Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

“TỰ DO, HÒA BÌNH KHÔNG PHẢI DỄ"

  

 Lời nhắc nhở này chứa đựng sự khắc sâu về giá trị thiêng liêng của tự do và hòa bình, hai khái niệm tưởng như bình dị nhưng lại được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc. Họ đã dũng cảm đứng lên, sẵn sàng hy sinh tất cả để giành lại từng tấc đất, từng khoảnh khắc bình yên cho hậu thế.

 Trong bối cảnh đất nước đang phát triển mạnh mẽ, thế hệ trẻ hôm nay được thừa hưởng những giá trị quý báu từ các thế hệ đi trước. Chúng ta sống trong một thời kỳ mà sự hy sinh của họ đã mang lại cuộc sống thanh bình, nơi mà những âm vang của chiến tranh đã lùi xa, chỉ còn lại những câu chuyện lịch sử, những kỷ niệm khắc sâu trong lòng dân tộc. Nhưng chính vì sự yên bình đó, đôi khi chúng ta dễ quên đi những gian khổ mà cha ông đã trải qua. Vì thế, lời nhắc nhở “cố mà giữ” trở nên càng quan trọng, là lời hiệu triệu về trách nhiệm bảo vệ và phát triển đất nước, giữ gìn và phát huy những thành quả mà biết bao thế hệ đã hy sinh để giành lại.

 Giữ gìn tự do và hòa bình không chỉ là bảo vệ bờ cõi, mà còn là trách nhiệm xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, nơi mọi người đều có cơ hội sống hạnh phúc và phát triển. Chúng ta phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh đó, bằng cách giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, về trách nhiệm và tình thương đồng bào, về sự đoàn kết và ý chí kiên cường. Mỗi hành động nhỏ của mỗi người, từ việc giữ gìn môi trường sống, đóng góp vào phát triển kinh tế, đến việc tham gia các hoạt động cộng đồng, đều là những cách thể hiện lòng biết ơn và trách nhiệm với đất nước.

 Hãy để lòng yêu nước luôn bừng cháy, để lá cờ đỏ sao vàng mãi mãi tung bay trên bầu trời, biểu tượng cho sự kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cùng nhau xây dựng một đất nước mạnh mẽ, phồn vinh, xứng đáng với những hy sinh to lớn đã qua. Việt Nam...

St

PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, "TỰ CHUYỂN HÓA” CHO SĨ QUAN TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

     Sĩ quan trẻ là những người trực tiếp quản lý, huấn luyện, rèn luyện bộ đội và thực hiện các nhiệm vụ ở đơn vị. Do vậy, đơn vị mạnh hay yếu, hoàn thành nhiệm vụ hay không có vai trò rất to lớn của đội ngũ sĩ quan trẻ. Nhận rõ điều đó, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách nhằm lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc đội ngũ sĩ quan trẻ nhằm thực hiện âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để nhận diện và “vô hiệu hóa” thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động cấp ủy, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân cần nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ sĩ quan trẻ, góp phần quan trọng nâng cao năng lực công tác, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, vượt qua “cám dỗ”, giúp sĩ quan trẻ hình thành “nhãn quan”, nhận diện chính xác âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; sớm ngăn chặn, đấu tranh, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng trong tình hình mới.

      CÀNG KHÓ CÀNG TỎ RÕ QUYẾT TÂM

      Sĩ quan trẻ là người trực tiếp quản lý, huấn luyện, rèn luyện bộ đội và thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị. Mặc dù được đào tạo cơ bản nhưng kinh nghiệm thực tiễn còn ít. Trong khi, yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao, áp lực lớn, thời gian giành cho bản thân, gia đình ít... Song, tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, chủ động vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 KHÓ KHĂN KHÔNG SỜN LÒNG, GIAN NGUY KHÔNG LÙI BƯỚC

 Hằng năm, trong toàn quân có hàng nghìn sĩ quan trẻ tốt nghiệp ra trường. Phần lớn các sĩ quan trẻ được phân công về các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Thuận lợi của sĩ quan trẻ là được tuyển chọn và đào tạo cơ bản, có khả năng tiếp thu nhanh, sức khỏe tốt; năng động, sáng tạo trong công việc. Tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ là những cán bộ nhiệt tình, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ huy bộ đội; thực hiện tốt các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện kỷ luật… đứng trước bất cứ khó khăn nào cũng nêu cao tinh thần: “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”.

     Không khó để nhận thấy điều đó ở thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, ở đâu có dịch Covid-19, ở đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói chung, có bóng dáng sĩ quan trẻ nói riêng ngày đêm thức cùng dịch bệnh, bảo vệ bình yên cho Nhân dân. Hàng trăm sĩ quan trẻ hoãn cưới vợ, vợ sinh con không thể ở bên; thậm chí, có đồng chí bố, mẹ, người thân từ trần nhưng không thể về chịu tang... Khó khăn, vất vả là thế, nhưng ý chí, lòng quyết tâm của các anh chưa bao giờ ngừng lại. Với bản lĩnh can trường của người quân nhân cách mạng, xác định đây là nhiệm vụ thiêng liêng, nhiều sĩ quan trẻ sẵn sàng gác lại niềm riêng, xông pha nơi tuyến đầu, chấp nhận sự hi sinh, ngay cả hi sinh những việc riêng tư quan trọng của cuộc đời...

      Nhìn hình ảnh Thiếu úy Bùi Quang Huy, Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc gia Lóng Sập, huyện Mộc Châu (Sơn La) nén đau thương thắp nén hương tưởng nhớ người cha của mình nơi chiếc bàn thờ đơn sơ được đồng chí, đồng đội dựng tạm tại điểm chốt, không ai cầm được nước mắt. Đó cũng là những hình ảnh chúng ta nhiều lần bắt gặp ở biết bao cán bộ, sĩ quan trẻ khác trong đại dịch Covid-19. Có nỗi đau nào hơn thế, nhưng vì nhiệm vụ, vì sự an toàn của Nhân dân, các anh luôn cố gắng để khắc phục hoàn cảnh, biến đau thương thành hành động, sẵn sàng đối mặt, vượt qua.

      Trong số hàng chục ngàn sĩ quan trẻ toàn quân, có những người được sinh ra, lớn lên trong những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả; cuộc sống đầy đủ, được che chở, đùm bọc dưới sự yêu thương. Mấy ai hình dung được khi lựa chọn cho mình con đường binh nghiệp phải đối mặt với bao nhiêu thử thách. Nhiều đêm, mặc cho gió rét, mưa phùn, bước chân các anh vẫn hành quân đi bất cứ nơi đâu, thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì do Quân đội, Nhân dân giao phó... Lắm lúc, giữa rừng thiêng nước độc, “màn trời, chiếu đất” được thay bằng “chăn ấm, nệm êm”, ăn vội gói mì tôm, uống nước suối khi khát… Vậy nhưng, những chàng trai trẻ đầy nhiệt huyết ấy vẫn dũng cảm đương đầu, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

      May mắn được sống và làm việc giữa thời bình, nhưng câu chuyện “tạm gác tình riêng” xen lẫn muôn vàn cảm xúc vẫn là những câu chuyện thường trực không chỉ của riêng một sĩ quan trẻ nào. Thèm lắm buổi tối cuối tuần được sum vầy bên mái ấm giản đơn; thèm lắm những ngày Lễ, Tết được quây quần bên mâm cơm cùng với gia đình. Những ước mơ tưởng chừng rất đỗi bình dị ấy lại trở thành cả một niềm mong mỏi lớn lao của biết bao sĩ quan trẻ đang công tác ở đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Bởi, các anh đang phải ngày đêm bám đơn vị, bám bộ đội, huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị, thuần thục các phương án, duy trì nền nếp trực sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao... Các anh đang cùng bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xây dựng địa phương, tạo sự đoàn kết gắn bó quân - dân nơi đơn vị đóng quân và còn rất nhiều công việc, nhiệm vụ thầm lặng, đặc biệt khác... để mang lại bình yên cho Nhân dân, cho Tổ quốc.

     XUNG KÍCH, ĐI ĐẦU TRONG MỌI NHIỆM VỤ

     Phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được kế thừa ý chí, nghị lực, bản lĩnh của các thế hệ cha anh đi trước, ngay từ lúc lựa chọn con đường “lấy binh làm nghiệp”, đội ngũ sĩ quan trẻ, thấm nhuần tinh thần của Quân đội Nhân dân Việt Nam, một Quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, với tinh thần “Phía trước là Nhân dân”, “Cứu dân là mệnh lệnh không lời” đã xác định trách nhiệm của mình, sẵn sàng dấn thân đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, luôn xông pha dù biết trước có nhiều hiểm nguy đang chờ đón để bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân.

      Thực tiễn đã minh chứng điều đó. Cả nước hằng năm phải gánh chịu hàng trăm đợt thiên tai, cháy rừng, đặc biệt là các cơn bão, các trận lũ ống, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất... gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhà nước và Nhân dân. Cùng với quân, dân cả nước, đứng trước mọi cam go, đội ngũ sĩ quan trẻ bằng những hành động, việc làm cụ thể luôn sát cánh cùng Nhân dân. Ở đâu có thiên tai, hỏa hoạn ở đó có hình ảnh các sĩ quan trẻ Quân đội kiên cường.

      Hình ảnh 33 cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 anh dũng hi sinh khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, giúp Nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai ở Thủy điện Rào Trăng 3 (xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) và Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 (xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị), trong số đó có nhiều đồng chí là sĩ quan trẻ, như Đại úy Tôn Thất Bảo Phúc, Đại úy Nguyễn Cảnh Cường… mãi mãi nằm lại nơi núi rừng Trường Sơn đã hóa thành những “tượng đài bất tử” trong lòng người dân cả nước. Các anh, với nhiệt huyết sức trẻ, với ý chí và bản lĩnh quật cường đã thắp sáng lên ngọn lửa rực cháy mãi theo dòng chảy phát triển cho lớp lớp thế hệ sĩ quan trẻ hôm nay và mai sau.

     Không chỉ trong bão lũ, đội ngũ sĩ quan trẻ còn tiên phong, đi đầu chiến đấu với “giặc lửa”. Mặc cho khói đen bao phủ đến ngạt thở, mặc cho lửa nóng rát bỏng da, sĩ quan trẻ cùng cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị bất chấp hiểm nguy, giúp Nhân dân bảo vệ rừng cùng nhiều tài sản khác. Hình ảnh người “thủ lĩnh” Chi đoàn Thượng úy Võ Minh Dương, Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn Thông tin 80, Quân khu 4 không quản hiểm nguy, vất vả, trắng đêm cùng đồng chí, đồng đội và bà con Nhân dân dập lửa, cứu những cánh rừng thông trên địa bàn các xã Thượng Tân Lộc, xã Nam Nghĩa (huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) đã thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết, bản lĩnh tinh thần của người cán bộ trẻ hết mình vì Nhân dân, sẵn sàng xả thân, góp phần cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

      Từ thực tiễn trên có thể thấy rằng, tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ Quân đội là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng; không chùn bước trước khó khăn, thử thách. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, đứng trước sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự bùng nổ của công nghệ số. Ở một số cơ quan, đơn vị vẫn còn một bộ phận nhỏ sĩ quan trẻ chưa thật sự nêu cao tính tự giác đấu tranh, rèn luyện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật... dễ dao động, dễ bị lôi kéo, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và uy tín của Quân đội. Đây cũng chính là những “lỗ hỏng” tạo cơ hội cho các thế lực thù địch tìm cách “thẩm thấu”, nhằm tạo ra các “nhân tố” chống phá, gây mất ổn định từ bên trong, kết hợp với sự hỗ trợ, tạo sức ép từ bên ngoài để móc nối, lôi kéo họ quay lưng, bất mãn với Quân đội, chống sự lãnh đạo của Đảng, trở thành “nội ứng” cho chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch, phản động đang rắp tâm thực hiện./.

  Sưu tầm

TÁC PHẨM “NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG, QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng…Do đó, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nội dung lớn, quan trọng và thiết thực, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài, kiên trì.

 Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Để hoàn thành sứ mệnh trước giai cấp và dân tộc, Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới để nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta - lúc sinh thời luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vào đầu năm 1969 cuộc kháng chiến cứu nước của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang diễn ra quyết liệt. Lúc bấy giờ, đối với miền Bắc, cần tranh thủ điều kiện tạm thời có hòa bình, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, tăng cường chi viện cho tiền tuyến. Trong bối cảnh ấy, cần thiết phải tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, củng cố mặt trận tư tưởng, ngăn chặn xu hướng xả hơi sau nhiều năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân dân, số 5409, ngày 03-02-1969. Đây là bài viết sau cùng của Người về đạo đức cách mạng, đã, đang và sẽ trở thành cơ sở lý luận cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”.

 1. Vài nét về nội dung chính của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

 Mở đầu tác phẩm, Người đã dành những lời lẽ chân thành để nói về uy tín và vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng sau 39 năm đấu tranh oanh liệt, dành những lời khen ngợi cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã làm tốt vai trò tiên phong, gương mẫu trong mọi hoạt động sản xuất, trong chiến đấu: “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta đã tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang”. Đồng thời, Người cũng tôn vinh những thanh niên trai, gái trưởng thành từ giáo dục, rèn luyện của Đảng, hăng hái, dũng cảm, đã trở thành “những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.

 Thế nhưng, Người cũng rất nghiêm khắc phê bình nhiều cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, vậy nên “đạo đức, phẩm chất còn thấp kém” “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Tác hại của chủ nghĩa cá nhân là vô cùng lớn, vô cùng nguy hiểm đối với Đảng, với cách mạng. “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa…tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành…tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền… xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Tất cả những điều đó là những căn bệnh và khuyết điểm được nảy sinh trong điều kiện của đảng cầm quyền, sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

 Từ đó, Người nêu ra cách chữa trị căn bệnh này, xác định trách nhiệm lãnh đạo và giáo dục của Đảng, đó là: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

 Nền tảng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức, bao gồm đạo đức của Đảng và đạo đức của mỗi đảng viên, giữa chúng có quan hệ hữu cơ, tác động, thúc đẩy lẫn nhau. Do đó, bên cạnh chỉ ra trách nhiệm của Đảng cầm quyền trong giáo dục đạo đức cách mạng, Người cũng chỉ rõ nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên là: “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”.

 Có như vậy, Đảng ta mới thực sự “là đạo đức, là văn minh”, cán bộ, đảng viên mới thực sự xứng đáng với một Đảng vĩ đại, xứng đáng với sự tín nhiệm, tin tưởng của nhân dân.

 2. Giá trị tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 Trong hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình đối với cách mạng, đối với Nhân dân bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

 Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình…Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và xã hội”.

 Tuy vậy, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" đánh giá: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế...”.

 Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta cần phát huy hơn nữa truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, chăm lo xây dựng Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với Nhân dân, ngang tầm nhiệm vụ để có thể lãnh đạo đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, ngày càng phát triển. Phải nhận thức rõ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước Nhân dân là nhiệm vụ sống còn của Đảng.

 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XVI với chủ đề “Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; năng động, sáng tạo; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; giữ vững quốc phòng, an ninh; huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đưa tỉnh Kon Tum phát triển nhanh và bền vững” đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ địa phương, đơn vị…Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao”. Đồng thời rà soát, xử lý, miễn nhiệm, thay thế những cán bộ không đảm bảo về điều kiện, tiêu chuẩn, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp.

 Tính đến nay, nửa nhiệm kỳ đã trôi qua, công tác xây dựng Đảng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI (họp ngày 30-6- 2023) đã đánh giá: “công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có lúc, có nơi còn hạn chế, trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ đảng viên chưa cao, còn một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”.

 Trong tình hình đó, việc tiếp tục xây dựng tổ chức Đảng, quan tâm xây dựng, bồi dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên có đầy đủ phẩm chất đạo đức, có năng lực sáng tạo, vừa hồng, vừa chuyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là rất quan trọng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần bám sát đặc điểm, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của mình để thực hiện tốt nội dung “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó cần tập trung một số nội dung sau:

 Một là, phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc vai trò, vị trí quan trọng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức; về tính cấp thiết phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

 Hai là, phải đổi mới mạnh mẽ, nâng cao tính thuyết phục của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, góp phần nâng cao bản lĩnh, lập trường, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tạo ra khả năng đề kháng trước mọi nguy cơ, nhất là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong xây dựng Đảng về đạo đức phải thực hiện đồng bộ cả hai nội dung “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, lâu dài, xuyên suốt, “chống” là quan trọng, cấp bách, được thực hiện bằng giải pháp tổng hợp, mạnh mẽ, hướng vào tạo nền tảng đạo đức vững chắc, bền vững và đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 Ba là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, gắn với đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa” của mỗi cán bộ, đảng viên, không phải chờ đến khi cấp trên yêu cầu, gợi ý.

 Bốn là, đề cao kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu phải coi trọng và đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, nhất là tự kiểm tra, tự giám sát gắn với nâng cao trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp.

 Năm là, đẩy mạnh phong trào thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải thực chất, hiệu quả, chú trọng xây dựng những mô hình, điển hình tiêu biểu trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Các cơ quan báo chí phải tăng cường phản ánh, giới thiệu gương người tốt, việc tốt trong đảng viên và quần chúng, tạo sự lan tỏa, ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng, tăng cường niềm tin trong xã hội. Công tác khen thưởng cũng phải lựa chọn được người xứng đáng, tôn vinh kịp thời.

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng, thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa đi cùng với công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Do đó, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nội dung lớn, quan trọng và thiết thực, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài, kiên trì. Các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi đảng viên chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc hơn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thái độ quyết tâm hơn trong đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Đảng ta xứng đáng “là đạo đức”, “là văn minh”, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tâm nguyện của Người./.

st

FAKE NEWS VÀ VIỆC THIẾT LẬP “VÙNG XANH” CHO KHÔNG GIAN MẠNG

 

Fake news (tin giả) được phát tán trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông, bao gồm cả truyền thông xã hội. Đây là một thách thức không chỉ đối với nước ta mà với tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mạng xã hội (Facebook, Google, Zalo…) trở thành nền tảng lan truyền tin giả phổ biến nhất.

     Ở Việt Nam, thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các đối tượng đã thực hiện nhiều thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, tác động vào tư tưởng, tình cảm của người tiếp nhận, gây tâm lý hoang mang, dao động, hoài nghi của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước dẫn đến gây bất ổn xã hội. Hoạt động chống phá của các đối tượng diễn ra thường xuyên, liên tục, trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội của nước ta, đặc biệt là những thời điểm nhạy cảm, khó khăn của đất nước.

    Do đó việc thiết lập “vùng xanh” trên không gian mạng có vị trí và vai trò hết sức quan trọng và cần thiết. Để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tin giả trên mạng xã hội, tránh việc người dân bị hoang mang, dao động đã chúng ta cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

      Thứ nhất, tăng cường các kênh thông tin chính thống đa dạng phủ sóng trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, YouTube, Tiktok…) để người dân có thể nhận diện được thông tin đúng đắn và tạo sự đề phòng, tính cảnh giác của bản thân khi tiếp xúc với thông tin được lan truyền khác không chính thống trên không gian mạng. Từ đó tạo ra thói quen có sự phân tích, đánh giá, tham khảo khi sử dụng thông tin, nhất là thông tin được chia sẻ bởi mạng xã hội, chủ thể không rõ nguồn gốc, không xác thực và mang tính tiêu cực.

      Thứ hai, thông qua các kênh thông tin ở “vùng xanh” để giúp người dân có thể nhận diện được các đặc điểm như: Tin giả thường có tiêu đề hấp dẫn, giật gân, viết in hoa kèm dấu ký tự mang tính chất khẳng định, thường có vẻ khó xảy ra trong thực tế nhưng được viết dưới dạng khẳng định để thu hút sự chú ý của người đọc. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần có các chuyên gia phân tích, đánh giá để vạch trần bản chất cũng như các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. 

     Thứ ba, tin giả thường không được chú trọng về cấu trúc ngữ pháp, thể thức văn bản, dễ có lỗi chính tả và ngữ pháp, không thống nhất. Hình ảnh sử dụng trong bài viết đa phần là ảnh lấy trên mạng rồi chỉnh sửa cho phù hợp với nội dung nguồn tin; các luận cứ, luận chứng trong bài viết, thông thường các tin giả được tạo ra dựa trên một câu chuyện, tình tiết có thực nhưng được thêm thắt, thổi phồng, làm giả ở những nội dung quan trọng nhất .

      Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là người dân chúng ta phải tạo cho mình chất “miễn dịch” khi tiếp cận các thông tin trên mạng xã hội từ đó cần nâng cao cảnh giác trước những thông tin thất thiệt, mang tính kích động, gây hoang mang dư luận, có biện pháp tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu độc.    Không chia sẻ, bình luận, like các bài viết đăng tải những thông tin chưa được kiểm chứng. Để nắm các thông tin chính trị, kinh tế- xã hội, người dân cần tham khảo trang thông tin của các ban, bộ, ngành và cơ quan chức năng, thu thập, tiếp nhận thông tin ở kênh truyền hình, các tờ báo chính thống của Đảng và Nhà nước./.

st


TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG 94 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG (01/8/1930 - 01/8/2024)

 


Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo (01/8/1930) mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng, văn hoá sâu sắc. Đó là một sự kiện lịch sử đánh dấu sự ra đời, trưởng thành, ngày càng vững mạnh, khẳng định vị trí hàng đầu trong phương châm lãnh đạo cách mạng của Đảng. Trải qua lịch sử 91 năm đấu tranh xây dựng và phát triển, hoạt động Tuyên giáo của Đảng với rất nhiều lĩnh vực đã có những tên gọi khác nhau để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, nhưng trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, công tác Tuyên giáo cũng luôn đi đầu và đóng góp to lớn trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng.

 Cách đây tròn 94 năm, vào ngày 01/8/1930, nhân dịp kỷ niệm Ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xuất bản tài liệu mang tên "Ngày quốc tế đỏ 1/8". Đây là tài liệu duy nhất và sớm nhất còn lưu giữ đến nay đề rõ Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành”. Ngay sau khi phát hành, tài liệu đã tạo được tiếng vang lớn, thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân, có sức cổ vũ mạnh mẽ quần chúng cách mạng nước ta đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc.

 Từ đó, ngày 01/8 trở thành một mốc son lịch sử, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa đối với công tác tuyên giáo của Đảng. Từ sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt này, năm 2000, Bộ Chính trị (Khóa VIII) quyết định lấy ngày 1/8 hàng năm làm Ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng. Năm 2007, sau khi hợp nhất Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa X) quyết định lấy ngày 1/8 hàng năm làm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng./.


NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC "TỪ SỚM, TỪ XA"

 

Bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tư duy chiến lược này nhằm chủ động phát hiện, đẩy lùi các nguy cơ đe dọa tới an ninh quốc gia, không để đất nước rơi vào tình thế bất lợi. Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác đối ngoại quốc phòng với mục tiêu cao nhất là thực hiện kế sách chiến lược bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tạo lập, duy trì môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

 Tạo lập môi trường hòa bình, đẩy lùi nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia

 Đối ngoại quốc phòng là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiến hành, bằng phương pháp đàm phán và các hình thức hòa bình khác nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về đối ngoại và quốc phòng trong từng thời kỳ cách mạng. Các hình thức đối ngoại quốc phòng mang tính hòa bình, sử dụng phương pháp đàm phán là chủ yếu, thông qua đối thoại, thương lượng, thuyết phục để giải quyết các vấn đề quân sự - quốc phòng trên bình diện quốc tế. Là một bộ phận công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đối ngoại quốc phòng góp phần thực hiện tốt phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(1).

 Đặc trưng của đối ngoại quốc phòng là giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế về quốc phòng bằng biện pháp hòa bình. Thông qua hoạt động này, những bất đồng, khác biệt, xung đột lợi ích được giải quyết bằng những sáng kiến, cơ chế hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các đối tác (đơn cử như, Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN - ARF, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN - ADMM, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng - ADMM+). Đây là những công cụ hữu hiệu để duy trì và củng cố hòa bình, an ninh quốc tế, giảm thiểu nguy cơ, đẩy lùi thách thức đe dọa đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, đồng thời tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”(2).

 Đối ngoại quốc phòng Việt Nam thông qua các cơ chế, diễn đàn hợp tác song phương và đa phương về quốc phòng, trên nền tảng của các thể chế an ninh khu vực và toàn cầu, góp phần tham mưu, nắm bắt, xử lý nhanh và hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, góp phần chuyển hóa “đối tượng” thành “đối tác”, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, đe dọa đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, thời gian qua, “công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được đẩy mạnh, thiết thực, hiệu quả, tiếp tục là điểm sáng, là một trong những trụ cột của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa””(3).

 Mặt trận đối ngoại quốc phòng đã trở thành tuyến đầu trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia “từ sớm, từ xa”. Các hoạt động ngoại giao quốc phòng nhiều tầng, nấc đã đóng góp trực tiếp vào việc đưa các mối quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, củng cố tình hữu nghị và hợp tác, chủ động, tích cực tham gia tạo dựng luật chơi trong các thể chế đa phương, nhất là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên hợp quốc để có thể tận dụng chính các luật chơi đó để bảo vệ có hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc. Kể từ năm 2014, Việt Nam đã cử lực lượng quân đội tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đánh dấu một bước nâng tầm hội nhập quốc tế và đóng góp của Việt Nam đối với nỗ lực quốc tế duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

 Minh bạch chính sách quốc phòng của Việt Nam, củng cố và tăng cường lòng tin chiến lược từ các đối tác

 Hoạt động quốc phòng phần lớn liên quan đến lực lượng vũ trang. Trong thực thi chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, quân sự - quốc phòng là công cụ quan trọng, hỗ trợ hiệu quả các mục tiêu an ninh, phát triển và mở rộng, gia tăng ảnh hưởng quốc tế. Bên cạnh đó, “thế lưỡng nan về an ninh” trong quan hệ quốc tế thường đặt các quốc gia vào trạng thái “chạy đua vũ trang” để bảo đảm an ninh. Một khi hoạt động này chuyển từ trạng thái vô ý thức đến có ý thức, sẽ dẫn tới gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình, ổn định của khu vực và quốc tế, làm gia tăng nguy cơ tiềm ẩn đối với mỗi quốc gia có liên quan.

 Minh bạch về chính sách quốc phòng là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hợp tác, tin cậy, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, giảm thiểu nguy cơ về an ninh do “chạy đua vũ trang” gây ra. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, đối ngoại quốc phòng Việt Nam đã tích cực, chủ động minh bạch hóa chính sách quốc phòng. Thông qua các kênh truyền thông đối ngoại, tại các diễn đàn an ninh song phương và đa phương, đối ngoại quốc phòng Việt Nam góp phần chỉ rõ cho bạn bè quốc tế hiểu rõ: “Chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”(4).

 Minh bạch hóa chính sách quốc phòng là xuất phát điểm quan trọng để Việt Nam xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược với các đối tác trên thế giới. Khi những nghi kỵ lẫn nhau về an ninh được giải quyết, các bên liên quan chia sẻ lợi ích chung về mục tiêu giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực, toàn cầu, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác sẽ có sự phát triển lên các nấc thang mới cao hơn, phù hợp hơn với thế và lực của mỗi nước. Đối ngoại quốc phòng Việt Nam góp phần tạo lập và duy trì các kênh kết nối Việt Nam với các đối tác trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng, từ đó thể hiện rõ cam kết của Việt Nam về việc “tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển”(5).

 Huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế xây dựng quân đội - lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”

 Để thực hiện có hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, cần phải có lực lượng quân đội mạnh, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đủ khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng đánh trả và đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện chủ trương xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại”(6). Một trong những vấn đề đặt ra là việc bảo đảm nguồn lực cho việc hiện đại hóa quân đội. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, việc kết hợp nội lực với ngoại lực là tất yếu nhằm huy động và tận dụng có hiệu quả những thành tựu của hội nhập quốc tế để xây dựng quân đội.

 Đối ngoại quốc phòng tạo nguồn lực đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hoạt động hợp tác quốc tế giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với các đối tác được triển khai trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề hợp tác về đào tạo nguồn nhân lực và hiện đại hóa vũ khí, trang bị. Trong lĩnh vực hợp tác công nghiệp quốc phòng và mua sắm vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam được triển khai với các nước, như Trung Quốc, Cuba, Nga, Israel, Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước châu Âu. Hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Việt Nam và Nga có những bước phát triển về chất, từ việc thuần túy mua sắm vũ khí trang bị quân sự đã bước sang giai đoạn chuyển giao công nghệ, sửa chữa, cải tiến, nâng cấp và sản xuất tại Việt Nam.

 Việt Nam và Trung Quốc đạt nhiều thỏa thuận hợp tác công nghiệp quốc phòng, đáng chú ý là hợp tác về kỹ thuật quân sự lục quân, trong đó có việc nghiên cứu, hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ. Việt Nam tiến hành hợp tác sản xuất một số sản phẩm công nghiệp quốc phòng với Cuba, hợp tác đóng tàu với Ấn Độ. Nhật Bản ủng hộ Việt Nam trong việc hợp tác liên doanh sản xuất sản phẩm có tính lưỡng dụng, đào tạo cán bộ, nghiên cứu, sản xuất chế tạo, chuyển giao công nghệ, nhất là công nghiệp đóng tàu cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.

 Sự kiện đáng chú ý là, năm 2014, từ chỗ dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương áp đặt gần 4 thập niên đối với Việt Nam, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama (tháng 5-2016), Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm này, giúp cải thiện năng lực quốc phòng của Việt Nam, đặc biệt là năng lực giải quyết các vấn đề an ninh hàng hải. Đây là một dấu hiệu tích cực cho việc triển khai quan hệ đối tác toàn diện (nay là đối tác chiến lược toàn diện), đánh dấu bước bình thường hóa đầy đủ quan hệ giữa hai nước. Qua đó, Việt Nam có điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ và khả năng phối hợp tác chiến trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hạn chế sự độc quyền của các đối tác khác.

 Lĩnh vực hợp tác đào tạo, huấn luyện sĩ quan được thực hiện dưới nhiều hình thức. Các học viện, nhà trường quân đội của Việt Nam hiện đào tạo học viên quân sự đến từ nhiều quốc gia, như Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Cuba. Việt Nam cũng cử học viên đi học tập, đào tạo tại nhiều nước, như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand. Trong đó, Nga và gần đây có Mỹ là những nước rất quan tâm tới việc hợp tác đào tạo học viên quân sự cho Việt Nam.

 Tiếp tục nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới

 Đối ngoại quốc phòng góp phần thực hiện tốt phương châm Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Tuy nhiên, hoạt động này còn có mặt hạn chế. Nhận thức về đối ngoại về quốc phòng có mặt chưa thống nhất. Xác định nhu cầu, mục tiêu hội nhập, hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng có mặt chưa cụ thể, thiết thực. Hợp tác thương mại quân sự chưa gắn kết chặt chẽ với chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quân sự và hợp tác chiến lược quốc phòng. Hợp tác, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang, nghệ thuật quân sự đã được triển khai nhưng chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Do vậy, để góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam cần thực hiện tốt một số phương hướng, giải pháp sau:

 Một là, xác định mục tiêu, nguyên tắc trong đối ngoại quốc phòng gắn với vấn đề bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

 Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cần nhất quán thực hiện mục tiêu xuyên suốt là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”(7); giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở thế và lực mới của đất nước, đối ngoại quốc phòng Việt Nam cần chủ động, tích cực phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đồng thời, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào.

 Hoạt động đối ngoại quốc phòng nhất quán theo phương châm: “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”(8) nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, lấy hợp tác là chính yếu trên cơ sở kiên định chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong quan hệ hợp tác quốc phòng với quân đội các nước phải luôn dựa trên tinh thần bình đẳng, không phân biệt đối xử; luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

 Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam cần phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp chặt chẽ đối ngoại với kinh tế, quốc phòng và an ninh, bảo đảm bí mật quân sự, bí mật quốc gia. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường không có nghĩa là khép kín, biệt lập, trái lại là điều kiện để mở rộng đối ngoại quốc phòng. Hợp tác quốc tế về quốc phòng nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ môi trường hòa bình. Ngược lại, giữ vững độc lập, tự chủ là điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng. Không có độc lập, tự chủ thì không thể hợp tác quốc tế về quốc phòng thành công.

 Hai là, đẩy mạnh đa phương hóa, tạo thế cân bằng chiến lược, đan xen lợi ích quân sự - quốc phòng, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

 Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng là thiết lập quan hệ quân sự - quốc phòng với quân đội các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội và trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng góp phần giúp tạo thế cân bằng chiến lược với các nước lớn, tránh không bị lệ thuộc vào một nước, một tổ chức quốc tế nào trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại quốc phòng cũng góp phần tạo thế đan xen về lợi ích, buộc các chủ thể phải tính toán, so sánh thiệt hơn trong việc xử lý các vấn đề có liên quan đến Việt Nam.

 Việc phát triển quan hệ quốc phòng với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các phong trào tiến bộ trên thế giới là cơ sở để tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là môi trường để thể hiện quan điểm đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của Việt Nam, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ của các nước, các tổ chức, các lực lượng cùng góp chung tiếng nói, hành động ủng hộ Việt Nam. Thông qua các cơ chế đa phương, đối ngoại quốc phòng tham gia tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu trong thời bình, nhằm “bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc mà không cần phải tiến hành chiến tranh”(9). Cùng với đa phương hóa, hoạt động đối ngoại quốc phòng cũng chú trọng đa dạng hóa hình thức và nội dung đối ngoại.

 Hiện nay, Việt Nam đã tham gia Hội nghị không chính thức Tư lệnh Lực lượng quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM) và các hội nghị quân chủng, như Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN, Hội nghị Tư lệnh Không quân các nước ASEAN, Hội nghị những người đứng đầu ngành quân y các nước ASEAN (ACMMC). Việc tham dự ADMM giúp Việt Nam nắm bắt quan điểm, chính sách quốc phòng các nước; bày tỏ quan điểm, lập trường về các vấn đề quốc phòng - an ninh khu vực nói chung, của Việt Nam nói riêng. Đối với ADMM+, Quân đội nhân dân Việt Nam có thể đóng góp nhiều sáng kiến về quốc phòng - an ninh cho mục đích hòa bình.

 Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á - Thái Bình Dương (Đối thoại Shangri-La) - hội nghị mà Việt Nam tham gia ngay từ những ngày đầu - là tiến trình góp phần xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Thông qua tham dự Đối thoại Shangri-La, thế giới hiểu rõ hơn về tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự chính nghĩa và quyết tâm của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng trên biển. Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), từ chỗ chủ yếu thảo luận các vấn đề an ninh, đã chuyển sang thảo luận các vấn đề quốc phòng, tập trung thúc đẩy và tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên trong việc đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, thúc đẩy tiến trình hợp tác phát triển của ARF, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới. Chính vì vậy, Bộ Quốc phòng Việt Nam chủ động phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, có những đóng góp tích cực đối với ARF.

 Trong Liên hợp quốc, Việt Nam đã cùng các quốc gia thành viên có những đóng góp quan trọng vào việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế. Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình thể hiện cụ thể việc vận dụng tư duy hội nhập quốc tế của Đảng, là sự thay đổi về chất trong cách tiếp cận đối với các hoạt động hợp tác khu vực và quốc tế về quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần là hợp tác để giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và thế giới đang nổi lên theo hướng có lợi cho Việt Nam, mà còn thể hiện cách tiếp cận mới, coi các thách thức an ninh chung của khu vực và thế giới cũng là thách thức của Việt Nam, thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

 Quan điểm của Việt Nam về việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc nhằm góp phần ngăn ngừa xung đột, khôi phục hòa bình, an ninh quốc tế, tạo dựng môi trường hòa bình cho tái thiết và phát triển. Đồng thời, nâng cao hiểu biết, tạo dựng, củng cố lòng tin với quân đội các nước; học tập quân đội các nước kinh nghiệm về huấn luyện, tổ chức lực lượng cơ động để giải quyết khủng hoảng, nhân đạo. Việt Nam tham gia trên cơ sở hoàn toàn độc lập, tự chủ, phù hợp với lợi ích quốc gia, điều kiện và khả năng của Việt Nam và chỉ tham gia các hoạt động vì mục đích hòa bình, nhân đạo, tái thiết trong khuôn khổ Liên hợp quốc; chỉ tham gia những chiến dịch đã được các bên xung đột mời Liên hợp quốc tiến hành và được dư luận trong nước đồng tình, ủng hộ.

 Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền về công tác đối ngoại quốc phòng trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

 Đối ngoại quốc phòng do Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về đối ngoại quốc phòng có ý nghĩa quyết định đến việc phát huy hiệu quả vai trò của hoạt động này trong bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Thời gian tới, cần quán triệt, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và quân đội về hội nhập quốc tế, đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ trương hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, chính sách quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam, tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại quốc phòng với các đối tác và cộng đồng quốc tế.

 Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đối ngoại quốc phòng, cần xây dựng và triển khai Chiến lược về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Xác định cấp độ hội nhập quốc tế về quốc phòng phù hợp với mức độ quan hệ hợp tác với từng đối tác. Tập trung triển khai tổ chức thực hiện tốt ba khâu đột phá trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đó là: xây dựng, củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định, vững chắc, cùng phát triển với Trung Quốc, Lào, Campuchia; chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ quân đội.

 Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành; cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản pháp lý liên quan, bảo đảm hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạt hiệu quả thiết thực và phù hợp với luật pháp quốc tế. Xây dựng chiến lược tổng thể để chỉ đạo thống nhất các hoạt động hội nhập quốc tế về quốc phòng.

 Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng là vấn đề tổ chức bộ máy. Do đó, thời gian tới cần củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế, chức năng, nhiệm vụ và nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu của hệ thống cơ quan, đơn vị chuyên trách về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Bố trí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan chuyên trách đối ngoại có quân hàm phù hợp với yêu cầu lễ tân và đối đẳng trong quan hệ. Nâng cao hiệu quả công tác tùy viên quốc phòng theo định hướng hoàn thiện cơ chế điều hành, chỉ đạo hoạt động, bảo đảm tính thống nhất, kịp thời, chặt chẽ và hiệu quả. Xây dựng tổ chức, biên chế, bố trí tùy viên quốc phòng phù hợp, ổn định, nhất là tại các nước láng giềng, các nước lớn, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống.

 Nhằm giải quyết tốt vấn đề nguồn lực trong xây dựng quân đội hiện đại, đối ngoại quốc phòng cần thông qua các thể chế song phương và đa phương, tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ; hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các đối tác. Kết hợp quan hệ thương mại, kinh tế và công nghiệp quốc phòng với tăng cường tiếp thu, áp dụng các quy trình quản lý, sản xuất theo cơ chế thị trường; đa dạng hóa các mối quan hệ để tránh bị lệ thuộc vào đối tác. Tạo điều kiện để doanh nghiệp quốc phòng chủ động tham gia hội nhập quốc tế, thực hiện tốt việc kết hợp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh với bảo đảm quốc phòng - an ninh.

 Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”(10). Đây là tư tưởng, phương châm chỉ đạo cho hoạt động đối ngoại quốc phòng được triển khai thiết thực, hiệu quả, đúng mục tiêu, nguyên tắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, những biến đổi nhanh chóng với tác động hai chiều thuận - nghịch của các nhân tố thời đại đã và đang tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với vai trò là mũi tiên phong trên lĩnh vực đối ngoại, hoạt động đối ngoại quốc phòng cần kiên định về mục tiêu, nguyên tắc, đồng thời linh hoạt về sách lược, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng và thế trận đối ngoại trên bình diện quốc tế, phát huy tốt nhân tố thời đại trong bảo vệ Tổ quốc./.

 

VIỆT TÂN – “MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG”

 

 

Trong những ngày này, đồng bào, chiến sĩ và nhân dân cả nước đang bày tỏ sự thiếc thương vô hạn với sự ra đi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – một người cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo có tâm, có tầm của Đảng, một tấm gương sáng về đức tính giản dị, mẫu mực nhưng vẫn đầy quyết liệt trong công cuộc phòng, chống tham nhũng tiêu cực cũng như suy thoái về đạo đức. Đồng chí Tổng Bí thư kính mến từ trần là sự mất mát to lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta và bạn bè quốc tế, tất cả đều bày tỏ sự kính trọng và yêu mến với đồng chí Tổng Bí thư.

 Thế nhưng, với bản chất chống phá quen thuộc, đám rận chủ Việt Tân lại không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc về đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng như sự nghiệp cách mạng của nước ta. Với luận điệu “khủng hoảng nhân sự thượng tầng”, Việt Tân hòng lèo lái dư luận với công tác nhân sự của Đảng sau khi đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần. Không chỉ có vậy, Việt Tân còn ra sức xuyên tạc công lao và đóng góp của đồng chí Tổng Bí thư với đất nước ta. Việt Tân đúng thật là những kẻ “mượn gió bẻ măng”, vô lương tâm hết sức.

 Một lần nữa, mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cương vị là người đứng đầu Đảng trong gần 3 nhiệm kỳ đã những đóng góp vô cùng quan trọng, cùng Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo toàn Ðảng đưa nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, tiếp bước trên hành trình đổi mới thắng lợi trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế-xã hội đến xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Trọn cuộc đời vì nước, vì dân, chưa một phút nghỉ ngơi cho riêng mình, mỗi lời nói, hành động của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn giản dị, gần dân, đi dân mến, ở dân thương. Đó chính là điều quý giá mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm được trong cuộc đời của mình.

 Bày tỏ lòng thành kính, tri ân đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nguyện đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của đồng chí Tổng Bí thư, viết tiếp khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường./.


VANG MÃI BẢN HÙNG CA THÁNG TÁM

 

 

      Chúng ta biết rằng, đất nước Việt Nam với hàng ngàn năm lịch sử, đã trải qua biết bao sự kiện thăng trầm của các triều đại phong kiến. Và cho đến nay, phải khẳng định rằng, nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước của dân, do dân và vì dân, một đất nước với thể chế chính trị ổn định vững bền nhất trong mọi cung bậc của lịch sử. Để có được điều đó, tất cả đều dựa trên tiền đề của lịch sử, đó là những cuộc cách mạng, những chiến thắng vang dội bốn bể năm châu, là mốc son chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuyên ngôn độc lập đã tiếp nối truyền thống hào hùng, bản anh hùng ca của dân tộc trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt và "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Ngày 2 tháng 9 đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của đất nước. Đó còn là mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

Cách mạng tháng Tám có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với lịch sử của dân tộc. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đưa nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập; nhân dân từ thân phận nô lệ đã trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là nhân dân châu Á và châu Phi.

     Sự thật không thể thay đổi và lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, vẫn có một vấn đề vẫn còn tồn tại như một cái u nhọt gây nhức nhối trong xã hội ta, đó chính là ý thức chống phá của những cá nhân, tổ chức muốn chống lại sự nghiệp cách mạng Việt Nam, muốn lật đổ thành quả mà biết bao sự hy sinh xương máu của cha ông ta mới có được. Vẫn là trò bẩn thỉu, chủ nghĩa cơ hội cực đoan. Cứ mỗi khi đất nước ta tổ chức những ngày lễ trọng đại của đất nước, nào là anh em rận chủ hay những blogger trên các trang web lại tiếp tục giở những chiêu trò bỉ ổi với những luận điệu xuyên tạc trắng trợn từ miệng lưỡi không xương, nhằm phủ nhận thành quả của các cuộc cách mạng, cố tình bôi xấu hay hạ bệ thành công của Đảng và nhân dân ta đã đạt được.

            Không những thế, từ những cái đầu bị ảo tưởng chính trị, chúng nghĩ ra đủ sự bê bối, xấu xí để chụp lên đất nước Việt Nam, chụp lên chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng còn ca ngợi, tôn sùng những kẻ đã từng là kẻ thù của đất nước, gây tội ác với dân tộc ta… như đấng tối cao, như anh hùng cái thế. Bằng chứng là trên nhiều trang báo như BBC, RFA, RFI hay trên 1 số blog như danlambao, bauxit Việt Nam cũng như trên trang cá nhân của những kẻ thần kinh chính trị như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Quang A, Trương Duy Nhất, Nguyễn Tường Thụy, Lê Thanh Tùng, Trần Thị Xuân… Chúng sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động người dân tham gia biểu tình… trên mạng xã hội và một số website. Chúng xem đây là diễn đàn chém gió nhằm phủ nhận thành công của cách mạng Việt Nam; nhằm làm suy yếu chính quyền, thay đổi chính quyền, thay đổi chế độ hiện nay tại Việt Nam.

            Nói chung, mục đích phá hoại của chúng rất rõ ràng. Cách mà chúng tiến hành cũng rất đa dạng. Nhưng có lẽ chúng thật sự thất bại bởi vì những quan điểm, lời nói mà chúng đưa ra đều đã bị lật tẩy một cách công khai. Bên cạnh đó, người dân Việt Nam chẳng lạ lẫm gì trò bỉ ổi này. Duy chỉ có những kẻ đồng lõa, như những con kền kền săn mồi mới bâu vào để ca tụng, chém gió cho thêm phần hấp dẫn.

            Một lần nữa, chúng ta lên án những hành vi xuyên tạc lịch sử, tiếp tục vạch trần những thủ đoạn xấu xa của những anh em rận chủ, Việt Tân hay các blogger ra trước công luận, để nhân dân ta tự phán xét và dành cho chúng những bản án thích hợp. Nhưng cũng thực sự nhục nhã thay cho những kẻ như vậy, những việc làm đó chẳng khác nào đã và đang chống lại cả dân tộc, quay lưng với sự thật của lịch sử. Hơn nữa, đó là những hành động có tội với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc./.


TẦM VÓC VĨ ĐẠI, Ý NGHĨA TO LỚN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9 MÃI TRƯỜNG TỒN

 

 

Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

 Thế nhưng, cứ mỗi dịp kỷ niệm, trên Internet và một số trang mạng xã hội lại xuất hiện những bài viết có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa, giá trị lịch sử to lớn của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Đây chính là thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch vô cùng thâm độc.

 Xét về bản chất, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử chính là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, đổi trắng thay đen, mục đích tạo sự hoài nghi, gây hoang mang, xáo trộn trong dư luận xã hội, nhất là thế hệ trẻ - rường cột tương lai của đất nước đối với truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc. Với dã tâm phá hoại, lối tư duy lệch lạc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thản nhiên quy chụp yếu tố quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám với việc thành lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền hoàn toàn là do gặp thời, ăn may, do hoàn cảnh khách quan đem lại - phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh chứ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh không có vai trò, công cán gì.

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi đã trở thành thiên anh hùng ca bất hủ, khẳng định chân lý và niềm tin bất diệt: Một dân tộc có thể đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn thô sơ, phương tiện quân sự thiếu thốn trăm bề, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức của một Đảng cách mạng chân chính, sự chung sức “trên dưới đồng lòng, nhất hô bá ứng” thì dân tộc ấy vẫn có thể làm nên những sự kiện lịch sử vĩ đại có tầm vóc và đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới như một địa chỉ đỏ, một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa điển hình ở khu vực và trên thế giới./.


NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN

 


Phủ nhận nền tảng tư tưởng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam là mục tiêu chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động. Âm mưu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền ở nước ta là một thủ đoạn nham hiểm, tinh vi. Vì vậy, việc xác định các luận cứ khoa học để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái là góp phần bảo vệ tính đúng đắn, cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền.

 Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để đưa ra những luận điệu tinh vi, xảo trá nhằm đánh lạc hướng nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng ta.

 Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Hồ Chí Minh tự gán cho đảng cộng sản cầm quyền, chứ Chủ nghĩa Mác-Lênin không nói đến đảng cộng sản cầm quyền, mà chỉ nói đến đảng lãnh đạo cách mạng”.

 Thực chất, đây là cách nhìn nhận cực đoan, phiến diện, tuyệt đối hóa một mặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền; là luận điệu vô cùng nguy hiểm nhằm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nghi ngờ, dao động, mất niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng hiện nay.

 Trên cơ sở nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sau khi đã giành được chính quyền thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tăng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng, triệt để xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản”.

 Trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếp tục lãnh đạo chính quyền thực hiện các nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giành thắng lợi, đưa đất nước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền, thể hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản, đóng vai trò là hạt nhân lãnh đạo quyết định nhất trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân./.