Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Hiện nay, phổ biến nhất trên không gian mạng là lợi dụng vụ việc nhạy cảm, phức tạp, vấn đề dân tộc, tôn giáo để bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ khi diễn ra sự kiện đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII… Những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt đó nhằm làm suy giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân thiếu hiểu biết, khả năng nhận thức các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội chưa cao, kể cả một số cán bộ, đảng viên có tư tưởng bất mãn, suy thoái, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thậm chí làm lu mờ vai trò của những đảng viên trung kiên, gây ra hoang mang, dao động, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trước tình hình đó, các cấp ủy đảng các cấp đã chủ động tiến hành công tác nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách quyết liệt với tinh thần trách nhiệm cao, không lơ là, mất cảnh giác. Việc nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái được thực hiện lồng ghép vào việc dạy và học tập lý luận chính trị, thông qua các buổi báo cáo chuyên đề, mà phổ biến là thông qua các bài phản bác trực tiếp được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, trong đó, có những tác phẩm có tính chiến đấu cao, đã đánh đúng và trúng vào các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đáng nói nhất là thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, nhiều cá nhân đã đưa ra những thông tin sai sự thật để “câu like” trên mạng xã hội. Hành vi này không chỉ làm nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoang mang mà còn gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch, ngành chức năng tỉnh Quảng Trị đã kiên quyết xử lý để răn đe, giáo dục. Bên cạnh đó, kịp thời nắm bắt thông tin để xử lý những vấn đề bức xúc được đưa lên mạng xã hội.

Không chỉ đấu tranh phản bác những thông tin sai trái để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, còn tăng cường nắm bắt và xử lý những vụ việc thông qua mạng xã hội một cách chính xác, hiệu quả nhằm củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, trong thời gian tới, nhằm góp phần đấu tranh có hiệu quả trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, các cấp, các ngành cần tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, không gian mạng phát triển như “vũ bão”, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống mà các hình thức chống phá của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, do vậy đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương pháp giữ vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng; nội dung đấu tranh phong phú, hình thức đa dạng, biện pháp cụ thể, sáng tạo, phù hợp thì hoạt động này mới có hiệu quả cao.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng…

Bên cạnh những giá trị đích thực, thì những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý. Một số quốc gia đã dựng lên các “biên giới ảo” trên nền Internet để kiểm soát “lãnh thổ” của mình. Với chúng ta, song hành cùng các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, thì cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ, như: bảo vệ tốt thông tin cá nhân; kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng; kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương... có vị trí vô cùng quan trọng, góp phần quyết định đến thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng hiện nay.

Ba là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng.

Nâng cao cảnh giác trước phương thức, thủ đoạn mạo danh lừa đảo qua mạng xã hội

 


Trước sự phát triển của Công nghệ thong tin, tình hình mạo danh, lừa đảo trên không gian mạng thông qua mạng xã hội, như: Facebook, Zalo... ngày càng tinh vi, phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng về số vụ. Đặc biệt trong thời gian gần đây, xuất hiện tình trạng một số đối tượng đã tạo tài khoản mạo danh, sử dụng thông tin cá nhân, hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo, người có uy tín trong tỉnh, nhằm thực hiện các hành vi lừa đảo, trục lợi cá nhân..., gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của lãnh đạo Đảng, nhà nước, chính quyền địa phương. Nguy hại hơn, các đối tượng mạo danh các cơ quan Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để thực hiện các hành vi lừa đảo, trục lợi cá nhân và chống phá Đảng, Nhà nước. Phát tán thông tin xấu, độc trên mạng xã hội để bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước. Nhiều đối tượng đưa tin giả trên mạng xã hội tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước đã bị xử lý trước pháp luật…

Trước tình hình đó, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an nhận diện 6 phương thức, thủ đoạn chủ yếu của dạng tội phạm này. Trong đó, các đối tượng sử dụng các dịch vụ có chức năng giả mạo đầu số, giả mạo số điện thoại, mạo danh cán bộ của cơ quan chức năng trong các cơ quan thực thi pháp luật gọi điện cho người dân để thực hiện hành vi lừa đảo, gây sức ép, yêu cầu khác nhau như phục vụ điều tra, làm người dân hoang mang, từ đó phải chuyển một số tiền lớn vào một tài khoản do các đối tượng này cung cấp. Lừa đảo qua các mạng xã hội như: Chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội của người bị hại, sau đó tạo ra các kịch bản nhắn tin lừa đảo đến danh sách bạn bè của người bị hại; kết bạn qua mạng xã hội và hứa hẹn gửi quà có giá trị... sau đó, yêu cầu nạn nhân chuyển tiền nộp thuế hoặc lệ phí hải quan nhằm chiếm đoạt tiền; hoặc gửi tin nhắn qua Facebook, Zalo, Viber... thông báo trúng thưởng và đề nghị nộp phí để nhận thưởng.

Để chủ động phòng tránh các hoạt động lừa đảo qua không gian mạng, đặc biệt là thủ đoạn mạo danh lãnh đạo, tổ chức cá nhân để trục lợi, hoặc nguy hại hơn là tung tin thất thiệt nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền… người dân khi sử dụng các dịch vụ trên không gian mạng, phải nâng cao tinh thần cảnh giác, nhất là trong việc cung cấp, trao đổi, chia sẻ thông tin cá nhân trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, cần có sự chung sức, chung tay của các cấp, các ngành, các cơ quan tư pháp; đẩy mạnh tuyên truyền, cảnh báo các thủ đoạn lừa đảo, xử lý triệt để các nguồn tin liên quan đến hành vi lừa đảo qua mạng xã hội./.

Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

 


Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

          Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Hai là, lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị , người điều hành , người điều tiết, người gây ảnh hưởng ,… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ./.

Lập hội, nhóm trá hình, hậu thuẫn các phần tử chống đối trong nước của Việt Tân

 


Không chỉ dừng lại ở đó, tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại.

Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của Việt Tân nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Theo phản ánh của Báo Công an nhân dân, ăn theo Việt Tân, nhiều hội, nhóm trá hình đã được thành lập như: Hội cựu lao động Đài Loan do Trần Thị Nga thành lập theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Hùng, thành viên Việt Tân ở Đài Loan; Hội nhóm dân oan Hà Nam do Trần Thị Nga thành lập tháng 12-2013; Công đoàn doanh nhân, trí thức Thái Hà do Lê Quốc Quân, Nguyễn Hữu Vinh và Trần Thị Hường và một số đối tượng khác cầm đầu; Văn phòng truyền thông Công giáo và Quỹ Trái tim yêu thương, thành lập năm 2014.

Để dễ bề chỉ đạo số đối tượng trong nước, Việt Tân đưa người tham gia, tài trợ tiền cho các hội, nhóm để chi phối hoạt động. Điển hình như “Hội anh em dân chủ” có Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Bắc Truyển thường xuyên nhận tài trợ của Việt Tân. Đồng thời, là đầu mối tuyển chọn người cho Việt Tân đưa ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện. Trong số các thành viên được Việt Tân huấn luyện có thể kể đến như Lê Thu Hà, Hoàng Chí Hiếu.

Đầu năm 2015, được sự giúp đỡ của Việt Tân, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) cùng một số đối tượng đã khôi phục “Câu lạc bộ nhà báo tự do” thành một tổ chức phi chính chủ để triển khai hoạt động chống phá Việt Nam với cơ cấu gồm Ban giám đốc, ban biên tập, bộ phận xây dựng website, truyền thông (do Phạm Đắc Hồng Thuận phụ trách), giao tiếp cộng đồng, thủ quỹ. Ngoài ra còn có “Phong trào chống tham nhũng” có Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Anh Tuấn (Thái Bình)..., đều là cơ sở của Việt Tân.

Giải pháp Phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động

 



            
Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. 

Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. 

Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần quan tâm đến 3 yếu tố cốt lõi là: con người, tổ chức và cơ chế hoạt động.

Về con người:

Lực lượng nòng cốt làm công tác này bên cạnh bản lĩnh chính trị, tư duy lý luận, am hiểu về công nghệ và kỹ năng truyền thông, cần phải rèn luyện “tinh thần thép” và có những nỗ lực vượt bậc. 

“Tinh thần thép” được hình thành dựa trên niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân ta; vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng; có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy được những khó khăn trước mắt chỉ là tạm thời, những tiêu cực chỉ là hiện tượng xã hội; nêu cao lòng yêu nước, tính tiên phong, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ mới, khó, lấy đó làm cơ hội để thử thách và trưởng thành, từ đó không chùn bước trong cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho chính nghĩa để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn ẩn danh, cuộc đấu tranh trên không gian mạng rất khó khăn, cam go, lâu dài, nên mỗi cán bộ, đảng viên cần giữ vững bản lĩnh chính trị, say mê lao động, không ngừng nghiên cứu, học tập, cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn để có nền tảng lý luận vững vàng, không bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt vai trò sứ giả truyền cảm hứng cho chính đội ngũ của mình và lan tỏa đến người đọc trong công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội.

Về tổ chức:

Tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng do ban chỉ đạo các cấp, các ngành về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Ban Chỉ đạo 35) chỉ đạo, quản lý. Trong đó, tại cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cần bố trí cán bộ chuyên trách, đáp ứng tính chất của công việc để bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, vừa điều hành, tác chiến thường xuyên, liên tục.

Làm tốt công tác định hướng, bồi dưỡng, phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt trong việc nắm tình hình, thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội và tác chiến bí mật.

Phát triển mạng lưới cộng tác viên trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú ý tập hợp cộng tác viên từ các địa bàn, cơ sở; từ đoàn viên, sinh viên, học sinh, cán bộ hưu trí... để tạo ra một kênh nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, những vụ việc nóng về cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 các cấp, các ngành.

Về cơ chế hoạt động: 

Cần sớm thiết lập, ràng buộc trách nhiệm pháp lý, thống nhất và triển khai nghiêm cơ chế phối hợp giữa Chính phủ với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nước ngoài, như: Google, Youtube, Facebook... trong việc quản lý, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu, độc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang fanpage, group, trang Facebook, kênh Youtube, blog,... Phát triển các trang fanpage, group, Facebook, kênh Youtube, blog... tuyên truyền bảo đảm bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động; xây dựng các chuyên mục thông tin chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động nhằm tạo sự đồng thuận xã hội; từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm, sức đề kháng, khả năng phát hiện thông tin xấu, độc, hình thành “thế trận toàn dân” trên không gian mạng, góp phần làm trong sạch môi trường mạng, giữ vững an toàn thông tin.

Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp, phát huy sức mạnh tổng lực của lực lượng ban chỉ đạo 35 trong cả nước. Thống nhất trung tâm điều hành hoạt động đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đến các ban, bộ, ngành và địa phương trong định hướng thông tin, tuyên truyền, bồi dưỡng nghiệp vụ (quản trị các nhóm, trang; điều hành, kỹ thuật tác chiến; phương pháp phản biện, đấu tranh ẩn danh;...).

Triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với các tổ chức, cá nhân có nhận thức khác hoặc chưa đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước - nhất là đối với các cá nhân có uy tín, có trình độ, thái độ tích cực, có tầm ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên, nhân dân tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ trong xử lý tình hình nóng, phức tạp nổi lên tại các địa bàn, lĩnh vực giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương. Kịp thời phát hiện, phối hợp giáo dục, xử lý nghiêm, đủ sức răn đe đối với các đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội đưa, chia sẻ thông tin vi phạm pháp luật.

Nghiên cứu, sớm ban hành quy chế bảo vệ người tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng để kịp thời xử lý những “sự cố” trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khi người tham gia đấu tranh bị đe dọa, bị xâm hại thân thể, uy tín, nhân phẩm, công việc, gia đình, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi họ đang công tác./.

Giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức trách nhiệm nêu gương của mình; phải nhận thức rằng, nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa.

Thứ hai, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân là người sáng tạo, làm nên lịch sử, là nguồn lực, là sức mạnh của Đảng. Nhân dân là đối tượng lãnh đạo, quản lý, nhưng dân là chủ và dân làm chủ. Cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, trước hết phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, suốt đời phấn đấu vì tự do, hạnh phúc, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt đường lối nhân dân của Đảng, trước hết là phải thường xuyên quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc đem lại lợi ích cho nhân dân.

Để nâng cao ý thức trách nhiệm với nhân dân, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; phải làm tốt, xử lý hài hòa mối quan hệ với nhân dân theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khắc phục những tác động tiêu cực của mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước phải có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lẽ tự nhiên là sự lớn mạnh của Đảng, sức mạnh của Đảng nằm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực, có đức, có tài, có trách nhiệm nêu gương và sự nhiệt tình, tâm huyết trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt thì cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy.

Với cấp ủy, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời căn dặn của Bác Hồ. Cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên... Có như vậy, tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên mới được phát huy mạnh mẽ.

Với cán bộ, đảng viên, phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần quán triệt, triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình, xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, việc xác định rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trước gia đình, cộng đồng, Tổ quốc là rất quan trọng để phát huy tính tích cực của họ; đồng thời, hạn chế tác động tiêu cực từ những nhân tố khách quan đó.

Duy trì và tự giác thực hiện các giá trị truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác; người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; phát huy và bảo vệ tập quán, truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án hành vi xâm hại lợi ích chung của cộng đồng, gây phương hại đến lợi ích của các thành viên trong cộng đồng.

Thứ năm, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có hiệu quả khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm của chính mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân... cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.

Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải được làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần “việc thiện thì nhỏ mấy, khó mấy cũng nên làm; việc ác thì nhỏ mấy cũng phải tránh”./.

LHQ-ST

Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, là một phương thức lãnh đạo của Đảng ta. Các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Nêu gương bằng những việc làm, hành động cụ thể hằng ngày, với phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học tập đi đôi với làm theo Bác”. Đề cao vai trò, trách nhiệm tiên phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cương vị càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để nhân dân noi theo; phải thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, tư tưởng đúng đắn, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể...

Nêu gương là đề cao “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời, khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh.

Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(9). Mới đây nhất, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, về “Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm gương mẫu, đi đầu của cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua các mặt sau:

Về tư tưởng chính trị, đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; bước đầu có chuyển biến rõ rệt trong nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tự soi, tự sửa.

Về đạo đức, lối sống, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí... Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở... có nhiều tiến bộ.

Về tự phê bình và phê bình, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể.

Về quan hệ với nhân dân, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp. Một số cấp ủy và chính quyền đã có cách làm hiệu quả, như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy - chính quyền với nhân dân, để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân... Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.

Về trách nhiệm trong công tác, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công. Thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

Về ý thức tổ chức, kỷ luật, đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị. Tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt đảng và các nội quy, quy chế của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Về đoàn kết nội bộ, ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái, ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị và khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng còn hạn chế, khuyết điểm:

Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, cán bộ chủ chốt chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện, như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ...); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công. Một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp đã vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, né tránh không nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu; có nơi, có lúc vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phồng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau.

Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao.

Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hằng năm, không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa được kịp thời.

LHQ-ST

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về việc nêu gương, gương mẫu, nói đi đôi với làm... Điều đó được minh chứng trong cả cuộc đời của Người.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu đi đầu. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Người nêu ra 23 điều về “Tư cách một người cách mệnh”, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”. Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ xung trước,/Làng nước theo sau,/Việc khó đến đâu,/Cũng làm được hết(1).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương trước hết là phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, nhất là nêu gương về đạo đức, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Theo Người, kẻ thù của lòng chí công vô tư chính là chủ nghĩa cá nhân, chỉ muốn tự tư tự lợi, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích chung của tập thể, của đất nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, hình thành phẩm chất đạo đức đúng đắn, để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”(2).

Thứ hai, cần nêu gương trên ba mối quan hệ: với mình, với người, với việc. Đối với mình, người cán bộ, đảng viên không được tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, mà phải luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình như rửa mặt hằng ngày. Đối với người, cán bộ, đảng viên luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (đặt việc công lên trên, lên trước việc tư).

Thứ ba, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo. Ở Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường, địa vị càng cao, uy tín càng lớn, ra sức hoàn thiện, trở thành tấm gương đạo đức trọn vẹn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “... một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(3). Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo yêu cầu của Người, là những người ưu tú nhất trong nhân dân, lời nói phải đi đôi với việc làm để nêu gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Nói đi đôi với làm là sự nêu gương tốt của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với cấp dưới, của cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân... 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành... Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(5). Tự mình phải “chính” trước mới giúp người khác chính. Mình không “chính”, mà muốn người khác “chính” là vô lý.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đối với cán bộ, đảng viên, thì sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương cần đạt tới sự nhất quán trong công việc và trong đời sống riêng, giữa đạo đức của người lãnh đạo và đạo đức đời thường. Địa vị càng cao càng phải ra sức hoàn thiện về đạo đức, thống nhất giữa nói và làm. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống; trong mọi lúc, mọi nơi, nói đi đôi với làm để quần chúng nhân dân noi theo. Việc nói đi đôi với làm mang lại cho quần chúng nhân dân lòng tin và sự tôn trọng đối với người cán bộ; do đó, người cán bộ dễ dàng thực thi quyền lãnh đạo của mình. Người phê phán những cán bộ “chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”(6). Nhân dân không bao giờ tin cậy cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Muốn rèn luyện được phong cách nói đi đôi với làm, người cán bộ phải thường xuyên tự kiểm điểm, soi xét chính mình; đồng thời, phải khuyến khích cấp dưới và quần chúng nhân dân nhận xét, phê bình, góp ý cho mình, nhắc nhở mình về những điều đã hứa. Người cán bộ cũng phải biết tránh căn bệnh hình thức, bệnh “hữu danh, vô thực”, chạy theo những thứ hào nhoáng bên ngoài.

Cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng hằng ngày để trở thành con người có đời tư trong sáng, là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó mà noi theo; qua đó, mà làm tăng những điều đúng, điều thiện, chống thói hư, tật xấu.

Thứ tư, để giáo dục bằng nêu gương đạt hiệu quả cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(7).

Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu gương về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm phục vụ nhân dân từ một triết lý sâu xa rằng, “dân là chủ”, “dân làm chủ” và “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân”(8). Do đó, cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước nhân dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà nhân dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ nhân dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng đạo đức ấy đã tạo nên một phong cách nêu gương, tự giác gương mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh tụ kính yêu của cách mạng Việt Nam, người suốt đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị; vì vậy, cả cuộc đời Người là một tấm gương lớn cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi noi theo.

LHQ-ST

Một số giải pháp nhằm đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

 Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền công khai hệ thống quan điểm, định hướng, chủ trương, đường lối, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các kênh thông tin đại chúng để tất cả người dân, cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy được tiếp cận một cách dễ dàng, đầy đủ, chính xác, kịp thời, có hệ thống; tạo sự chuyển biến tích cực, đúng đắn trong nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác KTGSKLĐ. Từ đó, khắc phục tình trạng cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy một số nơi chưa thấm nhuần, hiểu chưa sâu sắc về mục đích, ý nghĩa, tác dụng, tầm quan trọng của công tác này; khắc phục tình trạng chưa nắm vững quy định về công tác kiểm tra, giám sát, việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác này chưa cụ thể, sát thực tiễn và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoặc không công khai thông tin về công tác KTGSKLĐ(3).

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ủy ban kiểm tra các cấp. Kịp thời đăng tải thông tin thời sự, hoạt động của hệ thống cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp; thông tin về các vụ việc điển hình được Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp đã xem xét, kết luận; đặc biệt là kết quả các cuộc kiểm tra, giám sát trọng điểm có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, được dư luận xã hội quan tâm. Xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát một cách toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung lựa chọn nội dung tuyên truyền vào những lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh vi phạm, những vấn đề bức xúc mà cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng quan tâm. Đồng thời, thông qua kết quả hoạt động KTGSKLĐ, cần tuyên truyền về những “mắt xích” yếu nhất, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt; kết hợp giữa kiên quyết “chống” và kiên trì “xây”. Cơ quan tuyên truyền cấp trên gương mẫu thực hiện tuyên truyền trước làm cơ sở, căn cứ để cấp dưới tuyên truyền lan tỏa thông tin sau; cấp dưới chủ động đề xuất những nội dung tuyên truyền cho phù hợp với tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp trên nhanh chóng xử lý, phê duyệt để kế hoạch, chương trình tuyên truyền được thông suốt, linh hoạt, chủ động, theo đúng tôn chỉ, mục đích.

Bên cạnh việc tuyên truyền về việc xử lý nghiêm minh, quyết liệt đối với vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; cần chú ý việc tuyên truyền về vai trò công tác KTGSKLĐ nhằm phát huy ưu điểm, lấy “xây” là chính; khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên tìm tòi, năng động, sáng tạo; đồng thời, đề cao bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, bảo vệ cán bộ hết mình vì sự nghiệp chung.

Thứ ba, cần xác định rõ đối tượng và mục tiêu, để có chiến lược, kế hoạch, nội dung tuyên truyền phù hợp, bảo đảm tính nguyên tắc, tính thống nhất, tính chính trị, tính chiến đấu trong hoạt động tuyên truyền. Trước hết, hoạt động tuyên truyền cần nắm rõ mục tiêu của công tác kiểm tra, giám sát là góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, “bệnh” thành tích, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác, để từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. Tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm, khuyết điểm đó, trong đó có một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, là đối tượng trực tiếp của công tác KTGSKLĐ và cũng là đối tượng chủ yếu cần được tuyên truyền. Một mặt, khi phát hiện đảng viên, tổ chức đảng có vi phạm, khuyết điểm, phải chủ động nắm bắt thông tin, tuân thủ quy định phát ngôn trong quá trình cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra, kết luận, xử lý về kỷ luật đảng, sau đó mới lên kế hoạch thông tin, tuyên truyền, bảo đảm chính xác, kịp thời, theo đúng tinh thần, mục tiêu chung của công tác kiểm tra, giám sát.

Mặt khác, cần tăng cường thông tin về dấu hiệu, diễn biến, các hình thức biểu hiện tinh vi của vi phạm, khuyết điểm, để từ đó góp phần gia tăng nhận thức cho tổ chức đảng và đảng viên, kịp thời phát hiện, để tìm ra vi phạm, khuyết điểm khác, tuyên truyền về một vụ việc, hoặc một số trường hợp vi phạm để góp phần cảnh tỉnh, răn đe nhiều trường hợp khác; tránh thụ động, bỏ trống “địa bàn”, phải chủ động và chú trọng tuyên truyền tới cả những người làm nhiệm vụ chống tham nhũng, tiêu cực và người làm công tác KTGSKLĐ. Thông tin, tuyên truyền kịp thời, chính xác để có thể ngăn chặn việc xảy ra vi phạm, khuyết điểm ngay từ khi còn manh nha, nâng cao ý thức, trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên một cách căn bản và lâu dài.

Đồng thời, tiến hành tuyên truyền việc kiểm tra, giám sát của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên là người đứng đầu cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ nắm giữ những vị trí then chốt, trọng yếu của đời sống kinh tế - xã hội, trong hệ thống chính trị, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mất đoàn kết nội bộ, trở thành “điểm nóng”, có vấn đề nổi cộm hoặc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tập trung tuyên truyền về trọng tâm nội dung kiểm tra, giám sát, trách nhiệm và các hình thức kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, làm cho cấp ủy các cấp phải nhận thức rõ, đầy đủ tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc tăng cường kiểm tra, giám sát người đứng đầu cũng như tập thể cấp ủy; thực hiện hiệu quả việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với tổ chức đảng cấp dưới; nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, ý thức rèn luyện, sự kiên định về lập trường tư tưởng và tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy trong mọi hoạt động của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị, địa phương(4).

Thứ tư, tăng cường thông tin định hướng dư luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; qua đó, ổn định tình hình tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân; xây dựng khối đoàn kết thống nhất, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ phải gắn chặt với yêu cầu theo dõi, nắm bắt kịp thời những thay đổi trong lĩnh vực tư tưởng, nhất là tư tưởng chính trị trong tổ chức đảng, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy.

Cần hết sức quan tâm công tác định hướng dư luận xã hội để tuyên truyền hiệu quả trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên trẻ - lực lượng tích cực nhất trên các kênh thông tin truyền thông xã hội hiện nay. Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời giúp họ có được nền tảng kiến thức, “sức đề kháng” để nhận diện rõ đúng - sai và không bị xúi giục, làm theo những tư tưởng, lối sống lệch lạc, xa lạ với truyền thống tư tưởng, văn hóa của dân tộc dẫn đến vi phạm về tư tưởng chính trị, hoặc “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, tiêu cực.

Cùng với đó, cần xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của báo cáo viên, dư luận viên về công tác KTGSKLĐ trên tất cả phương tiện truyền thông xã hội, nhất là không gian mạng. Đặc biệt, cần quan tâm đến việc phát huy vai trò của chuyên gia, người có uy tín, người ảnh hưởng lớn trên các phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là về công tác KTGSKLĐ, thông tin thời sự, kết luận của ủy ban kiểm tra các cấp về những vụ việc điển hình, kết quả các cuộc kiểm tra, giám sát trọng điểm có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, được dư luận xã hội quan tâm.

LHQ-ST

Yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng hiện nay

 Hiện nay, công tác tuyên truyền của Đảng nói chung và công tác tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ đang diễn ra trong bối cảnh sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn(2). Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ với nhiều thách thức to lớn, nhất là thách thức do các phương tiện truyền thông xã hội phát triển bùng nổ trên nền tảng công nghệ thông tin, tạo ra một không gian mạng rất khó kiểm soát. Thực tiễn này đặt ra những yêu cầu mới, nặng nề, phức tạp hơn đối với việc đổi mới hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ, nhằm góp phần củng cố, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, hạn chế vi phạm liên quan đến tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng các cấp; theo đó, cần tuân thủ một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thông tin, tuyên truyền, công tác tư tưởng gắn với hoạt động KTGSKLĐ. Đây là điều kiện tiên quyết về chính trị để bảo đảm an ninh tư tưởng, bảo đảm sự ổn định về chính trị trong nội bộ Đảng nói chung; bảo đảm sự thống nhất về nhận thức và hành động trong triển khai thực hiện hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ nói riêng; bảo đảm nguyên tắc, mục đích và sự kết hợp giữa tư tưởng với chính trị, kiên quyết xử lý nghiêm minh vi phạm, biểu hiện suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa vận động và đấu tranh.

Thông tin tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác KTGSKLĐ nói riêng phải có lập trường rõ ràng về đường lối chính trị, định hướng tuyên truyền và định hướng giá trị đúng đắn. Cần tăng cường định hướng, hướng dẫn tổ chức, tuyên truyền và tiến hành thực hiện hoạt động tuyên truyền để hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa luôn giữ vững địa vị chủ đạo; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, lấy trọng tâm, trọng điểm là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, vì mục tiêu phát triển của đất nước, gìn giữ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Muốn vậy, các cơ quan thông tin truyền thông phải đóng một vai trò quan trọng, là lực lượng chính yếu, tiên phong trong tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ, nhằm góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng thời kỳ mới, cũng như làm sáng tỏ đường lối, quan điểm, quy định của Đảng về xây dựng Đảng nói chung, KTGSKLĐ nói riêng.

Thứ hai, tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ cần bảo đảm tính khách quan, công minh, chính xác, kịp thời, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong toàn Đảng, ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ cần bám sát các chiến lược, chương trình hành động và mục tiêu, đối tượng của công tác KTGSKLĐ ở Trung ương và từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Phải lấy bài học, kinh nghiệm đúc rút ra từ các vụ việc kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên cũng như việc tổng kết về nguyên nhân, cảnh báo tình huống dễ xảy ra vi phạm và dự báo khó khăn, phức tạp trong quá trình phát hiện, xử lý vi phạm trong nội bộ Đảng và kinh nghiệm giải quyết, xử lý tình trạng vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên làm nội dung chính của hoạt động tuyên truyền. Lấy tổ chức đảng, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy, nhất là tổ chức đảng và đảng viên để xảy ra vi phạm làm đối tượng chính. Lấy phương châm ưu tiên phòng ngừa, ưu tiên “xây” trước “chống”. Lấy tư tưởng làm mặt trận tiên phong, đi trước đón đầu, định hướng nhận thức, hành động cho dư luận xã hội nói chung và tổ chức đảng, đảng viên nói riêng. Đồng thời, thông qua việc tuyên truyền thông tin trong hoạt động KTGSKLĐ, tạo không khí dân chủ, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội; tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, toàn diện.

Thứ ba, hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ cần kết hợp nhiều loại hình, phương pháp khác nhau, theo nguyên tắc phát huy tính ưu việt của các phương tiện thông tin truyền thống và tận dụng tối đa lợi thế của các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại, nhất là trên không gian mạng; ưu tiên các hình thức tuyên truyền đa dạng, hấp dẫn, có tính tương tác cao, nhằm tối đa hóa hiệu quả, sức tác động của thông tin đến các đối tượng, nhất là tổ chức đảng, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy.

Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và các ứng dụng của internet mang lại nhiều cơ hội phát triển cũng như những thách thức cho mọi lĩnh vực đời sống xã hội; trong đó, có hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội. Hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ cũng không nằm ngoài xu thế vận động này. Do đó, bên cạnh việc sử dụng các kênh thông tin truyền thống, như sách, báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình như trước đây, hoạt động tuyên truyền về công tác KTGSKLĐ cần nhanh chóng thích ứng, mở rộng kênh thông tin, tận dụng triệt để không gian mạng để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả hơn.

LHQ-ST