Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại và nhân quyền trong tình hình mới

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác thông tin đối ngoại nói chung và hoạt động của các Ban Chỉ đạo về Thông tin đối ngoại của các tỉnh, thành phố nói riêng còn một số hạn chế, cần sớm được khắc phục trong thời gian tới.

Ngày 7/8, tại Hòa Bình, Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ phối hợp Tỉnh ủy Hòa Bình tổ chức Hội nghị tập huấn công tác thông tin đối ngoại và nhân quyền năm 2024 cho lãnh đạo, cán bộ tại 14 tỉnh, thành phố thuộc khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ và lãnh đạo, phóng viên một số cơ quan báo chí Trung ương.

Đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Bùi Đức Hinh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác về Thông tin đối ngoại tỉnh Hòa Bình và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ, Phó Cục trưởng Đối ngoại, Bộ Công an, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ dự và đồng chủ trì Hội nghị.

Tại Hội nghị, đồng chí Bùi Đức Hinh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác về thông tin đối ngoại tỉnh Hòa Bình cho biết, các hoạt động thông tin đối ngoại của tỉnh Hòa Bình luôn bám sát định hướng chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đồng thời bám sát chủ trương, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.

Ban Chỉ đạo về nhân quyền tỉnh Hòa Bình đã chủ động trong công tác tham mưu cho chính quyền các cấp triển khai các chính sách, pháp luật về bảo đảm, thúc đẩy quyền con người; tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông đối nội và đối ngoại, phủ xanh thông tin tích cực về thành tựu bảo đảm quyền con người.

Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ đã trình bày các báo cáo, tham luận chuyên đề về việc triển khai nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 15/4/2024 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ đến năm 2030 thực hiện Kết luận số 57-KL/TW của Bộ Chính trị gắn với đặc thù của 14 tỉnh, thành phố khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ; những nội dung cốt lõi, trọng tâm trong Kết luận số 71-KL/TW ngày 16/2/2024 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng.

Các đại biểu đã lắng nghe một số chuyên đề về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề quyền con ngườithành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; ứng xử của Việt Nam đối với vấn đề nhân quyền tại các diễn đàn đa phương, định hướng công tác nhân quyền trong thời gian tới, nhấn mạnh trọng tâm công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền.

Tại Hội nghị, Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ khẳng định, chủ động tuyên truyền, thông tin đối nội, đối ngoại về những kết quả, thành tựu Việt Nam đã đạt được trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt qua lĩnh vực báo chí là cách tốt nhất để đấu tranh với các hệ loại đối tượng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá đất nước ta.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đánh giá, sau một năm triển khai Kết luận số 57-KL/TW, tại Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2024, Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương đánh giá cao Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố đã nghiêm túc quán triệt, nghiên cứu, cụ thể hoá, tham mưu ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ các nội dung của Kết luận, đặc biệt là 5 nhiệm vụ giải pháp trọng tâm.

Tuy nhiên, thông qua các báo cáo và khuyến nghị, đề xuất của các tỉnh, thành phố, công tác thông tin đối ngoại nói chung và hoạt động của các Ban Chỉ đạo nói riêng còn một số hạn chế, cần khắc phục trong thời gian tới.

Việt Nam đang ở giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cùng với việc đảm nhiệm trọng trách trên bình diện quốc tế, đặc biệt là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2023-2025) và tái ứng cử nhiệm kỳ 2026-2028, thời cơ, thuận lợi đan xen những thách mới, trong đó sẽ có những luồng thông tin trái chiều, xuyên tạc tình hình trong nước.

Trước tình hình đó, đồng chí Phan Xuân Thủy đề nghị các đồng chí lãnh đạo Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận số 57-KL/TW.

Quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, bảo đảm và thúc đẩy nhân quyền, đẩy mạnh thông tin đối ngoại về tình hình nhân quyền Việt Nam nhằm nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước.

Đồng thời, rà soát, kiện toàn và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại từ Trung ương đến cơ sở; tiếp tục chú trọng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó, chủ động tận dụng hiệu quả các điều kiện thuận lợi từ bối cảnh trong nước và quốc tế để tăng cường đổi mới tư duy và phương thức triển khai công tác thông tin đối ngoại.

Trong đó, 14 địa phương khu vực trung du và miền núi phía bắc cần tập trung thông tin, tuyên truyền mạnh mẽ về bề dày lịch sử, di sản văn hóa đặc sắc, những nỗ lực, thành tựu của các địa phương trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người nói chung và quyền bình đẳng của đồng bào dân tộc thiểu số.

Đổi mới phương thức, sáng tạo trong nội dung thông tin trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Huy động mọi nguồn lực trên cả ba phương diện nhân lực, vật lực và tài lực, cả trong nước và nước ngoài để phục vụ hiệu quả nhiệm vụ thông tin đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển vùng, phát triển đất nước mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Việt Nam đáp ứng tất cả các tiêu chí công nhận nền kinh tế thị trường

 Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, từ ngày 31/7 đến ngày 4/8, tại thủ đô Washington DC, ông Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và đoàn công tác đã có các cuộc gặp gỡ, trao đổi với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Kurt Campbell, Đặc phái viên của Tổng thống về biến đổi khí hậu John Podesta; Phó Cố vấn an ninh quốc gia phụ trách an ninh mạng Anne Neuberger; Phó Trợ lý Bộ trưởng Tài chính phụ trách châu Á và Thái Bình Dương Robert Kaproth; thảo luận với các nhà nghiên cứu, học giả tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Quỹ Heritage, Viện Hòa bình, Trung tâm Wilson; hội đàm với đại diện lãnh đạo Đảng Cộng sản Hoa Kỳ; gặp gỡ và nói chuyện với đội ngũ cán bộ của Đại sứ quán Việt Nam và các cơ quan bên cạnh Đại sứ quán.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Thắng trân trọng cảm ơn Chính phủ, các cơ quan, đối tác, doanh nghiệp Hoa Kỳ đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam về sự ra đi của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Trao đổi với các đối tác Hoa Kỳ, ông Nguyễn Xuân Thắng đánh giá cao việc quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những bước phát triển toàn diện và nhanh chóng.

Về việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ thông báo chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường, ông Nguyễn Xuân Thắng nêu rõ Việt Nam rất lấy làm tiếc và thất vọng về điều này bởi trong thời gian qua, quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước đã phát triển mạnh mẽ chưa từng có; hai nước cũng đã có những nỗ lực to lớn trong việc nâng tầm quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện; Việt Nam đã đáp ứng được tất cả 6 tiêu chí mà Bộ Thương mại Mỹ đưa ra khi xem xét công nhận một quốc gia có nền kinh tế thị trường.

Ông Nguyễn Xuân Thắng đề nghị hai bên cần tiếp tục tăng cường trao đổi, Hoa Kỳ cần đánh giá một cách khách quan, tiến tới công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Ông cũng bày tỏ mong muốn các công ty Hoa Kỳ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực có nhiều tiềm năng; xuất khẩu sang Việt Nam những sản phẩm Hoa Kỳ có lợi thế; và đây có thể là nhân tố quan trọng góp phần giảm bớt thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

Về phần mình, lãnh đạo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chia sẻ quan ngại của Việt Nam đối với vấn đề công nhận kinh tế thị trường và khẳng định điều này sẽ không ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế giữa hai nước đang phát triển hết sức tốt đẹp, hướng đến kỷ niệm 30 năm ngày bình thường hoá quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ vào năm 2025./.

Giữ vững quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển trong tình hình hiện nay

 

Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đều bắt nguồn từ việc Đảng ta luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng.

Đó là sự kiên định và sáng tạo trên cơ sở tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thời đại. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước ta luôn vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tiễn, góp phần xây dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước như ngày nay.

Một công cụ sắc bén để phân tích các vấn đề xã hội

Quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là một công cụ sắc bén để phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó cũng là công cụ nhận thức quan trọng để Đảng ta kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Quan điểm khách quan yêu cầu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải phản ánh trung thực sự vật, hiện tượng với tất cả bản chất, những mối quan hệ vốn có của nó; nắm vững và tôn trọng những quy luật khách quan của hiện thực; đồng thời, không rơi vào chủ quan duy ý chí; không được lấy ý chí chủ quan, ý muốn chủ quan, nguyện vọng, tình cảm cá nhân để áp đặt cho thực tế.

Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét toàn diện các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành và những mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng; cả hiện tại, quá khứ và xu hướng phát triển trong tương lai; phải đồng bộ, không cục bộ, phiến diện. Song trong mối liên hệ cụ thể, từng giai đoạn phải nắm đúng trọng tâm, then chốt, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, tránh dàn trải, không viển vông, ảo tưởng. Trong quá trình xem xét toàn bộ mối liên hệ, bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng, phải dự báo được khả năng vận động, phát triển; chống mọi biểu hiện trì trệ, bảo thủ.

Quan điểm lịch sử, cụ thể chỉ rõ trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét đúng các quá trình, các giai đoạn phát triển của các sự vật, hiện tượng; nhận thức được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng trong các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Chỉ ra được mối liên hệ, quy luật khách quan; vị trí, vai trò của từng mối liên hệ quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Đồng thời, cần phải đấu tranh chống mọi biểu hiện xa rời thực tiễn với những điều kiện, hoàn cảnh riêng.

Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nắm được khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng; phải khái quát và làm sáng rõ được xu hướng vận động, phát triển chủ đạo trong cả tự nhiên, xã hội và mỗi con người. Sự phát triển là quá trình biện chứng, có tính chất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước tụt lùi tạm thời, nhưng tất yếu cái mới sẽ ra đời. Do đó, cần phải có niềm tin vào sự tất thắng của cái mới, đấu tranh, loại bỏ mọi lực cản ảnh hưởng sự phát triển của tự nhiên, xã hội và mỗi con người.

Giữ vững quan điểm trong lãnh đạo, quản lý 

Giữ vững quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong gần 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta luôn kiên định: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đảng đề ra chiến lược phát triển tổng thể là: Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo bài học tôn trọng thực tiễn khách quan, quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển để đưa ra những quyết sách sáng suốt, đúng đắn, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển trong giai đoạn mới; quyết tâm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; thể hiện tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước với những bước đi, lộ trình cụ thể đến năm 2025, 2030 và 2045, để phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, với phương châm “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”, Đảng, Nhà nước đã quán triệt sâu sắc, lãnh đạo, chỉ đạo, nắm vững và xử lý tốt 4 kiên định, 12 định hướng, 10 mối quan hệ, 3 đột phá chiến lược, 6 nhiệm vụ trọng tâm; phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; hình thành đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa trên các trụ cột: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền dân chủ XHCN Việt Nam.

Cùng với lãnh đạo phát triển tổng thể các mặt, các lĩnh vực trong tính chỉnh thể, Đảng ta còn đánh giá vị trí, vai trò của từng lĩnh vực, yếu tố làm cơ sở để xác định, xây dựng từng bước đi, lộ trình và giải pháp phù hợp với điều kiện đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thúc đẩy chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, chú trọng phát triển những ngành, lĩnh vực là thế mạnh của đất nước và của từng vùng, ngành, địa phương.

Thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách; khơi thông các nguồn lực cho phát triển. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án chiến lược trọng điểm, quan trọng quốc gia; chú trọng đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, tập trung cho vùng “lõi nghèo”, đặc biệt khó khăn, tránh dàn trải, lãng phí.

Phát triển con người toàn diện, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của phát triển. Phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện quan điểm “dân là gốc”, “dân là trung tâm” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tạo môi trường sống an toàn, thân thiện, lành mạnh để phát triển trẻ em toàn diện, thực hiện tốt công tác người cao tuổi, thanh niên, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Tập trung cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng khó khăn.

Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa-xã hội, phát triển văn hóa-xã hội ngang tầm với phát triển kinh tế. Phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. Thực hiện hiệu quả Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục-đào tạo và nâng cao hơn nữa vai trò của khoa học-công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với nền kinh tế tri thức, kinh tế số, đô thị thông minh.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích và bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức chính trị-xã hội, doanh nghiệp và người dân, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ ở các địa phương trọng điểm.

Tích cực phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm; giữ vững thế chủ động chiến lược, bảo đảm an ninh, trật tự, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước. Chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, âm mưu “phi chính trị hóa” LLVT; phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh; chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.

Vận dụng đúng đắn, linh hoạt quan điểm đối tác, đối tượng; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi trong quan hệ quốc tế. Kiên trì thực hiện chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn; coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác, tạo lợi ích thực chất giữa Việt Nam và các nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực để phục vụ phát triển đất nước, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

 Trong bối cảnh sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ ta ngày càng quyết liệt, trực diện; do vậy, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, rộng khắp trong tình hình mới là yêu cầu cấp thiết cần được đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hơn nữa.

Trao đổi về những khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ, Thiếu tá Phạm Văn Tới, cán bộ thuộc Viện Nghiên cứu 486 (Bộ Tư lệnh 86) cho biết: Lực lượng đơn vị đều là cán bộ, nhân viên kỹ thuật, tuổi đời còn trẻ, tuy được đào tạo cơ bản nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Trang bị cơ sở vật chất đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Với đặc thù môi trường không gian mạng cho nên nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu diễn ra liên tục 24/24 giờ trong ngày, không phân biệt ngày nghỉ, giờ nghỉ, đặc biệt vào các dịp lễ, Tết, các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, Quân đội, đòi hỏi cấp bách ngăn chặn, xử lý nhanh nhất các cuộc tấn công mạng, cán bộ, nhân viên đơn vị phải thay nhau thực hiện nhiệm vụ tăng ca, đôi khi gấp đôi ngày thường mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Bên cạnh việc lợi dụng các sự kiện chính trị để tăng cường các hoạt động chống phá, đẩy mạnh đăng tải các bài viết, video xấu độc phát tán trên không gian mạng; các thế lực thù địch còn tấn công từ chối dịch vụ (DDoS) hoặc tấn công thay đổi giao diện (Deface) vào các trang, cổng thông tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước và Quân đội nhằm làm gián đoạn truyền thông, ảnh hưởng đến việc đưa tin, bài của các cơ quan thông tấn, báo chí, gây hoang mang dư luận.

Nếu không phát hiện ngăn chặn kịp thời, uy tín của các cơ quan thông tấn, báo chí sẽ bị ảnh hưởng, thông tin chính thống không kịp thời đến được với người dân gây khủng hoảng truyền thông, ảnh hưởng đến môi trường ổn định để phát triển đất nước… Vì vậy nhiệm vụ của người chiến sĩ tác chiến không gian mạng là chủ động phát hiện, cảnh báo sớm các cuộc tấn công như DDoS, Deface và có phương án xử trí các cuộc tấn công mạng “từ sớm, từ xa”, không để bị động bất ngờ trước mọi tình huống để các trang thông tin hoạt động ổn định.

Là đơn vị làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; triển khai các hoạt động tác chiến không gian mạng. Thiếu tá Nguyễn Bảo Tuấn, cán bộ thuộc Trung tâm 586 (Bộ Tư lệnh 86) cho biết, lực lượng của đơn vị chủ yếu là cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm tiếp xúc xã hội chưa nhiều cho nên khả năng am hiểu về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội chưa sâu gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ trên không gian mạng.

Trong khi đó, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phát triển với tốc độ rất nhanh, để cán bộ, nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ cần tập trung xây dựng, phát triển nguồn nhân lực tác chiến không gian mạng tinh nhuệ, lực lượng công nghệ thông tin chất lượng cao; tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh tự nghiên cứu, sản xuất trang, thiết bị công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ viễn thông, internet và nghiên cứu ứng dụng, tích hợp các công nghệ mới vào công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng…

Bên cạnh việc bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, một việc làm hết sức cần thiết đó là bồi dưỡng nâng cao hiểu biết về chính trị, xã hội, xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân cho bộ đội, kết hợp nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người, mọi lực lượng trong xây dựng và bảo vệ không gian mạng an toàn, lành mạnh, nhân văn, rộng khắp.

Triển khai đồng bộ các giải pháp

Đại tá Lê Duy Nghĩa, Trưởng phòng Tuyên huấn, Bộ Tư lệnh 86 chia sẻ: Bộ Tư lệnh 86 là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng…

Những năm qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Nổi bật là, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị về vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động được triển khai với nhiều nội dung, hình thức phong phú, hiệu quả.

Công tác theo dõi, phát hiện, xử lý, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các thông tin sai trái, thù địch, phản động đạt kết quả tốt. Chú trọng xây dựng, bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng đấu tranh thông tin cho các lực lượng; phối hợp các cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện Nghị quyết số 35 ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

Đặc biệt, Bộ Tư lệnh 86 phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng Bộ Thông tin và Truyền thông, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông quân đội ngăn chặn phát tán các thông tin giả, tin sai sự thật, xấu độc; thường xuyên phối hợp, cung cấp mục tiêu đấu tranh cho Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương, cơ quan chức năng Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội xuyên biên giới gỡ bỏ các nội dung thông tin bịa đặt, sai sự thật, vi phạm pháp luật Việt Nam…

Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng phối hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, vẫn còn những khó khăn, bất cập cần giải quyết rốt ráo. Nhằm tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả chỉ thị, nghị quyết các cấp, nhất là Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị gắn thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Đại tá Lê Duy Nghĩa đề nghị, cần tiếp tục tham mưu với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội ban hành các văn bản cụ thể hóa chính sách ưu đãi và bảo vệ đối với lực lượng tác chiến không gian mạng; bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp điều kiện mới để thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; đồng thời, cần có cơ chế động viên, khích lệ phù hợp đối với việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; quan tâm đầu tư phát triển vũ khí trang bị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thời gian tới, Bộ Tư lệnh 86 tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp; tăng cường quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Tích cực, chủ động nghiên cứu, phát triển vũ khí trang bị, công cụ phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; khai thác và sử dụng hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sàng lọc, phát hiện thông tin tiêu cực.

Triển khai các hệ thống trinh sát, giám sát thông tin trên internet, mạng xã hội đáp ứng yêu cầu cập nhật, đánh giá thông tin theo thời gian thực; đồng thời phát huy hết tiềm năng các kênh truyền thông, tài khoản cá nhân trong và ngoài Quân đội, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ trong bảo vệ chủ quyền không gian mạng quốc gia; từng bước góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng.

Cùng với đó, Bộ Tư lệnh 86 tăng cường phối hợp lực lượng của Bộ Quốc phòng với các lực lượng của Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương để chia sẻ thông tin, triển khai các biện pháp phòng thủ bảo đảm an toàn cho hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy điều hành của Đảng, Nhà nước và các cơ sở hạ tầng quan trọng của đất nước.

Đẩy mạnh công tác phối hợp với các cơ quan, ban, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị trong công tác bảo mật, bảo đảm an toàn thông tin; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng kỹ năng rà soát, phát hiện và phòng ngừa sự cố, khắc phục lỗ hổng bảo mật. Ưu tiên phối hợp bảo vệ các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia.

Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng và hợp tác quốc tế về công nghệ thông tin, an toàn thông tin, an ninh mạng, phòng chống chiến tranh không gian mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, nhằm tạo môi trường hòa bình trong giải quyết các vấn đề về an ninh mạng, chiến tranh không gian mạng và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Tha hóa quyền lực không phải bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Lợi dụng việc một số cán bộ, công chức bị kỷ luật thời gian qua, các thế lực thù địch tiếp tục xuyên tạc rằng sai phạm, nhất là tham nhũng do “tha hóa quyền lực” là bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh chống luận điệu sai trái trên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và cấp bách hiện nay.

Theo cách hiểu thống nhất, tha hóa quyền lực là hành vi một số cán bộ, công chức lạm dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để làm những việc sai trái, khuất tất nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hay một nhóm người, gây tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, lợi ích của quốc gia, dân tộc. Trong xã hội hiện đại thì tha hóa quyền lực càng trở nên tinh vi và biến tướng dưới nhiều hình thức phức tạp.

Gần đây, không ít người nắm giữ, thực thi công quyền đã bị cám dỗ bởi “màu hồng” của quyền lực. Khi có chức quyền trong tay, một số người chỉ lăm le khai thác quyền lợi, bổng lộc nhờ quyền lực mang lại mà không khép mình vào khuôn khổ tổ chức, quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trong giai đoạn 2012-2022, có 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật. Năm 2023 đã thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng.

Cùng với xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực nhằm ngăn chặn kịp thời những “tổ mối” đang đục khoét thể chế, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Lợi dụng việc này, các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo sự thật, cho rằng “tha hóa quyền lực” là bản chất của Đảng, hòng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và đội ngũ cán bộ. Những thủ đoạn và luận điệu của chúng có thể nhận diện trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động quy chụp rằng, chế độ “một đảng” là nguyên nhân của tha hóa quyền lực. Chúng rêu rao rằng: Tha hóa quyền lực của cán bộ, công chức bắt nguồn từ chế độ “tập quyền, một đảng”… Cùng với cố tình đổ lỗi cho một đảng là nguyên nhân, mục đích của chúng không gì khác nhằm xóa bỏ vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tha hóa quyền lực được xem là “bóng tối vươn theo quyền lực”, gây suy giảm quyền lực nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế, thanh danh của Đảng và Nhà nước, biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở nên quan liêu, xa rời lợi ích của nhân dân. Từ gần 200 năm trước, Karl Marx từng đưa ra những cảnh báo khi ông nghiên cứu về sự tha hóa quyền lực ở các nhà nước phương Tây, nhất là các nước tư bản phát triển.

Ông rút ra một điều: Quyền lực nhà nước càng lớn thì sự tha hóa của nó càng nguy hiểm, nó càng gần với tư cách một lực lượng tự trị thoát khỏi sự kiểm soát của con người. Điều này cho thấy tình trạng tha hóa quyền lực có ở mọi nhà nước, mọi xã hội có giai cấp, nó là một hiện tượng xã hội mà bất cứ chế độ xã hội nào cũng phải giải quyết.

V.I.Lenin cho rằng, “tệ quan liêu, tham nhũng khiến nhiều cán bộ, đảng viên bị tha hóa, trở thành những kẻ chuyên quyền, độc đoán, thậm chí nó có thể phá hủy một chính đảng, làm tiêu vong một chế độ”. Bàn về vấn đề này, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân sâu xa, gốc rễ dẫn đến tha hóa quyền lực chính là chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “vì cá nhân chủ nghĩa nên đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Kế thừa, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa bỏ tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”. Như vậy, cần khẳng định rằng, chính chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, công chức, cùng việc chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chính là nguyên nhân căn cơ của tha hóa quyền lực. 

 Mặt khác, trên cả phương diện lý luận, các nghiên cứu, phân tích đều đi đến kết luận, tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp), không phụ thuộc vào chế độ chính trị đa đảng hay một đảng; chế độ nào, quốc gia nào cũng có tham nhũng.

Thực tế ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn là quốc nạn. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2023 của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng do tha hóa quyền lực. Quốc gia có điểm số thấp nhất (mức độ tham nhũng cao nhất) là Somalia (11 điểm), Nam Sudan (13 điểm); các quốc gia có điểm số cao (mức độ tham nhũng thấp) là Đan Mạch (90 điểm), Phần Lan (87 điểm)… Như vậy, từ báo cáo trên có thể thấy, tham nhũng, tiêu cực do tha hóa quyền lực không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng. Việc các thế lực thù địch rêu rao rằng tha hóa quyền lực do chế độ một đảng gây ra là luận điệu bịa đặt.

Thứ hai, các thế lực thù địch xuyên tạc mục đích phòng, chống tha hóa quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao rằng, mục đích của phòng, chống tha hóa quyền lực chỉ vì phục vụ “lợi ích phe, nhóm”, là “cuộc chiến hay đấu đá quyền lực trong thượng tầng của Đảng”, là bước chuẩn bị cho “con em, vây cánh” tiến thân…

Những luận điệu của các thế lực thù địch rất nguy hiểm và hoàn toàn sai trái. Bởi như phân tích ở trên, tha hóa quyền lực luôn có và không bao giờ mất đi khi trong xã hội có giai cấp. Vì vậy, để ngăn chặn nó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tìm tòi và thực thi trong thực tiễn giải pháp để kiểm soát quyền lực hiệu quả, phải “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”. Quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng phòng, chống tha hóa quyền lực trong một bộ phận cán bộ, công chức là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Song song với thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, kinh tế… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc ngăn ngừa, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tha hóa quyền lực nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính, vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Trên thực tế, những cán bộ, đảng viên “tha hóa” bị xem xét kỷ luật do sai phạm thời gian qua đều được xử lý một cách nghiêm minh, công bằng, công tâm, minh bạch, đúng người, đúng tội và được thông tin rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thông qua kỷ luật để cảnh tỉnh, răn đe, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc.

Chính việc xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên tha hóa thời gian qua đã được tuyệt đại đa số ý kiến người dân bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực. Điều đó càng minh chứng rõ ràng cho mục đích của phòng, chống tha hóa quyền lực là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, chứ không phải như sự xuyên tạc của kẻ thù. Chính điều này đã gây thiện cảm mạnh mẽ, vun đắp niềm tin to lớn của nhân dân vào sự liêm chính, uy tín, sức mạnh và sự trong sạch của Đảng.

Thứ ba, chúng quy chụp rằng “tha hóa quyền lực” là phổ biến, là bản chất của đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng “việc phòng, chống tha hóa quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam rồi sẽ đi đến thất bại”. Viện dẫn cho những suy diễn đó, chúng chắp vá, xâu chuỗi một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ ở một bộ phận cán bộ, công chức rồi quy chụp rằng “sâu mọt ở khắp mọi nơi”, đội ngũ cán bộ, đảng viên “đang rơi vào tình trạng tha hóa, biến chất”.

Những quy chụp của các thế lực thù địch là dối trá, đi ngược lại mục đích tốt đẹp của Đảng ta.

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải đối mặt với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đặc biệt là đối mặt với nguy cơ, thách thức từ tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, làm liên lụy đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, hạnh phúc của nhân dân. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo công cuộc đổi mới; đồng thời, kiên quyết đấu tranh vạch mặt những kẻ mang danh Đảng, đội lốt đảng viên để phá Đảng, hại nước, hại dân.

Việc ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh không những thể hiện quyết tâm chính trị lớn lao của Đảng mà còn chứng tỏ Đảng luôn luôn cầu thị, sẵn sàng sửa chữa sai lầm, hạn chế, khuyết điểm để đưa đất nước vươn lên, trở nên tốt đẹp hơn. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên là rơi vào chủ nghĩa cá nhân… cùng với sự thiếu kiểm soát, kiểm tra, giám sát của các cấp. Những con sâu đó chỉ là số ít trong tổng số hơn 5 triệu đảng viên, cần phải được loại bỏ để hàng ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch hơn. Như vậy, từ việc xử lý một số cán bộ, công chức bị thoái hóa mà đánh đồng, quy chụp đó là bản chất của đội ngũ cán bộ, công chức là sự nhìn nhận lệch lạc, cực đoan của một số ít người chỉ với mục đích hạ thấp uy tín của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam thời gian qua là vô căn cứ, phiến diện, phản khoa học, nhưng sẽ vô cùng nguy hiểm nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải quán triệt và thực hiện nhất quán nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu trong thực hiện công tác cán bộ.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác cách mạng, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động đó.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trau dồi đạo đức cách mạng, phương pháp, tác phong công tác; luôn “tự soi, tự sửa” để không ngừng tiến bộ; biết đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Qua đó, góp phần quan trọng xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

Thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc

 Ngày 2/8/2024, Bộ Thương mại Mỹ công bố về việc tiếp tục chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường (KTTT) ở Việt Nam. Theo đó, dù có ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua nhưng cơ quan này vẫn tiếp tục chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền KTTT.

Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất, phủ định thành tựu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Những luận điệu sai trái, bôi đen hiện thực

Trên các trang tin của những hội nhóm, tổ chức phản động còn tiến hành “tọa đàm, hội luận”, khoe thành quả về các hoạt động vận động, lên tiếng, thúc giục, kêu gọi các tổ chức, cá nhân có tiếng nói gây sức ép lên chính quyền Mỹ từ chối công nhận quy chế nền KTTT ở Việt Nam. VOA tiếng Việt rêu rao “Hàng chục nhà lập pháp Mỹ trong những lần khác nhau đã gửi thư lên Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo để yêu cầu bộ này không cấp quy chế thị trường cho Việt Nam”; BBC Tiếng Việt thì vu cáo “Nguyên nhân Mỹ từ chối nâng cấp Việt Nam lên nền KTTT do nhà nước Việt Nam vẫn can thiệp sâu vào mọi khía cạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống tư pháp và tệ nạn tham nhũng”. “Té nước theo mưa”, trên Fanpage Việt Tân bôi nhọ rằng, “cứ như thế này thì dân tộc Việt Nam làm sao ngóc đầu nổi”; “Mỹ công bố xếp hạng Việt Nam vào diện nền kinh tế phi thị trường nói lên điều gì”? Để làm nóng sự kiện, Việt Tân còn tổ chức livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn cái mác như chuyên gia, luật sư, tiến sĩ… Mục đích không gì khác của chiêu trò này là bôi đen, đả phá nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cổ xúy việc Mỹ chưa công nhận quy chế KTTT cho Việt Nam. Một số phần tử phản động lưu vong cũng nhân cơ hội này lấy làm hả hê, xuyên tạc “độc tài thì làm gì có cơ chế KTTT”, “muốn có KTTT phải đa nguyên, đa đảng”…

Các thế lực thù địch, phản động cố tình lấy cớ sự kiện này để chống phá Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc phải có sự chuyển hướng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển sang đa nguyên, đa đảng thì mới có thể phát triển KTTT. Bằng việc gắn cái mác chuyên gia, nhà quan sát để tỏ ra bài viết, phỏng vấn của mình là có sức nặng, họ “khuyên” Việt Nam thay đổi thể chế thì “lúc đó Mỹ mới có thể công nhận nền KTTT của Việt Nam vì KTTT vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng CNXH với định hướng XHCN. Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng xấu còn đưa ra suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang âm thầm chuyển hướng sang phát triển KTTT theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường trong những năm qua dù Việt Nam vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của CNXH.

Những luận điệu trên cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; cố tình thổi phồng sự việc, gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Chủ trương của Đảng, Nhà nước và những thành tựu trong phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam

Về mặt bản chất, KTTT là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường; là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thuật ngữ xây dựng “nền KTTT định hướng XHCN” được Đảng sử dụng lần đầu tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001).

Những chủ trương trên đã đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về KTTT định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn gần 40 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Từ thực tiễn quá trình đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, như đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ; vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, như quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường…

Gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn nằm trong nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ đôla Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 đôla Mỹ năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 2022, xuất khẩu đạt khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2021. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam lập kỷ lục mới, vượt mốc 730 tỷ USD (tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế). Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Một số sản phẩm của Việt Nam bước đầu khẳng định thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thứ hạng của Việt Nam trong tất cả bảng xếp hạng quan trọng của quốc tế đều được cải thiện. Chỉ số về trình độ phát triển của thị trường Việt Nam tăng 12 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 34 lên vị trí thứ 22. Các nhóm chỉ số về thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường tăng từ vị trí thứ 49 lên vị trí thứ 15 – một sự thay đổi hết sức mạnh mẽ; hay chỉ số đa dạng hóa các ngành trong nước cũng xếp thứ hạng khá cao (9/134 nước)

Năm 2020, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố báo cáo đánh giá về nền KTTT của Việt Nam: “Từng là một trong những quốc gia nghèo nhất vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã khởi đầu một quá trình chuyển đổi kinh tế trên diện rộng, xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, mở cửa nền kinh tế, bước ra thị trường và thương mại quốc tế, đồng thời khởi xướng các cải cách theo hướng ủng hộ các hoạt động đầu tư, kinh doanh. Sau những chính sách này, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đưa đất nước trở thành nền KTTT mới nổi chỉ trong vòng 25 năm”. Tương tự IMF, các báo cáo do những tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng Thế giới (WB) cũng ghi nhận, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT đã giúp Việt Nam đạt nhiều thành tựu. Hiện tại, Việt Nam là một trong những quốc gia năng động nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương.

Đến nay, theo Bộ Công Thương, 72 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, bao gồm các nền kinh tế lớn như Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc… Mới nhất, Vương quốc Anh đã có Thư chính thức công nhận quy chế thị trường của Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương với hơn 60 đối tác thương mại trên thế giới. Những thành tựu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy, việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết rất tốt những vấn đề xã hội.

Thực tế sinh động trên đã khẳng định: Nền kinh tế Việt Nam được các quốc gia, tổ chức, chuyên gia quốc tế đánh giá cao trong việc xây dựng cơ chế thị trường những năm qua, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng nhân dân. Do đó, mỗi chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam.

Ngày 3/8, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiếp tục xác định Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Bà Phạm Thu Hằng cho biết, trong thời gian qua, các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực phối hợp với Bộ Thương mại Hoa Kỳ cung cấp nhiều lập luận thuyết phục khẳng định kinh tế Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ 6 tiêu chí KTTT theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ. Điều này cũng được nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia Hoa Kỳ và quốc tế ủng hộ. Trên thực tế, đến nay, có 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận những bước tiến vượt bậc của kinh tế Việt Nam. “Trên tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện cam kết về việc phối hợp rộng rãi, mạnh mẽ, mang tính xây dựng và tiến tới sớm công nhận quy chế KTTT của Việt Nam. Các cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đối tác Hoa Kỳ bảo đảm quan hệ kinh tế, thương mại song phương tiếp tục phát triển ổn định, hài hòa, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước” – Người phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ.

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể phủ nhận

 Nhiều năm qua, các đối tượng thiếu thiện chí, cực đoan, phản động không ngừng tìm mọi phương thức, thủ đoạn hòng chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một trong những vấn đề mà họ thường xuyên rêu rao, bịa đặt, đeo bám quyết liệt là xuyên tạc, vu khống về tình hình tự do, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Thủ đoạn, hoạt động này tiếp tục được các thế lực thù địch đẩy mạnh trong năm 2024.

Ngay từ đầu năm 2024, nhân Hội nghị Thượng đỉnh Tự do Tôn giáo quốc tế (IRF-hội nghị thường niên của các tổ chức xã hội dân sự) tổ chức ngày 30-31/1 tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, hàng chục cá nhân tự xưng là “nhà hoạt động vì tự do tôn giáo cho Việt Nam” đã tranh thủ tiếp cận, vận động hành lang đối với các nhà lập pháp, hành pháp và các tổ chức quốc tế hòng gây sức ép đến chính quyền Việt Nam.

Như tiết lộ của một trong số các thành viên tham gia Hội nghị đã phần nào cho thấy rõ điều này: “Chúng tôi chia ra rất nhiều nhóm để gặp gỡ các vị dân biểu và các thượng nghị sĩ để nêu các trường hợp tiêu biểu về đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam”.

Nổi lên trong số đó không thể không nhắc đến sự xăng xái của BPSOS (Ủy ban cứu người vượt biển, do Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành). Lợi dụng diễn đàn, BPSOS tổ chức hàng loạt cuộc bàn tròn danh nghĩa là bàn về tự do tôn giáo nhưng bản chất là xuyên tạc chính sách tôn giáo ở Việt Nam, đưa thông tin sai sự thật về cái gọi là “các tổ chức tôn giáo bị nhà nước kiểm soát”, “sự đàn áp của Nhà nước với các cộng đồng bản địa ở Việt Nam”. Và như thường lệ, tổ chức này tiếp tục lớn tiếng vận động quốc tế đòi thả tự do cho “tù nhân tôn giáo” ở Việt Nam, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức, chính phủ các nước đối với chính quyền Việt Nam, rắp tâm quốc tế hóa các vấn đề nội bộ của Việt Nam.

Mới đây, vào các ngày 22-23/7, tại Hội nghị Thượng đỉnh về Tự do Tôn giáo quốc tế-Khu vực châu Á (International Religious Freedom Summit-Asia, viết tắt IRF Summit-Asia) diễn ra tại Tokyo, Nhật Bản, BPSOS lại “bổn cũ soạn lại”. Với tư cách thành viên Ban tổ chức, tổ chức này đã tranh thủ đánh bóng tên tuổi cũng như ra sức thể hiện mục đích đen tối của mình.

Người đứng đầu tổ chức Nguyễn Đình Thắng tận dụng cơ hội đăng đàn với tư cách diễn giả. Và không ngạc nhiên khi người này tiếp tục vu khống, bôi nhọ Việt Nam trắng trợn trong vấn đề “kiểm soát tôn giáo”; đồng thời khiến dư luận hết sức phẫn nộ khi xuyên tạc sự phối hợp giữa Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Công an là “để kìm kẹp và đàn áp tôn giáo”, cũng như đưa thông tin sai sự thật về cái gọi là “các hình thức đàn áp xuyên quốc gia của cộng sản Việt Nam”.

Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn Đình Thắng tiếp tục đi Đài Loan (Trung Quốc) để tiếp xúc với một số tổ chức, kêu gọi họ góp sức vào phong trào đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo toàn cầu, đồng thời tham gia kêu gọi thành lập nhóm vận động các dân biểu yểm trợ cho Tự do tôn giáo ở Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Trả lời phỏng vấn báo chí, Nguyễn Đình Thắng cho rằng các vị dân biểu thượng nghị sĩ có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đặc biệt là liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo cần phải lắng nghe tiếng nói của cử tri. Do đó BPSOS đã sắp xếp phái đoàn gồm 7 người đến làm việc tại văn phòng dân biểu Lou Correa ở Quận Cam (Orange County), bang California. Đây cũng là quận đông dân đứng thứ nhì tại tiểu bang và đứng thứ ba của Hoa Kỳ, đặc biệt Quận Cam cũng là nơi tập trung đông người Việt sinh sống.

Thông tin từ BPSOS phát đi cho biết phái đoàn đã đưa ra một số đề nghị và hẹn gặp gỡ thường xuyên với văn phòng dân biểu Correa ở địa phương và ở Quốc hội để phối hợp hành động. Từ đây có ý kiến cho rằng liệu có phải Nguyễn Đình Thắng đang mưu đồ dùng chiêu bài “tiếng nói cử tri” để gây sức ép đối với các dân biểu Hoa Kỳ hay không?

Thời gian qua, dưới sự điều hành của Nguyễn Đình Thắng, BPSOS không ngừng đẩy mạnh thực hiện cái gọi là “Đề án dân quyền Việt Nam”, hô hào “Bảo đảm sự thực thi đúng đắn các điều khoản bảo vệ dân quyền trong luật quốc gia và thúc đẩy sự tuân thủ các tiêu chuẩn nhân quyền theo luật quốc tế”.

Song trên thực tế tổ chức này thường xuyên đưa những thông tin sai sự thật, bịa đặt về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề tôn giáo, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Như ngày 20/6/2024 BPSOS đã phát đi bản thông báo xuyên tạc Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức “ngụy tôn giáo”, từ đó kích động người dân “dùng quyền công dân của mình tố giác những việc làm trái pháp luật tới các cơ quan chức năng và yêu cầu các cơ quan này phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật”. Ngông cuồng hơn, “Đề án dân quyền Việt Nam” của BPSOS soạn sẵn hai mẫu đơn (Đơn yêu cầu, Đơn tố giác tội phạm) kêu gọi người dân điền thông tin cá nhân và ký tên, đồng thời tuyên bố “Chúng tôi (tức BPSOS) và các tổ chức nhân quyền quốc tế sẽ dành sự quan tâm thích đáng để theo dõi và bảo vệ bất cứ ai thực hiện các hành vi pháp lý chính đáng này”.

Điều đáng nói là trong hai mẫu đơn được phát ra, BPSOS đã cố tình chuẩn bị sẵn những nội dung sai trái nhằm chỉ trích, công kích Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đưa ra đòi hỏi ngông cuồng “yêu cầu Ban Tôn giáo Chính phủ cần thực hiện chức năng của mình phải ra văn bản chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức và các cá nhân nói trên.

Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, nếu xét thấy các hành vi trên có dấu hiệu của tội phạm thì cần phải chuyển ngay thông tin đó cho cơ quan điều tra hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự”. BPSOS ngang nhiên đưa ra thông điệp hàm ý đe dọa rằng: “Nếu Chính phủ Việt Nam tuân thủ luật pháp và xử trị những kẻ vi phạm thì là điều tốt, còn như bao che cho tổ chức ngụy tôn giáo mà chính họ đã tạo tác nên thì sẽ là căn cứ để chúng tôi huy động quốc tế quan tâm và hành động”.

Những việc làm của BPSOS không gây bất ngờ cho những người am hiểu vấn đề, bởi lâu nay họ không còn lạ về cách thức hoạt động của tổ chức này. Bản chất BPSOS là một tổ chức phản động lưu vong với phương thức và thủ đoạn chống đối quyết liệt cả ở trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam.

Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy từ năm 2016 đến nay, BPSOS đã tổ chức nhiều khóa huấn luyện cho các đối tượng ở trong nước chủ yếu là số trí thức, thành viên có nhận thức lệch lạc về chính trị, pháp luật, số đối tượng chính trị cực đoan trong tôn giáo, dân tộc.

Qua huấn luyện, BPSOS đã hướng dẫn số đối tượng này viết báo cáo về vấn đề dân chủ, nhân quyền với mục đích tuyên truyền chống Việt Nam. Tổ chức này cũng tích cực kích động, xúi giục một số đối tượng trong nước thành lập các hội nhóm trá hình dưới danh nghĩa hoạt động “dân chủ” “nhân quyền” để tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam.

Chính BPSOS từng tuyên bố rằng đã liên kết với các hội nhóm chống đối trong nước, để thu thập thông tin, xây dựng báo cáo xuyên tạc về tình hình Việt Nam nhằm đưa vấn đề này ra các cuộc họp; hội thảo do các cơ quan có thẩm quyền đứng ra tổ chức. Quá trình hoạt động của tổ chức này cho thấy dù mượn danh nghĩa “hỗ trợ tị nạn” song thực chất BPSOS đã triệt để lợi dụng vấn đề người tị nạn để tuyên truyền, chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế cũng như gây phức tạp tình hình an ninh trật tự tại một số địa phương trong nước.

Cần khẳng định Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Báo cáo tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2024 về công tác tôn giáo tổ chức ngày 18/7/2024 tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nêu rõ:

Trong 6 tháng đầu năm 2024, ngành quản lý nhà nước về tôn giáo bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo Bộ Nội vụ; thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao; tham mưu với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo Bộ Nội vụ nhiều chủ trương công tác lớn trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; kịp thời phát hiện và tham mưu xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo, tạo sự đồng thuận trong chức sắc, tín đồ và quần chúng nhân dân.

Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trong cả nước. Chính quyền các cấp quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật; bảo đảm sinh hoạt tôn giáo ổn định, tuân thủ pháp luật, gắn bó với dân tộc.

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được triển khai theo đúng quy định của pháp luật. Công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh nhân quyền tiếp tục được duy trì và phát huy; chủ động cung cấp thông tin và phản bác luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch, đóng góp tích cực vào đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, Nhà nước ta.

Trong 6 tháng đầu năm 2024, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn cả nước diễn ra sôi động, cơ bản tuân thủ pháp luật. Niềm tin của chức sắc, tín đồ các tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước được củng cố. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp tiếp tục xác định đường hướng hoạt động gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; phát huy nguồn lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những kết quả trên đây tiếp tục cho thấy những chính sách đúng đắn và hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta đã góp phần thiết thực để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, bôi nhọ.

Thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc

 

Ngày 2/8/2024, Bộ Thương mại Mỹ công bố về việc tiếp tục chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường (KTTT) ở Việt Nam. Theo đó, dù có ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua nhưng cơ quan này vẫn tiếp tục chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền KTTT.

Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất, phủ định thành tựu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Những luận điệu sai trái, bôi đen hiện thực

Trên các trang tin của những hội nhóm, tổ chức phản động còn tiến hành “tọa đàm, hội luận”, khoe thành quả về các hoạt động vận động, lên tiếng, thúc giục, kêu gọi các tổ chức, cá nhân có tiếng nói gây sức ép lên chính quyền Mỹ từ chối công nhận quy chế nền KTTT ở Việt Nam. VOA tiếng Việt rêu rao “Hàng chục nhà lập pháp Mỹ trong những lần khác nhau đã gửi thư lên Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo để yêu cầu bộ này không cấp quy chế thị trường cho Việt Nam”; BBC Tiếng Việt thì vu cáo “Nguyên nhân Mỹ từ chối nâng cấp Việt Nam lên nền KTTT do nhà nước Việt Nam vẫn can thiệp sâu vào mọi khía cạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống tư pháp và tệ nạn tham nhũng”. “Té nước theo mưa”, trên Fanpage Việt Tân bôi nhọ rằng, “cứ như thế này thì dân tộc Việt Nam làm sao ngóc đầu nổi”; “Mỹ công bố xếp hạng Việt Nam vào diện nền kinh tế phi thị trường nói lên điều gì”? Để làm nóng sự kiện, Việt Tân còn tổ chức livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn cái mác như chuyên gia, luật sư, tiến sĩ… Mục đích không gì khác của chiêu trò này là bôi đen, đả phá nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cổ xúy việc Mỹ chưa công nhận quy chế KTTT cho Việt Nam. Một số phần tử phản động lưu vong cũng nhân cơ hội này lấy làm hả hê, xuyên tạc “độc tài thì làm gì có cơ chế KTTT”, “muốn có KTTT phải đa nguyên, đa đảng”…

Các thế lực thù địch, phản động cố tình lấy cớ sự kiện này để chống phá Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc phải có sự chuyển hướng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển sang đa nguyên, đa đảng thì mới có thể phát triển KTTT. Bằng việc gắn cái mác chuyên gia, nhà quan sát để tỏ ra bài viết, phỏng vấn của mình là có sức nặng, họ “khuyên” Việt Nam thay đổi thể chế thì “lúc đó Mỹ mới có thể công nhận nền KTTT của Việt Nam vì KTTT vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng CNXH với định hướng XHCN. Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng xấu còn đưa ra suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang âm thầm chuyển hướng sang phát triển KTTT theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường trong những năm qua dù Việt Nam vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của CNXH.

Những luận điệu trên cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; cố tình thổi phồng sự việc, gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Chủ trương của Đảng, Nhà nước và những thành tựu trong phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam

Về mặt bản chất, KTTT là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường; là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thuật ngữ xây dựng “nền KTTT định hướng XHCN” được Đảng sử dụng lần đầu tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001).

Những chủ trương trên đã đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về KTTT định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn gần 40 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Từ thực tiễn quá trình đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, như đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ; vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, như quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường…

Gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn nằm trong nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ đôla Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 đôla Mỹ năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 2022, xuất khẩu đạt khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2021. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam lập kỷ lục mới, vượt mốc 730 tỷ USD (tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế). Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Một số sản phẩm của Việt Nam bước đầu khẳng định thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thứ hạng của Việt Nam trong tất cả bảng xếp hạng quan trọng của quốc tế đều được cải thiện. Chỉ số về trình độ phát triển của thị trường Việt Nam tăng 12 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 34 lên vị trí thứ 22. Các nhóm chỉ số về thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường tăng từ vị trí thứ 49 lên vị trí thứ 15 - một sự thay đổi hết sức mạnh mẽ; hay chỉ số đa dạng hóa các ngành trong nước cũng xếp thứ hạng khá cao (9/134 nước)

Năm 2020, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố báo cáo đánh giá về nền KTTT của Việt Nam: “Từng là một trong những quốc gia nghèo nhất vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã khởi đầu một quá trình chuyển đổi kinh tế trên diện rộng, xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, mở cửa nền kinh tế, bước ra thị trường và thương mại quốc tế, đồng thời khởi xướng các cải cách theo hướng ủng hộ các hoạt động đầu tư, kinh doanh. Sau những chính sách này, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đưa đất nước trở thành nền KTTT mới nổi chỉ trong vòng 25 năm”. Tương tự IMF, các báo cáo do những tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng Thế giới (WB) cũng ghi nhận, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT đã giúp Việt Nam đạt nhiều thành tựu. Hiện tại, Việt Nam là một trong những quốc gia năng động nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương.

Đến nay, theo Bộ Công Thương, 72 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, bao gồm các nền kinh tế lớn như Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc... Mới nhất, Vương quốc Anh đã có Thư chính thức công nhận quy chế thị trường của Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương với hơn 60 đối tác thương mại trên thế giới. Những thành tựu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy, việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết rất tốt những vấn đề xã hội.

Thực tế sinh động trên đã khẳng định: Nền kinh tế Việt Nam được các quốc gia, tổ chức, chuyên gia quốc tế đánh giá cao trong việc xây dựng cơ chế thị trường những năm qua, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng nhân dân. Do đó, mỗi chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam.

Ngày 3/8, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiếp tục xác định Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Bà Phạm Thu Hằng cho biết, trong thời gian qua, các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực phối hợp với Bộ Thương mại Hoa Kỳ cung cấp nhiều lập luận thuyết phục khẳng định kinh tế Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ 6 tiêu chí KTTT theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ. Điều này cũng được nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia Hoa Kỳ và quốc tế ủng hộ. Trên thực tế, đến nay, có 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận những bước tiến vượt bậc của kinh tế Việt Nam. “Trên tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện cam kết về việc phối hợp rộng rãi, mạnh mẽ, mang tính xây dựng và tiến tới sớm công nhận quy chế KTTT của Việt Nam. Các cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đối tác Hoa Kỳ bảo đảm quan hệ kinh tế, thương mại song phương tiếp tục phát triển ổn định, hài hòa, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước” – Người phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ.

                                                                  Tuệ Thiên - Bình Nguyên

Đẩy mạnh thông tin đối ngoại tình hình nhân quyền nhằm nâng cao vị thế của đất nước

 

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ Phan Xuân Thủy yêu cầu đẩy mạnh thông tin đối ngoại về tình hình nhân quyền Việt Nam nhằm nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước.

Chỉ đạo trên được Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thủy đề cập khi phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tập huấn công tác thông tin đối ngoại và nhân quyền năm 2024 cho lãnh đạo, cán bộ tại 14 tỉnh, thành phố thuộc khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ và lãnh đạo, phóng viên một số cơ quan báo chí Trung ương, sáng 7/8.

Ông Phan Xuân Thủy cho biết, chúng ta đang ở giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, cùng với việc đảm nhiệm trọng trách trên bình diện quốc tế, đặc biệt là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2023 - 2025) và tái ứng cử nhiệm kỳ 2026 - 2028. Thời cơ, thuận lợi đan xen những thách mới, trong đó sẽ có những luồng thông tin trái chiều, xuyên tạc tình hình trong nước.

Trong bối cảnh đó, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị lãnh đạo Ban Chỉ đạo về Nhân quyền các tỉnh, thành phố nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận số 57 của Bộ Chính trị về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới.

"Quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, bảo đảm và thúc đẩy nhân quyền, đẩy mạnh thông tin đối ngoại về tình hình nhân quyền Việt Nam nhằm nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước", ông Phan Xuân Thủy nhấn mạnh.

Đồng thời, ông Phan Xuân Thủy yêu cầu rà soát, kiện toàn và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại từ Trung ương đến cơ sở; tiếp tục chú trọng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại.

Theo Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, lãnh đạo Ban Chỉ đạo về Nhân quyền các tỉnh, thành phố cần chủ động tận dụng hiệu quả các điều kiện thuận lợi từ bối cảnh trong nước và quốc tế để tăng cường đổi mới tư duy và phương thức triển khai công tác thông tin đối ngoại.

Trong đó, 14 địa phương khu vực trung du và miền núi phía Bắc cần tập trung thông tin, tuyên truyền mạnh mẽ về bề dày lịch sử, di sản văn hóa đặc sắc, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số, về truyền thống cách mạng vẻ vang; được ví như là "cội nguồn dân tộc"; "cái nôi của cách mạng Việt Nam", là "phên dậu" và "lá phổi" của tổ quốc, là "cửa ngõ" phía Tây và phía Bắc của quốc gia.

Bên cạnh đó là thông tin về những nỗ lực, thành tựu của các địa phương trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người nói chung và quyền bình đẳng của đồng bào dân tộc thiểu số.

Ngoài ra, ông Phan Xuân Thủy cũng yêu cầu phải đổi mới phương thức, sáng tạo trong nội dung thông tin trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Các địa phương, đơn vị cần huy động mọi nguồn lực trên cả ba phương diện nhân lực, vật lực và tài lực, cả trong nước và nước ngoài để phục vụ hiệu quả nhiệm vụ thông tin đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển vùng, phát triển đất nước mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Tại hội nghị, đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ trình bày các báo cáo, tham luận chuyên đề về việc triển khai nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Nghị quyết số 47 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ đến năm 2030 thực hiện Kết luận số 57 của Bộ Chính trị gắn với đặc thù của 14 tỉnh, thành phố khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ.

Cùng đó là những nội dung cốt lõi, trọng tâm trong Kết luận số 71 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng.

Bên cạnh đó, các đại biểu cũng được nghe chuyên đề về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề quyền con người; thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; ứng xử của Việt Nam đối với vấn đề nhân quyền tại các diễn đàn đa phương, định hướng công tác nhân quyền trong thời gian tới, nhấn mạnh trọng tâm công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền.

        Anh Văn