Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

NHẬN DIỆN NHÓM ĐỐI TƯỢNG ĐANG CHIA RẼ NHÂN DÂN VỚI ĐẢNG

 Mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng là mối quan hệ máu thịt, là nguồn sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của mối quan hệ này, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhân dân và Đảng. Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn là mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại, chia rẽ, với nhiều thủ đoạn, trong đó có việc tung tin, lan truyền các quan điểm sai trái, thù địch.

Có thể nhận diện ở 3 nhóm cơ bản sau:
Một là, nhóm những kẻ đang đại diện cho tư tưởng tư sản, cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chúng là những kẻ từng thất bại thảm hại trong chiến tranh với Việt Nam, song không từ bỏ âm mưu phá hoại sự nghiệp cách mạng XHCN của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân là tách người lãnh đạo với lực lượng cách mạng, là phương thức nhằm vô hiệu hóa vai trò của Đảng, làm tê liệt sức mạnh quần chúng. Âm mưu, thủ đoạn của chúng được thể hiện trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, từng chỉ là một kế hoạch nhằm chống lại những người đứng đầu và những quốc gia chống Mỹ hoặc không theo Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, với những “thành công” của kế hoạch ấy, “diễn biến hòa bình” được nâng tầm chiến lược, tấn công vào mọi thể chế chính trị trên thế giới, trên tất cả các lĩnh vực, với mục tiêu đánh đổ các thể chế cộng sản, dập tắt ý chí, sức mạnh của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định vị thế độc tôn, cường quốc, trên hết của nước Mỹ... Trên lĩnh vực tư tưởng, “Diễn biến hòa bình” khoét sâu mâu thuẫn giữa đảng cầm quyền, bộ máy nhà nước, cá nhân những người đứng đầu đảng, chính phủ với nhân dân trong các nước có tư tưởng chống Mỹ. Và chúng đã thành công ở nhiều nơi, gây sụp đổ hệ thống các nước XHCN ở Liên Xô, Đông Âu và bất ổn chính trị triền miên ở rất nhiều quốc gia đang phát triển... Nhưng chúng đã và đang thất bại ở Việt Nam. Vì lẽ đó, tiếp tục tập trung, bằng mọi thủ đoạn, để phá vỡ mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện là mũi tấn công mạnh mẽ mà các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện.
Hai là, nhóm những kẻ lựa chọn con đường đi ngược lại với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chúng là người Việt Nam, nhưng chọn chước “ôm chân đế quốc” - trong chiến tranh thì cầm súng chống lại đồng bào, trong hòa bình thì làm công cụ đắc lực cho “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ... Một bộ phận từng làm việc trong bộ máy chính quyền ngụy Sài Gòn, được người Mỹ nuôi dưỡng để phục vụ chiến tranh Việt Nam, sau ngày 30/4/1975 thì bỏ Tổ quốc ra đi. Trong đó, một số vì nuối tiếc lợi ích ngày xưa mà “uất hận”, muốn “phục quốc”. Một số nhận thức hạn chế, thiếu thức thời, bị bọn mưu “phục quốc” lừa gạt tham gia vào các tổ chức phản động, hoặc ủng hộ tiền của cho chúng.
Những kẻ mưu “phục quốc” được hưởng lợi rất nhiều từ nguồn lực tài chính của Chiến lược “Diễn biến hòa bình” để lập ra các tổ chức chính trị phản động. Chúng hoạt động ở nước ngoài, với danh nghĩa là các tổ chức dân sự, lồng mục tiêu chính trị vào các tổ chức văn hóa, giáo dục, kinh tế phi chính phủ (NGO). Chúng bí mật tổ chức đưa người về Việt Nam, thực hiện các hoạt động xây dựng lực lượng, lôi kéo, kích động quần chúng gây bất ổn xã hội, rồi tung tin Đảng, chính quyền đàn áp những người dân đang “nói lên tiếng nói đòi quyền lợi của mình”. Chúng tham gia vào một số dự án nhân đạo, dân sinh của NGO tại Việt Nam, tạo nên “tình cảm biết ơn” của một bộ phận dân chúng, mà “công đầu” thuộc về các tổ chức phản động ấy.
Ba là, nhóm những kẻ trong chiến tranh thì hèn nhát, trong hòa bình thì lười biếng, có điều kiện thì bán mình đổi lấy tiền tài, có cơ hội thì chui sâu, leo cao vào bộ máy Đảng, Nhà nước để trục lợi. Khi cơ chế thị trường được xác lập, chúng không nỗ lực lao động mà lợi dụng “mặt trái”, “sân sau”, sẵn sàng “đi đêm” để mưu toan lợi ích.
Chúng còn là “một bộ phận không nhỏ” trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước; có người từng vào sinh ra tử, là anh hùng trong chiến đấu, lao động sản xuất, là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, là nhà khoa học, chuyên gia có uy tín... Song vì nhiều lý do, chủ yếu là bị chủ nghĩa cá nhân chi phối dẫn đến tha hóa, biến chất, rồi sa ngã, bị mua chuộc, khống chế, lôi kéo... chống Đảng, Nhà nước, biểu hiện ra bên ngoài là thái độ bất mãn với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đòi “lật lại”, “xét lại” lịch sử dân tộc từ khi có Đảng...
Sự tồn tại của các lực lượng thù địch khi ẩn mình, lúc công khai, song tuyên truyền để chống phá mối quan hệ Đảng - Dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là mục tiêu thống nhất. Phương thức tuyên truyền khi theo chương trình, kế hoạch, với các luận điểm bài bản, lúc theo lối xuyên tạc, “nói lấy được”, phủ nhận sạch trơn, kích động, xúi giục gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ mà Đảng đang lãnh đạo nhân dân xây dựng. Khi hành động ra vẻ “trí thức góp ý cho Đảng” để “vì quyền lợi của dân chúng”, lúc huỵch toẹt hô hào, kích động người dân bạo loạn, tấn công, đập phá trụ sở, bắt giữ, thậm chí ra tay khủng bố, giết hại người của cơ quan công quyền; khi núp sau lưng các chính trị gia trên diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, lúc dàn hàng ngang một vài chục kẻ cầm cờ ba que, dương khẩu hiệu chống cộng...
Nhận diện các thế lực thù địch và các thủ đoạn chống phá, xây dựng luận cứ khoa học và thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái chia rẽ, phá hoại mối quan hệ mật thiết của Đảng với Nhân dân là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên và mỗi một người dân./.
St

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET, MẠNG XÃ HỘI

 Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dùng internet, mạng xã hội thuộc nhóm cao nhất trên thế giới. Internet và mạng xã hội giúp chúng ta có thể dễ dàng nắm bắt được các thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau, song đây cũng chính là công cụ được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước triệt để lợi dụng nhằm ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết làm rõ những thách thức trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ xu hướng phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội hiện nay, từ đó làm rõ những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

1. Xu hướng phát triển của internet, mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay và những thách thức với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Theo Báo cáo Tổng quan về internet và mạng xã hội 2023 (Digital 2023: Global Overview
Report) của tổ chức We Are Social, đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Số lượng người dùng mạng xã hội cũng khoảng 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Thời gian trung bình truy cập mạng xã hội là 2 tiếng 31 phút/người/ngày; 89,8% tổng số người dùng internet của Việt Nam đã sử dụng ít nhất một nền tảng mạng xã hội(1).
Sự gia tăng người dùng cũng như sự phổ biến của internet và mạng xã hội là một chỉ số đánh giá sự phát triển của internet và mạng xã hội ở Việt Nam thời gian qua nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro về an ninh mạng. Không gian mạng với đặc tính “ảo”, dễ ẩn danh, có tốc độ lan truyền nhanh đã trở thành công cụ đắc lực để những thế lực thù địch, các phần tử cơ hội phát tán tin giả, thông tin xấu, độc.
Một trong những phương thức mới, phổ biến nhất của “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiến hành đối với Việt Nam là tận dụng internet, mạng xã hội để tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên các phương diện cơ bản sau:
Một là, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách tung tin “hỏa mù” với hàng nghìn bài viết, phỏng vấn, thư ngỏ; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tô hồng, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ của các nước phương Tây nhằm hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo các nước tư bản chủ nghĩa.
Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lập các trang mạng để lôi kéo, mua chuộc một số cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lên tiếng nói xấu chế độ, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt thông tin về thân nhân, đời tư các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng.
Hai là, trên nhiều trang mạng xã hội, các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lợi dụng những khó khăn, hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội ở một số ngành, địa phương để xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Nhiều trang mạng trực tiếp công kích, đả phá, phủ nhận những thành tựu 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời khoét sâu, trầm trọng hóa về những khó khăn, hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị một số nơi để quy kết là bản chất của chế độ. Dưới nhiều hình thức “thư ngỏ” đăng tải tràn lan trên internet, mạng xã hội, nhiều phần tử cơ hội đã lên tiếng kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, lợi dụng internet và mạng xã hội để tán phát nhiều tài liệu tuyên truyền xuyên tạc các văn kiện, nghị quyết của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ bằng các chiến dịch truyền thông rầm rộ trên không gian mạng. Các thế lực thù địch tán phát nhiều tài liệu, bài viết trên mạng xã hội xuyên tạc lịch sử dân tộc, phủ nhận ý nghĩa các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam; lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm cũng như những tiêu cực, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là liên quan đến ngành công an, giáo dục, y tế, quản lý đất đai... ở một số địa phương để xuyên tạc chống phá.
Bốn là, triệt để sử dụng lực lượng “cộm cán”, cực đoan để tạo bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng dân tộc thiểu số. Lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo người dân tộc thiểu số tham gia các tổ chức, hội nhóm phản động; vượt biên trái phép sang Campuchia, Thái Lan để được hưởng quy chế tị nạn...
Nguy hại hơn, một số tổ chức phản động còn lợi dụng mạng xã hội để hướng dẫn “biểu tình online”, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền. Vụ việc xảy ra tại hai xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ngày 11-6-2023 vừa qua là kết quả của những hoạt động lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo, kích động biểu tình chống phá Đảng, chính quyền nhà nước.
Năm là, lợi dụng internet, mạng xã hội để hình thành và hậu thuẫn các hội, nhóm núp danh “xã hội dân sự” để gia tăng các hoạt động chống phá. Thời gian qua, các tổ chức phản động ngoài nước đã lợi dụng mạng xã hội để thiết lập các chương trình, dự án tài trợ liên quan đến sức khỏe cộng đồng, người yếu thế... nhằm thúc đẩy hình thành các hội, nhóm hoạt động bất hợp pháp, là cơ sở để phát triển các tổ chức “xã hội dân sự”, “bất tuân dân sự” ở Việt Nam. Đồng thời, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước Mỹ và phương Tây can thiệp, gây sức ép với Việt Nam về các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo...
Sáu là, gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Lợi dụng những sai phạm của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo cấp cao trong một số vụ án lớn như đại án Việt Á và CDC các địa phương, vụ án “chuyến bay giải cứu”... để lên tiếng cáo buộc “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự suy thoái, biến chất”. Chúng sử dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (ChatGPT, Midjourney, Deepfake...) để phát động hàng trăm chiến dịch truyền thông chống phá; đẩy mạnh đăng tải, tán phát tin bài, video xấu độc, bóp mép, quy chụp, gán ghép, suy diễn vô căn cứ tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại của Việt Nam...
Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên không gian mạng rất nguy hiểm, thâm độc, không thể coi thường, xem nhẹ. Nhận định về điều này, Đảng ta đã chỉ rõ: “Đối với Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Một số quốc gia đang bí mật triển khai các hoạt động trinh sát, giám sát, tình báo, bố trí hệ thống vũ khí mạng, sẵn sàng tiến công, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng”(2).
Tại Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Đảng ta nhận định, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động sẽ có những chiêu thức mới, thủ đoạn mới để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây được xác định là một thách thức rất lớn cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Do đó, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là một tất yếu khách quan, xuất phát từ đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.
2. Giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng
Trong thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, công cuộc đổi mới đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử song cũng còn tồn tại không ít hạn chế, thách thức như: tốc độ tăng trưởng chưa ổn định; một số hạn chế, vướng mắc trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, quản lý đất đai... chậm được giải quyết triệt để; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ cấp cao vẫn còn nghiêm trọng...
Lợi dụng tình hình đó, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3), “sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(4). Đó chính là một thách thức rất lớn đặt ra cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong thời gian tới.
Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tiễn trong thời gian tới, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt các chương trình, chiến lược quan trọng liên quan trực tiếp đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, như Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành theo Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ; Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định 127/QĐ-TTg ngày 26-01-2021 của Thủ tướng Chính phủ; trong đó quan tâm tập trung đầu tư phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại, chủ động tiếp cận với những công nghệ mới, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, làm chủ công nghệ hiện đại, tránh để bị động, bất ngờ trước những tình huống tấn công trên không gian mạng của các thế lực thù địch.
Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng do Việt Nam sản xuất, song song với việc làm chủ, quản lý các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng, dịch vụ do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp; đồng thời tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ, xử lý theo pháp luật đối với các nhà mạng và cá nhân lưu trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Thứ ba, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để kịp thời có phương án tổ chức đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.
Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, diễn đàn thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời. Chủ động triển khai hệ thống phòng thủ trên không gian mạng để kịp thời phát hiện và đập tan những cuộc xâm nhập, tấn công mạng, lan truyền tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng.
Thứ tư, tích cực sử dụng internet, mạng xã hội để triển khai tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch một cách kịp thời, hiệu quả nhất. Đồng thời, truyền tải các thông tin tích cực, tạo môi trường thông tin lành mạnh, góp phần ổn định dư luận, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, góp phần bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng. Xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các đợt cao điểm như: kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc; các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước như Đại hội Đảng, họp Quốc hội, bầu cử... để định hướng thông tin cho nhân dân; không bỏ trống trận địa thông tin khiến các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh để tung các thông tin sai trái.
Thứ năm, xây dựng và phát triển lực lượng tác chiến trên không gian mạng theo hướng tinh, gọn, mạnh để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Nghị định số 98/2015/NĐ-CP ngày 19-10-2015 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của lực lượng tác chiến không gian mạng đã chỉ rõ: “Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng chuyên trách thực hiện chức năng tác chiến không gian mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống”(5).
Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng đặc thù, có nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nên cần được tập trung xây dựng theo hướng tinh nhuệ, hiện đại, vững vàng về bản lĩnh chính trị, tinh thông về năng lực chuyên môn; có khả năng ứng phó và xử lý nhanh mọi tình huống, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Ngoài ra, lực lượng tác chiến trên không gian mạng cũng cần thường xuyên, tích cực phối hợp với các lực lượng khác như lực lượng nòng cốt của các cơ quan tuyên giáo, lực lượng chuyên gia của các cơ quan nghiên cứu lý luận và lực lượng thanh niên xung kích của các tổ chức đoàn, hội sinh viên để hiệp đồng tác chiến, tạo thành lực lượng đấu tranh rộng khắp trên không gian mạng.
Có thể nhận thấy, xu hướng phát triển của internet và mạng xã hội ở Việt Nam là tất yếu khách quan, phản ánh quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xu hướng đó một mặt tạo ra những thời cơ cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, song một mặt cũng tạo ra nhiều thách thức khó lường cho nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Do đó, cần phải có những thay đổi cả trong nhận thức và hành động để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tiễn.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với Việt Nam trong bối cảnh bùng nổ internet và mạng xã hội hiện nay./.
St

TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 55 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Ban Tuyên giáo Trung ương vừa ban hành Hướng dẫn số 161-HD/BTGTW về tuyên truyền kỷ niệm 55 thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2024) và 55 năm Ngày mất của Người (02/9/1969 – 02/9/2024).

Theo đó, công tác tuyên truyền nhằm ôn lại, khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc trong Di chúc, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc đối với Người; củng cố và bồi đắp niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng. Qua đó, góp phần cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ra sức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh theo tâm nguyện Di chúc của Người; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh.
Đồng thời đánh giá, tổng kết những thành tựu, bài học kinh nghiệm và biểu dương tập thể, cá nhân điển hình trong 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện trọn vẹn Di chúc của Người, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra.
Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu công tác tuyên truyền kỷ niệm cần được tiến hành bằng các hình thức sinh động, thiết thực, hiệu quả, bảo đảm đúng quy định, có trọng tâm, trọng điểm, mang tính giáo dục sâu sắc; kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị quan trọng của Đất nước, nhất là kỷ niệm 79 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, phù hợp với tình hình thực tế.
Về nội dung tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu ban tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, các ban, bộ, ngành địa phương tập trung tuyên truyền hoàn cảnh ra đời, nội dung cốt lõi và giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; khẳng định giá trị trường tồn của Di chúc, là văn kiện lịch sử cực kỳ quan trọng, là kết tinh tư tưởng, văn hóa, trí tuệ, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một bậc vĩ nhân, Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông đất nước ta.
Cùng với đó, tôn vinh và tri ân sâu sắc công lao, cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam; khẳng định cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, soi đường dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng và đất nước đi đến thắng lợi. Những thành tựu to lớn, bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam trong 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó tập trung tuyên truyền thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng Đảng thực sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh; những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Bên cạnh những nội dung trên, Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các đơn vị biểu dương tập thể, cá nhân điển hình trong thực hiện Di chúc và sơ kết 03 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đấu tranh, phản bác những thông tin, quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và phủ định ý nghĩa, giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, Di chúc nói riêng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm được Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu trong Hướng dẫn gồm: Tổ chức chương trình chính luận nghệ thuật trực tiếp; Biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền; Tổ chức triển lãm 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền ở Trung ương và địa phương bằng nhiều hình thức, như: trên báo chí, Internet và mạng xã hội; ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền; thông qua hội thảo, tọa đàm, hội nghị báo cáo viên, tuyên truyền viên và sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức chính trị - xã hội; các hoạt động cổ động trực quan (triển lãm, văn hóa - văn nghệ, thể thao…) tùy theo điều kiện cụ thể của các địa phương, đơn vị./.
ST

THÊM MỘT QUỐC GIA CÔNG NHẬN VIỆT NAM LÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

 Costa Rica là quốc gia thứ 73 công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp.

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết ngày 5/8, được sự đồng ý của ông Rodrigo Chaves, Tổng thống Costa Rica, Bộ trưởng Ngoại thương Costa Rica Manuel Tovar đã trực tiếp thông báo và trao Công hàm về việc Costa Rica công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường.
Như vậy, đến nay đã có 73 quốc gia công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, bao gồm các nền kinh tế lớn như Anh, Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc...
Costa Rica là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD - Tổ chức gồm 38 quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới).
Bộ Công Thương đánh giá việc Costa Rica trao Công hàm công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp là động thái tích cực. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đề nghị một số đối tác thương mại công nhận quy chế kinh tế thị trường.
"Costa Rica công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường phản ánh đúng thực tế về những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Đồng thời sẽ góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế, thương mại song phương giữa hai quốc gia", lãnh đạo Bộ Công Thương đánh giá.
Trước đó, ngày 2/8, Bộ Thương mại Mỹ tiếp tục chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường dù ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực.
Thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết sẽ nghiên cứu, phân tích các lập luận trong Báo cáo đánh giá nền kinh tế Việt Nam của Bộ Thương mại Mỹ. Sau đó, cơ quan này sẽ bổ sung, hoàn thiện lập luận để gửi hồ sơ yêu cầu phía Mỹ xem xét lại quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam./.
St

Quy định 144-QĐ/TW: Tinh thần phụng sự, cống hiến vì lợi ích chung

 Ngày 9/5/2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới. Cán bộ, đảng viên tỉnh Đồng Nai cùng chung nhận định, trước đây Đảng đã có nhiều quy định về phẩm chất của cán bộ, đảng viên nhưng Quy định 144 có nhiều điểm mới, đặc biệt.

những nội dung trong Quy định 144 đã được thể hiện một cách khái quát trong Điều lệ Đảng về phẩm chất chính trị, trách nhiệm của Đảng viên. Ngoài ra, trong từng tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước đều xây dựng quy chế hoạt động; Đảng cũng có quy định rất chi tiết và cụ thể về 19 điều Đảng viên không được làm.
Bộ Chính trị ban hành Quy định 144 là cần thiết, kịp thời, xuất phát từ thực tiễn xã hội, đặc biệt từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới, đã xuất hiện hiện tượng cán bộ, đảng viên, đặc biệt những đảng viên giữ cương vị lãnh đạo không giữ được đạo đức và văn hóa, phẩm chất chính trị, sa vào lối sống thực dụng, ham mê quyền lợi vật chất. Những tiêu cực, vi phạm lớn được phát hiện trong lĩnh vực kinh tế đều có sự móc nối giữa doanh nghiệp với những đảng viên thực hiện quyền lực chính trị. Tình trạng lạm dụng quyền lực để trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm và có khi trục lợi cả chính sách đã ảnh hưởng xấu đến đường lối, chủ trương và uy tín của Đảng, Nhà nước. Thực tiễn đó đòi hỏi Đảng phải có một quy định rõ ràng, cụ thể về vai trò, trách nhiệm, những việc được làm, không được làm, nhằm kiểm soát quyền lực của đảng viên (chủ yếu là đảng viên giữ cương vị lãnh đạo).
Quy định 144 còn góp thêm một nội dung cần thiết để thực hiện việc mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hay nhắc đó là chống “diễn biến tư tưởng” bằng những hành vi cụ thể, "nhốt quyền lực trong lòng thể chế", phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong Đảng, Nhà nước.
5 điều quy định trong Quy định 144 là 5 yếu tố căn bản thể hiện bản chất của tổ chức Đảng và đảng viên phải có, thể hiện bản lĩnh chính trị và đạo đức đảng viên. Bản lĩnh chính trị của tổ chức Đảng được thể hiện qua bản lĩnh chính trị của từng đảng viên, đặc biệt đảng viên là người lãnh đạo, làm gương cho các đảng viên khác. Có thể nói Quy định 144 là “bảo bối” gối đầu giường cho đảng viên ở bất kỳ cương vị nào.
Tổ chức Đảng mạnh chính là nhờ có tập thể đảng viên vững vàng về lập trường chính trị, thống nhất về quan điểm, mục tiêu đường lối của Đảng. Điều này thể hiện bằng việc từng đảng viên phải gương mẫu, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được phân công, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân; không vụ lợi cho bản thân, gia đình, người thân; không lợi dụng chức quyền để móc ngoặc làm lợi cho mình; không tham nhũng, làm trái bất chấp hậu quả chính trị cũng như quy chuẩn đạo đức cộng đồng. Đồng thời đảng viên phải biết lắng nghe, sửa sai, biết thực hiện “văn hóa chính trị” từ chức khi thấy việc làm của mình ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Đảng, gây mất lòng tin trong nhân dân. Có thể coi đây là điểm mới để khẳng định “Đảng ta là đạo đức, Đảng ta là văn minh”.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước triển khai sâu rộng việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần đi vào thực chất, tránh hình thức, học cho có để báo cáo trong sinh hoạt, trong tổng kết phân loại đảng viên. Chủ tịch Hội Sử học Đồng Nai nhận định, những điều trong Quy định 144 chính là sự cụ thể hóa việc học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, "nói phải đi đôi với làm". Ông cha ta thường dạy trước khi nói phải uốn lưỡi 7 lần là thế. Lời nói, lời hứa vượt ra ngoài khả năng thực hiện trong điều kiện khách quan và chủ quan chưa đáp ứng được, vượt ra ngoài khả năng quyền lực của mình thì đừng. Bởi khi đã hứa nhưng không làm được sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm sa sút niềm tin của nhân dân.
Những điều nêu trong Quy định 144 có thể nói là cơ sở để chuẩn bị cho nhân sự tại Đại hội Đảng các cấp sắp tới. Công tác nhân sự phải hết sức cẩn trọng, chọn người vừa có đức vừa có tâm và tài. Theo ông Trần Quang Toại, việc chọn người bầu vào Ban Chấp hành các cấp là việc nội bộ của Đảng, nhưng để thực hiện tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh, ngoài thực hiện công khai dân chủ trong nội bộ Đảng, cũng nên thăm dò ý kiến nhân dân thông qua tổ chức Mặt trận và các đoàn thể chính trị để đánh giá đúng người, bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói “Hỏi nhân dân là biết hết”.
Trước đây Đảng đã có nhiều quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, Quy định 144 nhấn mạnh hơn, khẳng định rõ 5 lĩnh vực là những điều đảng viên bắt buộc phải làm, phải xem đây là "5 lời thề" trước khi vào Đảng, mọi đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải ghi nhớ, thực hiện. Quy định 144 còn là cẩm nang, hành trang của đảng viên trên con đường làm cách mạng của bản thân, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi đảng viên phải thực hiện 7 dám “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung”. Quy định 144 ra đời hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, phù hợp thực tế khách quan, đúng thời điểm. Bởi đây là lúc Đảng đẩy mạnh chống tham nhũng, chỉnh đốn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đảng, Nhà nước cần gắn chặt việc thực hiện Quy định 144 với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt là từ các Chi bộ; gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng của đảng viên, các cấp ủy trong công tác nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030./.
St

VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH PHẢI TRỞ THÀNH NHU CẦU VĂN HÓA TỰ THÂN

 Cùng với tiến trình đổi mới, Đảng nhận thức ngày càng đầy đủ về nội dung và giá trị của di sản Hồ Chí Minh. Việc chuyển từ “vận động” sang “đẩy mạnh” việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chuyển từ học tập đạo đức Hồ Chí Minh sang học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ điều đó. Sự cần thiết, nhất thiết phải làm cho việc này trở thành nhu cầu văn hóa tự thân xuất phát từ các lý do sau.

Thứ nhất, chỉ những gì thuộc về văn hóa, mang đặc tính, giá trị của văn hóa mới có khả năng tồn tại và phát triển.
Nói về giá trị soi chiếu, dẫn dắt của văn hóa, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), Hồ Chủ tịch đã nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Bản thân Hồ Chủ tịch là một hiện tượng văn hóa độc đáo và chính Người đã kiến tạo nền văn hóa mới, nền đạo đức mới - “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”. Vì thế, hãy để văn hóa Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và dân tộc ta đi với điều kiện là mỗi con người Việt Nam phải tự giác “mở lòng” để đón nhận ánh sáng đó.
Thứ hai, hành động của con người sẽ trở nên tự giác, bền bỉ nếu xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Hồ Chí Minh từng nói về cách thức tuyên truyền: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì ích lợi của họ mà phải làm”. “Duy lợi” và “hướng thiện” là đặc tính con người. Bản thân cán bộ và nhân dân cũng mưu cầu sự thành đạt, hạnh phúc, có được sự tôn trọng của xã hội, sự tin cậy của tập thể, vươn tới sự hoàn thiện về nhân cách; bản thân Đảng muốn xây dựng đội ngũ cán bộ, con người Việt Nam mạnh từ “gốc”. Cái “gốc” đó chính là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - sự kết tinh của các giá trị văn hóa - đạo đức. Khi mỗi cá nhân và tập thể thấu hiểu rằng, sự nỗ lực học và làm theo Bác sẽ giúp họ đạt các mục đích đó thì họ sẽ kiên trì, tự giác học tập và nỗ lực biến nhận thức, tình cảm thành hành vi, phẩm hạnh, lối sống theo hình mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ ba, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân sẽ góp phần tạo dựng văn hóa Đảng, qua đó chấn hưng văn hóa dân tộc.
Khi Hồ Chí Minh viết “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là Người muốn khẳng định đặc tính đạo đức và văn hóa của Đảng. Người cũng cho rằng, văn hóa không thể đứng ngoài mà “phải ở trong kinh tế và chính trị” mà Đảng là một tổ chức chính trị, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, tất yếu Đảng phải trở thành biểu tượng của văn hóa với tầm cao trí tuệ và đạo đức. Kế thừa quan điểm của Hồ Chí Minh, xây dựng văn hóa trong Đảng đã từng bước được Đảng đề cập. Đại hội XIII nhấn mạnh phải “xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí” trong cán bộ đảng viên, công chức, viên chức. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói rõ yêu cầu “đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hóa tinh thần trong Đảng, tạo dấu ấn rõ rệt về xây dựng văn hóa Đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh””. “Lấy cái đẹp để dẹp cái xấu, lấy ánh sáng để đẩy lùi bóng tối” là quy luật của phát triển nên thúc đẩy cán bộ, đảng viên học tập và làm theo văn hóa Hồ Chí Minh để góp phần xây dựng văn hóa Đảng là hướng đi đúng đắn. Do vai trò tiên phong và lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với dân tộc, việc chấn hưng đạo đức trong Đảng và xây dựng văn hóa Đảng sẽ là tiền đề để chấn hưng đạo đức và văn hóa dân tộc.
Thứ tư, đưa học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân của mỗi người sẽ khắc phục được các hạn chế trong thực thi nhiệm vụ này.
Tính từ khi chỉ thị 06-CT/TW (năm 2006) về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra đời, đến nay, việc học tập và làm theo Bác đã diễn ra gần 2 thập kỷ và từng bước đi vào nền nếp, trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên của các tổ chức Đảng. Đảng đã nhận thức rõ về mối quan hệ biện chứng giữa “học tập”, “làm theo” và “nêu gương”. Dù vậy, việc học tập và làm theo Bác vẫn tồn tại không ít hạn chế. Vì thế, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân sẽ góp phần khắc phục các điểm hạn chế, đưa việc học tập, làm theo Bác đi vào thực chất, hiệu quả./.
St

“KHÁT VỌNG TUỔI TRẺ - SÁNG MÃI NGỌN LỬA BA SẴN SÀNG”

 Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội vừa xây dựng Đề án tổ chức chương trình chính luận nghệ thuật “Khát vọng tuổi trẻ - Sáng mãi ngọn lửa Ba sẵn sàng”.

Hoạt động này thực hiện chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh, thiếu nhi Thủ đô năm 2024; Kế hoạch số 157/KH-UBND của UBND thành phố Hà Nội về việc tổ chức Hành trình tuổi trẻ “Tiếp lửa truyền thống - Cống hiến tương lai”, chào mừng 60 năm phong trào Ba sẵn sàng (1964-2024), 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024).
Theo đó, chương trình chính luận nghệ thuật “Khát vọng tuổi trẻ - Sáng mãi ngọn lửa Ba sẵn sàng” được truyền hình trực tiếp trên Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, nối sóng tại điểm cầu chính: Quảng trường Cách mạng Tháng Tám và điểm cầu vệ tinh tại Nhà máy xe lửa Gia Lâm.
Tại chương trình, khán giả không chỉ được thưởng thức trình diễn nghệ thuật đặc sắc mà còn được giao lưu với nhân chứng lịch sử phong trào “Ba sẵn sàng”; tặng quà tri ân các nhân chứng lịch sử thời kỳ “Ba sẵn sàng”. Chương trình dự kiến có sự tham gia của hơn 2.000 đoàn viên, thanh niên và nhân dân Thủ đô.
Để chào mừng 60 năm phong trào “Ba sẵn sàng” và 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, trước đó, Thành đoàn Hà Nội ban hành kế hoạch tuyên truyền và tổ chức các hoạt động kỷ niệm, nhằm giáo dục cho thanh, thiếu nhi Thủ đô về truyền thống cách mạng vẻ vang của dân tộc, Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến - anh hùng. Từ các hoạt động góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, bồi đắp niềm tin của tuổi trẻ, nhân dân vào sự nghiệp đổi mới Thủ đô và đất nước.
Cụ thể hóa các mục tiêu trên, Thành đoàn Hà Nội cho ra mắt bộ ấn phẩm tuyên truyền (infographic) về 60 năm phong trào Ba sẵn sàng; triển khai tuyên truyền đồng bộ trên mạng xã hội của các cấp bộ Đoàn. Bên cạnh đó, Thành đoàn Hà Nội tổ chức cuộc thi trực tuyến: Tìm hiểu lịch sử 60 năm phong trào “Ba sẵn sàng".
Đây cũng là hoạt động tạo không khí thi đua sôi nổi trong đoàn viên, thanh niên Thủ đô noi gương các thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” thời kỳ trước, tiếp nối tới “Thanh niên tình nguyện” và các phong trào hành động cách mạng tiêu biểu khác./.
St

CHIẾC ÁO BẰNG BAO TẢI THÔ VÀ TẬP THƠ "SỐNG TRONG M.Ồ"

 Ở vị trí trang trọng trong Bảo tàng Tổng cục II (Bộ Quốc phòng) trưng bày hai hiện vật: Chiếc bao tải thô và tập thơ "Sống trong m.ồ". Đây là hai kỷ vật của Đại tá Nguyễn Minh Vân, nguyên chiến sĩ tình báo quốc phòng.

Ông Nguyễn Minh Vân tên thật là Nguyễn Đình Quảng, quê ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tháng 9-1945, ông là Trưởng ban Tuyên truyền Giải phóng quân tại Đà Nẵng. Năm 1949, ông phụ trách Phòng Cán sự điệp báo, Cục Tình báo. Năm 1956, ông được tổ chức giao nhiệm vụ nắm mạng lưới tình báo ở miền Trung, sau đó chuyển vào miền Nam để nắm mạng lưới nội tuyến cao cấp. Tháng 11-1957, ông bị địch bắt. Bọn chúng giam cầm ông ở nhiều nơi và tra tấn dã man. Tháng 11-1961, chúng đầy ông tới nhà tù “chín hầm”, được coi là tử ngục của quân ngụy, vì đã vào là cầm chắc cái chết.
Trong thời gian bị giam cầm, ông Nguyễn Minh Vân đã sử dụng chiếc bao tải mà địch quăng cho người tù, để làm chiếc áo mặc (vì quần áo đang mặc đã mục và rách). Cũng thời gian này, từ lòng căm thù đối với kẻ thù và nỗi xót thương, cảm phục những đồng chí đã anh dũng hy sinh, ông tự sáng tác, ghi nhớ, học thuộc lòng 3.000 câu thơ.
Khi Ngô Đình Diệm bị đảo chính, Nguyễn Minh Vân và hai người tù còn sống sót ở nhà tù “chín hầm” được quân đảo chính chuyển về Nhà tù Lao Xá Ty công an Thừa Thiên. Chi bộ Nhà tù Lao Xá khi biết chuyện ông Minh Vân làm thơ dưới ngục "chín hầm", các đồng chí đã dùng mọi cách qua mắt địch để giúp ông chép lại những câu thơ mà ông đã ghi sâu trong trí nhớ. Ròng rã 3 ngày, ông đã chép lại 3.000 câu thơ và bản thảo nhanh chóng được chuyển ra vùng tự do để làm tài liệu tuyên truyền đấu tranh cách mạng.
Thời gian ở Nhà tù Lao Xá, vì không khai thác được gì ở người cán bộ tình báo kiên trung và không đủ hồ sơ luận tội, địch chuyển ông trở lại Sài Gòn. Sau đó, chúng buộc phải trả tự do cho ông Nguyễn Minh Vân vào ngày 23-5-1964. Rời khỏi nhà tù của địch, ông đã gửi lại chiếc áo cho người em ruột của mình ở Sài Gòn để tiếp tục tham gia cách mạng. Còn bản thảo tập thơ đã được Nhà xuất bản Văn học cho in tập I “Sống trong mồ", năm 1973, phục vụ đấu tranh chính trị ở miền Nam.
Nội dung tác phẩm "Sống trong m.ồ" phản ánh phẩm chất cao quý của người đảng viên, người chiến sĩ tình báo chiến đấu vì lý tưởng cộng sản; là bản chính khí ca thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Năm 2002, tập thơ đã được tái bản có bổ sung./.
St

BÁC HỒ LÀ THẾ ĐẤY!

 Thời chống Mỹ, một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá nặng.

- Thưa Bác, cháu xin thay mặt bà con ở địa phương lên thăm sức khỏe Bác và có ít cá mới đánh đem lên biếu Bác. Cá loại này là cá tiến nổi tiếng ở đầm Dạ Trạch đấy ạ!
- Thưa cụ, cụ ngang tuổi tôi, xin cụ đừng xưng hô như thế!
- Vâng, nếu cụ cho phép….
- Ao nhà ta có rộng không mà cụ thả được nhiều cá vậy?
- Dạ, thưa cụ, đây là cá của hợp tác xã.
- Cá của hợp tác xã là tài sản chung, của bà con, phải để bà con dùng chứ!
- Thưa cụ, nhờ có ông lãnh đạo tỉnh giao cho nên lần đầu tiên tôi mới được gặp Cụ Chủ tịch nước, thật may mắn cho tôi quá. Còn cá, đã trót mang lên đây rồi, xin Cụ vui lòng nhận cho, chúng tôi khỏi phải đem về.
Hồ Chủ tịch cho mời ông cán bộ phụ trách nhà bếp lên gặp Người.
- Loại cá này ở chợ Bắc Qua bán bao nhiêu một cân?
- Thưa Bác, một cân giá..
- Vậy chú cân lên xem tất cả là bao nhiêu cân, coi như nhập vào nhà bếp của cơ quan. Và chú tính xem bao nhiêu tiền để gửi cụ cầm về.
Quay sang vị khách quý Hưng Yên, Hồ Chủ tịch ân cần nói:
- Tôi xin đa tạ tấm lòng của cụ và bà con xã nhà đối với tôi. Quà cụ và bà con cho, tôi nhận rồi, còn đây là số tiền tôi gửi cụ đem về nộp vào quỹ hợp tác xã./.
St

Thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc

Ngày 2/8/2024, Bộ Thương mại Mỹ công bố về việc tiếp tục chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường (KTTT) ở Việt Nam. Theo đó, dù có ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua nhưng cơ quan này vẫn tiếp tục chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền KTTT.

Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất, phủ định thành tựu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Trên các trang tin của những hội nhóm, tổ chức phản động còn tiến hành “tọa đàm, hội luận”, khoe thành quả về các hoạt động vận động, lên tiếng, thúc giục, kêu gọi các tổ chức, cá nhân có tiếng nói gây sức ép lên chính quyền Mỹ từ chối công nhận quy chế nền KTTT ở Việt Nam. VOA tiếng Việt rêu rao “Hàng chục nhà lập pháp Mỹ trong những lần khác nhau đã gửi thư lên Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo để yêu cầu bộ này không cấp quy chế thị trường cho Việt Nam”; BBC Tiếng Việt thì vu cáo “Nguyên nhân Mỹ từ chối nâng cấp Việt Nam lên nền KTTT do nhà nước Việt Nam vẫn can thiệp sâu vào mọi khía cạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống tư pháp và tệ nạn tham nhũng”. “Té nước theo mưa”, trên Fanpage Việt Tân bôi nhọ rằng, “cứ như thế này thì dân tộc Việt Nam làm sao ngóc đầu nổi”; “Mỹ công bố xếp hạng Việt Nam vào diện nền kinh tế phi thị trường nói lên điều gì”? Để làm nóng sự kiện, Việt Tân còn tổ chức livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn cái mác như chuyên gia, luật sư, tiến sĩ. Mục đích không gì khác của chiêu trò này là bôi đen, đả phá nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cổ xúy việc Mỹ chưa công nhận quy chế KTTT cho Việt Nam. Một số phần tử phản động lưu vong cũng nhân cơ hội này lấy làm hả hê, xuyên tạc “độc tài thì làm gì có cơ chế KTTT”, “muốn có KTTT phải đa nguyên, đa đảng”.

Những luận điệu trên cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; cố tình thổi phồng sự việc, gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Ngày 3/8, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiếp tục xác định Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Bà Phạm Thu Hằng cho biết, trong thời gian qua, các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực phối hợp với Bộ Thương mại Hoa Kỳ cung cấp nhiều lập luận thuyết phục khẳng định kinh tế Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ 6 tiêu chí KTTT theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ. Điều này cũng được nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia Hoa Kỳ và quốc tế ủng hộ. Trên thực tế, đến nay, có 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận những bước tiến vượt bậc của kinh tế Việt Nam. “Trên tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện cam kết về việc phối hợp rộng rãi, mạnh mẽ, mang tính xây dựng và tiến tới sớm công nhận quy chế KTTT của Việt Nam. Các cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đối tác Hoa Kỳ bảo đảm quan hệ kinh tế, thương mại song phương tiếp tục phát triển ổn định, hài hòa, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước”./.

 

Ngăn chặn “virus lừa phỉnh" đội lốt nhân quyền ghi tại một số tỉnh miền núi

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đây là một trong những căn cứ phản bác những xuyên tạc, bóp méo của thế lực thù địch về những đánh giá chủ quan, phiến diện, sai lệch về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và cũng là lời khẳng định rõ ràng nhất Việt Nam không bao giờ chấp nhận và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu, đánh giá chủ quan, phiến diện, không có cơ sở về nhân quyền.

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15/3/2018 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” và chủ trương “tăng cường cơ sở”, xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy, thời điểm ban đầu gần 5.000 cán bộ Công an chính quy trên cả nước đã được phân công về đảm nhiệm các chức danh Công an xã, đặt những nền móng đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng cấp Công an xã, thị trấn chính quy trên toàn quốc.

Qua công tác trinh sát, nắm tình hình, lực lượng Công an đã phát hiện, nắm rõ các đối tượng cốt cán trong tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, từ đó thực hiện các biện pháp vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng này. Lực lượng Công an cũng bám dân, bám bản, nắm chắc địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân; kiên quyết đấu tranh với các đối tượng có hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

Trong những năm qua tỉnh Sơn La đã thực hiện tốt việc “Huy động nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2021 - 2025” để xóa nhà tạm cho hơn 8.300 hộ. Ông Đặng Ngọc Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết: “Phải khẳng định xóa nhà tạm với các hộ nghèo là một trong những chủ trương lớn của Nhà nước, của tỉnh, là một quan điểm nhân văn của Đảng, nhà nước ta, vì người nghèo đã xuất phát điểm thấp, nên có “an cư” mới “lạc nghiệp”. Do vậy việc xóa nhà tạm là một bước giúp các hộ thoát “nghèo bền vững”.

Nhiều chủ trương được thực hiện có hiệu quả tại vùng cao như: Chính sách hỗ trợ người nghèo trong vùng đồng bào DTTS theo tinh thần Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, Nghị định số 28/2022/NĐ-CP ngày 26/4/2022 của Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030./.

Sưu tầm

Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bài học “Dân là gốc”, “Nước lấy dân làm gốc” và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh Nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, văn kiện Đại hội Đảng qua các thời kỳ luôn khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân - nền tảng của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, qua gần 40 năm đổi mới, những bài học về “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng được Đảng ta bồi đắp, hoàn thiện hơn cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

Quan niệm về “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm rất rộng, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa là mỗi con người Việt Nam cụ thể. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân là mọi người dân nước Việt, là mỗi người “con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu - nghèo, quý - tiện, trong đó công - nông chiếm tuyệt đại đa số - đó là nền tảng của quốc dân. Người thường gọi Nhân dân bằng nhiều cách gọi khác nhau, như “dân”, “dân ta”, “dân chúng” hay “đồng bào”, thể hiện sự gần gũi và dễ hiểu. Trong nhiều bài viết, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, sức mạnh của Nhân dân, căn dặn “Đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”1, bởi “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Đó là lời nói chí lý của thánh hiền đời xưa”

Trải qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn. Có được những thành tựu đó là nhờ sự kiên trì tư tưởng “trọng dân” và vận dụng sáng tạo bài học “Dân là gốc”, “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để huy động sức mạnh Nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trải qua các nhiệm kỳ, trong văn kiện Đại hội, Đảng ta đều tập trung nhấn mạnh vị trí, vai trò quan trọng của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội, Đảng ta xác định vị trí trung tâm, vai trò chủ thể của Nhân dân với phương hướng “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của Nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội”6; “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước”7. Có thể thấy, tại Đại hội XIII của Đảng, quan điểm này được thể hiện nhất quán, xuyên suốt và bao trùm trong văn kiện, trên tất cả các nội dung, lĩnh vực, từ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đến việc tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, để thực hiện quan điểm này một cách hiệu quả, thiết thực, Đại hội XIII đã cụ thể hóa thành những phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp có tính tổng thể, bao trùm và liên quan trực tiếp đến lợi ích “thụ hưởng” của mọi người dân. Điều đó thể hiện tính ưu việt, nổi trội và bản chất tốt đẹp, nhân văn của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn đó chính là kết quả của ý chí, quyết tâm cao, sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Với các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung nhiều nội dung mới, tập trung đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật; thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, trong đó Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt. Văn kiện Đại hội XIII cũng xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện trong tình hình mới.

Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Đảng đã chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. 94 năm có Đảng, qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước là chặng đường vinh quang với sự thể hiện sinh động sự gắn kết Đảng với Nhân dân là một, thực tiễn đã chứng minh, đây không phải là khẩu hiệu mà là bản chất mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân - “ý Đảng, lòng Dân”. Nhân dân luôn là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng và thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thông qua mối quan hệ này, Đảng đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của Nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền; tập hợp, phát huy được sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của Nhân dân để thực hiện công cuộc đổi mới ngày càng hiệu quả, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Xuất phát từ thực tiễn, từ nhu cầu, nguyện vọng của Nhân dân, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để xây dựng, củng cố mối quan hệ mật thiết với Nhân dân, dựa vào Dân để xây dựng Đảng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cội nguồn của các thành tựu đó là do Ðảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với xu thế, quy luật vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị một Đảng lãnh đạo, cầm quyền; phù hợp với lợi ích, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Sưu tầm