Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Đồng chí Tô Lâm được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Sáng ngày 3-8-2024, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII họp tại Hà Nội. Đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.

Đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước phát biểu tại phiên khai mạc _ Ảnh: nhandan.vn
Các đại biểu dành một phút mặc niệm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _ Ảnh: TTXVN

Tại Hội nghị, căn cứ các quy định của Đảng, trên cơ sở định hướng giới thiệu nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, thảo luận dân chủ, suy tôn, thống nhất rất cao với số phiếu tuyệt đối 100% bầu đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.

Các lãnh đạo Đảng, Nhà nước chúc mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương - Ảnh: TTXVN
Đồ họa: tuoitre.vn

Ngay sau khi được Hội nghị Trung ương bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì họp báo trong nước, quốc tế.

Cùng chủ trì họp báo có Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Duy Ngọc.

Vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm vinh quang trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân

Phát biểu tại cuộc họp báo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc, người đảng viên cộng sản kiên trung, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, hiện thân đầy đủ phẩm chất, tài năng, bản lĩnh, trí tuệ của thế hệ lãnh đạo Việt Nam thời kỳ đổi mới mất đi là tổn thất vô cùng to lớn, không thể bù đắp của Đảng ta, Dân tộc ta, Nhân dân ta; ở thời khắc này toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế đang còn rất xúc động, chưa vơi niềm tiếc thương vô hạn đối với Nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc của chúng ta.

Song, trước yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên cấp bách của Đảng và Nhà nước trong xây dựng, phát triển đất nước, chăm lo cuộc sống của Nhân dân, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chủ trương kiện toàn các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trước hết là chức danh Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Sự đoàn kết, thống nhất là sức mạnh của chúng ta- Ảnh 2.
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp báo quốc tế - Ảnh: TIẾN TIẾN

Đây là yêu cầu cấp bách của Đảng, của đất nước hiện nay nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đại hội lần thứ XIII của Đảng; chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tạo nền tảng vững chắc đạt các mục tiêu chiến lược kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời xác định tầm nhìn tương lai, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu, đóng góp cho hòa bình và phát triển trên thế giới.

Việc bầu chức danh Tổng Bí thư giữa nhiệm kỳ được thực hiện theo đúng quy định Điều lệ Đảng, phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và các quy định về công tác cán bộ của Đảng; đây cũng không phải là vấn đề mới, trong lịch sử Đảng ta cũng đã bầu Tổng Bí thư giữa nhiệm kỳ đối với đồng chí Trường Chinh, đồng chí Lê Khả Phiêu.

Quá trình chuẩn bị, giới thiệu nhân sự Tổng Bí thư được thực hiện chặt chẽ, đúng nguyên tắc, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, chức danh, quy trình theo quy định của Đảng.

Để bảo đảm sự ổn định, kế thừa, phát triển những kinh nghiệm, những thành tựu mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các đồng chí lãnh đạo tiền nhiệm và Ban Chấp hành Trung ương các khóa trước đã đạt được, với trách nhiệm cao nhất vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng, xem xét nhiều mặt và thể hiện sự thống nhất rất cao trong việc giới thiệu và bầu chức danh Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Được Bộ Chính trị tin tưởng giới thiệu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tín nhiệm bầu và giao trọng trách Tổng Bí thư, tôi nhận thức sâu sắc đây là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm vinh quang trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân; trước truyền thống cha ông và lịch sử hào hùng ngàn năm văn hiến của dân tộc; trước các thế hệ lãnh đạo tiền bối; trước yêu cầu thực hiện thành công đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trên cương vị Tổng Bí thư, tôi sẽ cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống vẻ vang và kinh nghiệm quý báu của Đảng ta; phát huy cao nhất tinh thần "tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc"; tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc; gắn kết tư tưởng và hành động, ý Đảng và lòng dân; nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, trước hết là nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII; tận tâm, tận lực, tận hiến, phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam vinh quang, vì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân Việt Nam có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân là niềm vui, lẽ sống; chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống Nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Tiếp tục lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện quyết liệt, có hiệu quả những định hướng lớn, đột phá chiến lược mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra 6 trọng tâm là:

Giữ vững độc lập, tự chủ; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; kiên quyết kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc. Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, không ngừng tăng cường đóng góp của Việt Nam vào hòa bình và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên định lập trường, quan điểm và thực hành "dân là gốc", "Nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của đổi mới, phát triển, được sống hạnh phúc trong môi trường an ninh, an toàn, không ai bị bỏ lại phía sau.

Tập trung xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố tiềm lực quốc gia; thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư, sản xuất kinh doanh; huy động tối đa nguồn lực xã hội cho sự nghiệp phát triển bền vững đất nước, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Khơi dậy tinh thần, ý chí, quyết tâm, phát huy cao nhất giá trị văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ưu tiên tập trung chỉ đạo có hiệu quả, chất lượng các văn kiện; công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng.

Chúng ta nguyện kế tục trung thành sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục thực hiện lý tưởng cao cả của Người và di sản mà các thế hệ lãnh đạo tiền bối, trong đó có cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để lại; cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không ngừng phấn đấu lập nên những kỳ tích phát triển mới, thực hiện thành công di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc, "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với đường lối chính trị đúng đắn, hợp quy luật; luôn lấy việc phụng sự Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, hoạt động vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; được Nhân dân hết lòng tin tưởng, bạn bè quốc tế ủng hộ, Đảng ta sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, ngày càng trưởng thành, vững mạnh, trường tồn cùng dân tộc, hòa quyện trong lòng dân.

Thưa các đồng chí, bên cạnh những thành tựu, kết quả to lớn mà đất nước ta đã đạt được như ngày hôm nay, chúng ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn, tình hình thế giới diễn biến vô cùng phức tạp.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đến rất gần, còn rất nhiều nhiệm vụ phải triển khai. Hôm nay, tôi được Ban Chấp hành Trung ương tin tưởng giao một trọng trách rất lớn, tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ quý báu của các bậc lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các cơ quan, ban, ngành, địa phương, các giới, đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè, đối tác quốc tế... để giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cuối cùng, một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về việc Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã tin tưởng giao cho tôi trọng trách lớn. Kính chúc các đồng chí và các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành công".

Các quy định về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật và việc thực hiện của các cấp ủy hiện nay.

 Đảng, Nhà nước đã ban hành các quy định về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật; việc các cơ quan lãnh đạo đảng, nhà nước thực hiện các quy định này có nhiều ưu điểm, nhưng cũng còn có những hạn chế. Để tiếp tục thực hiện đúng các quy định này cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả về nhận thức và triển khai cụ thể.

1. Mở đầu

Sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật đảng, kỷ luật nhà nước là chủ trương đúng đắn của Đảng, đã được thực hiện đạt kết quả trong các thời kỳ cách mạng trước đây và trong thời kỳ đổi mới hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng ở địa phương, cơ quan, đơn vị và thành tựu đổi mới chung của cả nước. Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương này còn hạn chế, khuyết điểm và lúng túng, nhất là đối với các cấp ủy địa phương. Bài viết đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt chủ trương này trong những năm tới.

2. Những vấn đề chủ yếu về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Kỷ luật đảng hay kỷ luật của Đảng là những nguyên tắc, quy định, chế độ… được Đảng quy định buộc mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm cao cả của mình đối với đất nước, dân tộc. Nội dung kỷ luật đảng bao gồm: kỷ luật nội bộ đảng (Cương lĩnh chính trị của Đảng; Điều lệ Đảng; các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy chế, quy định… của Đảng); kỷ luật của Nhà nước (Hiến pháp, pháp lệnh, luật, nghị định, thông tư, chính sách, quyết định, quy định... của Nhà nước); kỷ luật tổ chức chính trị - xã hội. Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt động trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, nên phải chấp hành đồng thời cả kỷ luật đảng, kỷ luật của Nhà nước và kỷ luật của tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên. Cán bộ, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội vi phạm kỷ luật của các cơ quan, tổ chức này cũng là vi phạm kỷ luật đảng.

Hình thức kỷ luật của Đảng là hình thức cơ quan có thẩm quyền của Đảng thi hành đối với đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật theo quy định của Đảng. Theo Điều lệ Đảng và Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, đối với đảng viên chính thức có bốn hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ; đối với đảng viên dự bị có hai hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo.

Kỷ luật nhà nước là những quy định của Nhà nước được ghi trong các văn bản pháp luật, quy phạm pháp luật buộc mọi công dân phải thi hành, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo các hình thức, mức độ tương xứng với nội dung, mức độ vi phạm. Kỷ luật nhà nước áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật hành chính và đương nhiên là bị kỷ luật khi bị xử lý hình sự.

Điều 79 Luật Cán bộ, công chức hiện hành quy định công chức vi phạm quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc; trong đó, các hình thức giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; công chức bị tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phạm tội bị tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật đảng, kỷ luật nhà nước là những cán bộ, đảng viên có các hành vi vi phạm kỷ luật đảng, kỷ luật nhà nước và vi phạm pháp luật do cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các quy trình, thủ tục xem xét, kết luận tính chất, mức độ, tác hại của vi phạm và quyết định xử phạt theo hình thức kỷ luật đảng, kỷ luật nhà nước tương ứng.

Cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật, trừ trường hợp bị buộc thôi việc và bị xử lý theo pháp luật, vẫn có thể được sử dụng theo các quy định của Đảng, Nhà nước. Sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật là hoạt động của các cấp ủy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức tiến hành các quy trình, thủ tục bố trí cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật đảm nhiệm công việc, cương vị nào đó phù hợp theo quy định của Đảng, Nhà nước, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tạo điều kiện để họ tiếp tục phát huy trình độ, năng lực và những ưu điểm của mình, có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu trở thành cán bộ, đảng viên và công dân tốt.

Nội dung hoạt động sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật gồm: một là, cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, cơ quan nhà nước quán triệt các quy định của Đảng, Nhà nước về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật; hiện nay là cụ thể hóa Kết luận của Bộ Chính trị trong Thông báo số 20-TB/TW ngày 08-9-2022 “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18-9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Điều 39 đối với cán bộ, công chức, Điều 40 đối với viên chức) và tổ chức thực hiện; hai là, các cấp ủy lãnh đạo phối hợp và phát huy vai trò các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện đạt hiệu quả việc bố trí công việc đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật; ba là, cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy, nhất là ban tổ chức, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, đề xuất việc bố trí công việc đối với cán bộ, đảng viên bị xử lỷ kỷ luật; bốn là, cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự phấn khởi cho cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật chấp hành nghiêm và thực hiện tốt quyết định của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bố trí công việc cho mình; năm là, định kỳ sơ kết, rút kinh nghiệm việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Nguyên tắc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật: một là, sử dụng một cách hợp lý những cán bộ, đảng viên này, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị; hai là, chỉ sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị thi hành kỷ luật thật sự có năng lực, còn uy tín ở mức độ nhất định, còn cần thiết cho tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; tự nguyện và có nguyện vọng tiếp tục công tác; ba là, phải thực hiện đúng các quy định của Đảng và Nhà nước, thống nhất giữa các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước ở các cấp.

3. Sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

Trong những năm qua, việc bố trí, sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị kỷ luật có một số ưu điểm:

Một là, các cấp ủy đã quán triệt, vận dụng đúng các quy định của Đảng, Nhà nước về bố trí công việc cho cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Sau khi Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 20/TB-TW và Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, cấp ủy các cấp đã tổ chức quán triệt trong tổ chức đảng; hầu hết các cấp ủy - theo phân cấp quản lý cán bộ - đã cụ thể hóa kịp thời đối với cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy quản lý và tổ chức thực hiện đạt kết quả; cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, hướng dẫn cấp ủy cấp dưới, nhất là cấp ủy trực thuộc, tiến hành công việc này. Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Cần Thơ, Thành ủy Hải Phòng, Tỉnh ủy Quảng Ninh, Tỉnh ủy Nam Định, Tỉnh ủy Phú Yên, Tỉnh ủy Đồng Nai… đã thực hiện khá tốt công việc này(1). Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản số 190/VKSTC-V15 hướng dẫn thực hiện một số nội dung mới về công tác bổ nhiệm và bố trí công tác đối với cán bộ, công chức sau khi bị kỷ luật. Nhiều đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã bổ sung vào quy định phân cấp quản lý cán bộ đối với trường hợp cán bộ còn thời gian công tác dưới 05 năm. Ở hầu hết các tỉnh, thành phố, cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh quản lý không phải là cấp ủy viên bị xử lý kỷ luật được xem xét, bố trí làm công tác chuyên môn, được giữ nguyên ngạch công chức đã được bổ nhiệm…

Hai là, nhiều cấp ủy lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ và phát huy vai trò của mình thực hiện đạt hiệu quả việc bố trí công việc đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Nhiều ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh đã chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế về sự phối hợp, sơ kết, tổng kết việc thực hiện quy định này; trong đó, coi trọng sự phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy với cơ quan chính quyền, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị cùng cấp thực hiện tốt việc bố trí công việc hợp lý đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Ba là, phần lớn cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy thực hiện chức năng, nhiệm vụ tham mưu, đề xuất việc bố trí công việc đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lỷ kỷ luật

Các ban thường vụ cấp ủy đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo ban tổ chức của cấp ủy đề xuất phương án bố trí, sử dụng cán bộ; tiến hành thực hiện các bước sau khi có quyết định của ban thường vụ cấp ủy và hướng dẫn cấp ủy cấp dưới thực hiện công việc này; thẩm định các phương án bố trí công việc đối với cán bộ cấp dưới bị xử lý kỷ luật.

Nhiều cấp ủy lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ và phát huy vai trò của mình thực hiện đạt hiệu quả việc bố trí công việc đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Bốn là, quan tâm tiến hành công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật

Nhiều ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy trực tiếp gặp gỡ, động viên cán bộ bị xử lý kỷ luật nhận thức đúng về việc bị xử lý kỷ luật, chấp hành nghiêm và thực hiện tốt quyết định của cấp ủy có thẩm quyền về bố trí công việc cho mình, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao ở vị trí công tác mới.

Năm là, việc rút kinh nghiệm về sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật được nhiều cấp ủy quan tâm

Tuy số lượng các trường hợp cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật được bố trí công tác không nhiều, nhưng đây là công việc phức tạp và nhạy cảm. Ý thức rõ điều đó, nhiều cấp ủy sau khi giải quyết một số trường hợp, nhất là đối với cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ chủ chốt của cấp dưới trực tiếp, đã tiến hành nhìn nhận lại một cách toàn diện toàn bộ quy trình giải quyết đối với các cán bộ cùng cấp, cùng mức kỷ luật bị xử lý để rút kinh nghiệm.

Bên cạnh những kết quả, việc thực hiện các quy định về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị kỷ luật cũng còn những hạn chế:

Một là, khá nhiều cấp ủy còn chậm và lúng túng trong quán triệt và cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về bố trí công việc cho cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật, nhất là đối với kết luận của Bộ Chính trị trong Thông báo số 20/TB-TW, do đó kết quả thực hiện nhìn chung còn hạn chế và có sự lúng túng.

Hai là, một số cấp ủy chưa thực sự coi trọng lãnh đạo sự phối hợp giữa cấp ủy với các cơ quan chính quyền, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện công việc này

Ba là, ở nhiều nơi, ngoài ban tổ chức cấp ủy, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy khác chưa làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy trong sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Bốn là, khá nhiều ban thường vụ cấp ủy chưa thực sự quan tâm tiến hành công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Năm là, phần lớn cấp ủy chưa coi trọng việc sơ kết, rút kinh nghiệm về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật, nếu có thực hiện thì cũng còn hình thức, chất lượng thấp.

Các hạn chế nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Đối với các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan chính quyền, tình trạng chung là có tâm lý e ngại sử dụng cán bộ đã bị xử lý kỷ luật, thậm chí một số cấp ủy viên, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có biểu hiện hẹp hòi, nhất là đối với cán bộ bị xử lý kỷ luật có trình độ, năng lực cao hơn và kinh nghiệm công tác nhiều hơn. Bản thân cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật có tâm lý mặc cảm, không muốn tiếp tục công tác; nhiều trường hợp có thời gian làm việc còn lại không nhiều, trong khi việc thực hiện quy trình, thủ tục xem xét, quyết định bố trí công việc thường kéo dài, tạo tâm lý chán nản, ít thiết tha tiếp tục tham gia công việc. Ngoài ra, công tác tuyên truyền đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân về các nội dung này ở nhiều nơi chưa thực sự được coi trọng, dẫn đến những nhận thức lệch lạc về sử dụng cán bộ đã bị xử lý kỷ luật.

Từ thực tiễn sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật trong thời gian qua bước đầu có thể rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trên cơ sở nắm chắc nhiệm vụ chính trị, nhu cầu về đội ngũ cán bộ và quan điểm, các quy định của Đảng, Nhà nước, quan tâm thực hiện việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật là yếu tố rất quan trọng để công việc này đạt hiệu quả.

Hai là, tiến hành tốt công tác tư tưởng trong tổ chức đảng, cơ quan nhà nước về việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Ba là, xác định đúng nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; phẩm chất, năng lực và uy tín của cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật để vừa giữ nghiêm kỷ luật, vừa sử dụng hợp lý cán bộ, đảng viên từng có sai phạm để thực hiện công việc này một cách chính xác.

Bốn là, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của từng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật để động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để họ tiếp tục cống hiến, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

4. Giải pháp thực hiện tốt việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Một là, thống nhất nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, nhất là ban thường vụ cấp ủy và người đứng đầu, cán bộ, đảng viên, các tổ chức trong hệ thống chính trị về thực hiện tốt việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Cấp ủy nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, sự cần thiết phải thực hiện tốt công việc này. Cần tuyên truyền, giải thích cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị và nhân dân về sử dụng cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật là thể hiện tư tưởng nhân văn “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại” trong truyền thống văn hóa của dân tộc; việc xử lý kỷ luật là cần thiết để giữ nghiêm kỷ luật, nhưng đối với cán bộ vẫn thật sự có năng lực, có khả năng cống hiến, còn tương đối trẻ, nhất là các cán bộ lãnh đạo bị xử lý kỷ luật do phải chịu trách nhiệm của người đứng đầu từ nhiệm kỳ trước, vẫn cần tạo điều kiện để cán bộ khắc phục khuyết điểm, công tác tốt hơn.

Cũng cần nhận thức rõ, thực hiện tốt công việc này là góp phần thúc đẩy thực hiện Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung và Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tránh tình trạng cán bộ có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, né tránh việc khó, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trong công việc. Các cấp ủy có thể tổ chức thảo luận sâu trong sinh hoạt cấp ủy, các cuộc tọa đàm khoa học để làm sáng tỏ, thống nhất nhận thức về những vấn đề chủ yếu liên quan đến sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật.

Trên cơ sở Thông báo số 20-TB/TW của Bộ Chính trị, cấp ủy cấp tỉnh tiến hành xây dựng, ban hành kết luận về việc này. Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh hướng dẫn cấp ủy cấp dưới, nhất là cấp ủy trực thuộc, cụ thể hóa kết luận của cấp ủy cấp tỉnh về việc này để thực hiện. Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thí điểm việc sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, sơ kết, rút kinh nghiệm, sau đó điều chỉnh cho phù hợp. Ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh quan tâm giúp cấp ủy cấp dưới, cơ quan chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và rút kinh nghiệm về sử dụng sử dụng cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý của cấp ủy cấp dưới sau khi bị xử lý kỷ luật.

Hai là, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng, Nhà nước về sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật

Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương tham mưu về việc bổ sung, hoàn chỉnh Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Ban Cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo Ban Cán sự đảng Bộ Nội vụ phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản liên quan đến việc sử dụng cán bộ, công chức, viên chức sau khi bị thi hành kỷ luật.

Ba là, phát huy vai trò của cơ quan nhà nước các cấp, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tham gia vào việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật

Các cơ quan nhà nước các cấp đề xuất với cấp ủy về nhu cầu cán bộ, đánh giá năng lực, nguyện vọng chính đáng của cán bộ sau khi bị xử lý kỷ luật và dự kiến bố trí công tác cho cán bộ, đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi để cán bộ này hòa nhập với cơ quan và thể hiện được năng lực của mình. Trong quá trình cán bộ từng bị kỷ luật làm việc, cơ quan nhà nước thường xuyên theo dõi, quản lý chặt chẽ cán bộ, không để cán bộ mắc khuyết điểm. Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước cùng cấp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đoàn kết, trong sạch, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giúp cán bộ đã bị xử lý kỷ luật tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, góp phần xây dựng cơ quan vững mạnh.

Các tổ chức cơ sở đảng, tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, công chức, viên chức cơ quan gần gũi, thân ái, động viên, hỗ trợ cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật trong vị trí công tác mới. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt việc việc giám sát cán bộ, đảng viên, góp phần vào việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật có hiệu quả; phát hiện, phản ánh về cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật được bố trí công việc mới có biểu hiện sai phạm để xử lý kịp thời.

Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa ban tổ chức cấp ủy với ủy ban kiểm tra của cấp ủy, các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp ủy và cơ quan nội vụ cùng cấp trong việc tham mưu, đề xuất cho cấp ủy về phương án sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật bảo đảm đúng người, đúng việc

Thực hiện quy chế phối hợp công tác chung, các cơ quan nêu trên có sự bàn bạc kỹ lưỡng, cân nhắc nhiều mặt để có ý kiến đề xuất hợp lý, thống nhất. Trong quá trình thực hiện quyết định của cấp có thẩm quyền về bố trí cán bộ sau khi bị kỷ luật, các cơ quan phối hợp tiến hành các bước, các thủ tục cần thiết theo đúng quy định để công việc này diễn ra suôn sẻ, được sự đồng thuận của lãnh đạo và cán bộ, công chức, nhân dân nơi cán bộ mới đến nhận nhiệm vụ. Nếu có vấn đề phát sinh, các cơ quan cùng bàn bạc cách thức giải quyết, hoặc thống nhất đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định kịp thời. Sau khi bố trí công tác cho một số cán bộ bị xử lý kỷ luật, nhất là cán bộ nguyên là cấp ủy viên, cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy quản lý, các cơ quan nên tổ chức rút kinh nghiệm việc thực hiện quy định về sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi có quyết định kỷ luật.

Năm là, các cấp ủy cấp trên tăng cường kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới, nhất là cấp dưới trực tiếp và cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy quản lý, về sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

Cấp ủy cấp trên kiểm tra, giám sát nhận thức và việc tổ chức thực hiện của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới về sử dụng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những lệch lạc trong nhận thức và sai sót trong thực hiện, nhất là tình trạng bất hợp tác với cán bộ đã từng bị kỷ luật; giúp cấp dưới giải quyết các vướng mắc nảy sinh một cách kịp thời. Coi trọng công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với cán bộ đã bị xử lý kỷ luật để phòng ngừa, ngăn chặn sai lầm, khuyết điểm từ khi mới manh nha. Ủy ban kiểm tra của cấp ủy phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy và các cấp ủy cấp dưới trong kiểm tra việc sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật để công việc này được thực hiện đúng đắn, đem lại hiệu quả.

Sáu là, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật nhận thức sâu sắc về sai lầm, khuyết điểm của mình, tích cực sửa chữa, rèn luyện để được sử dụng vào những công việc phù hợp, tiếp tục cống hiến và trưởng thành

Bản thân từng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cần nhận thức sâu sắc, nghiêm khắc đối với sai lầm, khuyết điểm của mình, ghi nhận sự tin tưởng các quy định của tổ chức khi đã bố trí công việc hợp lý cho mình để kiên quyết không mắc lại sai lầm, khuyết điểm, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Trên cương vị, vị trí công tác mới, từng cán bộ, đảng viên xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiêm túc việc tự học tập, tự rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt, năng lực công tác, ý thức tổ chức kỷ luật để không ngừng tiến bộ. Cấp ủy quan tâm động viên, tạo điều kiện thuận lợi để những cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật đã được bố trí công việc phù hợp thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động.

5. Kết luận

Sử dụng cán bộ, đảng viên sau khi bị xử lý kỷ luật đã nhận thức được sai phạm và tác hại của các sai phạm do mình gây ra và sự nghiêm khắc của kỷ luật đảng, kỷ luật nhà nước, từ đó có nguyện vọng được tiếp tục cống hiến là để tận dụng khả năng, kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên phục vụ công việc, lợi ích chung, nhưng cũng là việc phức tạp. Các cơ quan lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền về công tác cán bộ cầm nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước, hướng dẫn của cấp trên và có biện pháp tổ chức thực hiện chặt chẽ, thận trọng, phát huy vao trò của các tổ chức, cơ quan để đạt được sự thống nhất, đồng thuận cao trong quá trình thực hiện.

Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố nền tảng vững chắc của Đảng trong bối cảnh mới.

 Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng và nhân dân, trực tiếp truyền tải, triển khai các nghị quyết của Đảng, vận động quần chúng tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời là nơi tiếp nhận, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Do đó, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là yếu tố căn cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết đi sâu phân tích vai trò của xây dựng tổ chức cơ sở đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh hiện nay.

Tạo chuyển biến thực chất, mạnh mẽ trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên - Ảnh 1.
Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII xem xét Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên _ Ảnh: baochinhphu.vn

1. Mở đầu

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền là sự phản ánh quy luật lịch sử khách quan cách mạng Việt Nam và thể hiện sự tin tưởng, giao phó của nhân dân đối với Đảng. Vị thế này không chỉ khẳng định sức mạnh, uy tín của Đảng mà còn tạo ra những điều kiện thuận lợi để Đảng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Điều này đã được thực tiễn chứng minh qua các giai đoạn lịch sử.

Là Đảng duy nhất cầm quyền, tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) giữ vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. TCCSĐ là cấp trực tiếp tổ chức triển khai đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn, đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng lên cấp trên. TCCSĐ có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp định hướng dư luận xã hội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

2. Vai trò của xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

TCCSĐ lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị và có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện quần chúng để phát triển đảng, kết nạp và sàng lọc đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm tính tiên phong và trong sạch của Đảng. Bởi vậy, chất lượng của hệ thống TCCSĐ có ảnh hưởng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và uy tín của Đảng với nhân dân.

Thực tiễn đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống TCCSĐ trong việc hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng. Thông qua các TCCSĐ, đường lối của Đảng được cụ thể hóa, tác động đến toàn xã hội. Sự đổi mới và kết hợp hiệu quả các phương thức lãnh đạo đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.

Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ bằng việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát,... , góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ cách mạng.

TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do đó nâng cao chất lượng TCCSĐ là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên.

Sức mạnh và sự trong sạch của TCCSĐ là sự cộng hưởng sức mạnh của tổ chức và từng đảng viên. Đảng do các cá nhân đảng viên tạo nên, từng đảng viên mạnh sẽ làm cho tổ chức mạnh và tổ chức mạnh sẽ tạo môi trường thuận lợi để mỗi đảng viên phát huy năng lực. Đảng ta luôn chú trọng xây dựng tổ chức chặt chẽ, khoa học, đồng thời không ngừng rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ và từng cán bộ, đảng viên. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo được thực hiện cẩn trọng, nhằm tạo ra những tập thể đồng bộ, hiệu quả.

Tổ chức cơ sở Đảng mạnh là do thực hành dân chủ, lấy dân làm gốc. Xây dựng Đảng trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, Đảng có khả năng thảo luận, tranh luận một cách rộng rãi, dân chủ trong nội bộ và lấy ý kiến nhân dân về mọi vấn đề, từ Cương lĩnh, đường lối chiến lược, sách lược đến chủ trương, chính sách cụ thể. Điều này cũng xuất phát từ việc Đảng luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, không có bất kỳ lợi ích riêng nào khác.

Để Đảng mạnh, phải phát huy dân chủ: “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc...”(1), “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”(2).

Tổ chức cơ sở đảng thể hiện rõ trong công tác tư tưởng. TCCSĐ có nhiệm vụ hàng đầu là thực hiện công tác tư tưởng, thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, định hướng dư luận theo hướng tích cực, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của TCCSĐ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, giao thông, công tác tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Tình hình công tác xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng

Trải qua gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cách mạng Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước tiến lên CNXH. Những thành tựu đó là kết quả của quá trình nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là sự hy sinh, cống hiến không ngừng nghỉ của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác là phấn đấu cho lợi ích của dân tộc vì hoà bình độc lập và phát triển. Là đảng duy nhất cầm quyền, từ Cương lĩnh, đường lối chiến lược đến chủ trương, chính sách cụ thể Đảng đều có thể thảo luận, tranh luận rộng rãi trong Đảng và lấy ý kiến của quần chúng nhân dân. Không chỉ thảo luận dân chủ, rộng rãi trong nội bộ mà Đảng luôn đưa ra cho toàn dân thảo luận trước khi quyết định.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống TCCSĐ không ngừng phát triển và được hoàn thiện, góp phần quan trọng đưa đường lối cách mạng thành hiện thực.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII, công tác củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đảng viên đạt được kết quả nổi bật. Năm 2022, toàn Đảng có 51.686 TCCSĐ thì đến tháng 6-2023 là 52.323. Tính đến ngày 31-12-2022, tổng số đảng viên toàn Đảng là 5.380.573, đến tháng 6-2023 là 5.420.161 người. Sáu tháng đầu năm 2023, toàn Đảng kết nạp được 39.588 quần chúng ưu tú. Một số tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã kết nạp đạt tỷ lệ từ 3% đến 4% tổng số đảng viên. Đảng viên được kết nạp có cơ cấu độ tuổi tương đối phù hợp, số lượng đảng viên nữ, trẻ, đồng bào dân tộc thiểu số, người có tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng lên, tạo sinh lực mới cho Đảng(3).

Cùng với tăng về số lượng, chất lượng đảng viên có chuyển biến tích cực, trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị ngày càng được nâng cao. Hiện nay, có trên 55% đảng viên có trình độ đại học và trên 60% đảng viên có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên. Việc quản lý, rà soát, sàng lọc, đánh giá, xếp loại chất lượng, kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ, xử lý đảng viên vi phạm, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng được thực hiện nghiêm túc. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đẩy mạnh.

Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, Đảng cũng đã nhận rõ những hạn chế, yếu kém của hệ thống TCCSĐ cần khắc phục. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đặc biệt là tình trạng nhiều TCCSĐ và bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật.

Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Công tác tự phê bình và phê bình chưa thực sự đi vào chiều sâu, còn mang tính hình thức, né tránh, thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm. Một số đảng viên có biểu hiện suy giảm niềm tin, không tuân thủ kỷ luật phát ngôn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng trong lòng dân.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí trong thời gian qua vẫn còn diễn biến phức tạp, đặc biệt trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức vụ trong bộ máy công quyền. Mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm… không chỉ diễn ra ở cấp cơ sở mà còn xuất hiện ở một số cơ quan Trung ương, doanh nghiệp nhà nước. Những điều này đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân với đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới vai trò lãnh đạo của đảng.

Nhiều TCCSĐ và đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch còn mang tính hình thức, bị động, thiếu hiệu quả.

Bên cạnh đó, sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn hình thức, hiệu quả thấp. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu kém. Công tác tổ chức, cán bộ còn nhiều bất cập, nhiều cán bộ, đảng viên chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, còn quan liêu, xa rời thực tiễn. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa.

Đại hội XIII đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đó là việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một số nghị quyết còn chậm, thiếu quyết liệt và hiệu quả. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc, thậm chí còn có dấu hiệu vi phạm. Công tác tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức, thiếu tính kịp thời và thuyết phục. Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của quần chúng nhân dân.

Vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế. Công tác rèn luyện, quản lý đảng viên còn nhiều bất cập, sinh hoạt đảng còn hình thức, thiếu tính chiến đấu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu, công tác phát triển đảng viên ở một số địa bàn gặp nhiều khó khăn. Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên chưa thực chất, một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, suy giảm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng còn nhiều bất cập, công tác phòng ngừa chưa được chú trọng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu, công tác dân vận còn hạn chế. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những kết quả nhưng chưa có chuyển biến rõ rệt, việc tự kiểm tra, tự phát hiện của nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa kịp thời và xử lý còn yếu. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đầy đủ, đồng bộ nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao.

Những hạn chế, yếu kém trên đã làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân, gây ra những nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ(4).

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên thời gian qua, đó là: (1) Chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở. (2) Một số cấp ủy cơ sở chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu; chưa chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; mất sức chiến đấu, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, giảm niềm tin của nhân dân với Đảng. (3) Mô hình tổ chức một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng khu vực ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, tỉ lệ có tổ chức đảng, đảng viên thấp, vai trò lãnh đạo mờ nhạt, lúng túng cả về nội dung và phương thức hoạt động. Một số tổ chức cơ sở đảng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, ở ngoài nước… hoạt động còn khó khăn. Một số nơi còn tình trạng “trắng” đảng viên. (4) Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. (5) Nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng của không ít đảng viên chưa đúng, không trong sáng. (6) Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý; tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng.

Nhận thức rõ những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống TCCSĐ, Đảng ta đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Xác định đây là nhiệm vụ cấp bách, then chốt, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu mới.

3. Giải pháp tăng cường xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Một là, thực hành dân chủ, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc, coi trọng vai trò chủ thể của nhân dân trong mọi quyết sách của Đảng “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc...”, “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh, là bài học quý báu về phương pháp lãnh đạo, xây dựng và phát triển đất nước.

Thực hiện tư tưởng này, TCCSĐ không chỉ là lắng nghe ý kiến của nhân dân mà còn tôn trọng, tin tưởng và phát huy trí tuệ, sức mạnh của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm mọi quyết sách của Đảng và Nhà nước thực sự vì dân, do dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam với nền tảng tư tưởng cách mạng, được nhân dân tin tưởng và suy tôn là lực lượng lãnh đạo duy nhất Nhà nước và xã hội. Nhân dân thông qua Đảng để bày tỏ nguyện vọng, ý chí và thực hiện quyền làm chủ của mình. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước được thể hiện rõ ràng: Nhà nước hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều do Đảng lựa chọn, giới thiệu và được nhân dân bầu ra. Do đó, người dân phản ánh nguyện vọng, thắc mắc trực tiếp với cán bộ lãnh đạo tổ chức đảng tại cơ sở, tin tưởng Đảng lắng nghe và giải quyết. Sự tin tưởng này bắt nguồn từ những thành tựu mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân đạt được, đồng thời từ việc Đảng luôn khẳng định vai trò đại diện cho lợi ích của nhân dân.

Tuy nhiên, Đảng cũng nhận thức rõ rằng sự tin tưởng này cần được củng cố và vun đắp không ngừng thông qua việc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, trong đó có hệ thống TCCSĐ, để Đảng thực sự là người đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân

Hai là, là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ lãnh đạo những vấn đề lớn lao của đất nước, mà còn có trách nhiệm sâu sắc đối với đời sống hàng ngày của nhân dân. V.I.Lênin đã nhấn mạnh khi ông đòi hỏi Đảng phải luôn “liên hệ với quần chúng. Sống trong lòng quần chúng. Biết tâm trạng quần chúng. Biết tất cả. Hiểu quần chúng. Biết đến với quần chúng. Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”(5).

Tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhấn mạnh vai trò then chốt của việc gắn bó mật thiết với nhân dân, bởi lẽ để lãnh đạo thành công, Đảng không thể đứng ngoài quần chúng mà phải “sống trong lòng quần chúng”, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng và khó khăn của họ. Do đó, “liên hệ với quần chúng” không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là phương châm hành động cụ thể. Đảng cần chủ động tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi đó là nguồn thông tin quan trọng để hoạch định đường lối, chính sách. Hơn thế nữa, “biết tâm trạng quần chúng” là thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc của nhân dân, từ đó có những hành động phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của họ.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”(6). Điều này thể hiện rõ quan điểm “dân là gốc” của Đảng, coi việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu.

Để “biết tất cả. Hiểu quần chúng”, đòi hỏi các TCCSĐ phải có sự am hiểu sâu sắc về đời sống xã hội, về những vấn đề mà nhân dân quan tâm. Chỉ khi hiểu rõ quần chúng, Đảng mới có thể đề ra những giải pháp đúng đắn, thiết thực.

Bên cạnh đó, “biết đến với quần chúng” là sự chủ động, gần gũi của Đảng với nhân dân. Đảng cần có mặt ở những nơi nhân dân cần, chia sẻ khó khăn, động viên, khích lệ nhân dân. Cuối cùng, “giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng” là mục tiêu cuối cùng của Đảng. Bởi lẽ, lòng tin của nhân dân là tài sản vô giá, là sức mạnh to lớn để Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Ba là, kiểm soát quyền lực, phòng chống bệnh quan liêu

Vị thế đảng duy nhất cầm quyền cũng tiềm ẩn những nguy cơ, dễ dẫn đến chủ quan, tự mãn, quan liêu, xa rời nhân dân, thậm chí là lạm dụng quyền lực. Bệnh quan liêu trong hoạt động quản lý nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, thường gắn liền với sự suy thoái, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng. Khi tính dân chủ trong Đảng bị xói mòn, việc thực hiện dân chủ đối với nhân dân cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Đây chính là nguy lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, đặc biệt là đối với những người nắm giữ quyền lực.

Để phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ này, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là vấn đề sống còn. Trong bối cảnh đảng duy nhất cầm quyền, việc tăng cường vai trò của đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng trở nên đặc biệt quan trọng. Đây là biện pháp hữu hiệu để tạo ra sức mạnh nội tại giúp Đảng luôn vững mạnh và trong sạch.

Bốn là, tăng cường thực hiện các giải pháp xây dựng và chính đốn Đảng

Thực tế cho thấy, hoạt động của TCCSĐ và đảng viên đang đối mặt với nhiều thách thức. Những mặt trái của cơ chế thị trường, sự tác động từ bên ngoài, cùng với những diễn biến phức tạp trong xã hội, đã khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống. Tình trạng này đòi hỏi Đảng phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh phê bình và tự phê bình.

Các Đại hội IX, XI, XII và XIII của Đảng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII thể hiện quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng trong việc nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, kiên quyết sửa chữa, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm.

Để thực hiện thành công công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần thiết lập nề nếp phê bình và tự phê bình thường xuyên, yêu cầu cán bộ, đảng viên nghiêm túc chấp hành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần củng cố, nâng cao công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, kết hợp chặt chẽ với thanh tra của nhà nước và thanh tra, giám sát của nhân dân, mở rộng sự tham gia của nhân dân vào công tác xây dựng Đảng. Qua đó, phẩm chất đạo đức của đảng viên sẽ được nâng cao, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ được ngăn chặn và đẩy lùi, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Năm là, gắn kết chặt chẽ giữa công tác cán bộ, đảng viên

Để hoàn thành nhiệm vụ, mỗi TCCSĐ cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Hồ Chí Minh khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, chất lượng đội ngũ cán bộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của Đảng, bởi khi đội ngũ cán bộ không đạt yêu cầu, phẩm chất yếu, năng lực yếu, sẽ làm Đảng suy yếu, đường lối của Đảng không thể trở thành hiện thực.

Mỗi thời kỳ cách mạng, đều cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng, có phẩm chất và năng lực đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ. Vì vậy, việc tăng cường công tác cán bộ là một yêu cầu cấp thiết.

Các TCCSĐ cần tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt, cần coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài, đồng thời luôn chú trọng trẻ hóa đội ngũ cán bộ, kết hợp hài hòa ba độ tuổi, đảm bảo tính kế thừa và phát triển.

Trong công tác cán bộ, cần nắm vững quan điểm giai cấp, có chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi cán bộ, trọng dụng nhân tài của đất nước. Khai thác mặt mạnh của mỗi loại cán bộ để bổ sung cho nhau, đồng thời đặc biệt coi trọng xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ cấp chiến lược vĩ mô và cấp cơ sở.

Đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa tập thể và cá nhân, tuân thủ quy trình chặt chẽ, là yếu tố quan trọng để phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt của đời sống xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển.

4Kết luận

Trong bối cảnh hiện nay, việc tăng cường xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nâng cao hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy cơ sở, tính tiền phong của cán bộ đảng viên là nhiệm vụ cấp thiết. Để đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ này, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng với việc phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ đảng viên. Tập trung vào đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, tăng cường dân chủ trong Đảng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, giữ vững và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, để TCCSĐ là nền tảng cảu Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.