Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

Bớt đi một chữ Tham để giữ lấy chữ Liêm.

 Tham lam là bất Liêm, đã bất Liêm thì những việc khác cho dù có tài giỏi cũng bỏ đi. Nếu cán bộ, đảng viên đã Tham thì không giữ được Liêm, đã bất Liêm thì không giữ được đạo đức cách mạng, đã không giữ được đạo đức cách mạng thì làm sao phụng sự được Tổ quốc, phục vụ được Nhân dân?

Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 “về chuẩn mực đo đức cách mạng của cán bộ, đng viên trong giai đoạn mới” nhấn mạnh một trong những phẩm chất quan trọng của cán bộ, đảng viên, đó là Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư. Trong đó, Liêm là một trong những phẩm chất hàng đầu của cán bộ, đảng viên. Liêm là tuyệt đối không được tham lam bất cứ thứ gì của nước, của dân. Theo đó, để giữ uy tín của bản thân, uy tín của tổ chức, của Đảng, cán bộ, đảng viên phải giữ được chữ Liêm, muốn giữ được chữ Liêm tất phải bớt đi chữ Tham. Cán bộ, đảng viên bất Liêm, tham ô, tham nhũng, không trong sạch thì làm sao có được uy tín, làm sao được lòng dân?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến chữ Liêm, Người cho rằng: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Người nhấn mạnh: Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” [1].

Trong tác phẩm Cần kiệm liêm chính với bút danh Lê Quyết Thắng đăng trên báo Cứu quốc năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Liêm là trong sạch, không tham lam”. Người chỉ rõ: “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm. Người cho rằng, “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư" [2]. Cán bộ, đảng viên phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho Nhân dân. Người khẳng định: “Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Người chỉ rõ: Liêm của ngày xưa để chỉ “những người làm quan không đục khoét dân”, còn Liêm ngày nay có nghĩa rộng hơn và mọi người đều phải Liêm”[3]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liêm là một phẩm chất đạo đức của con người, thể hiện qua lối sống trong sạch, không hám danh, không bận tâm toan tính nhỏ nhen, ích kỷ… Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải “ít lòng tham muốn về vật chất” [4].

Trong tác phẩm Đời sống mới (3/1947), Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải thực hành “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” Người coi đây là “tứ đức”, là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc, Người khẳng định:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người” [5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo về nguy cơ rơi vào bất Liêm: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ Trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục Nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu” [6].

Cổ nhân có câu: Đạm bạc dĩ minh chí/ Ninh tĩnh nhi chí viễn (có nghĩa là: Có đạm bạc thì chí mới sáng suốt/ Có tĩnh lặng mới có thể nhìn xa trông rộng). Để giữ chữ Liêm, Ức Trai Nguyễn Trãi đã giữ phẩm chất người “chăn dân”: “Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen” và quen cuộc sống đạm bạc, từ chối của phi nghĩa “cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ, áo người vô nghĩa mặc chẳng thà”. Còn cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: “Lòng chẳng mắc tham là của quý”.

Phật giáo coi tính tham là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến bể khổ.

Người xưa rất coi trọng chữ Liêm: Cụ Khổng Tử nói: “Tham lợi chỉ có ở kẻ tiểu nhân”. Cụ Mạnh Tử nói: Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy…” [7].

Nói về sự tham lam, bất Liêm của những cán bộ, đảng viên hư hỏng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có lần đặt câu hỏi: "Cứ nghĩ trong cuộc sống mà xem, có những người có thiếu thốn gì đâu, nhưng sao mà tham thế? Chưa làm cái gì đã nghĩ đến chấm mút, nói nhỏ là chấm mút, còn nói to là vi phạm pháp luật, bất chấp cả pháp luật, không còn xứng đáng là đảng viên nữa…”.

Suy cho cùng, cũng bởi Tham mà bất Liêm, cũng vì tham danh vọng, vinh thân phì gia mà người ta bất chấp cả pháp luật, chà đạp, tranh giành hơn - thua với đời… Tham là gốc của mọi tiêu cực, xấu xa… Cán bộ, đảng viên mà tham danh lợi, trước là vi phạm các quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, sau là vi phạm pháp luật chứ đâu có thoát được tội.

Đã có không ít bài học về lòng tham và ma lực của đồng tiền khiến quan chức phải ngã ngựa, vướng vào lao lý… Qua những vụ án, vụ việc liên quan đến cán bộ, đảng viên được đưa ra ánh sáng công luận thời gian qua, nhất là các vụ án tiêu cực, tham ô, tham nhũng… cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên đã không giữ được chữ Liêm, bị cuốn theo những cám dỗ về lợi ích, những “viên đạn bọc đường” đã xuyên thủng hàng rào đạo đức cách mạng đi thẳng đến lòng tham.

Để không mắc phải những sai lầm đáng tiếc từ những bài học nhãn tiền, cán bộ, đảng viên luôn phải cảnh giác với những món lợi bất minh, đứng trước những lợi ích phi nghĩa, lợi ích không rõ ràng thì phải cương quyết không để lòng tham trỗi dậy, không để bản thân rơi vào tình huống “há miệng mắc quai”. Muốn vậy, cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị “về chuẩn mực đo đức cách mạng của cán bộ, đng viên trong giai đoạn mới”; nhất định phải hiểu rằng: Vào Đảng là để cống hiến, hy sinh chứ không phải “để làm quan phát tài”. Vì thế, cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về đạo đức cách mạng, đã dấn thân vì sự tiến bộ xã hội, vì sự phát triển của đất nước… thì đừng vương vấn đến chữ Tham, không chạy theo chủ nghĩa cá nhân.

Thiết nghĩ, nếu cán bộ, đảng viên ở nước ta, ai cũng nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm và giữ gìn các chuẩn mực đạo đức cách mạng theo đúng Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, vì sự tiến bộ xã hội, vì khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam… há chẳng phải là phúc của nước nhà hay sao?!

Muốn vậy, cán bộ, đảng viên phải hội đủ những phẩm chất: Cần, Kiệm, Liêm chính, Chí công vô tư… trong đó, phải giữ chữ Liêm làm đầu. Tham lam là bất Liêm, đã bất Liêm thì những việc khác cho dù có tài giỏi cũng bỏ đi. Nếu cán bộ, đảng viên đã Tham thì không giữ được Liêm, đã bất Liêm thì không giữ được đạo đức cách mạng, đã không giữ được đạo đức cách mạng thì làm sao phụng sự được Tổ quốc, phục vụ được Nhân dân?

Vâng, giữ lấy chữ Liêm! Không chỉ đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, đã là con người nói chung, tất cả đều cần phải nuôi dưỡng chữ Liêm - một trong “tứ đức” của con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy.

Theo đó, ai cũng cần nuôi dưỡng chữ Liêm cho bản thân mình, muốn có chữ Liêm tất phải bớt đi chữ Tham, bởi Tham và Liêm có mối quan hệ nhân - quả, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Tất nhiên, để giữ được chữ Liêm còn có các yếu tố khác nữa… Trong phạm vi bài viết này cũng mới chỉ phần nào giúp bạn đọc có thêm góc nhìn cho một khuyến nghị như tiêu đề của bài viết mà thôi: Bớt đi một chữ Tham để giữ lấy chữ Liêm!

Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T5, Nxb CTQG, H.2011, tr.292

[2] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T6, Nxb CTQG, H2011, tr.126.127

[3] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T6, Nxb CTQG, H2011, tr.126.127

[4] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T2, Nxb CTQG, H.2011, tr.280

[5] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T6, Nxb CTQG, H2011, tr.117

[6] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T 5, Nxb CTQG, H.2011, tr.123

[7] Hồ Chí Minh - Toàn tập, T 6, Nxb CTQG, H.2011, tr.126, tr.127

Bảo vệ người lao động đang làm việc tại nước ngoài.

 Tại Hội đàm giữa Tổng LĐLĐ Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn Hàn Quốc diễn ra chiều 5/8, hai bên thống nhất bảo vệ quyền lợi người lao động làm việc tại nước ngoài

Hội đàm giữa Tổng LĐLĐ Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn Hàn Quốc dưới sự chủ trì của ông Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam; ông Kim Dongmyeong - Chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Hàn Quốc (FKTU).

Kể từ khi thiết lập quan hệ vào năm 1993, mối quan hệ hợp tác song phương giữa Tổng LĐLĐ Việt Nam và FKTU không ngừng phát triển, ngày càng hiệu quả, thiết thực. Hiện có 8 Công đoàn ngành và 12 Liên đoàn Lao động địa phương thuộc Công đoàn Việt Nam có quan hệ hợp tác, trao đổi đoàn với các Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố của Hàn Quốc.

Quan hệ hợp tác hữu nghị nhiều mặt giữa hai tổ chức Công đoàn trong thời gian qua được triển khai có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như hợp tác trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong các lĩnh vực bảo vệ quyền của lao động trẻ, lao động lớn tuổi, lao động nữ, bình đẳng giới và lao động di cư; thúc đẩy những chính sách tích cực nhằm tạo việc làm và chống thất nghiệp, đẩy mạnh bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, luật pháp về lao động, nâng cao tiền lương tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động và môi trường.

Tại Hội đàm, hai bên đã trao đổi về tình hình kinh tế xã hội, phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn. Tại đây, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Nguyễn Đình Khang cho biết về mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ 2023 – 2028, các khâu đột phá mà Đại hội lần thứ XIII của Công đoàn Việt Nam đề ra.

Công đoàn Việt Nam sẽ tiếp tục quan tâm đến các nhiệm vụ quan trọng như tham gia vào quá trình xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật liên quan đến lao động nhằm bảo vệ người lao động từ xa và trên diện rộng; tham gia Hội đồng Tiền lương Quốc gia, xác định mức tăng lương tối thiểu hàng năm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động; duy trì cơ chế đối thoại với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để giải quyết những vấn đề lớn, được người lao động quan tâm; duy trì cơ chế đối thoại với Quốc hội thông qua Diễn đàn người lao động do Chủ tịch Quốc hội chủ trì nhằm tạo điều kiện để đại diện cử tri là đoàn viên Công đoàn bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị với Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội về chính sách, pháp luật liên quan người lao động và hoạt động Công đoàn…

Hai bên dành nhiều thời gian để trao đổi kinh nghiệm giải quyết một số vấn đề liên quan đến thị trường lao động của Hàn Quốc; mô hình tổ chức của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc; cơ chế thương lượng… Theo đó, hiện FKTU đang cố gắng xây dựng các chính sách để bảo vệ người lao động nước ngoài đang làm việc tại Hàn Quốc.

Cũng tại Hội đàm, Chủ tịch Nguyễn Đình Khang trân trọng cảm ơn FKTU và cá nhân ông Chủ tịch FKTU đã gửi lời chia buồn, động viên tới tổ chức Công đoàn, người lao động Việt Nam cũng như gia đình đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đồng chí Tổng Bí thư qua đời.

Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đánh giá cao mối quan hệ hợp tác hiệu quả, đa dạng với FKTU. Hai bên cùng mong muốn tiếp tục quan tâm, duy trì trao đổi đoàn cấp cao song phương hàng năm, đưa hoạt động hợp tác giữa các ngành và LĐLĐ địa phương hai nước đi vào chiều sâu, tăng cường chia sẻ kinh nghiệm trong các vấn đề cùng quan tâm; đặc biệt là thể hiện tình đoàn kết trên các diễn đàn quốc tế./.


HIỂU ĐÚNG VỀ TU BỔ DI TÍCH, TRÁNH ĐỂ ĐÁM PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC!

     Những ngày gần đây, dư luận xôn xao bởi di tích chùa Cầu (thành phố Hội An, Quảng Nam) có một diện mạo "mới" khi chuẩn bị được khánh thành sau một thời gian tu bổ. Rất nhiều ý kiến cho rằng, di tích đã bị "trẻ hóa" sau khi được đầu tư trùng tu với kinh phí hơn 20 tỷ đồng!

Chùa Cầu là một trong những di tích nổi tiếng nhất của Di sản văn hóa thế giới Phố cổ Hội An, ghi dấu sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam-Nhật Bản những thế kỷ trước. Việc trùng tu chùa Cầu được tiến hành từ năm 2022. Phần bên trong di tích, các cấu kiện gỗ cũ được tận dụng tối đa, chỉ có một số cấu kiện được thay thế, sửa chữa, nhưng được sơn màu cánh gián nên khá tương đồng với cấu kiện cũ. Phần bị dư luận chê nhiều nhất là phần mái di tích. Sau khi có những ý kiến chỉ trích, nhiều người lấy những tấm ảnh cũ để so sánh với diện mạo sau khi tu bổ của chùa Cầu.

Có thể thấy, toàn bộ hình thái, kích thước của phần mái kiến trúc sau khi tu bổ được giữ nguyên như cũ. Các họa tiết đắp nổi trên nóc di tích cũng được giữ đúng hình dáng, kích thước trước đây. Sau tu bổ, chùa Cầu vẫn dùng ngói âm dương, phần diềm mái (hay bờ mái chảy), mỗi hàng ngói được gắn một chiếc đĩa men lam như di tích gốc.
Khác biệt lớn nhất và cũng là phần bị chê nhiều nhất là màu ngói, nhất là các phần dùng vữa như trang trí họa tiết, bờ nóc, vữa kết dính vật liệu ngói âm dương... đều mới hơn. Phần hoa văn đắp nổi trên mái cũng "nổi bật" hơn do được sơn màu lam trên nền trắng.

Việc trùng tu di sản nhận được cả sự khen và chê không phải là hiếm. Cách đây hơn một năm, biệt thự số 49 phố Hàng Bài (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) bị dư luận có nhiều ý kiến không đồng thuận vì màu sơn "quá mới". Phải đến khi các chuyên gia Pháp công bố rõ quá trình khảo sát, nghiên cứu, phương pháp trùng tu và màu sơn cũ của biệt thự được tìm thấy qua quá trình khảo sát, dư luận mới dịu xuống.

Để đánh giá thành công hay thất bại của một di tích sau khi trùng tu, không thể chỉ bằng cái nhìn cảm quan. Thực tế, nhiều di tích gần như bị bỏ đi hết các cấu kiện cũ, thay bằng cấu kiện mới, nhưng sau đó được "sơn phết" giả cổ, cho nên rất dễ "vừa mắt" mọi người. Để đánh giá hiệu quả trùng tu, trước hết cần quan tâm đến nguyên tắc và phương pháp trùng tu.
Với trường hợp chùa Cầu, đơn vị trùng tu đã giữ lại tối đa các cấu kiện có thể tái sử dụng, thay thế những cấu kiện cần thiết. Hình thái, kích thước, trang trí của chùa Cầu được giữ vững. Cần lưu ý rằng, việc tu bổ chùa Cầu không chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia Việt Nam, mà còn có sự tham gia của các chuyên gia đến từ tổ chức JICA của Nhật Bản - quốc gia nổi tiếng về công tác bảo tồn, trùng tu di tích.

Phần bị chê chính là phần thay đổi lớn nhất, tức màu sắc. Nguyên nhân chính là do chưa có "màu thời gian". Về vấn đề này, việc sơn phết để cho chúng "giả cổ" không phải là khó. Nhà thờ Lớn ở Hà Nội sau khi trùng tu đã cho phun sơn giả rêu phong. Nhưng trong con mắt của nhiều chuyên gia, người ta mong muốn di tích sẽ "lên màu" cùng thời gian một cách tự nhiên, điển hình cho phương pháp này là di tích Ô Quan Chưởng.

Việc dư luận quan tâm đến tu bổ chùa Cầu là tín hiệu cho thấy người dân quan tâm hơn đến di sản. Song, cần có hiểu biết đúng đắn về công tác tu bổ di tích trước khi đưa ra nhận xét. Nếu chỉ hùa vào quan điểm của một số cá nhân trên mạng xã hội sẽ gây tổn hại đến công tác bảo tồn, tu bổ di tích nói chung./.

Yêu nước ST.

NHỮNG KẺ VÔ LIÊM SỈ, VÔ LÝ, VÔ NHÂN ĐẠO VẪN RẮP TÂM XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH, SỰ NGHIỆP CỐNG HIẾN CHO TỔ QUỐC CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

1. Vin vào sự kiện đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã “té nước theo mưa”, xía vào bàn tán tính chính danh của “đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam thời hậu Nguyễn Phú Trọng”, cho rằng, “ông Tổng Trọng - người cộng sản Việt Nam cuối cùng tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - đã băng hà, giới lãnh đạo Việt Nam cần tỉnh ngộ, sớm tìm con đường đi mới, cứu nguy dân tộc”... Theo đó, chúng đồn đoán rằng, “vào thời hậu Nguyễn Phú Trọng, đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam sẽ bị rung lắc dữ dội, có thể bị bật gốc, gẫy cành”. 

Lại có quan điểm cho rằng, “giới lãnh đạo tinh hoa Việt Nam thời hậu Nguyễn Phú Trọng, đứng đầu là Tô Lâm, không còn bị ép buộc bởi quan điểm “đảng trị” của Nguyễn Phú Trọng”, “ngoại giao cây tre Việt Nam sẽ chuyển dịch theo hướng chọn bên, chọn phe”, “xu hướng ngả theo Mỹ và phương Tây là lối thoát duy nhất ra khỏi “vòng kim cô Nguyễn Phú Trọng” và theo đó, “thoát Trung, bài Nga là thực tế khách quan”, “dựa vào Mỹ, Việt Nam không sợ kẻ hung hăng, đang giương oai tác quái trên Biển Đông là lũ cướp biển hàng xóm”…

Một số ý kiến lại cho rằng, “nước Nam mấy chục năm nay không thể ngóc đầu vì chế độ Nguyễn Phú Trọng thống trị, nay thời đã đến, lãnh đạo Việt Nam còn ngại gì nữa khi chuyển bánh xe lịch sử về phương Tây, đi theo Mỹ tìm cơ hội phát triển đất nước”. Chúng đã dẫn chứng sự “trỗi dậy mạnh mẽ của các nước Đông Âu, từ Đông Đức, Ba Lan, đến ba nước Ban tích…” để chứng minh sự thoát xác từ Liên Xô, tạo sự phát triển bứt phá vượt bậc của những nước từng là xã hội chủ nghĩa ở châu Âu.

Ở Việt Nam, quân và dân ta đều đã rõ “điệp khúc” này bởi nó được tua đi tua lại nhiều lần, ngay khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn tại vị. Với giọng điệu con buôn, những kẻ bất mãn đã cấu kết với các hội, nhóm lưu vong ở bên kia chiến tuyến, cùng bọn cơ hội chính trị trong nước “xướng ca bài này” rồi tung lên mạng xã hội những tin, bài có nội dung xấu, độc. Nó không mới, chỉ là hàng cũ bị ươn được rắc thêm mắm, muối, nhưng hoàn toàn không có hương vị văn hóa nhân văn nào, mà thực chất, chỉ là chiêu trò bịp bợm “chọc gậy bánh xe”, “đâm bị thóc, chọc bị gạo” để diễn trò mua vui do đám tàn quân ngụy quyền lưu vong biểu diễn nhờ sự “hà hơi tiếp sức”, bơm tiền của một số kẻ “chống lưng”, bố thí cho đám đánh thuê, diễn trò “khóc mướn”, kiếm tiền sinh sống qua ngày. 

Những tin, bài viết của những kẻ “vong ân bội nghĩa” hết sức vô liêm sỉ, vô lý và thiếu văn hóa, đã được người dân Việt Nam vạch mặt, lên án nhiều lần và tránh xa nó như tránh xa loại vi rút gây bệnh hiểm nghèo. Giờ đây, những kẻ “mặt người dạ thú” diễn lại tiết mục cũ với sự vô liêm sỉ đáng ghê tởm, nhất là việc lợi dụng sự kiện đồng chí Tổng Bí thư Đảng ta từ trần để “đổ thêm dầu vào lửa”, gây ra đám cháy lớn ở Việt Nam, rồi bu vào hôi của, nhặt những đồng tiền bố thí của đám quan thầy giấu mặt, đáng ghê tởm.

2. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hơn ai hết hiểu rõ tầm vóc, giá trị và ý nghĩa đường lối cây tre Việt Nam do Bác Trọng - Nguyên Tổng Bí Đảng ta - Người có công đúc kết, khái quát kinh nghiệm ngoại giao hàng nghìn năm đánh giặc giữ nước của dân tộc, đặc biệt là kinh nghiệm gần 80 lập nước, đánh giặc Pháp, giặc Mỹ để xây dựng và phát triển thành học thuyết ngoại giao cây tre Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đường lối ấy, học thuyết ấy có lợi cho dân, cho nước, giúp quân và dân ta tránh được họa ngoại bang xâm lược, giữ vững giang sơn, bờ cõi Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta, các thế hệ con cháu chúng ta không phải đối mặt với xung đột, chiến tranh; không phải đổ máu, hy sinh thêm nữa; bố mẹ không mất con, vợ không mất chồng; anh em, người thân không phải ly tán; trên đầu hàng vạn người dân Việt Nam không phải mang vòng trắng khăn tang; đất nước ta luôn giữ vững sự ổn định chính trị để không ngừng đổi mới, xây dựng và phát triển quốc gia thịnh vượng, ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. 

Bài học lịch sử cách mạng Việt Nam, đặc biệt là bài học kinh nghiệm sau ngày quân và dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, vào lúc đó, chúng ta đã đứng về một phe, theo một bên, đã từng xác định “quan hệ với Liên Xô là hòn đá tảng”, “là chiến lược”, “là sự sống còn”, đã đẩy nước ta vào thế bị bao vây, cấm vận, phong tỏa. Đất nước ta, Đảng và nhân dân ta phải mất nhiều năm sau mới “bình thường hóa” quan hệ với Trung Quốc và Mỹ; có được các mối quan hệ hợp tác, hữu nghị vì hòa bình; theo đó, chúng ta có được các Đối tác Chiến lược toàn diện và được “trong ấm ngoài êm” như ngày nay. 

Trong những năm xây dựng đất nước sau Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta cũng có thêm bài học kinh nghiệm sâu sắc khi giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng và lên tiếng phản đối mạnh mẽ các cuộc chiến tranh phi nghĩa do chủ nghĩa đế quốc tiến hành xâm lược Apsganitstan, Syria, Irắc… và cái giá chúng ta đã phải trả cho nó, giúp chúng ta trưởng thành. 

Từ thực tiễn sinh động ấy, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Nhà lý luận mácxít - lêninnít xuất sắc của Đảng ta cùng với đội ngũ cộng sự, đã dày công nghiên cứu, đúc kết, khái quát nên đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam. Đường lối ấy được viết bằng máu từ trái tim, phản ánh tinh thần, bản lĩnh, trí tuệ và khí phách, tâm hồn dân tộc Việt Nam; nó thể hiện đầy đủ nhất, toàn diện và sâu sắc nhất bản chất văn hóa nhân văn, được kết tinh từ hàng nghìn năm đánh giặc, giữ nước của dân tộc và được thực tiễn gần 40 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. 

Giờ đây, đồng chí Tổng Bí thư đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh do Đảng ta và Đồng chí Tổng Bí thư khái quát, đúc rút, xây đắp nên vẫn còn nguyên giá trị và sức sống mãnh liệt, rất đáng tự hào. 
Không thể nói rằng, sự ra đi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là “sự cáo chung” của đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam. Đảng ta, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ vẫn còn đó, tiếp nối đồng chí Tổng Bí thư thực hiện hóa tôn chỉ, mục đích, tính chính danh và ra sức phát huy giá trị, ý nghĩa của đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam mà đồng chí Tổng Bí thư ủy thác, giao phó cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. 

Không có chuyện Đảng, Nhà nước ta chọn bên, chọn phe, đi theo nước này, chống lại nước khác. Quan điểm của Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhất quán, đã, đang và tiếp tục được thực hiện hóa ở chính sách quốc phòng “bốn không”, “bốn tránh” của Việt Nam, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Không có chuyện Việt Nam thay lòng đổi dạ sau thời hậu Nguyễn Phú Trọng. Việt Nam vẫn tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Với tư cách là quốc gia trung lập, tôn trọng, độc lập, chủ quyền, quyền tự quyết của mọi quốc gia, dân tộc, Việt Nam không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác; luôn tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; tất cả vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tiến bộ xã hội.

Nhắc lại những điều có tính nguyên tắc nêu trên để không chỉ khẳng định ý chí, bản lĩnh, phong cách, phong thái và văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, mà còn chỉ rõ rằng, những kẻ đang lợi dụng sự kiện đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần để hạ thấp uy tín, thanh danh của đồng chí, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam là những kẻ vô học, “không có trái tim”, vô liêm sỉ, vô văn hóa và thiếu lương tri con người. Các người hãy dừng lại những việc làm phi nhân tính ấy, nhân dân Việt Nam, gần 100 triệu người như một, đã, đang và sẽ không bao giờ tin các người; đã và đang lên án, cực lực phản đối các người - những kẻ hại nước, hại dân. Các người hãy tỉnh ngộ lại đi!
Yêu nước ST.

ĐỪNG NGHE ĐÁM PHẢN ĐỘNG "TÁT NƯỚC THEO MƯA"!

     Người Việt Nam được ra nước ngoài làm việc, người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, đó là thể hiện sự văn minh, bình đẳng của quốc gia, của tiến bộ nhân loại. Đất nước nào cũng có nhiều thành phần lao động: Nhà khoa học, trí thức, chuyên gia, nghệ nhân, văn sĩ... và lao động phổ thông. Đất nước độc lập, xã hội càng được hưởng tự do, dân chủ và người dân thích làm ở đâu thì làm, miễn là đủ điều kiện pháp luật quy định và có thu nhập để nâng cao đời sống cho bản thân mình, và gia đình mình. Được lao động là một vinh quang!

Từ nhu cầu chính đáng của Nhân dân, Nhà nước Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mối quan hệ kinh tế này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hay gọi theo cách của châu Âu là: Xuất khẩu lao động (XKLĐ). Đây là vấn đề không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn là xu thế chung của các quốc gia đang phát triển. Thế nhưng, thời gian gần đây, một số thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình rêu rao, xuyên tạc, đơm đặt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tổ chức phối hợp đào tạo, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hướng đến mục đích gây ra sự phân tâm, lo lắng, hoài nghi về nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật của Việt Nam đối với người lao động; làm giảm sự nhiệt huyết của người lao động có dự định ra nước ngoài làm việc và công dân Việt Nam đang lao động ở nước ngoài; phủ nhận mọi nỗ lực, kết quả của cơ quan chức năng Việt Nam trong công tác quản lý di cư, bảo hộ công dân và mưu đồ đen tối hơn là nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

XKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động ra nước ngoài, phục vụ nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nước ngoài. Nói cách khác, đây là hoạt động chuyển dịch lao động từ nơi có nguồn dồi dào nhưng nhu cầu việc làm còn hạn chế đến nơi có ít lao động và nhu cầu việc làm nhiều. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, không chỉ riêng Việt Nam mà ở nhiều quốc gia khác, việc xuất khẩu lao động đã trở thành một chính sách quan trọng. Có thể thấy ở Châu Âu họ cũng cấp thẻ xanh (đủ điều kiện pháp luật) cho người dân đi làm việc, sinh sống khắp châu Âu, họ là kỹ sư, tiến sĩ nhà khoa học, lao động lành nghề.... cũng như Việt Nam hiện nay, họ muốn làm ở đâu cũng được, Nhà nước tạo điều kiện cho họ.

Thế nhưng, những kẻ phản động, mang tâm lý hằn học với quốc gia, dân tộc lại ra sức bôi nhọ hoạt động này. Trên không gian mạng, chúng ra sức rêu rao rằng: “Đất nước không tạo việc làm cho người dân, khiến người dân phải đi tha hương cầu thực”, “xuất khẩu lao động khiến Việt Nam mất đi nguồn nhân lực rường cột cho sự phát triển của đất nước”, “xuất khẩu lao động khiến đất nước chảy máu chất xám”, hay tiêu cực đến cùng cực hơn là chúng lại đặt câu hỏi: Tại sao "Việt Nam rừng vàng biển bạc lại xuất khẩu lao động", hoặc "xuất khẩu lao động để làm giàu cho Đảng..." thậm chí chúng còn xuyên tạc Việt Nam đưa “lao động lậu” ra nước ngoài, có mạng lưới buôn người một cách “hệ thống và bài bản” thông qua hoạt động XKLĐ trong khi chúng ta đưa lao động ra nước ngoài đều chính ngạch của Nhà nước và chống mọi hành vi vượt biên và trốn ra nước ngoài làm việc.

Thủ đoạn của chúng là thâu tóm tâm lý người dân bằng sự bịa đặt xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam lao động ở nước ngoài, hướng một bộ phận người dân trong nước và ở nước ngoài có những góc nhìn tiêu cực, không khách quan về nhu cầu chính đáng của người dân, xu thế quốc tế hóa lao động và những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Phải khẳng định một điều rằng, XKLĐ không phải là “tha hương cầu thực”. Tự do lao động là một quyền quan trọng của mỗi người: quyền lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp. XKLĐ là theo nhu cầu của cá nhân chứ không có Nhà nước nào bắt anh đi hay không đi (kể cả châu Âu). Anh có đầu óc, có trí tuệ, có tay nghề, đủ các tiêu chuẩn, điều kiện làm việc ở nước ngoài, có động lực thì đi, và đi XKLĐ thì anh hưởng chứ Nhà nước không lấy sức lao động của anh. Thực tế, bên cạnh thu nhập cao, xuất khẩu lao động chính ngạch giúp người lao động còn có cơ hội học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và tác phong làm việc chuyên nghiệp.. 

Hiện nay, Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã và đang kiếm tiền một cách chân chính bằng chính bàn tay, khối óc của mình để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho gia đình, đất nước. Thậm chí ở Việt Nam lao động có bằng cấp và tay nghề ổn định, tay nghề cao còn có thu nhập tương đương cả với các nước có thu nhập cao ở châu Âu hay như Nhật, Hàn, Singapo.. ở châu Á. 

Thế nên đừng nghe lời xuyên tạc của chúng mà TÁT NƯỚC THEO MƯA. Những giọng điệu phỉ báng, xuyên tạc vấn đề xuất khẩu lao động, suy cho cùng cũng chỉ là một chiêu trò hèn hạ, lạc lõng của đám phản động Việt tân, VOA, RFA, Chân trời mới Media, Nhật Ký yêu nước... Đó là những trang mạng thù địch với Nhà nước, dân tộc Việt Nam, của một bộ phận tàn dư chế độ tay sai Pháp, Mỹ trước đây và một bộ tri thức Nhà nước bề hưu, bất mãn, trở cờ phản bội sự nghiệp đất nước... Cần cảnh giác!
Yêu nước ST.

Sâu nặng ân tình.

 

“Dù còn khó khăn, song có được cuộc sống như ngày hôm nay, gia đình tôi rất biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, Quân đội, chính quyền địa phương cùng bà con lối xóm, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không-Không quân...”, ông Trần Thành Chỉ, sinh năm 1935, ở khu dân cư Đẩu Vũ, phường Văn Đẩu, quận Kiến An, TP Hải Phòng, xúc động chia sẻ với chúng tôi khi đoàn công tác Sư đoàn 363 đến thăm, tặng quà.

Ông Chỉ là cựu thanh niên xung phong (TNXP), hiện có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Năm 1965, ông tình nguyện tham gia TNXP, công tác tại đơn vị N77-P20 Bến Bính (TP Hải Phòng), làm nhiệm vụ san lấp hố bom, bảo đảm giao thông phục vụ chiến đấu. Năm 1966, trong lúc đang làm nhiệm vụ, ông bị thương nặng do mảnh bom găm vào vùng đầu, được đồng đội đưa vào bệnh viện điều trị. Do sức khỏe yếu, ông được xuất ngũ về địa phương với tỷ lệ thương tật 27%


Năm 1985, ông Chỉ gặp rồi kết duyên với bà Phạm Thị Xuyến, sinh năm 1951, ở cùng quê và sinh hạ được hai người con. Cuộc sống tuy có khó khăn, song vợ chồng, con cái luôn hòa thuận, yêu thương nhau, tổ ấm của ông bà luôn ngập tràn tiếng cười hạnh phúc. Nhưng tai họa liên tiếp ập xuống gia đình nhỏ bé này. Năm 1997, do vết thương cũ tái phát, sức khỏe của ông Chỉ giảm sút nghiêm trọng, nhất là hai tai của ông bị điếc nặng; trớ trêu hơn, cả hai con của ông bà lúc nhỏ rất khỏe mạnh nhưng khi lớn lên thì đều có biểu hiện của bệnh tâm thần và càng ngày càng nặng. Hiện nay, con gái thứ hai của ông sức khỏe yếu, nằm bất động một chỗ; con gái đầu suốt ngày tha thẩn trong nhà, không làm được việc gì.

Năm 2003, bà Xuyến qua đời, bỏ lại mình ông Chỉ nuôi hai con tâm thần. Cuộc sống vốn khó khăn nay càng đè nặng lên vai ông. Chia sẻ với hoàn cảnh của ông Chỉ, năm 2004, chính quyền địa phương đã khảo sát, phối hợp cùng Sư đoàn 363 xây tặng gia đình ông căn nhà tình nghĩa trên nền đất ngôi nhà cũ. Trong ngày chuyển về ngôi nhà mới, chính quyền địa phương và Sư đoàn 363 đã tặng gia đình ông Chỉ nhiều món quà ý nghĩa, giá trị, giúp gia đình ông ổn định cuộc sống. Đồng thời, hằng năm, vào những dịp lễ, tết, Sư đoàn 363 cùng chính quyền địa phương đều cử đoàn cán bộ đến thăm hỏi, tặng quà, động viên gia đình ông Chỉ. Tình cảm của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn với gia đình ông ngày càng gắn bó, thân thiết, ân tình sâu nặng.

“Tính ra cũng đã 20 năm trôi qua rồi. Với tôi, căn nhà có giá trị vật chất rất lớn, là mơ ước cả đời người. Nhưng lớn hơn là giá trị tinh thần vì tôi không đơn độc. Xung quanh tôi luôn có cấp ủy, chính quyền địa phương, bà con xóm làng, nhất là cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 363 luôn đồng hành, tiếp thêm động lực...", ông Chỉ nói.

Kết nối văn hóa đọc: Xây dựng “thế trận lòng dân” để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Một trong những giải pháp để bảo đảm hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng là xây dựng “thế trận lòng dân”. Để làm rõ hơn giải pháp quan trọng này, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản cuốn sách “Xây dựng “thế trận lòng dân”, huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch" của Tiến sĩ, nhà báo Vũ Văn Tiến, Trưởng ban Tuyên giáo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cuốn sách dày 520 trang, gồm 118 bài viết, được bố cục làm 3 phần: “Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống tham nhũng tiêu cực”; “Những chia sẻ về nghề báo” và “Tiểu phẩm báo chí”.

Thoạt tiên có cảm giác các phần trong cuốn sách sẽ thiếu gắn kết do được viết dưới nhiều thể loại khác nhau. Song đọc kỹ có thể thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cuốn sách là nêu bật sức mạnh vô địch của đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc khơi dậy tinh thần yêu nước, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền..


TS Vũ Văn Tiến đã đưa ra các chứng minh biện chứng, tổng kết thực tiễn các vấn đề đã làm nên sức mạnh của “thế trận lòng dân”, tạo sự đồng thuận xã hội, quy tụ đông đảo các tầng lớp nhân dân, không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên định, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tác giả đã chỉ rõ nhân dân đóng vai trò chủ thể, vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đảng không ngừng chăm lo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; phổ biến, tuyên truyền, làm tốt công tác dân vận để nhân dân tin, hiểu, tự hào với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vai trò của hệ thống mặt trận các cấp không chỉ phản bác trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch; sâu xa hơn là phải hướng về cơ sở, nắm bắt nguyện vọng, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, phối hợp với các cấp chính quyền giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội...

Nếu phần một tập hợp các bài viết chuyên luận, có thể hơi “nặng đô” với độc giả phổ thông thì hai phần sau rất dễ đọc, dễ hiểu. Phần hai là những chia sẻ về gần hai thập niên làm báo của tác giả. Ngoài những chia sẻ về nghề báo, kỹ năng làm báo, tác giả còn muốn truyền tải thông điệp về bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo hôm nay. Báo chí là “binh chủng” quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, các nhà báo ngoài việc không ngừng trau dồi ngòi bút sắc sảo, quan trọng nhất là giữ vững niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhận diện và đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, xấu độc...

Phần ba là các tiểu phẩm báo chí, những câu chuyện về đề tài nông thôn Việt Nam trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa trong nông nghiệp với ngòi bút trào lộng, dí dỏm, nhẹ nhàng, đôi khi nghiêm khắc với những thói hư tật xấu còn tồn tại sau lũy tre làng...

Được biết nhiều bài viết trong cuốn sách đã được viết từ hơn 10 năm trước, thể hiện mối quan tâm từ sớm của tác giả với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng tình cảm tâm huyết, trách nhiệm chính trị và lý lẽ sắc bén, thuyết phục.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT LẦN NỮA, CHÍNH GIỚI MỸ THỪA NHẬN SAI LẦM KHI XÂM LƯỢC VIỆT NAM!

     Cách đây 60 năm, đế quốc Mỹ đã dựng nên cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ, vu cáo Hải quân Bắc Việt Nam tấn công, kiếm cớ huy động máy bay đánh phá miền Bắc Việt Nam!

Sai lầm của Mỹ
Mới đây, TTXVN đã dẫn bình luận của TS. Andrew Wells - Đặng, chuyên gia cao cấp về Việt Nam tại Trung tâm châu Á thuộc Viện Hòa bình Mỹ (USIP), về những bài học sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ cách đây 60 năm và cuộc chiến tranh xâm.lược của Mỹ tại Việt Nam.

Theo đó, TS. Andrew Wells-Đặng nhắc đến mục sư Martin Luther King, nhà hoạt động người Mỹ gốc Phi nổi tiếng, khi ông phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Chính phủ Mỹ ở Việt Nam.
“Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm ngay từ đầu với cuộc phiêu lưu của chúng ta ở Việt Nam, rằng chúng ta đã gây tổn hại cho cuộc sống của nhân dân Việt Nam. Để chuộc lại những sai lầm này, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này...”, - ông Martin Luther King từng khẳng định.

Như vậy, sự leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ qua sự kiện Vịnh Bắc Bộ trong những ngày đầu tháng 8/1964 đã vấp phải phản đối từ dư luận quốc tế, báo hiệu cho sự phát triển của phong trào phản chiến ở Mỹ và trên toàn thế giới ngay sau đó.

Theo TS. Andrew Well-Đặng, đây là bài học lớn nhất vào thập niên 1960. Martin Luther King vốn là nhà lãnh đạo đấu tranh cho quyền con người và là người đoạt giải Nobel Hòa bình, nhưng khi ông bày tỏ phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, một cuộc tranh cãi đã lập tức nảy ra.

Một số người Mỹ cho rằng vị mục sư nên tập trung vào cuộc đấu tranh giành quyền con người và tự do cho người Mỹ da màu, chứ không nên tham gia vào những vấn đề đối ngoại.
Dù vậy, King cho rằng Chiến tranh Việt Nam và phong trào dân quyền có liên quan đến nhau.

Nhìn lại sự kiện 60 năm về trước, TS. Andrew Well-Đặng khẳng định Martin Luther King đã đúng khi lên tiếng phản đối chiến tranh.

Thứ nhất, nhiều người Mỹ gốc Phi đã được điều đến Việt Nam để chiến đấu trong một cuộc chiến tàn khốc mà chính họ không muốn bắt đầu và không ủng hộ.
Thứ hai, như Martin Luther King từng viết, "bất công ở bất kỳ đâu cũng là mối đe dọa đối với công lý ở mọi nơi".
Thời gian đã chứng minh, nhà hoạt động Martin Luther King đã đúng. Phần lớn chính giới Mỹ giờ đây đều đồng ý rằng chiến tranh Việt Nam là một sai lầm.

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ và chiến thắng chói lọi của quân và dân Việt Nam.

Ngày 02/8/1964, tàu khu trục Maddox của Mỹ tiến vào cách bờ biển Thanh Hoá 6 hải lý, dùng pháo hạm bắn phá, khiêu khích Hải quân Việt Nam.

Lực lượng Hải quân đã đánh đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi vùng biển của đất nước. Do chưa đạt được mục tiêu tạo cớ, đêm ngày 4/8/1964, tàu Maddox và Turner Joy của Mỹ đã chủ động nổ súng, phát tín hiệu bị tấn công, trắng trợn tuyên bố, tàu chiến Mỹ đang hoạt động trên vùng biển quốc tế bị Hải quân Bắc Việt tấn công lần thứ 2.

Với màn kịch này, ngày 05/8/1964, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson đã huy động 64 máy bay ồ ạt, bất ngờ ném bom vào Cảng Gianh, Quảng Bình; Vinh - Bến Thủy, Nghệ An; Lạch Trường, Thanh Hóa và Bãi Cháy, Quảng Ninh, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại vào miền Bắc Việt Nam với quy mô lớn.

Tuy nhiên, dù được trang bị vũ khí tối tân hiện đại nhưng các tàu hải quân và máy bay chiến đấu của quân đội Mỹ đã vấp phải sức kháng cự, chống trả quyết liệt của Bộ đội Hải quân Việt Nam và quân dân miền Bắc.
Ngày 2 và 5/8/1964, Mỹ dùng tàu chiến và máy bay phản lực tập kích miền Bắc, nhưng bị lực lượng Hải quân, bộ đội Phòng không - Không quân cùng quân và dân miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống giặc lái Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc, đánh thắng trận đầu chói lọi.

Chiến thắng trận đầu ngày 2 và 5/8/1964 là chiến thắng của sức mạnh tinh thần toàn dân tộc, là ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân Việt Nam, của Hải quân nhân dân Việt Nam./.
Yêu nước ST.

Không quản hiểm nguy, vượt qua gian khổ để giúp đỡ nhân dân.

 

Những ngày qua, mưa lớn kéo dài tại một số tỉnh trên địa bàn Quân khu 2 đã tạo lũ ống, lũ quét, gây ngập lụt, làm thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, nhất là ở hai tỉnh Điện Biên, Sơn La.

Thực hiện nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, gần 10 ngày qua, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ LLVT cùng hàng nghìn phương tiện, máy móc đã được huy động giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống.

Gùi lương thực lên núi, dựng lán tạm cho dân

Sau nhiều ngày mưa tầm tã, nước úng nhấn chìm các bản làng, biến những mái nhà thành những "điểm nổi" cao nhất. Nhiều vạt đồi ngấm nước khiến hàng vạn mét khối đất sạt vùi kín những con đường, chặn đứng đường đi lại của người dân. Bị cô lập, chỉ sau vài ngày, nhiều nhà, nhiều bản thiếu lương thực đã đành, giữa mênh mông nước lại thiếu cả nước sạch sinh hoạt cho dân. Mưa tạnh, nắng gay gắt quay trở lại bao trùm khắp vùng lũ Mường Pồn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) khiến không khí nồng quánh, rất khó chịu. Đường dẫn đến các bản còn ngập đầy bùn đất nên công tác tìm kiếm người mất tích, khắc phục hậu quả thiên tai vô cùng khó khăn. Vượt nguy hiểm rình rập sau đồi nhão, núi ủng; vượt lên gian khổ, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 2 cùng Bộ đội Biên phòng các tỉnh vẫn sát cánh với đồng bào vùng lũ, tranh thủ từng giờ, từng phút giúp nhân dân khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống.         



Đến thời điểm này, để vào được điểm dân cư Huổi Ké, thuộc bản Lĩnh, xã Mường Pồn, các lực lượng chỉ có thể đi bộ. Quãng đường gần 10km từ trung tâm xã vào đây phần lớn là bùn lầy, trơn trượt. Chính vì thế, Trung tá Bùi Văn Luận, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Điện Biên phải kiểm tra tỉ mỉ, nhắc cán bộ, chiến sĩ gói buộc chắc chắn hàng hóa thiết yếu trước khi bộ đội và dân quân gùi vào hỗ trợ người dân Huổi Ké.

Suốt quãng đường hành quân, Trung tá Bùi Văn Luận quan sát, hướng dẫn các chiến sĩ bám sát đội hình, cẩn trọng vượt qua các đoạn đường lầy, dốc đứng, trơn trượt, không để xảy ra mất an toàn, ảnh hưởng đến nhiệm vụ tiếp tế cho nhân dân vùng lũ. "Trong hoàn cảnh khó khăn này, mỗi cân gạo, thùng mì tôm hay bộ quần áo đều rất quý với người dân vùng lũ. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn tự nhủ, phải giữ gìn cẩn thận, vận chuyển kịp thời, trao đến tận tay người dân vùng lũ.

Mặc dù đã luống tuổi nhưng bước chân của Thượng tá Lý Công Hồng, Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên vẫn phăm phăm vượt dốc, dẫn đầu đội hình hành quân. Anh là một trong những người đầu tiên lội bộ vào Huổi Ké, điểm dân cư cao nhất xã Mường Pồn ngay sau khi xảy ra trận lũ lịch sử để chỉ huy cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Điện Biên phối hợp với Bộ đội Biên phòng mở đường vào Huổi Ké, tích cực tìm kiếm người mất tích, kịp thời dựng lán tạm cho người dân bị mất nhà cửa.

Thượng tá Lý Công Hồng chia sẻ: "Huổi Ké có 17 hộ dân thì 7 hộ bị thiệt hại nặng, trong đó có một gia đình bị mất hai người thân do sạt lở đất. 10 hộ dân nằm trong khu vực nguy hiểm đã được bộ đội, dân quân, công an hỗ trợ di chuyển đến nơi an toàn; hằng ngày được cung cấp lương thực, nước uống, chờ bố trí nơi ở mới theo chủ trương của địa phương.

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Lê Văn Sơn, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên cho biết: "Từ đầu năm đến nay, Điện Biên chịu ảnh hưởng của 26 đợt thiên tai. Hậu quả làm 9 người chết, 4 người mất tích, 12 người bị thương; 1.365 ngôi nhà bị hư hỏng, với tổng thiệt hại hơn 256 tỷ đồng. Tính đến ngày 5-8, Bộ CHQS tỉnh Điện Biên đã tham mưu với địa phương huy động hơn 5.400 lượt người, 406 phương tiện các loại tham gia khắc phục hậu quả mưa lũ; phối hợp cùng lực lượng chức năng di dời 225 nhà dân trong vùng nguy hiểm đến nơi an toàn.

Trong những ngày này, Bộ CHQS tỉnh tập trung tham mưu cho UBND tỉnh Điện Biên huy động tối đa nguồn lực tìm kiếm người mất tích; hỗ trợ di dời các hộ dân trong vùng có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn; sắp xếp, bố trí nơi ở mới cho người dân bị mất nhà cửa, tài sản.

Để đối phó với diễn biến phức tạp của thời tiết, Bộ CHQS tỉnh tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác cảnh báo, dự báo; rà soát, chuẩn bị kịch bản, phương án đối phó với các loại thiên tai; bảo đảm an toàn hồ đập mùa mưa lũ, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân và các lực lượng chức năng trong phòng, chống thiên tai.

Bảo đảm an toàn cho nhân dân sau mưa lũ

Những ngày xảy ra mưa lũ, sạt lở đất, ngập úng trên địa bàn tỉnh Sơn La vừa qua, chúng tôi có dịp đồng hành với cán bộ, chiến sĩ LLVT của tỉnh hành quân đến những nơi khó khăn, phức tạp nhất vùng tâm lũ các huyện Mường La, Mai Sơn, Thuận Châu và TP Sơn La. Hình ảnh bộ đội, dân quân dầm mình trong lũ cứu dân đã làm sáng đẹp thêm phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Sự có mặt kịp thời của các anh trong cơn hoạn nạn đã làm điểm tựa cho nhân dân vùng lũ. Không chỉ bảo đảm an toàn, tìm kiếm cứu nạn, di chuyển người, tài sản đến nơi an toàn, cán bộ, chiến sĩ còn tiếp tế đồ ăn, thức uống, giúp đồng bào vượt qua cơn nguy khó.



Hình ảnh đồng chí Quàng Văn Dương, Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Mường Bú và đồng chí Quàng Văn Thành, Bản đội trưởng bản Giàn, xã Mường Bú, huyện Mường La, đã mưu trí sử dụng dây thừng, săm ô tô, nhiều lần dũng cảm bơi ra giữa dòng nước xoáy cứu được nhiều người là những minh chứng sống động cho lòng quả cảm, đức hy sinh của các chiến sĩ Quân đội. Cùng với đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ LLVT TP Sơn La đã thức trắng nhiều đêm bám theo dòng lũ di dời hàng trăm người đến nơi an toàn. Hay cuộc hành quân hàng chục cây số đường rừng của cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Sơn La vào bản Hua Pư, xã Chiềng Nơi, huyện Mai Sơn để cứu tính mạng và giải cơn đói khát của đồng bào sau những ngày chống chọi với mưa lũ...

“Không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, mỗi khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, cán bộ, chiến sĩ LLVT luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Các anh luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương”, đồng chí Nguyễn Thành Công, Phó chủ tịch UBND tỉnh Sơn La khẳng định với chúng tôi.

Báo cáo của tỉnh Sơn La cho thấy, tháng 7 vừa qua, tỉnh Sơn La chịu ảnh hưởng của 3 đợt mưa lớn, gây lũ quét, sạt lở đất, làm 12 người chết, 8 người bị thương; hơn 2.600 nhà dân cùng nhiều công trình công cộng hư hỏng, ước tính thiệt hại hơn 500 tỷ đồng. Theo Đại tá Chu Văn Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Sơn La, ngay khi thiên tai xảy ra, Bộ CHQS tỉnh kịp thời tham mưu với Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của tỉnh khẩn trương chỉ đạo các huyện, thành phố phát huy phương châm “4 tại chỗ”, phân công thành viên Ban chỉ huy từ huyện đến xã trực tiếp tới hiện trường chỉ đạo sơ tán nhân dân đến nơi an toàn và bảo vệ các công trình, tài sản.

Đặc biệt, các đơn vị Quân đội luôn có phương án và ứng cứu kịp thời những điểm bị cô lập, tổ chức lực lượng tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu người bị thương, tìm kiếm người mất tích; chỉ đạo triển khai công tác khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng ổn định cuộc sống cho nhân dân. Tính đến ngày 5-8, Bộ CHQS tỉnh Sơn La đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương di dời 683 hộ tại TP Sơn La và các huyện Thuận Châu, Mai Sơn, Mường La, Bắc Yên, Vân Hồ đến nơi an toàn; giúp gần 1.000 hộ dân khắc phục hậu quả ngập úng... Hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ đã làm sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Trong hai ngày 4 và 5-8, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Trần Lưu Quang và Phó thủ tướng Lê Thành Long đã đến động viên, tặng quà người dân vùng lũ các tỉnh Điện Biên, Sơn La; chuyển lời thăm hỏi của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến Đảng bộ, chính quyền và người dân vùng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai. Trước thiệt hại do mưa lũ, Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ khẩn cấp hai tỉnh Sơn La và Điện Biên mỗi tỉnh 10 tỷ đồng.

Thi đua toàn diện, thiết thực, hướng về cơ sở.

 

Những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) và Phong trào Thi đua Quyết thắng (TĐQT) của LLVT Quân khu 3 được triển khai toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, hướng về cơ sở.

Từ thực tiễn phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo ở các cơ quan, đơn vị, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ; xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch vững mạnh, LLVT Quân khu 3 vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam về công tác TĐKT và Phong trào TĐQT, Đảng ủy, Bộ tư lệnh (BTL) Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ hiểu đúng vị trí, tầm quan trọng của hoạt động thi đua yêu nước; chủ động kiện toàn hội đồng (tổ) TĐKT ở các cấp theo đúng cơ cấu, thành phần; triển khai xây dựng kế hoạch, ban hành quy chế, hướng dẫn hoạt động sát với đặc điểm nhiệm vụ và tình hình thực tiễn. Trách nhiệm của cấp ủy, người chủ trì đơn vị đối với hoạt động TĐKT được nâng lên; đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, hội đồng (tổ) TĐKT các cấp phát huy tốt vai trò nòng cốt, chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, đa dạng hình thức; bảo đảm Phong trào TĐQT luôn được triển khai đồng bộ, thống nhất, đúng hướng, không bị chồng chéo


Hằng năm, Đảng ủy, BTL Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch và phát động Phong trào TĐQT ở tất cả các cấp, tạo khí thế thi đua sôi nổi ngay từ đầu năm. Các phong trào thi đua với chỉ tiêu cụ thể, thiết thực, hướng về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm; tập trung vào thực hiện tốt “3 khâu đột phá” theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ IX xác định; với phương châm “Hướng hoạt động thi đua vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị; đột phá khắc phục khâu yếu, mặt yếu, giải quyết việc khó, việc mới”.

Các cơ quan, đơn vị gắn Phong trào TĐQT với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, phong trào thi đua của các cấp, các ngành và phong trào thi đua yêu nước ở địa phương tạo sức lan tỏa rộng khắp.

Đẩy mạnh thi đua nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), các cơ quan, đơn vị trong LLVT Quân khu triển khai sâu rộng Phong trào “Người sẵn sàng; vũ khí, phương tiện sẵn sàng, có lệnh là lên đường ngay” với nhiều mô hình như: “Khẩu đội Nguyễn Viết Xuân”, “Trạm thông tin 4 tốt”, “Kíp xe kiểu mẫu”... góp phần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ trực SSCĐ, sẵn sàng tham gia phòng, chống thiên tai, thảm họa, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

Các phong trào: “Ba thực chất”, “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt”, mô hình “Giờ học kiểu mẫu, bài giảng mẫu” cùng khẩu hiệu “Khổ luyện thành tài, miệt mài thành giỏi” đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ “vượt nắng, thắng mưa, say sưa luyện tập” nâng cao chất lượng huấn luyện với 33 lượt đơn vị được Bộ Quốc phòng công nhận “Đơn vị huấn luyện giỏi” và “Đơn vị huấn luyện thể lực giỏi” trong 5 năm qua. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, Quân khu tham gia 1 cuộc hội thao quân sự quốc tế, 55 hội thi, hội thao, hội diễn toàn quân, toàn quốc giành 23 giải nhất và xuất sắc, 12 giải nhì, 8 giải ba, giữ vững đơn vị tốp đầu trong hội thi, hội thao toàn quân; tổ chức thành công các cuộc diễn tập, nhất là diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu năm 2023, được Bộ Quốc phòng đánh giá cao.

Kết hợp nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị với xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, Đảng ủy, BTL Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh Phong trào “Cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”... góp phần tạo môi trường làm việc dân chủ, thân thiện, đoàn kết. Qua thi đua góp phần giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức chấp hành kỷ luật cao, ứng xử văn minh, tác phong làm việc chuyên nghiệp. 5 năm qua, số vụ quân nhân vi phạm kỷ luật phải xử lý giảm, Quân khu có 608 lượt đơn vị đạt danh hiệu vững mạnh toàn diện và vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Gắn Phong trào TĐQT với Phong trào “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã khích lệ, động viên cán bộ, chiến sĩ chủ động, sáng tạo, vượt khó nâng cao chất lượng công tác hậu cần, kỹ thuật.

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị hưởng ứng phong trào, cuộc vận động do Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quân đội phát động, trong 5 năm qua, Quân khu huy động hơn 132.000 ngày công bộ đội tham gia giúp địa phương làm mới và sửa chữa 779km đường giao thông, 65km đê kè, nạo vét hơn 750km kênh mương cùng hàng trăm công trình phúc lợi xã hội và nhiều phần việc ý nghĩa khác; góp phần tạo diện mạo mới cho các vùng nông thôn, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Công tác chính sách Quân đội, hậu phương Quân đội và hoạt động đền ơn đáp nghĩa được triển khai sâu rộng với 710 “Nhà đồng đội”, “Nhà tình nghĩa” được hỗ trợ xây dựng trong 5 năm qua là minh chứng sống động, thể hiện truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và sự tri ân sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu.

Các phong trào thi đua, cuộc vận động được triển khai sôi nổi, rộng khắp đã huy động được sức mạnh tổng hợp; biến nhận thức tư tưởng thành hành động cách mạng của bộ đội. 5 năm qua, LLVT Quân khu có 3.838 điển hình tiên tiến được biểu dương, tôn vinh từ cấp cơ sở đến Quân khu; 16 tập thể, cá nhân được tôn vinh cấp Bộ Quốc phòng; 1 tập thể được phong tặng, 1 cá nhân được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, 1 đồng chí được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân; 548 lượt tập thể và 17.373 lượt cá nhân được Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng khen thưởng; 1.951 lượt tập thể, 20.397 lượt cá nhân được BTL Quân khu khen thưởng. 

Tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng LLVT Quân khu “tinh, gọn, mạnh”, Đảng ủy, BTL Quân khu xác định sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai toàn diện, hiệu quả Phong trào TĐQT gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII).

Các cơ quan, đơn vị phát huy tốt vai trò của hội đồng (tổ) TĐKT trong duy trì nền nếp, chế độ kiểm tra, đánh giá kết quả; làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để hạn chế biểu hiện hình thức, bệnh thành tích trong thi đua; đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức thi đua theo hướng người thực, việc thực, thành tích thực, tạo động lực cổ vũ cán bộ, chiến sĩ tự giác, hăng hái luyện rèn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng, chú trọng biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến ở đơn vị cơ sở, trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo. Quan tâm, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến, nhân tố mới, mô hình mới tạo phong trào hành động cách mạng sâu rộng, thúc đẩy sự tiến bộ vững chắc ở từng cơ quan, đơn vị.

Hoạt động thi đua toàn diện, song hướng vào hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trọng tâm, tập trung thực hiện tốt các khâu đột phá, đó là: Hoàn thành mục tiêu điều chỉnh tổ chức LLVT Quân khu theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo cho các đối tượng, phấn đấu kết quả kiểm tra 100% đạt yêu cầu (trong đó lực lượng thường trực 80% trở lên đạt khá, giỏi; lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên 70% trở lên đạt khá, giỏi). Tổ chức diễn tập các cấp, các hình thức đạt kết quả cao, an toàn tuyệt đối; tham gia các cuộc kiểm tra, hội thi, hội thao, hội diễn do Bộ Quốc phòng tổ chức đạt thành tích cao; tăng cường giáo dục, quản lý, rèn luyện kỷ luật và xây dựng nền nếp chính quy, phấn đấu tỷ lệ vi phạm kỷ luật thông thường dưới 0,2%, không có vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở các cấp, tạo chuyển biến toàn diện, vững chắc trong thực hiện nhiệm vụ.

Thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo tổng kết 20 năm thực hiện mô hình tổ chức bộ máy của Chính phủ.

 

Ngày 5-8, Thủ tướng Phạm Minh Chính ký ban hành Quyết định số 796/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định số 269/QĐ-TTg ngày 2-4-2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết 20 năm thực hiện mô hình tổ chức bộ máy của Chính phủ.

Quyết định số 796/QĐ-TTg sửa đổi Điều 1 Quyết định số 269/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết 20 năm thực hiện mô hình tổ chức bộ máy của Chính phủ. 

Cụ thể, đồng chí Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ là Trưởng ban. Đồng chí Trần Lưu Quang, Phó thủ tướng Chính phủ là Phó trưởng ban Thường trực. Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ là Phó trưởng ban. 


Các Ủy viên gồm các đồng chí: Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an; Trần Văn Sơn, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bùi Thanh Sơn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Hồ Đức Phớc, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.  

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ nhiệm vụ, giải pháp để triển khai tổng kết 20 năm thực hiện mô hình tổ chức bộ máy của Chính phủ.

Đồng thời, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan, tổ chức liên quan trong việc tổng kết 20 năm thực hiện mô hình tổ chức bộ máy của Chính phủ.

Bộ Nội vụ là cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo, giúp Trưởng ban trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình công tác của Ban Chỉ đạo; điều hòa, phối hợp, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ rà soát, đánh giá, tổng kết việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ từ nhiệm kỳ Chính phủ khóa XII đến khóa XV; tổng hợp, báo cáo các hoạt động chung của Ban Chỉ đạo và thực hiện một số nhiệm vụ khác do Trưởng ban giao.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định thành lập Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo. Thành viên Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo là lãnh đạo một số đơn vị chức năng thuộc các Bộ: Nội vụ, Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng Chính phủ.