật, hiện tượng; nhận thức được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng trong các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Chỉ ra được mối liên hệ, quy luật khách quan; vị trí, vai trò của từng mối liên hệ quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Đồng thời, cần phải đấu tranh chống mọi biểu hiện xa rời thực tiễn với những điều kiện, hoàn cảnh riêng.

Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nắm được khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng; phải khái quát và làm sáng rõ được xu hướng vận động, phát triển chủ đạo trong cả tự nhiên, xã hội và mỗi con người. Sự phát triển là quá trình biện chứng, có tính chất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước tụt lùi tạm thời, nhưng tất yếu cái mới sẽ ra đời. Do đó, cần phải có niềm tin vào sự tất thắng của cái mới, đấu tranh, loại bỏ mọi lực cản ảnh hưởng sự phát triển của tự nhiên, xã hội và mỗi con người.

Giữ vững quan điểm trong lãnh đạo, quản lý 

Giữ vững quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong gần 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta luôn kiên định: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đảng đề ra chiến lược phát triển tổng thể là: Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo bài học tôn trọng thực tiễn khách quan, quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển để đưa ra những quyết sách sáng suốt, đúng đắn, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển trong giai đoạn mới; quyết tâm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; thể hiện tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước với những bước đi, lộ trình cụ thể đến năm 2025, 2030 và 2045, để phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, với phương châm “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”, Đảng, Nhà nước đã quán triệt sâu sắc, lãnh đạo, chỉ đạo, nắm vững và xử lý tốt 4 kiên định, 12 định hướng, 10 mối quan hệ, 3 đột phá chiến lược, 6 nhiệm vụ trọng tâm; phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; hình thành đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa trên các trụ cột: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền dân chủ XHCN Việt Nam.

Cùng với lãnh đạo phát triển tổng thể các mặt, các lĩnh vực trong tính chỉnh thể, Đảng ta còn đánh giá vị trí, vai trò của từng lĩnh vực, yếu tố làm cơ sở để xác định, xây dựng từng bước đi, lộ trình và giải pháp phù hợp với điều kiện đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thúc đẩy chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chú trọng phát triển những ngành, lĩnh vực là thế mạnh của đất nước và của từng vùng, ngành, địa phương.

Thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách; khơi thông các nguồn lực cho phát triển. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án chiến lược trọng điểm, quan trọng quốc gia; chú trọng đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, tập trung cho vùng “lõi nghèo”, đặc biệt khó khăn, tránh dàn trải, lãng phí.

Phát triển con người toàn diện, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của phát triển. Phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện quan điểm “dân là gốc”, “dân là trung tâm” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tạo môi trường sống an toàn, thân thiện, lành mạnh để phát triển trẻ em toàn diện, thực hiện tốt công tác người cao tuổi, thanh niên, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Tập trung cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng khó khăn.

Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa-xã hội, phát triển văn hóa-xã hội ngang tầm với phát triển kinh tế. Phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Thực hiện hiệu quả Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục - đào tạo và nâng cao hơn nữa vai trò của khoa học-công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đô thị thông minh.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích và bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và người dân, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ ở các địa phương trọng điểm.

Tích cực phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm; giữ vững thế chủ động chiến lược, bảo đảm an ninh, trật tự, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước. Chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, âm mưu “phi chính trị hóa” LLVT; phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh; chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.

Vận dụng đúng đắn, linh hoạt quan điểm đối tác, đối tượng; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi trong quan hệ quốc tế. Kiên trì thực hiện chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn; coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác, tạo lợi ích thực chất giữa Việt Nam và các nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực để phục vụ phát triển đất nước, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.


Lan tỏa tình yêu biển, đảo của Tổ quốc.

 Với những nội dung, hình thức phong phú, đa dạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, hoạt động phối hợp tuyên truyền biển, đảo giữa Quân chủng Hải quân đã cùng với các địa phương và các cơ quan đã đạt được những kết quả quan trọng. Thông qua công tác thông tin, tuyên truyền đã giúp khơi dậy tình yêu nước và lan tỏa tình yêu biển, đảo của Tổ quốc trong cán bộ, đảng viên, nhân dân và kiều bào ở nước ngoài.

Trong giai đoạn 2019 - 2024, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân đã cùng với 63 tỉnh, thành phố và 16 cơ quan Trung ương, cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực, chủ động triển khai toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo.

Kết quả nổi bật trong phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền biển, đảo đó là Quân chủng Hải quân và các cơ quan, ban, ngành đã thực hiện tốt việc phối hợp thông tin, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với hoạt động tuyên truyền miệng, hằng năm, Quân chủng Hải quân đã cử hơn 1.500 lượt cán bộ, báo cáo viên đến các địa bàn tuyên truyền về biển, đảo cho các đối tượng. Trung bình một năm, lực lượng báo cáo viên Quân chủng Hải quân đã phối hợp tuyên truyền cho khoảng 1,3 triệu lượt người là cán bộ, đảng viên và nhân dân tại các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bình quân hằng năm, Quân chủng Hải quân đã đón khoảng trên 6.000 lượt phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài Quân đội đến thâm nhập thực tế, lấy tư liệu tuyên truyền về hoạt động của bộ đội Hải quân, đăng hơn 60.000 tin bài, phóng sự... Qua đó, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến biển, đảo; cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; về kết quả xây dựng, phát triển và thực hiện nhiệm vụ của Quân chủng; phản ánh đời sống, hoạt động huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của quân, dân huyện đảo Trường Sa, nhà giàn DK-I. Tiêu biểu là hoạt động phối hợp thông tin, tuyên truyền giữa Quân chủng Hải quân với các cơ quan báo chí như: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Trung tâm PT-TH Quân đội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ,...

Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Hải quân đã cùng các cơ quan, ban, ngành, địa phương phối hợp triển khai các hoạt động văn hóa nghệ thuật, truyền thống, dân vận, tìm kiếm, cứu nạn, đối ngoại quốc phòng và thực hiện chính sách hậu phương Quân đội; Kết hợp tuyên truyền biển, đảo với đẩy mạnh tuyên truyền thu hút các nguồn lực; Chăm lo bồi dưỡng, kiện toàn, rèn luyện, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ báo cáo viên các cấp... Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp tuyên truyền biển, đảo.

Có thể thấy, Với những nội dung, hình thức phong phú, đa dạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, hoạt động phối hợp tuyên truyền biển, đảo giữa Quân chủng Hải quân đã cùng với 63 tỉnh, thành phố và 16 cơ quan Trung ương, cơ quan thông tấn, báo chí đã kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, niềm tin cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời, trực tiếp góp phần xây dựng mối đoàn kết, nhất trí, đồng thuận, góp phần huy động nguồn lực, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XIII về “Chiến lược bảo bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Nghị quyết 36 khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến bạn đọc một số hình ảnh về hoạt động phối hợp tuyên truyền biển, đảo trong thời gian vừa qua:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp về công tác cán bộ .

 Trong phiên làm việc buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp giới thiệu nhân sự và bầu đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị điều hành Hội nghị.


Căn cứ các quy định của Đảng, trên cơ sở định hướng giới thiệu nhân sự của Bộ Chính trị, Trung ương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, thảo luận dân chủ, suy tôn, thống nhất rất cao với số phiếu tuyệt đối 100% bầu đồng chí Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XIII. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng; duy trì sự đoàn kết, thống nhất và cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra, tổ chức thành công Đại hội XIV, đưa đất nước vững bước phát triển trong giai đoạn mới.

Trong phiên làm việc buổi chiều, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét Đơn xin thôi giữ các chức vụ của một số đồng chí lãnh đạo cơ quan Trung ương và địa phương. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị điều hành Hội nghị.

Trên cơ sở báo cáo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận thấy các đồng chí: Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên: Bí thư Ban cán sự đảng, Tổng Thanh tra Chính phủ; Đặng Quốc Khánh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên: Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khoá XV tỉnh Hà Giang; Nguyễn Xuân Ký, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh; Chẩu Văn Lâm, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Tuyên Quang, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khoá XV tỉnh Tuyên Quang đã vi phạm các quy định của Đảng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương và các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhận thức rõ trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân, các đồng chí đã có Đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công.

Căn cứ quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước và xem xét nguyện vọng của các đồng chí, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý để đồng chí Lê Minh Khái thôi giữ chức vụ: Bí thư Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII; đồng ý để các đồng chí: Đặng Quốc Khánh, Nguyễn Xuân Ký, Chẩu Văn Lâm thôi giữ chức Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XIII./.

Đổi mới công tác tham mưu của các cơ quan Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

                         TS Lại Xuân Môn, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng, công tác tham mưu luôn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần to lớn vào những thắng lợi rực rỡ, vinh quang mà cách mạng nước ta đã đạt được.

Sáng 5/8, tại TP Vũng Tàu, Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức Hội thảo quốc gia “Định hướng, giải pháp đổi mới công tác tham mưu của các cơ quan Đảng ở Trung ương và ở tỉnh/thành ủy trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Các đồng chí: TS Lại Xuân Môn, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương; Ths Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; PGS,TS Vũ Văn Phúc, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, đồng chủ trì Hội thảo.

Phát biểu tại Hội thảo, TS Lại Xuân Môn, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương khẳng định, trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng, công tác tham mưu luôn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần to lớn vào những thắng lợi rực rỡ, vinh quang mà cách mạng nước ta đã đạt được.

Gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, các cơ quan đảng Trung ương và các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương đã không ngừng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chủ động, tích cực tham mưu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.

Trong đó, có những vấn đề rất lớn, rất mới, rất khó, rất phức tạp, chưa từng có tiền lệ đã được tập trung nghiên cứu, tham mưu cho Đảng, tạo ra những đột phá, chuyển biến mạnh mẽ cả về lý luận và thực tiễn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta như hôm nay.

Tuy nhiên, theo TS Lại Xuân Môn, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tham mưu của các cơ quan đảng Trung ương và các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương cũng đang bộc lộ những hạn chế, bao gồm cả những hạn chế trong tham mưu, trong tổ chức thực hiện…

Những hạn chế này được tập trung phân tích, đánh giá tại Hội thảo khoa học quốc gia “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tham mưu của các cơ quan Đảng ở Trung ương và ở các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới”.

Đồng chí Lại Xuân Môn đề nghị các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học tập trung dự báo tình hình, yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 và vấn đề, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác tham mưu của các cơ quan Đảng ở Trung ương và ở tỉnh/thành ủy trực thuộc Trung ương; định hướng, giải pháp đổi mới công tác tham mưu trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045.

Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, với những nội dung hết sức thiết thực, Hội thảo khoa học cấp quốc gia về “Định hướng và giải pháp đổi mới công tác tham mưu của các cơ quan đảng ở Trung ương và ở tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” hôm nay là cơ hội để tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác tham mưu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tại Hội thảo, một số ý kiến nêu bối cảnh tình hình thế giới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những khó khăn, hạn chế, yếu kém trong phát triển đất nước tồn tại nhiều năm chưa khắc phục được; sự gia tăng các nhân tố an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là sự phức tạp của tình hình Biển Đông, hiểm họa biến đổi khí hậu, sự già hóa dân số, chống phá của các thế lực thù địch…; thường xuyên tác động đến công tác tham mưu, đòi hỏi nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, không ngừng đổi mới của công tác tham mưu.

Theo Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, Hội thảo đã đề xuất được các quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tham mưu như: thống nhất và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác tham mưu, nhất là tham mưu chiến lược gắn bó hữu cơ với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác tham mưu; hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy, rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ tham mưu và cơ chế liên kết, phối hợp nhằm khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, hoạt động kém hiệu quả; đề nghị các tỉnh thành lập Hội đồng khoa học các cơ quan tham mưu…/.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tăng tốc để hoàn thành chỉ tiêu Đại hội XIII.

 Chia sẻ về những nhiệm vụ ưu tiên sau khi được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư, đồng chí Tô Lâm cho biết, trước mắt sẽ rà soát, đánh giá lại các chỉ tiêu Đại hội XIII đề ra để có giải pháp bứt phá, có bước chuyển động nhanh, tăng tốc thực hiện mục tiêu...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tận tâm, tận lực, tận hiến vì sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đồng chí Tô Lâm được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Phát biểu nhậm chức của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Sau khi Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII kết thúc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì họp báo thông tin kết quả Hội nghị. Tại cuộc họp báo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã trả lời nhiều câu hỏi báo chí nêu ra.

Cần sự chung tay, đồng lòng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

Tại họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên về cảm nghĩ của mình khi nhận trọng trách mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ xúc động khi nhận được sự chia sẻ, chúc mừng và chân thành cảm ơn tình cảm của đồng chí, đồng bào, bạn bè quốc tế. Được Trung ương tín nhiệm bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư, đồng chí nhận thức được việc gánh vác trọng trách rất lớn trước Đảng, Nhân dân và đất nước, trước những thành quả của Đảng để cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đạt được sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời gian tới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, chúng ta đã đi được 2/3 chặng đường trong thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trong bối cảnh nhiều diễn biến nhanh, phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ rất nhiều nên cần nỗ lực, cố gắng vượt bậc, sự đoàn kết toàn dân tộc, chung tay đồng lòng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

"Sự đoàn kết, thống nhất là sức mạnh của chúng ta. Rất vui mừng sự đoàn kết, thống nhất từ trong Đảng, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã được lan tỏa, tiếp tục phát huy, khơi dậy tốt đẹp. Đây là sức mạnh của Đảng, quốc gia chúng ta để vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt thắng lợi mục tiêu của Đảng ta đã đề ra. Chắc chắn là tương lai phát triển đất nước sẽ tươi sáng theo con đường Đảng ta đã vạch ra", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.

Chia sẻ về những nhiệm vụ ưu tiên sau khi được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII bầu giữ chức vụ mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, trước mắt sẽ rà soát, đánh giá lại các chỉ tiêu Đại hội XIII đề ra để có giải pháp bứt phá, có bước chuyển động nhanh, tăng tốc thực hiện mục tiêu. "Chúng ta chỉ còn hơn một năm nữa nên yêu cầu về tăng tốc thực hiện các chỉ tiêu Đại hội Đảng XIII đề ra để về đích sớm, là ưu tiên quan trọng".

Ưu tiên thứ hai là chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng. Thời gian không còn nhiều nhưng có rất nhiều công việc cần triển khai, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các tiểu ban phải tích cực chuẩn bị để hoàn thiện văn kiện, phục vụ cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Đồng thời, phải chuẩn bị tốt về phương án nhân sự.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Chúng ta phải có bộ máy tốt, đội ngũ cán bộ tốt để hoàn thành được mục tiêu, yêu cầu, đó là công việc cần tập trung.

Tiếp tục nỗ lực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Liên quan đến câu hỏi của báo chí về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, dư luận cũng đang rất chờ đợi, đặc biệt khi công tác này được Đảng ta phát động và đạt kết quả như vừa qua.

“Tiếp tục công việc này thế nào, có điều chỉnh gì không? Tôi xin trả lời là tiếp tục kế thừa, thời gian tới xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai mạnh mẽ với mục tiêu, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp như thời gian qua. Trong đó đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, bất kể người đó là ai” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết và một lần nữa nhấn mạnh vừa qua cán bộ, đảng viên, Nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ. “Công tác này cần triển khai quyết liệt triệt để chiến thắng giặc nội xâm” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định


Cũng theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, gắn liền với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy tháo gỡ khó khăn, rào cản về thể chế, quy định để tạo khí thế mới, không gian để phát triển kinh tế - xã hội.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cá nhân đồng chí may mắn khi giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Công an đồng thời là Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung về phòng chống tham nhũng, tiêu cực và trực tiếp tham gia chỉ đạo công tác này. "Được sự tin tưởng của Đảng, tín nhiệm của Nhân dân bầu tôi làm Tổng Bí thư, đồng thời giao luôn trọng trách Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tôi rất mong nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là đồng hành của Nhân dân thì công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ thành công tốt đẹp", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói.

Tiếp tục phát huy vai trò là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế

Trả lời câu hỏi của phóng viên về đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ về đường lối đối ngoại.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết sẽ tiếp tục tổ chức thực hiện thật tốt đường lối này. Đường lối này được quốc tế đánh giá cao. “Vừa rồi trên cương vị Chủ tịch nước tôi đã tiếp một số đại biểu quốc tế. Sở dĩ chúng tôi có đường lối đối ngoại triển khai tốt đẹp, nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, có thể gọi là kinh nghiệm rút ra được trên thực tiễn”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trước hết là phải giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường, lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, trước hết.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Truyền thống của Việt Nam là giàu vì bạn, muốn phát triển phải đoàn kết, tăng thêm sức mạnh, không kể nước lớn nhỏ, không kể xa gần, qua đàm phán trao đổi, tiến tới hiểu biết, gần gũi với nhau hơn, chia sẻ với nhau... Chúng ta đã có chính sách đối ngoại rất thành công, thể hiện trách nhiệm quốc tế, có trách nhiệm với chính trị thế giới, nền chính trị toàn cầu, văn minh nhân loại, tham gia vào hòa bình thế giới, tham gia giải quyết các xung đột, với chính sách yêu chuộng hòa bình”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, ưu tiên trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời gian tới là tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược, toàn diện, bạn bè truyền thống, không ngừng củng cố tin cậy chính trị, đan xen lợi ích, đối ngoại hòa bình, hợp tác cao nhất cho sự phát triển.

Cùng với đó, tăng cường sự đóng góp của Việt Nam trong duy trì hòa bình, ổn định khu vực và trên thế giới. Tiếp tục nâng tầm ngoại giao đa phương, phát huy vai trò là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.


TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI!

     Bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt và cần tăng cường. Bài viết phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng và nêu một số đề xuất về nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới!

1. Mở đầu
Năng lực lãnh đạo của Đảng là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, thể hiện trên các nội dung: Khả năng nắm và giữ chính quyền; phát huy vai trò, vị thế cầm quyền của Đảng; khả năng lãnh đạo hoạt động của Nhà nước và hệ thống chính trị. Để có năng lực cầm quyền, Đảng cần phải có những điều kiện cần và đủ: lý luận khoa học, phong cách, có tổ chức, kỷ luật, lề lối làm việc,… Đây là những yếu tố cơ bản để Đảng nắm, giữ chính quyền và phát huy được vị trí, vai trò lãnh đạo của mình đối Nhà nước và toàn xã hội.

Năng lực lãnh đạo của Đảng chịu tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan. Cần phải nhận thức, đánh giá chính xác. Bên cạnh đó, phải đánh giá, những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những tác động của hội nhập quốc tế,… Nhận thức rõ nguy cơ từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên.

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; bảo đảm mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tất cả vì con người và cho con người, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đã khẳng định năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Năng lực lãnh đạo của Đảng về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới
Một là, nâng tầm công tác dự báo ở cấp độ “chiến lược” để chủ động và kiểm soát, xử lý mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước những biến động hết sức phức tạp của thế giới, khu vực, việc dự báo và đưa ra các giải pháp cụ thể khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là thể hiện năng lực lãnh đạo, của Đảng. Việc đưa ra dự báo về những vấn đề như: (1) các tình huống an ninh phi truyền thống, (2) diễn biến hòa bình, bạo loạn chính trị, (3) xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, xâm chiếm biển đảo, biên giới bằng nhiều hình thức, (4) chiến tranh xâm lược quy mô lớn… sẽ là cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp kịp thời giải quyết những yêu cầu cấp thiết trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Vì vậy, việc nâng tầm công tác dự báo ở cấp độ “chiến lược” để kiểm soát, làm chủ tình hình, không để bị động, bất ngờ là tất yếu, khách quan.

Sau khi có dự báo đúng, Đảng đề ra chủ trương, đường lối định hướng và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật để thực hiện. Đồng thời, lãnh đạo, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sức mạnh của nhân dân thực hiện thành công nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đó là sự thể hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Hai là, xác định rõ mục tiêu và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay
Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc: Mục tiêu tổng quát của chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay được Đại hội XIII của Đảng xác định là: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Mục tiêu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII đưa ra là:
Về mục tiêu chung: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình...

Về mục tiêu cụ thể: Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu, nêu gương của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín, có tư duy đổi mới, có tầm nhìn chiến lược.

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hiệu lực, tinh gọn, trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, làm hạt nhân để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường chuyển đổi số, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước toàn diện, nhanh, bền vững. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh; xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, phát huy giá trị văn hoá tốt đẹp, truyền thống dựng nước, giữ nước kiên cường bất khuất của dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

Tăng cường nguồn lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Chiến lược nhấn mạnh lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, là mục tiêu cao nhất trong các hoạt động đối nội, đối ngoại, nhất là trong xử lý các vấn đề quốc tế. Bổ sung nội dung bảo vệ thành quả cách mạng; bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; dập tắt nguy cơ xung đột, chiến tranh; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới. Qua đó, thể hiện tầm nhìn chiến lược, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Về yêu cầu bảo vệ Tổ quốc: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết, kiên trì thực hiện đường lối, tư duy, quan điểm mới của Đảng về vấn đề bảo vệ Tổ quốc, lấy đó là kim chỉ nam cho việc thực hiện và hoàn thiện định hướng bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của việc thực hiện định hướng bảo vệ tổ quốc. Yêu cầu huy động các nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại;phát huy những yếu tố nội lực, tranh thủ ngoại lực;chủ động đấu tranh làm thất bại những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ nhân dân, giữ vững môi trường hoà bình, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội để xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại mới.

Thường xuyên theo dõi, nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống sự phát triển của các hình thái chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới. Nghiên cứu, giải quyết đồng bộ các vấn đề về chiến lược, quan điểm, nguyên tắc, phương thức cũng như nội dung và cách thức tác chiến kiểu mới. Từ đó, tập trung việc tổ chức xây dựng lực lượng, vũ khí, cải tiến trang bị, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, triển khai ứng dụng công nghệ cao, nghiên cứu, sản xuất trang thiết bị, vũ khí hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới của chiến tranh hiện đại.

Xây dựng, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn, khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu nhằm khai thác, nắm bắt, làm chủ khoa học công nghệ, vũ khí, trang bị hiện đại. Vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện, hoàn cảnh mới, sẵn sàng ứng phó với các biểu hiện, các hình thái chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh kiểu mới hiện nay.

Xác định rõ các đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, thông qua những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để nhận thức đúng các đối tượng.Trên cơ sở đó, xác định một cách khách quan, toàn diện về các loại đối tượng… Cảnh giác, nắm bắt tình hình, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hành động của các đối tượng. Vừa hợp tác, vừa đấu tranh, bên cạnh đó,tranh thủ sự ủng hộ, đồng thuận của bạn bè quốc tế, hạn chế những mặt đối lập, thêm bạn, bớt thù, tránh bị cô lập, tăng cường bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Ba là, xác định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”
Quan điểm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”đã khẳng định tầm nhìn và tư duy chiến lược của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Cùng với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân được xây dựng vững chắc nhằm tập hợp và huy động sức mạnh của toàn dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Trong tư duy chiến lược về vấn đề bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của Đảng ta bao hàm nhiều nội dung, trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản, quan trọng như: chủ động nắm tình hình, nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực và trong nước; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng và thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh tổng hợp. Kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng sức mạnh toàn diện, vững chắc ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân khi có chiến tranh; đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc; thực hiện chính sách quốc phòng bốn không (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế),thể hiện rõ quan điểm luôn coi trọng giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước, coi trọng giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, bất đồng bằng biện pháp hòa bình.

Bốn là, hoàn thiện định hướng chiến lược trong xác định con người là trung tâm của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề an ninh con người, an ninh xã hội là tư duy, nhận thức rất mới, thể hiện tầm nhìn mang tính chiến lược của Đảng ta trước môi trường an ninh đầy những thử thách và yêu cầu ngày càng cao trong bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Những nguy cơ, thách thức về an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng bên cạnh vấn đề an ninh truyền thống. Việc bảo đảm an ninh con người, an ninh trật tư, an toàn xã hội là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, mà trước hết là trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp. Do đó, cần phát huy vai trò của công tác tuyên truyền nhằm khơi dậy ý chí, tinh thần độc lập tự chủ, tinh thần yêu nước của mỗi người dân, phát huy cao độ vai trò của lực lượng công an, quân đội trong vấn đề bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên cơ sở thượng tôn pháp luật.

Theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, an ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại; bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh.

Với nội hàm an ninh con người theo quan điểm mới của Đảng ta, việc triển khai thực hiện sẽ mang lại những tác động tích cực đối với người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội. Việc thể chế hoá quan điểm của Đảng thành các quy định của pháp luật sẽ là cơ sở pháp lý cho vấn đề bảo đảm an ninh con người, trật tự, an toàn xã hội trước những thách thức của an ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống trong bối cảnh mới.

Bên cạnh đó, việc phát huy dân chủ của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc với tư tưởng lấy “dân là gốc”, dựa vào dân và lấy người dân là trung tâm của sự phát triển; nhân dân vừa là chủ thể vừa là động lực, sẽ khơi dậy mạnh mẽ ý chí, tự lực tự cường, truyền thống tốt đẹp, sức mạnh nội sinh của con người Việt Nam. Phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “thế trận lòng dân” chính là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết luận
Nâng cao năng lực lãnh đạo, của Đảng, phát huy vai trò của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: DANH DỰ ĐẢNG VIÊN VÀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ!

         Danh dự của một người là các giá trị tinh thần, đạo đức do người ấy xây dựng trong cuộc sống ở các mức khác nhau dựa trên cơ sở giải quyết các mối quan hệ với người, với việc, với tổ chức, với cộng đồng trong thời gian dài. Danh dự của một người được biểu hiện ra bên ngoài thông qua sản phẩm vô hình và hữu hình!

Sản phẩm vô hình của danh dự thường thuộc về yếu tố tinh thần, như thái độ tôn trọng, hòa nhã, lịch sự, hoạt bát, nhanh nhẹn trong ứng xử hoặc khi tiếp xúc với ai đó.

Sản phẩm hữu hình của danh dự rất đa dạng. Đó cũng có thể là sản phẩm từ quá trình lao động cần mẫn trên đồng ruộng, trong sản xuất nông nghiệp. Đó cũng có thể là các sản phẩm thủ công tạo ra từ tư duy, mồ hôi, công sức và sự khéo léo của đôi bàn tay. Đó cũng có thể là sản phẩm mang tính phối hợp như công nhân trong dây chuyền sản xuất ra một chiếc điện thoại mang hàm lượng khoa học, công nghệ rất cao...

Danh dự của một người không tự nhiên có được, mà đến từ sự đóng góp, cống hiến trí tuệ và công sức lao động của người đó với gia đình, cộng đồng, xã hội, nhà nước, giai cấp và nhân loại; do sự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện miệt mài, dày công vun đắp, giống như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Danh dự không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, địa vị, chức vụ, nghề nghiệp, giới tính.

Người có danh dự, trọng danh dự, trọng chữ tín sẽ cho ra những sản phẩm giá trị, mang tính văn hóa, luôn được mọi người yêu mến, tin tưởng, tôn trọng. Ví dụ, nhà văn cho ra đời một tác phẩm truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết sau nhiều năm tháng miệt mài lao động, với các giá trị chân, thiện, mỹ và mang tính giáo dục cao, được đông đảo bạn đọc đón nhận nhiệt thành.

Đối với mỗi đảng viên cần phải xác định, danh dự là vô cùng thiêng liêng và cao quý. Khi đứng trong hàng ngũ của Đảng, đảng viên nêu cao quyết tâm thực hiện lời thề một lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Thực tế đã chứng minh, để thực hiện mục tiêu cao quý ấy, các đảng viên sẵn sàng chịu đựng gian khổ, chấp nhận hy sinh. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cộng sản, các đảng viên kiên trung đã giữ vững khí tiết đấu tranh, dù bị địch bắt, tra tấn, tù đày. Nhờ đó mà uy tín, thanh danh của Đảng được dựng xây, bồi đắp, ngày càng được củng cố. Trong công cuộc đổi mới, đảng viên đã ra sức phấn đấu, có nhiều sáng kiến, sáng tạo, không ngừng hoàn thiện nhân cách, nâng cao năng lực lãnh đạo, mang lại hiệu quả cao cho cơ quan, đơn vị, địa phương. Và đây chính là những hạt nhân để văn hóa chính trị ngày càng phong phú, tỏa sáng rực rỡ hơn.

Ngược lại, trong quá trình công tác, nhiều đảng viên đã bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, vướng vào kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật phải hầu tòa và lĩnh các mức án khác nhau. Điều này đã làm cho danh dự của cá nhân đảng viên bị mất đi, đồng thời làm suy giảm văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng.

Văn hóa chính trị là những giá trị, lý tưởng cao đẹp mà con người hướng tới trong hoạt động chính trị, thể hiện ở sự hiểu biết về chính trị, tri thức chính trị, ở trình độ tổ chức hệ thống quyền lực, ở hành động chính trị theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định.

Xét khái niệm này thì danh dự của cán bộ, đảng viên có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong xây dựng văn hóa chính trị. Nói một cách cụ thể, danh dự là trung tâm chi phối đến năng lực hành động chính trị...

Để có năng lực hành động chính trị, một trong những thành tố quan trọng cấu thành nên văn hóa chính trị, trước hết mỗi đảng viên phải nêu cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân đều phải hết sức tránh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích của Đảng, quốc gia-dân tộc và của nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định và vận dụng, phát triển, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân; chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng, liên tục đổi mới, sáng tạo và hội nhập; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị; đoàn kết, kỷ cương, tình thương, luôn nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, làm tốt bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội; gương mẫu, khiêm tốn, học tập suốt đời, cầu thị, giản dị, nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng.

Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản đó thì người đảng viên đã có danh dự và đương nhiên cũng là người có văn hóa chính trị. Trong đó, danh dự thực thi công vụ là vấn đề đáng quan tâm hơn cả. Bởi danh dự giống như một chiếc động cơ, thúc đẩy người đảng viên hoàn thiện năng lực tư duy lý luận chính trị. Danh dự giúp cán bộ, đảng viên nâng cao khả năng nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng. Đây là “kim chỉ nam”, đồng thời là phương tiện để cán bộ, đảng viên có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Nếu có danh dự, trọng danh dự sẽ giúp người cán bộ, đảng viên tập trung tinh thần, nêu cao trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị, vận dụng khéo léo trong thực tiễn.

Ở một khía cạnh khác, danh dự của đảng viên góp phần hoàn thành tri thức chính trị, một nội dung quan trọng cấu thành văn hóa chính trị. Thực tế cho thấy, ngoài nắm chắc, hiểu sâu, hiểu rõ lý luận chính trị, để có hành động chính trị hiệu quả thì mỗi đảng viên cần có lượng tri thức chính trị phong phú. Các đảng viên cần phát huy vai trò tự học, nâng cao hiểu biết, bồi bổ nguồn tri thức cuộc sống, xây dựng nền tảng văn hóa chính trị vững chắc. Đây chính là điều kiện tiên quyết để giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ do Đảng giao phó, xứng đáng với tư cách người đảng viên.

Tiếp đó, danh dự giúp cán bộ, đảng viên hình thành và phát triển năng lực hành động chính trị mà cụ thể là giúp cán bộ, đảng viên không ngừng hoàn thiện năng lực tổ chức thực tiễn và các hoạt động chính trị. Đó có thể là việc cụ thể hóa nghị quyết lãnh đạo vào công việc chuyên môn, sáng tạo ra phương thức thực hiện bảo đảm đúng pháp luật, mang lại hiệu quả, kết quả thực hiện nhiệm vụ cao cho cơ quan, đơn vị, địa phương.

Kết quả hoạt động thực tiễn chính trị là thước đo để đánh giá năng lực hành động chính trị của con người chính trị, đồng thời cũng là thước đo để đánh giá danh dự của đảng viên. Vì “thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý”, cho nên việc đánh giá năng lực hành động chính trị của người đảng viên không chỉ căn cứ vào lời nói, bằng cấp, chứng chỉ... mà còn phải căn cứ vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, hiệu quả công tác tổ chức vận động quần chúng, sự gương mẫu nêu gương của người cán bộ, đảng viên trong đời sống hằng ngày, sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân./.
Theo báo QĐND.
Yêu nước ST.