Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET, MẠNG XÃ HỘI

 

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dùng internet, mạng xã hội thuộc nhóm cao nhất trên thế giới. Internet và mạng xã hội giúp chúng ta có thể dễ dàng nắm bắt được các thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau, song đây cũng chính là công cụ được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước triệt để lợi dụng nhằm ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết làm rõ những thách thức trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ xu hướng phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội hiện nay, từ đó làm rõ những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
1. Xu hướng phát triển của internet, mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay và những thách thức với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Theo Báo cáo Tổng quan về internet và mạng xã hội 2023 (Digital 2023: Global Overview
Report) của tổ chức We Are Social, đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Số lượng người dùng mạng xã hội cũng khoảng 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Thời gian trung bình truy cập mạng xã hội là 2 tiếng 31 phút/người/ngày; 89,8% tổng số người dùng internet của Việt Nam đã sử dụng ít nhất một nền tảng mạng xã hội(1).
Sự gia tăng người dùng cũng như sự phổ biến của internet và mạng xã hội là một chỉ số đánh giá sự phát triển của internet và mạng xã hội ở Việt Nam thời gian qua nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro về an ninh mạng. Không gian mạng với đặc tính “ảo”, dễ ẩn danh, có tốc độ lan truyền nhanh đã trở thành công cụ đắc lực để những thế lực thù địch, các phần tử cơ hội phát tán tin giả, thông tin xấu, độc.
Một trong những phương thức mới, phổ biến nhất của “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiến hành đối với Việt Nam là tận dụng internet, mạng xã hội để tiến hành chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên các phương diện cơ bản sau:
Một là, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách tung tin “hỏa mù” với hàng nghìn bài viết, phỏng vấn, thư ngỏ; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tô hồng, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ của các nước phương Tây nhằm hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo các nước tư bản chủ nghĩa.
Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lập các trang mạng để lôi kéo, mua chuộc một số cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lên tiếng nói xấu chế độ, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt thông tin về thân nhân, đời tư các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng.
Hai là, trên nhiều trang mạng xã hội, các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lợi dụng những khó khăn, hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội ở một số ngành, địa phương để xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Nhiều trang mạng trực tiếp công kích, đả phá, phủ nhận những thành tựu 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; đồng thời khoét sâu, trầm trọng hóa về những khó khăn, hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị một số nơi để quy kết là bản chất của chế độ. Dưới nhiều hình thức “thư ngỏ” đăng tải tràn lan trên internet, mạng xã hội, nhiều phần tử cơ hội đã lên tiếng kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, lợi dụng internet và mạng xã hội để tán phát nhiều tài liệu tuyên truyền xuyên tạc các văn kiện, nghị quyết của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ bằng các chiến dịch truyền thông rầm rộ trên không gian mạng. Các thế lực thù địch tán phát nhiều tài liệu, bài viết trên mạng xã hội xuyên tạc lịch sử dân tộc, phủ nhận ý nghĩa các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam; lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm cũng như những tiêu cực, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là liên quan đến ngành công an, giáo dục, y tế, quản lý đất đai... ở một số địa phương để xuyên tạc chống phá.
Bốn là, triệt để sử dụng lực lượng “cộm cán”, cực đoan để tạo bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng dân tộc thiểu số. Lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo người dân tộc thiểu số tham gia các tổ chức, hội nhóm phản động; vượt biên trái phép sang Campuchia, Thái Lan để được hưởng quy chế tị nạn...
Nguy hại hơn, một số tổ chức phản động còn lợi dụng mạng xã hội để hướng dẫn “biểu tình online”, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền. Vụ việc xảy ra tại hai xã Ea Ktur và Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ngày 11-6-2023 vừa qua là kết quả của những hoạt động lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo, kích động biểu tình chống phá Đảng, chính quyền nhà nước.
Năm là, lợi dụng internet, mạng xã hội để hình thành và hậu thuẫn các hội, nhóm núp danh “xã hội dân sự” để gia tăng các hoạt động chống phá. Thời gian qua, các tổ chức phản động ngoài nước đã lợi dụng mạng xã hội để thiết lập các chương trình, dự án tài trợ liên quan đến sức khỏe cộng đồng, người yếu thế... nhằm thúc đẩy hình thành các hội, nhóm hoạt động bất hợp pháp, là cơ sở để phát triển các tổ chức “xã hội dân sự”, “bất tuân dân sự” ở Việt Nam. Đồng thời, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước Mỹ và phương Tây can thiệp, gây sức ép với Việt Nam về các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo...
Sáu là, gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Lợi dụng những sai phạm của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo cấp cao trong một số vụ án lớn như đại án Việt Á và CDC các địa phương, vụ án “chuyến bay giải cứu”... để lên tiếng cáo buộc “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự suy thoái, biến chất”. Chúng sử dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (ChatGPT, Midjourney, Deepfake...) để phát động hàng trăm chiến dịch truyền thông chống phá; đẩy mạnh đăng tải, tán phát tin bài, video xấu độc, bóp mép, quy chụp, gán ghép, suy diễn vô căn cứ tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại của Việt Nam...
Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên không gian mạng rất nguy hiểm, thâm độc, không thể coi thường, xem nhẹ. Nhận định về điều này, Đảng ta đã chỉ rõ: “Đối với Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Một số quốc gia đang bí mật triển khai các hoạt động trinh sát, giám sát, tình báo, bố trí hệ thống vũ khí mạng, sẵn sàng tiến công, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng”(2).
Tại Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Đảng ta nhận định, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động sẽ có những chiêu thức mới, thủ đoạn mới để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây được xác định là một thách thức rất lớn cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Do đó, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là một tất yếu khách quan, xuất phát từ đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.
2. Giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng
Trong thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, công cuộc đổi mới đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử song cũng còn tồn tại không ít hạn chế, thách thức như: tốc độ tăng trưởng chưa ổn định; một số hạn chế, vướng mắc trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, quản lý đất đai... chậm được giải quyết triệt để; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ cấp cao vẫn còn nghiêm trọng...
Lợi dụng tình hình đó, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3), “sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(4). Đó chính là một thách thức rất lớn đặt ra cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong thời gian tới.
Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tiễn trong thời gian tới, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt các chương trình, chiến lược quan trọng liên quan trực tiếp đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, như Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành theo Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ; Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định 127/QĐ-TTg ngày 26-01-2021 của Thủ tướng Chính phủ; trong đó quan tâm tập trung đầu tư phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại, chủ động tiếp cận với những công nghệ mới, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, làm chủ công nghệ hiện đại, tránh để bị động, bất ngờ trước những tình huống tấn công trên không gian mạng của các thế lực thù địch.
Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng do Việt Nam sản xuất, song song với việc làm chủ, quản lý các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng, dịch vụ do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp; đồng thời tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ, xử lý theo pháp luật đối với các nhà mạng và cá nhân lưu trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, nói xấu, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Thứ ba, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để kịp thời có phương án tổ chức đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.
Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, diễn đàn thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời. Chủ động triển khai hệ thống phòng thủ trên không gian mạng để kịp thời phát hiện và đập tan những cuộc xâm nhập, tấn công mạng, lan truyền tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng.
Thứ tư, tích cực sử dụng internet, mạng xã hội để triển khai tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch một cách kịp thời, hiệu quả nhất. Đồng thời, truyền tải các thông tin tích cực, tạo môi trường thông tin lành mạnh, góp phần ổn định dư luận, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, góp phần bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng. Xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các đợt cao điểm như: kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc; các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước như Đại hội Đảng, họp Quốc hội, bầu cử... để định hướng thông tin cho nhân dân; không bỏ trống trận địa thông tin khiến các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh để tung các thông tin sai trái.
Thứ năm, xây dựng và phát triển lực lượng tác chiến trên không gian mạng theo hướng tinh, gọn, mạnh để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Nghị định số 98/2015/NĐ-CP ngày 19-10-2015 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của lực lượng tác chiến không gian mạng đã chỉ rõ: “Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng chuyên trách thực hiện chức năng tác chiến không gian mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống”(5).
Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng đặc thù, có nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nên cần được tập trung xây dựng theo hướng tinh nhuệ, hiện đại, vững vàng về bản lĩnh chính trị, tinh thông về năng lực chuyên môn; có khả năng ứng phó và xử lý nhanh mọi tình huống, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Ngoài ra, lực lượng tác chiến trên không gian mạng cũng cần thường xuyên, tích cực phối hợp với các lực lượng khác như lực lượng nòng cốt của các cơ quan tuyên giáo, lực lượng chuyên gia của các cơ quan nghiên cứu lý luận và lực lượng thanh niên xung kích của các tổ chức đoàn, hội sinh viên để hiệp đồng tác chiến, tạo thành lực lượng đấu tranh rộng khắp trên không gian mạng.
Có thể nhận thấy, xu hướng phát triển của internet và mạng xã hội ở Việt Nam là tất yếu khách quan, phản ánh quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xu hướng đó một mặt tạo ra những thời cơ cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, song một mặt cũng tạo ra nhiều thách thức khó lường cho nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Do đó, cần phải có những thay đổi cả trong nhận thức và hành động để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tiễn.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với Việt Nam trong bối cảnh bùng nổ internet và mạng xã hội hiện nay./.
Tạp chí Lý luận Chính trị
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
144

 Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo vấn đề kiểm tra, kỷ luật trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người chỉ rõ: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”[1]. Trong quá trình cách mạng, Đảng động viên toàn bộ lực lượng, thông qua tổ chức, thực hiện đường lối, chủ trương mà Đảng đã đề ra. 

Trong công tác kiểm tra thì chủ yếu là kiểm tra cán bộ thực hiện Điều lệ Đảng và nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng: “Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”, và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên và thực hành ấy đã đến mức nào, thì phải có kiểm tra”[2].

Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như chúng ta đã có ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm.

Kiểm tra bao giờ cũng đi liền với kỷ luật trong Đảng. Hồ Chí Minh coi: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ, đảng viên”[3]. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[4]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”[5]. Người yêu cầu đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn “phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân”; họ “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất thì làm”[6]. Các đảng viên, cán bộ đó “không biết kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”[7].

Theo Hồ Chí Minh, đối với mọi đảng viên cộng sản, khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức, phải báo cáo, phải chấp hành nghị quyết, chỉ thị một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo. 

Hồ Chí Minh yêu cầu những đảng viên giữ vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc, không được châm chước, bao che cho nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật. Củng cố và tăng cường kỷ luật đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải là để kỷ luật cho nhiều đảng viên, mà chủ yếu là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại bản Di chúc lịch sử và dành những lời đầu tiên cho Đảng: “Trước hết nói về Đảng... Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là phản ánh trung thực tinh thần dân chủ và sức chiến đấu của Đảng. Bởi vì: “...một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”[8].

Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp lãnh đạo phải biết nghe, dám nghe và khuyến khích được nghe các ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến khác với suy nghĩ lâu nay của mình. Người nhắc lãnh đạo các cấp phải: “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến... Nếu cán bộ không nói năng, không đề ra ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì để nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản”[9].

Hồ Chí Minh khẳng định mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình, đề đạt kiến nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Song khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Đó là quyền tự do phục tùng chân lý. 

Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn cách mạng luôn vận động và phát triển. Đảng ở trong xã hội và cùng xã hội phát triển. Tuy nhiên, mỗi khi gặp tình hình mới, công tác mới... tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên không khỏi bỡ ngỡ, lệch lạc, hoặc “tả”, hoặc “hữu’, đó là điều bình thường, cho nên thống nhất ý chí, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng. Người thường chỉ dạy: “Nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Để làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho Đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương, phải tuyệt đối chấp hành nghiêm túc mọi chính sách và nghị quyết của Đảng”[10]. 

Suốt chặng đường cách mạng của Đảng, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau:

Một là, trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Đảng; 

Hai là, trong hoạt động thực tiễn của Đảng nói chung và của ủy ban kiểm tra, đội ngũ cán bộ kiểm tra nói riêng; 

Ba là, trong việc tổng kết, đánh giá công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng hằng năm và các nhiệm kỳ.

Những năm qua, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế, yếu kém, bất cập. Khảo sát, nghiên cứu cho thấy, một số cấp uỷ, tố chức đảng, UBKT các cấp chưa nhận thức đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này nên chưa tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình. Có nơi, có lúc nhận thức được thì việc vận dụng còn máy móc, giáo điều, chủ quan, duy ý chí, dẫn đến có hành động nóng vội, giản đơn, chạy theo thành tích. 

Một số cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ học tập và làm theo quan điểm: “Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín”[11] của Hồ Chí Minh còn yếu, dẫn đến nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng chưa đầy đủ nên chưa quan tâm đúng mức, đúng tầm đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, thậm chí còn cản trở việc kiểm tra hoặc không chịu trách nhiệm khi kiểm tra. Bên cạnh đó, việc xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận thức, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật đảng có thể rút ra ba kinh nghiệm quý báu là: 

Thứ nhất, phải có trình độ nhận thức lý luận và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn;

Thứ hai, phải có phương pháp đúng đắn, sáng tạo khi làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh;

Thứ ba, phải đề cao trách nhiệm cá nhân và tổ chức, nhất là trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu. Có bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm. Có ý thức chính trị và đạo đức trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là ý thức xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân.

Có thể khái quát về việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng hiện nay là: 

Xuất phát từ thực tế của Đảng, của đất nước và quốc tế ngày nay để chủ động học tập, nhận thức lại, bổ sung, phát triển và thực hành một cách sáng tạo “tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” và những chân lý phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm tổng kết thực tiễn và tiếp tục xây dựng lý luận công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.

Theo đó, có thể tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, các cấp uỷ, tổ chức đảng và UBKT các cấp cần nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng nhằm nắm vững và hiểu được những nội dung cốt lõi và phương pháp luận cơ bản. Trong đó, cần chú ý:

- Nắm tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng là nắm lập trường, quan điểm, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng.

- Hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng không phải là giáo điều, “kinh viện”, nhớ thật nhiều sách, thuộc nhiều câu của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng để trích dẫn “loè thiên hạ”, mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong bối cảnh mới hiện nay. Lập trường của Hồ Chí Minh là lập trường cách mạng triệt để, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật. Phương pháp của Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống những tư tưởng khoa học, cách mạng làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đó không phải là những công thức, khuôn mẫu bất di, bất dịch, giáo điều, trong quá trình nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển cần đặc biệt quan tâm, chú ý làm rõ một số vấn đề sau:

a) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đã đúng, bây giờ vẫn đúng và về lâu dài sau này vẫn đúng.

b) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trước kia đúng, nhưng điều kiện thực tiễn hiện nay đã thay đổi, không còn phù hợp, cần bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.

c) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà ngay lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã nhận thấy không thuyết phục, không có tính khả thi, hoặc đã thừa nhận là sai và đã sửa đổi nhưng những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn vẫn chưa biết đến, biết hết.

d) Những luận điểm nào của Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng mà những người nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, học tập, cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai, hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng.

Đó thực sự là những vấn đề lớn, không thể nóng vội làm ngay, cần dày công, kiên trì, quyết tâm nghiên cứu mới dần dần sáng tỏ được; đồng thời phải từ thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn được.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng tăng tính cập nhật, tính thiết thực, tính hấp dẫn, tính chiến đấu, tính giáo dục, tính dẫn đường của lý luận, không bằng lòng với những kết luận có sẵn, không lặp lại đi, lặp lại những câu chữ, những mệnh đề của tư tưởng Hồ Chí Minh khi chưa hiểu thấu đáo quan điểm của Người, chống quy kết, chụp mũ, giáo điều, xét lại.

Ba là, các ban của cấp uỷ, UBKT các cấp phải nêu cao vai trò tham mưu, giúp cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức vận dụng đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng vào hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp mình.

Bốn là, chủ thể và đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần quán triệt sâu sắc, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm tra, kỷ luật đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Năm là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Sáu là, xây dựng tổ chức bộ máy kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Bảy là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận và tống kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Mở rộng và tăng cường đối thoại với các đảng cầm quyền ở các nước về công tác kiểm tra, giám sát. Phải bồi dưỡng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận chính trị chuyên sâu, có trình độ cao, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới để giúp Đảng trong việc xây dựng lý thuyết về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong bối cảnh mới.
       ---------------------------

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Phiên họp thường kỳ Lãnh đạo chủ chốt


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc họp lãnh đạo chủ chốt.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc họp lãnh đạo chủ chốt.

Đây là Phiên họp Lãnh đạo chủ chốt đầu tiên sau khi đồng chí Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư nhằm duy trì nền nếp làm việc của Lãnh đạo chủ chốt.

Dự họp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Lương Cường.

Thay mặt bộ phận giúp việc Lãnh đạo chủ chốt, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Duy Ngọc đã báo cáo tóm tắt những việc đã hoàn thành trong tháng 7, những việc trọng tâm cần giải quyết trong tháng 8-2024 và thời gian tới.

Hội nghị thống nhất đánh giá, trong tháng 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tập trung giải quyết nhiều việc lớn, quan trọng về xây dựng, tổ chức Đảng; về phát triển kinh tế - xã hội; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; về các chính sách xã hội, nhất là các biện pháp giúp đỡ nhân dân ở những khu vực bị thiên tai, động đất... Về cơ bản các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Quốc hội đề ra trong tháng 7 đều cơ bản hoàn thành.

Đặc biệt, sau khi đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Lễ Quốc tang trọng thể, chu đáo, tình nghĩa để nhân dân và bạn bè quốc tế bày tỏ sự kính trọng và lòng tiếc thương vô hạn đối với đồng chí Nguyễn Phú Trọng. Ngay sau đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức hội nghị để bầu Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII nhằm đảm bảo công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đất nước được liên tục, đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, hiệu lực, hiệu quả.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc họp lãnh đạo chủ chốt.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (phải) phát biểu tại cuộc họp lãnh đạo chủ chốt.

Sau khi Lãnh đạo chủ chốt và đồng chí Thường trực Ban Bí thư thảo luận, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết luận một số nhiệm vụ mà toàn Đảng và hệ thống chính trị cần phải tập trung, giải quyết trong thời gian tới, như sau: Tập trung rà soát những công việc còn lại từ nay đến hết năm 2024 và đề ra các giải pháp, biện pháp để hoàn thành nhanh chóng, hiệu quả; tiếp tục công tác chuẩn bị nhằm bảo đảm tốt nhất đối với Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; các Tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV của Đảng cần tiến hành các nội dung công việc theo đúng lộ trình; sớm triển khai các nội dung Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới để làm cơ sở đề xuất xây dựng các báo cáo trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng; các cơ quan Trung ương và địa phương sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo để chuẩn bị tốt nhất cho Đại hội các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng; tăng cường, quan tâm hơn nữa tới hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở... để bộ máy này hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tránh gây phiền hà, khó khăn cho nhân dân...

Đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, cần tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn để tạo cơ chế thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân có điều kiện phát triển, hoạt động đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy sản xuất hiệu quả, tạo không khí phấn khởi đối với nhân dân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Hội nghị cũng bàn, cho ý kiến và phương hướng giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng khác của đất nước trong thời gian tới.

 Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam - Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển mới

Sáng 6/8, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì lễ đón và hội đàm với ngài Kihara Minoru, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản sang thăm chính thức Việt Nam.

Sau lễ đón chính thức, Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Kihara Minoru đã tiến hành hội đàm.

Tại hội đàm, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Kihara Minoru làm sâu sắc hơn về mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới được thiết lập năm 2023, trong đó có sự hợp tác giữa Bộ Quốc phòng hai nước.

Quang cảnh hội đàm. Ảnh: TUẤN HUY
Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, thời gian qua, cùng với sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai nước, quan hệ quốc phòng song phương không ngừng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất, xứng đáng là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ hai nước, nổi bật trên các lĩnh vực, như: Khắc phục hậu quả chiến tranh; đào tạo; quân y, cứu hộ - cứu nạn; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; thường xuyên tham vấn trên các diễn đàn khu vực, nhất là trong khuôn khổ ADMM+,... Các cơ chế đối thoại, tham vấn, giao lưu được duy trì thực hiện tốt. Hai bên đã duy trì đầy đủ Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, tham vấn sĩ quan tham mưu 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân. Đây là những cơ chế quan trọng được hai bên duy trì, thực hiện hiệu quả, thúc đẩy hợp tác cụ thể, thiết thực trên các lĩnh vực.
Về phương hướng hợp tác thời gian tới, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị hai bên tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng bước vào giai đoạn phát triển mới, hiệu quả, phù hợp với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới. Trong đó, tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm như: Trao đổi đoàn, tiếp xúc các cấp, nhất là cấp cao; tiếp tục duy trì hiệu quả các cơ chế đối thoại, tham vấn thường niên giữa hai bên; hợp tác đào tạo; hợp tác quân binh chủng; công nghiệp quốc phòng, chuyển giao công nghệ; khắc phục hậu quả chiến tranh; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tiếp tục tăng cường tham vấn, phối hợp tại các cơ chế đa phương hai bên cùng tham gia, qua đó góp phần thúc đẩy, triển khai hiệu quả quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ASEAN - Nhật Bản.

Về phần mình, Bộ trưởng Kihara Minoru gửi lời chia buồn sâu sắc tới nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người có đóng góp to lớn trong thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản.

Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Kihara Minoru trao đổi Thư thỏa thuận và Biên bản thực hiện việc Nhật Bản chuyển giao 2 xe vận chuyển vật liệu đa năng phục vụ công tác cứu hộ - cứu nạn cho phía Việt Nam. Ảnh: TUẤN HUY
Cảm ơn sự đón tiếp của Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ Quốc phòng Việt Nam dành cho đoàn, Bộ trưởng Kihara Minoru tin tưởng, chuyến thăm Việt Nam lần này sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới được thiết lập từ năm 2023 và thúc đẩy hợp tác quốc phòng trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm phát triển hơn nữa trong thời gian tới.

Tại hội đàm, hai bên đã trao đổi về tình hình thế giới và khu vực. Về vấn đề trên biển, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cam kết ở khu vực, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả.

Kết thúc hội đàm, Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Kihara Minoru đã trao đổi Thư thỏa thuận và Biên bản thực hiện việc Nhật Bản chuyển giao 2 xe vận chuyển vật liệu đa năng phục vụ công tác cứu hộ - cứu nạn cho phía Việt Nam.

Nguồn: qdnd.vn

VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH PHẢI TRỞ THÀNH NHU CẦU VĂN HÓA TỰ THÂN


Cùng với tiến trình đổi mới, Đảng nhận thức ngày càng đầy đủ về nội dung và giá trị của di sản Hồ Chí Minh. Việc chuyển từ “vận động” sang “đẩy mạnh” việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chuyển từ học tập đạo đức Hồ Chí Minh sang học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ điều đó. Sự cần thiết, nhất thiết phải làm cho việc này trở thành nhu cầu văn hóa tự thân xuất phát từ các lý do sau.
Thứ nhất, chỉ những gì thuộc về văn hóa, mang đặc tính, giá trị của văn hóa mới có khả năng tồn tại và phát triển.
Nói về giá trị soi chiếu, dẫn dắt của văn hóa, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), Hồ Chủ tịch đã nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Bản thân Hồ Chủ tịch là một hiện tượng văn hóa độc đáo và chính Người đã kiến tạo nền văn hóa mới, nền đạo đức mới - “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”. Vì thế, hãy để văn hóa Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và dân tộc ta đi với điều kiện là mỗi con người Việt Nam phải tự giác “mở lòng” để đón nhận ánh sáng đó.
Thứ hai, hành động của con người sẽ trở nên tự giác, bền bỉ nếu xuất phát từ nhu cầu tự thân.
Hồ Chí Minh từng nói về cách thức tuyên truyền: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì ích lợi của họ mà phải làm”. “Duy lợi” và “hướng thiện” là đặc tính con người. Bản thân cán bộ và nhân dân cũng mưu cầu sự thành đạt, hạnh phúc, có được sự tôn trọng của xã hội, sự tin cậy của tập thể, vươn tới sự hoàn thiện về nhân cách; bản thân Đảng muốn xây dựng đội ngũ cán bộ, con người Việt Nam mạnh từ “gốc”. Cái “gốc” đó chính là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - sự kết tinh của các giá trị văn hóa - đạo đức. Khi mỗi cá nhân và tập thể thấu hiểu rằng, sự nỗ lực học và làm theo Bác sẽ giúp họ đạt các mục đích đó thì họ sẽ kiên trì, tự giác học tập và nỗ lực biến nhận thức, tình cảm thành hành vi, phẩm hạnh, lối sống theo hình mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ ba, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân sẽ góp phần tạo dựng văn hóa Đảng, qua đó chấn hưng văn hóa dân tộc.
Khi Hồ Chí Minh viết “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là Người muốn khẳng định đặc tính đạo đức và văn hóa của Đảng. Người cũng cho rằng, văn hóa không thể đứng ngoài mà “phải ở trong kinh tế và chính trị” mà Đảng là một tổ chức chính trị, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, tất yếu Đảng phải trở thành biểu tượng của văn hóa với tầm cao trí tuệ và đạo đức. Kế thừa quan điểm của Hồ Chí Minh, xây dựng văn hóa trong Đảng đã từng bước được Đảng đề cập. Đại hội XIII nhấn mạnh phải “xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí” trong cán bộ đảng viên, công chức, viên chức. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói rõ yêu cầu “đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hóa tinh thần trong Đảng, tạo dấu ấn rõ rệt về xây dựng văn hóa Đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh””. “Lấy cái đẹp để dẹp cái xấu, lấy ánh sáng để đẩy lùi bóng tối” là quy luật của phát triển nên thúc đẩy cán bộ, đảng viên học tập và làm theo văn hóa Hồ Chí Minh để góp phần xây dựng văn hóa Đảng là hướng đi đúng đắn. Do vai trò tiên phong và lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với dân tộc, việc chấn hưng đạo đức trong Đảng và xây dựng văn hóa Đảng sẽ là tiền đề để chấn hưng đạo đức và văn hóa dân tộc.
Thứ tư, đưa học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân của mỗi người sẽ khắc phục được các hạn chế trong thực thi nhiệm vụ này.
Tính từ khi chỉ thị 06-CT/TW (năm 2006) về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra đời, đến nay, việc học tập và làm theo Bác đã diễn ra gần 2 thập kỷ và từng bước đi vào nền nếp, trở thành nội dung sinh hoạt thường xuyên của các tổ chức Đảng. Đảng đã nhận thức rõ về mối quan hệ biện chứng giữa “học tập”, “làm theo” và “nêu gương”. Dù vậy, việc học tập và làm theo Bác vẫn tồn tại không ít hạn chế. Vì thế, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu văn hóa tự thân sẽ góp phần khắc phục các điểm hạn chế, đưa việc học tập, làm theo Bác đi vào thực chất, hiệu quả./.

MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN TẬP TRUNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, quyết định đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trước sự chống phá quyết liệt và vô cùng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao hơn đối với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Trong số rất nhiều nội dung đấu tranh, tập trung chủ yếu vào:
Thứ nhất, tiếp tục luận chứng và khẳng định bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng.
Thứ hai, luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.
Thứ ba, phải luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây.
Thứ tư, vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc, vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội./.
Sáng mãi niềm tin

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

THÚC ĐẨY QUAN HỆ HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VIỆT NAM- NHẬT BẢN BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI

 Sáng 6-8, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì lễ đón và hội đàm với ngài Kihara Minoru, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản sang thăm chính thức Việt Nam.

Sau lễ đón chính thức, Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Kihara Minoru đã tiến hành hội đàm.
Tại hội đàm, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Kihara Minoru làm sâu sắc hơn về mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới được thiết lập năm 2023, trong đó có sự hợp tác giữa Bộ Quốc phòng hai nước.
Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, thời gian qua, cùng với sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai nước, quan hệ quốc phòng song phương không ngừng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất, xứng đáng là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ hai nước, nổi bật trên các lĩnh vực, như: Khắc phục hậu quả chiến tranh; đào tạo; quân y, cứu hộ-cứu nạn; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; thường xuyên tham vấn trên các diễn đàn khu vực, nhất là trong khuôn khổ ADMM+... Các cơ chế đối thoại, tham vấn, giao lưu được duy trì thực hiện tốt. Hai bên đã duy trì đầy đủ Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, tham vấn sĩ quan tham mưu 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân. Đây là những cơ chế quan trọng được hai bên duy trì, thực hiện hiệu quả, thúc đẩy hợp tác cụ thể, thiết thực trên các lĩnh vực.
Về phương hướng hợp tác thời gian tới, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị hai bên tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng bước vào giai đoạn phát triển mới, hiệu quả, phù hợp với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới. Trong đó, tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm như: Trao đổi đoàn, tiếp xúc các cấp, nhất là cấp cao; tiếp tục duy trì hiệu quả các cơ chế đối thoại, tham vấn thường niên giữa hai bên; hợp tác đào tạo; hợp tác quân binh chủng; công nghiệp quốc phòng, chuyển giao công nghệ; khắc phục hậu quả chiến tranh; gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tiếp tục tăng cường tham vấn, phối hợp tại các cơ chế đa phương hai bên cùng tham gia, qua đó góp phần thúc đẩy, triển khai hiệu quả quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ASEAN - Nhật Bản.
Về phần mình, Bộ trưởng Kihara Minoru gửi lời chia buồn sâu sắc tới nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người có đóng góp to lớn trong thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản.
Cảm ơn sự đón tiếp của Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ Quốc phòng Việt Nam dành cho đoàn, Bộ trưởng Kihara Minoru tin tưởng, chuyến thăm Việt Nam lần này sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới được thiết lập từ năm 2023 và thúc đẩy hợp tác quốc phòng trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
Tại hội đàm, hai bên đã trao đổi về tình hình thế giới và khu vực. Về vấn đề trên biển, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cam kết ở khu vực, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả.
Kết thúc hội đàm, Đại tướng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Kihara Minoru đã trao đổi Thư thỏa thuận và Biên bản thực hiện việc Nhật Bản chuyển giao 2 xe vận chuyển vật liệu đa năng phục vụ công tác cứu hộ-cứu nạn cho phía Việt Nam./.
St

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - MỞ ĐẦU TRÀO LƯU PHI THỰC DÂN HOÁ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

 Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác - Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc - thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) - Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.
Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.
Là người tiếp thu học thuyết Mác - Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác - Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản - bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là "đến nơi" như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới - thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.
Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh./.
St

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH

 Tại họp báo sau khi được Trung ương tín nhiệm bầu Tổng Bí thư với số phiếu tuyệt đối, đồng chí Tô Lâm nhấn mạnh: “Nhiệm vụ rất nhiều, rất bề bộn, cần có sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, sự đoàn kết thống nhất và sự chung tay, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đề ra. Không có gì bằng sự đoàn kết, thống nhất. Đoàn kết thống nhất là sức mạnh của chúng ta. Sự đoàn kết từ trong Đảng, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương sẽ tiếp tục được lan tỏa và phát huy.”

Đó cũng chính là điều toàn Đảng, toàn dân cần quan tâm thực hiện lúc này. Lịch sử đã chứng minh, đoàn kết là truyền thống rất tốt đẹp, là sức mạnh của Đảng, toàn dân, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cả những lúc khó khăn nhất để đạt được thắng lợi.
Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết quốc tế luôn được Đảng ta quan tâm, chăm lo xây dựng, bồi đắp. Nhờ phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ông cha ta đã làm nên những chiến công hiển hách, đánh bại mọi kẻ thù hung bạo, dù chúng có vũ khí tối tân, hiện đại hơn ta nhiều lần.
Qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là những lúc hiểm nghèo, cách mạng gặp khó khăn, thử thách, những người cộng sản đã nêu cao tấm gương sáng ngời về sự thống nhất ý chí, hành động, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Chính sự thống nhất ý chí và hành động, tính tổ chức và kỷ luật trong Đảng đã hòa quyện, đúc rèn nên “ý Đảng lòng Dân” thành một khối vững chắc, thống nhất, không sức mạnh nào có thể chuyển lay, phá nổi; làm nên sự đoàn kết, thống nhất trong Nhân dân và toàn dân tộc, đưa đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế và uy tín như hiện nay.
Phát huy truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc ta, tài sản tinh thần vô giá mà ông cha ta để lại; hơn lúc nào hết, chúng ta cần nâng niu, gìn giữ và phát huy, coi đoàn kết là hành trang cần thiết, là cội nguồn sức mạnh để Đảng và Nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm phát triển.
Đó cũng là cách chúng ta học tập và làm theo lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công./.
St

VÀO ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀM “QUAN” CÁCH MẠNG

 “Vào Đảng, vào Đoàn không phải để làm “quan” cách mạng, hay là để nói chính trị suông. Tất cả đảng viên và đoàn viên phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành các chính sách của Đảng và Chính phủ”. Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Nói chuyện tại hội nghị sản xuất tỉnh Sơn Tây” (nay thuộc thành phố Hà Nội), tháng 7-1958. Đây là thời kỳ đầu sau khi miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã, khôi phục sản xuất và khắc phục hậu quả chiến tranh. Người muốn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên tỉnh Sơn Tây nói riêng, cả nước nói chung về trách nhiệm và quyết tâm trong lãnh đạo phát triển sản xuất; cần phải gương mẫu, tích cực, chủ động, sáng tạo, nói đi đôi với làm, triệt để tham gia vào tổ đổi công, bằng những việc làm cụ thể để “làm đầu tàu lôi cuốn quần chúng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải thực sự là những người tiền phong, gương mẫu trong thực hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có phong cách làm việc cụ thể, tỉ mỉ, sâu sát quần chúng, biết làm gương và hướng quần chúng vào thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ nhất định.

Lời dạy của Bác đã động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong cả nước đề cao trách nhiệm chính trị, tích cực hăng hái tham gia vào các tổ chức ở địa phương, đơn vị, thực sự là nòng cốt thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương và cơ quan, đơn vị. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự làm gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, đến năm 1960 đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế được khôi phục, văn hóa, giáo dục, y tế ngày càng phát triển.
Lời dạy của Bác tiếp tục được các thế hệ đảng viên, đoàn viên và nhân dân cả nước thực hiện, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày đất nước thống nhất, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, gắn với trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên tiếp tục có chuyển biến tích cực. Thực tế thời gian qua, hầu hết các cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong cả nước đã thực hiện nêu gương bằng những việc làm, hành động cụ thể với phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học tập đi đôi với làm theo”. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của chúng ta đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhiều cán bộ, đảng viên là tấm gương đạo đức mẫu mực, hăng hái đi đầu trong học tập, công tác, lao động, sản xuất và chiến đấu, tận tâm, tận lực, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa vẫn được quan tâm đúng mức, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu. Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu. Một số người có động cơ vào Đảng để “được làm quan” dẫn đến việc vào Đảng, vào Đoàn rồi mà ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”…
Thực trạng này tiềm ẩn nguy cơ to lớn đối với vai trò, hình ảnh, uy tín của Đảng, như Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
Tiếp tục thực hiện lời dạy của Bác kính yêu, ngày 9-5-2024, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đây là sự kế thừa, chắt lọc những yêu cầu, tiêu chuẩn về đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu ra; không chỉ đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết, thường xuyên, lâu dài đặt ra đối với cán bộ, đảng viên.
Việc nghiêm túc thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định số 144 không chỉ tạo ra bước chuyển biến mới, tích cực về cả nguyên tắc và hành động trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước thềm Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, mà còn là lời nhắc nhở đanh thép rằng: Vào Đảng không phải để làm “quan” cách mạng./.
St