Bảo
vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tư duy chiến lược này nhằm chủ động phát
hiện, đẩy lùi các nguy cơ đe dọa tới an ninh quốc gia, không để đất nước rơi
vào tình thế bất lợi. Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác đối ngoại quốc
phòng với mục tiêu cao nhất là thực hiện kế sách chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đồng
thời tạo lập, duy trì môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Tạo
lập môi trường hòa bình, đẩy lùi nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia
Đối
ngoại quốc phòng là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quân
sự - quốc phòng, do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiến hành, bằng phương
pháp đàm phán và các hình thức hòa bình khác nhằm góp phần thực hiện thắng lợi
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về đối ngoại và quốc phòng trong từng
thời kỳ cách mạng. Các hình thức đối ngoại quốc phòng mang tính hòa bình, sử dụng
phương pháp đàm phán là chủ yếu, thông qua đối thoại, thương lượng, thuyết phục
để giải quyết các vấn đề quân sự - quốc phòng trên bình diện quốc tế. Là một bộ
phận công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đối ngoại quốc phòng góp
phần thực hiện tốt phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm bạn với tất cả mọi nước
dân chủ và không gây thù oán với một ai”(1).
Đặc
trưng của đối ngoại quốc phòng là giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế về quốc
phòng bằng biện pháp hòa bình. Thông qua hoạt động này, những bất đồng, khác biệt,
xung đột lợi ích được giải quyết bằng những sáng kiến, cơ chế hợp tác quốc
phòng giữa Việt Nam với các đối tác (đơn cử như, Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN
- ARF, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN - ADMM, Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng các nước ASEAN mở rộng - ADMM+). Đây là những công cụ hữu hiệu để duy trì
và củng cố hòa bình, an ninh quốc tế, giảm thiểu nguy cơ, đẩy lùi thách thức đe
dọa đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sách trắng Quốc phòng Việt
Nam 2019 nhấn mạnh: “Là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt
Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, đồng thời tích cực hợp tác cùng các quốc
gia khác giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn
định của khu vực và thế giới”(2).
Đối
ngoại quốc phòng Việt Nam thông qua các cơ chế, diễn đàn hợp tác song phương và
đa phương về quốc phòng, trên nền tảng của các thể chế an ninh khu vực và toàn
cầu, góp phần tham mưu, nắm bắt, xử lý nhanh và hiệu quả các vấn đề nảy sinh
trong hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, góp phần chuyển hóa
“đối tượng” thành “đối tác”, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, đe dọa đến
lợi ích quốc gia - dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, thời
gian qua, “công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh, thiết
thực, hiệu quả, tiếp tục là điểm sáng, là một trong những trụ cột của đối ngoại
đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm,
từ xa””(3).
Mặt
trận đối ngoại quốc phòng đã trở thành tuyến đầu trong việc bảo vệ chủ quyền,
an ninh quốc gia “từ sớm, từ xa”. Các hoạt động ngoại giao quốc phòng nhiều tầng,
nấc đã đóng góp trực tiếp vào việc đưa các mối quan hệ của Việt Nam với các đối
tác đi vào chiều sâu, củng cố tình hữu nghị và hợp tác, chủ động, tích cực tham
gia tạo dựng luật chơi trong các thể chế đa phương, nhất là Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên hợp quốc để có thể tận dụng chính các luật chơi
đó để bảo vệ có hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc. Kể từ năm 2014, Việt Nam
đã cử lực lượng quân đội tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp
quốc, đánh dấu một bước nâng tầm hội nhập quốc tế và đóng góp của Việt Nam đối
với nỗ lực quốc tế duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
Minh
bạch chính sách quốc phòng của Việt Nam, củng cố và tăng cường lòng tin chiến
lược từ các đối tác
Hoạt
động quốc phòng phần lớn liên quan đến lực lượng vũ trang. Trong thực thi chính
sách đối ngoại của mỗi quốc gia, quân sự - quốc phòng là công cụ quan trọng, hỗ
trợ hiệu quả các mục tiêu an ninh, phát triển và mở rộng, gia tăng ảnh hưởng quốc
tế. Bên cạnh đó, “thế lưỡng nan về an ninh” trong quan hệ quốc tế thường đặt
các quốc gia vào trạng thái “chạy đua vũ trang” để bảo đảm an ninh. Một khi hoạt
động này chuyển từ trạng thái vô ý thức đến có ý thức, sẽ dẫn tới gia tăng căng
thẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, ổn định của khu vực và quốc tế, làm
gia tăng nguy cơ tiềm ẩn đối với mỗi quốc gia có liên quan.
Minh
bạch về chính sách quốc phòng là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hợp tác, tin cậy,
hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, giảm thiểu nguy cơ về an ninh do “chạy
đua vũ trang” gây ra. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, đối ngoại quốc
phòng Việt Nam đã tích cực, chủ động minh bạch hóa chính sách quốc phòng. Thông
qua các kênh truyền thông đối ngoại, tại các diễn đàn an ninh song phương và đa
phương, đối ngoại quốc phòng Việt Nam góp phần chỉ rõ cho bạn bè quốc tế hiểu
rõ: “Chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết,
kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình
trên cơ sở luật pháp quốc tế”(4).
Minh
bạch hóa chính sách quốc phòng là xuất phát điểm quan trọng để Việt Nam xây dựng
và củng cố lòng tin chiến lược với các đối tác trên thế giới. Khi những nghi kỵ
lẫn nhau về an ninh được giải quyết, các bên liên quan chia sẻ lợi ích chung về
mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực, toàn cầu, tạo thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội, quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác sẽ có sự phát triển
lên các nấc thang mới cao hơn, phù hợp hơn với thế và lực của mỗi nước. Đối ngoại
quốc phòng Việt Nam góp phần tạo lập và duy trì các kênh kết nối Việt Nam với
các đối tác trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng, từ đó thể hiện rõ cam kết của
Việt Nam về việc “tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình,
hợp tác cùng phát triển”(5).
Huy
động, sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế xây dựng quân đội - lực lượng nòng cốt
bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”
Để
thực hiện có hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, cần phải có lực lượng
quân đội mạnh, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đủ khả năng bảo vệ
Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng đánh trả và đánh thắng các cuộc chiến
tranh xâm lược nếu xảy ra. Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, Quân đội nhân dân Việt
Nam đã và đang thực hiện chủ trương xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh; đến năm
2030, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại, phấn đấu từ năm 2030
xây dựng quân đội hiện đại”(6). Một trong những vấn đề đặt ra là việc bảo đảm
nguồn lực cho việc hiện đại hóa quân đội. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất
nước còn nhiều khó khăn, việc kết hợp nội lực với ngoại lực là tất yếu nhằm huy
động và tận dụng có hiệu quả những thành tựu của hội nhập quốc tế để xây dựng
quân đội.
Đối
ngoại quốc phòng tạo nguồn lực đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Quân đội
nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hoạt động
hợp tác quốc tế giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với các đối tác được triển khai
trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề hợp tác về đào tạo nguồn nhân lực và hiện
đại hóa vũ khí, trang bị. Trong lĩnh vực hợp tác công nghiệp quốc phòng và mua
sắm vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam được triển khai với các nước,
như Trung Quốc, Cuba, Nga, Israel, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước châu Âu. Hợp
tác kỹ thuật quân sự giữa Việt Nam và Nga có những bước phát triển về chất, từ
việc thuần túy mua sắm vũ khí trang bị quân sự đã bước sang giai đoạn chuyển
giao công nghệ, sửa chữa, cải tiến, nâng cấp và sản xuất tại Việt Nam.
Việt
Nam và Trung Quốc đạt nhiều thỏa thuận hợp tác công nghiệp quốc phòng, đáng chú
ý là hợp tác về kỹ thuật quân sự lục quân, trong đó có việc nghiên cứu, hợp tác
sản xuất, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ. Việt Nam tiến hành hợp tác sản
xuất một số sản phẩm công nghiệp quốc phòng với Cuba, hợp tác đóng tàu với Ấn Độ.
Nhật Bản ủng hộ Việt Nam trong việc hợp tác liên doanh sản xuất sản phẩm có
tính lưỡng dụng, đào tạo cán bộ, nghiên cứu, sản xuất chế tạo, chuyển giao công
nghệ, nhất là công nghiệp đóng tàu cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.
Sự
kiện đáng chú ý là, năm 2014, từ chỗ dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát
thương áp đặt gần 4 thập niên đối với Việt Nam, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng
thống Mỹ Barack Obama (tháng 5-2016), Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm này, giúp cải
thiện năng lực quốc phòng của Việt Nam, đặc biệt là năng lực giải quyết các vấn
đề an ninh hàng hải. Đây là một dấu hiệu tích cực cho việc triển khai quan hệ đối
tác toàn diện (nay là đối tác chiến lược toàn diện), đánh dấu bước bình thường
hóa đầy đủ quan hệ giữa hai nước. Qua đó, Việt Nam có điều kiện tiếp cận công
nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ và khả năng phối hợp tác chiến trong bối cảnh
hội nhập quốc tế, hạn chế sự độc quyền của các đối tác khác.
Lĩnh
vực hợp tác đào tạo, huấn luyện sĩ quan được thực hiện dưới nhiều hình thức.
Các học viện, nhà trường quân đội của Việt Nam hiện đào tạo học viên quân sự đến
từ nhiều quốc gia, như Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Philippines,
Indonesia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Cuba. Việt Nam cũng cử học viên đi học tập, đào
tạo tại nhiều nước, như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp,
Australia, New Zealand. Trong đó, Nga và gần đây có Mỹ là những nước rất quan
tâm tới việc hợp tác đào tạo học viên quân sự cho Việt Nam.
Tiếp
tục nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới
Đối
ngoại quốc phòng góp phần thực hiện tốt phương châm Việt Nam “là bạn, là đối
tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Tuy nhiên, hoạt
động này còn có mặt hạn chế. Nhận thức về đối ngoại về quốc phòng có mặt chưa
thống nhất. Xác định nhu cầu, mục tiêu hội nhập, hợp tác trên lĩnh vực quốc
phòng có mặt chưa cụ thể, thiết thực. Hợp tác thương mại quân sự chưa gắn kết
chặt chẽ với chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quân sự và hợp tác chiến lược quốc
phòng. Hợp tác, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, nghệ
thuật quân sự đã được triển khai nhưng chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Do
vậy, để góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam
cần thực hiện tốt một số phương hướng, giải pháp sau:
Một
là, xác định mục tiêu, nguyên tắc trong đối ngoại quốc phòng gắn với vấn đề bảo
vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Hội
nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cần nhất quán thực hiện mục tiêu xuyên suốt
là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và
lợi ích quốc gia - dân tộc”(7); giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình
và tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng
và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở thế và lực
mới của đất nước, đối ngoại quốc phòng Việt Nam cần chủ động, tích cực phát triển
quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, phù hợp với Hiến chương Liên hợp
quốc và luật pháp quốc tế; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ
sở không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đồng thời, Việt Nam
không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức
ép nào.
Hoạt
động đối ngoại quốc phòng nhất quán theo phương châm: “Tích cực, chủ động, chắc
chắn, linh hoạt, hiệu quả”(8) nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường
hòa bình, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường
lòng tin chiến lược, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, lấy hợp tác
là chính yếu trên cơ sở kiên định chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự chủ và lợi
ích quốc gia - dân tộc. Trong quan hệ hợp tác quốc phòng với quân đội các nước
phải luôn dựa trên tinh thần bình đẳng, không phân biệt đối xử; luôn tôn trọng
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.
Đối
ngoại quốc phòng của Việt Nam cần phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường, bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp chặt chẽ đối ngoại với kinh tế, quốc
phòng và an ninh, bảo đảm bí mật quân sự, bí mật quốc gia. Độc lập, tự chủ, tự
lực, tự cường không có nghĩa là khép kín, biệt lập, trái lại là điều kiện để mở
rộng đối ngoại quốc phòng. Hợp tác quốc tế về quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh
quốc phòng của đất nước, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ môi trường
hòa bình. Ngược lại, giữ vững độc lập, tự chủ là điều kiện thuận lợi để tăng cường
hợp tác quốc tế về quốc phòng. Không có độc lập, tự chủ thì không thể hợp tác
quốc tế về quốc phòng thành công.
Hai
là, đẩy mạnh đa phương hóa, tạo thế cân bằng chiến lược, đan xen lợi ích quân sự
- quốc phòng, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.
Đa
phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng là thiết lập quan hệ quân sự - quốc
phòng với quân đội các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan, không phân biệt
chế độ chính trị - xã hội và trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật
pháp quốc tế. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng góp phần giúp tạo thế
cân bằng chiến lược với các nước lớn, tránh không bị lệ thuộc vào một nước, một
tổ chức quốc tế nào trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng cũng góp phần tạo thế đan xen về lợi
ích, buộc các chủ thể phải tính toán, so sánh thiệt hơn trong việc xử lý các vấn
đề có liên quan đến Việt Nam.
Việc
phát triển quan hệ quốc phòng với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các
phong trào tiến bộ trên thế giới là cơ sở để tăng cường vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế, là môi trường để thể hiện quan điểm đối ngoại hòa bình, hữu
nghị, hợp tác cùng phát triển của Việt Nam, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của các
nước, các tổ chức, các lực lượng cùng góp chung tiếng nói, hành động ủng hộ Việt
Nam. Thông qua các cơ chế đa phương, đối ngoại quốc phòng tham gia tích cực, chủ
động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu
trong thời bình, nhằm “bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích
quốc gia - dân tộc mà không cần phải tiến hành chiến tranh”(9). Cùng với đa
phương hóa, hoạt động đối ngoại quốc phòng cũng chú trọng đa dạng hóa hình thức
và nội dung đối ngoại.
Hiện
nay, Việt Nam đã tham gia Hội nghị không chính thức Tư lệnh Lực lượng quốc
phòng các nước ASEAN (ACDFIM) và các hội nghị quân chủng, như Hội nghị Tư lệnh
Hải quân các nước ASEAN, Hội nghị Tư lệnh Không quân các nước ASEAN, Hội nghị
những người đứng đầu ngành quân y các nước ASEAN (ACMMC). Việc tham dự ADMM
giúp Việt Nam nắm bắt quan điểm, chính sách quốc phòng các nước; bày tỏ quan điểm,
lập trường về các vấn đề quốc phòng - an ninh khu vực nói chung, của Việt Nam
nói riêng. Đối với ADMM+, Quân đội nhân dân Việt Nam có thể đóng góp nhiều sáng
kiến về quốc phòng - an ninh cho mục đích hòa bình.
Hội
nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á - Thái Bình Dương (Đối thoại Shangri-La) - hội
nghị mà Việt Nam tham gia ngay từ những ngày đầu - là tiến trình góp phần xây dựng
lòng tin, thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình
Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Thông qua tham dự Đối thoại
Shangri-La, thế giới hiểu rõ hơn về tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự chính
nghĩa và quyết tâm của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng
liêng trên biển. Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), từ chỗ chủ yếu thảo luận
các vấn đề an ninh, đã chuyển sang thảo luận các vấn đề quốc phòng, tập trung
thúc đẩy và tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên trong việc đối phó với
các thách thức an ninh phi truyền thống, thúc đẩy tiến trình hợp tác phát triển
của ARF, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới.
Chính vì vậy, Bộ Quốc phòng Việt Nam chủ động phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại
giao, có những đóng góp tích cực đối với ARF.
Trong
Liên hợp quốc, Việt Nam đã cùng các quốc gia thành viên có những đóng góp quan
trọng vào việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế. Tham gia lực lượng gìn giữ
hòa bình thể hiện cụ thể việc vận dụng tư duy hội nhập quốc tế của Đảng, là sự
thay đổi về chất trong cách tiếp cận đối với các hoạt động hợp tác khu vực và
quốc tế về quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần là hợp tác để giải quyết các vấn
đề an ninh khu vực và thế giới đang nổi lên theo hướng có lợi cho Việt Nam, mà
còn thể hiện cách tiếp cận mới, coi các thách thức an ninh chung của khu vực và
thế giới cũng là thách thức của Việt Nam, thể hiện Việt Nam là một thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Quan
điểm của Việt Nam về việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
nhằm góp phần ngăn ngừa xung đột, khôi phục hòa bình, an ninh quốc tế, tạo dựng
môi trường hòa bình cho tái thiết và phát triển. Đồng thời, nâng cao hiểu biết,
tạo dựng, củng cố lòng tin với quân đội các nước; học tập quân đội các nước
kinh nghiệm về huấn luyện, tổ chức lực lượng cơ động để giải quyết khủng hoảng,
nhân đạo. Việt Nam tham gia trên cơ sở hoàn toàn độc lập, tự chủ, phù hợp với lợi
ích quốc gia, điều kiện và khả năng của Việt Nam và chỉ tham gia các hoạt động
vì mục đích hòa bình, nhân đạo, tái thiết trong khuôn khổ Liên hợp quốc; chỉ
tham gia những chiến dịch đã được các bên xung đột mời Liên hợp quốc tiến hành
và được dư luận trong nước đồng tình, ủng hộ.
Ba
là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền về công tác đối ngoại quốc phòng
trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.
Đối
ngoại quốc phòng do Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về đối ngoại quốc phòng có ý nghĩa quyết định đến việc
phát huy hiệu quả vai trò của hoạt động này trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ
xa”. Thời gian tới, cần quán triệt, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng,
Nhà nước và quân đội về hội nhập quốc tế, đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ trương hội nhập
quốc tế và đối ngoại quốc phòng, chính sách quốc phòng vì hòa bình của Việt
Nam, tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại quốc
phòng với các đối tác và cộng đồng quốc tế.
Trong
công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối ngoại quốc phòng, cần xây dựng và triển khai Chiến
lược về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với tư duy mới về bảo
vệ Tổ quốc. Xác định cấp độ hội nhập quốc tế về quốc phòng phù hợp với mức độ
quan hệ hợp tác với từng đối tác. Tập trung triển khai tổ chức thực hiện tốt ba
khâu đột phá trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đó là: xây dựng, củng
cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định, vững chắc, cùng phát triển
với Trung Quốc, Lào, Campuchia; chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động
gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; tăng
cường công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ quân đội.
Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản
lý, điều hành; cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản pháp lý liên quan, bảo đảm
hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thực hiện đúng đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạt hiệu quả thiết thực và
phù hợp với luật pháp quốc tế. Xây dựng chiến lược tổng thể để chỉ đạo thống nhất
các hoạt động hội nhập quốc tế về quốc phòng.
Một
trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng là vấn
đề tổ chức bộ máy. Do đó, thời gian tới cần củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế,
chức năng, nhiệm vụ và nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu của hệ thống cơ
quan, đơn vị chuyên trách về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Bố trí
cán bộ lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan chuyên trách đối ngoại có quân hàm phù
hợp với yêu cầu lễ tân và đối đẳng trong quan hệ. Nâng cao hiệu quả công tác
tùy viên quốc phòng theo định hướng hoàn thiện cơ chế điều hành, chỉ đạo hoạt động,
bảo đảm tính thống nhất, kịp thời, chặt chẽ và hiệu quả. Xây dựng tổ chức, biên
chế, bố trí tùy viên quốc phòng phù hợp, ổn định, nhất là tại các nước láng giềng,
các nước lớn, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống.
Nhằm
giải quyết tốt vấn đề nguồn lực trong xây dựng quân đội hiện đại, đối ngoại quốc
phòng cần thông qua các thể chế song phương và đa phương, tăng cường hợp tác
chuyển giao công nghệ; hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các đối tác. Kết
hợp quan hệ thương mại, kinh tế và công nghiệp quốc phòng với tăng cường tiếp
thu, áp dụng các quy trình quản lý, sản xuất theo cơ chế thị trường; đa dạng
hóa các mối quan hệ để tránh bị lệ thuộc vào đối tác. Tạo điều kiện để doanh
nghiệp quốc phòng chủ động tham gia hội nhập quốc tế, thực hiện tốt việc kết hợp
nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh với bảo đảm quốc phòng - an ninh.
Đại
hội XIII của Đảng đã xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh,
xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và
giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc
tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định để phát triển”(10). Đây là tư tưởng, phương châm chỉ đạo cho hoạt động đối
ngoại quốc phòng được triển khai thiết thực, hiệu quả, đúng mục tiêu, nguyên tắc,
góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Trước
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, những biến đổi
nhanh chóng với tác động hai chiều thuận - nghịch của các nhân tố thời đại đã
và đang tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Với vai trò là mũi tiên phong trên lĩnh vực đối ngoại, hoạt động đối ngoại
quốc phòng cần kiên định về mục tiêu, nguyên tắc, đồng thời linh hoạt về sách
lược, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng và thế trận đối ngoại trên bình diện
quốc tế, phát huy tốt nhân tố thời đại trong bảo vệ Tổ quốc./.