Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên.

 Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên rất sâu sắc, nhất là quan điểm về sự thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, về vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên và vai trò của khoa học tự nhiên đối với triết học có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên hiện nay.

mac-ang-ghen.jpg
C. Mác và Ph. Ăng-ghen _Tranh: Tư liệu

1. Mở đầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, đòi hỏi nhân loại phải giải quyết đúng đắn và kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đang đặt ra. Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được khi các nhà khoa học (triết học và khoa học tự nhiên) nắm vững và vận dụng đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, kịp thời nắm bắt và khái quát các thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại để bổ sung, phát triển lý luận triết học và vận dụng sáng tạo vào trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

Để có cơ sở lý luận giải quyết mối quan hệ giữa triết học và các khoa học nói chung, mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên nói riêng, không có gì khác hơn, chúng ta cần phải nghiên cứu những di sản của các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên.

Trong lịch sử triết học và các khoa học, xuất phát từ những lập trường khác nhau có những quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học. Về cơ bản, có hai khuynh hướng: hoặc đề cao triết học, hạ thấp các khoa học; hoặc là đề cao các khoa học, hạ thấp triết học. Cả hai quan điểm này đều là phiến diện, siêu hình, không vạch ra được bản chất đích thực của mối quan hệ giữa triết học và các khoa học.

Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đã giải quyết đúng đắn, vạch ra bản chất đích thực của mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, nêu lên ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của bản thân triết học, khoa học tự nhiên và đời sống xã hội. Ngay trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác đã dự báo rằng, một khi con người đã trở thành “đối tượng trực tiếp của khoa học tự nhiên”, còn tự nhiên đã trở thành “đối tượng trực tiếp của khoa học về con người” thì khi đó, “khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên: đó sẽ là một khoa học”(1).

2. Quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên

Một là, về sự thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên

Ph.Ăngghen cho rằng, mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên là mối quan hệ biện chứng, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt, tác động qua lại lẫn nhau. Triết học và khoa học tự nhiên đều thuộc về lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, là các hình thái ý thức xã hội nên đều là sự phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Cả triết học, cả khoa học tự nhiên đều có nguồn gốc sâu xa là thực tiễn, là sản phẩm của thực tiễn, do nhu cầu phát triển của sản xuất và đời sống. Chính điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định trong tác phẩm bút chiến Chống Đuyrinh: “Cũng như tất cả các khoa học khác, toán học sinh ra từ những nhu cầu thực tiễn của con người”(2).

Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống xã hội, đối tượng nghiên cứu của triết học và khoa học tự nhiên ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp nên triết học và khoa học tự nhiên cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò ngày càng quan trọng. Mặt khác, triết học và khoa học tự nhiên có điểm chung là sử dụng các công cụ của tư duy lôgíc, của lý trí, trí tuệ con người thông qua sự khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để thiết lập nên các mệnh đề, nguyên lý, phạm trù, quy luật trong sự nghiên cứu của mình.

Như vậy, cơ sở khách quan của mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, đó là thực tiễn. Trên cơ sở thực tiễn mà triết học và khoa học tự nhiên mới phát sinh, hình thành và phát triển. Nhờ có thực tiễn mà các nguyên lý, quy luật, phạm trù của triết học, các kết quả của khoa học tự nhiên mới thể hiện tính chân lý, mới thể hiện sự phù hợp với hiện thực. Chính thực tiễn là cơ sở sâu xa của sự thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên. Thực tiễn đã gắn kết triết học và khoa học tự nhiên trong mối quan hệ biện chứng và tạo thành một chỉnh thể - một hệ thống các khoa học.

Tính đặc thù của mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên là ở chỗ, tùy vào từng giai đoạn phát triển cụ thể mà cái này hay cái kia nổi trội lên hàng đầu đóng vai trò chi phối. Giữa triết học và khoa học tự nhiên có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó triết học đóng vai trò là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho sự phát triển của khoa học tự nhiên; còn khoa học tự nhiên cung cấp dữ liệu cho triết học để từ đó triết học khái quát thành các quan điểm triết học, đồng thời kiểm chứng các luận điểm triết học.

Hai là, về vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên

Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã làm rõ mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên trong tiến trình lịch sử của bản thân khoa học tự nhiên và của triết học. Theo đó, triết học có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên và sự phát triển của khoa học tự nhiên tương ứng với sự phát triển của triết học. Ph.Ăngghen đã phân tích và đi đến khẳng định vai trò của phép biện chứng duy vật: “chính phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác”(3).

Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên không thể thiếu được vai trò của triết học, bởi vì triết học tác động đến phương pháp tư duy của con người. Bằng các dẫn chứng cụ thể trong quá trình phát triển của khoa học tự nhiên và của triết học, ông đã chỉ ra sự tác động của triết học đến sự phát triển của khoa học tự nhiên. Ph.Ăngghen đã từng phê phán mạnh mẽ một số nhà khoa học tự nhiên khi họ quan niệm không cần tới tư duy lý luận. Trên thực tế, những nhà khoa học tự nhiên ấy lệ thuộc rất nhiều vào tư duy lý luận, nhưng thường lại là tư duy sai lầm được rút ra từ những học thuyết triết học “tồi tệ nhất”.

Trong “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng họ thoát khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì không có tư duy thì họ không thể tiến lên được một bước nào và muốn tư duy thì họ cần có những phạm trù lôgích, mà những phạm trù ấy thì họ lấy một cách không phê phán, hoặc lấy trong cái ý thức chung, thông thường của những người gọi là có học thức, cái ý thức bị thống trị bởi những tàn tích của những hệ thống triết học đã lỗi thời, hoặc lấy trong những mảnh vụn của các giáo trình triết học bắt buộc trong các trường đại học (đó không chỉ là những quan điểm rời rạc, mà còn là một mớ hổ lốn những ý kiến của những người thuộc các trường phái hết sức khác nhau và thường là những trường phái tồi tệ nhất), hoặc lấy trong những tác phẩm triết học đủ các loại mà họ đọc một cách không có hệ thống và không phê phán - cho nên dù sao, rút cục lại, họ vẫn bị lệ thuộc vào triết học…Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những học thuyết triết học tồi tệ nhất”(4).

Do vậy, các nhà khoa học tự nhiên không cần phải nghi ngờ, dao động rằng triết học có cần thiết hay không, mà cần phải tìm kiếm, lựa chọn tư tưởng triết học nào dẫn đường, chỉ lối. Để nhấn mạnh vai trò định hướng của triết học đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen viết: “Dù các nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ vẫn bị triết học chi phối. Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt, hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”(5).

Ph.Ăngghen chỉ rõ, sự khinh miệt của những kẻ kinh nghiệm chủ nghĩa đối với phép biện chứng sẽ bị trừng phạt. Họ tất nhiên phải sa vào chủ nghĩa duy tâm và phép thần bí: “Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt. Dù người ta tỏ ý khinh thường mọi tư duy lý luận như thế nào đi nữa, nhưng không có tư duy lý luận thì người ta cũng không thể liên hệ hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhau được, hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự kiện đó…Và như vậy sự khinh thường phép biện chứng theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ bị trừng phạt như sau: nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tỉnh táo nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại”(6).

Theo Ph.Ăngghen, muốn giải quyết mâu thuẫn ngày càng sâu sắc trong khoa học tự nhiên thì các nhà khoa học tự nhiên phải tự giác nắm lấy phép biện chứng, phải trở thành những nhà biện chứng tự giác. Khi kêu gọi các nhà khoa học tự nhiên quay trở lại với phép biện chứng, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Có thể quay trở lại bằng nhiều con đường khác nhau. Có thể quay trở lại một cách tự phát, bằng cách chỉ dựa vào sức mạnh của những phát minh của bản thân khoa học tự nhiên, những phát minh không còn muốn để bị buộc lên cái giường của Prôquýtxtơ của chủ nghĩa siêu hình cũ nữa. Nhưng đó là một quá trình lâu dài và khó khăn, trong đó cần phải vượt qua rất nhiều sự va chạm vô ích. Đại bộ phận quá trình ấy đang diễn ra nhất là trong sinh học. Có thể rút ngắn quá trình ấy đi rất nhiều, nếu các đại biểu của khoa học tự nhiên lý thuyết muốn tìm hiểu sát hơn nữa triết học biện chứng dưới những hình thức lịch sử sẵn có của nó”(7).

Nghiên cứu tình hình khoa học tự nhiên, nhất là từ thời kỳ cận đại thế kỷ XVII - XVIII, Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, nhà khoa học tự nhiên không thể thiếu phương pháp luận triết học sáng suốt dẫn đường. Thiếu tư duy triết học sáng suốt dẫn đường, nhà khoa học tự nhiên khó có thể xác định tốt những định hướng nghiên cứu đúng đắn, hợp lý, tối ưu để có được những phát minh, sáng chế. Đồng thời, Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, đến nửa đầu thế kỷ XIX do lưu hành chủ nghĩa duy vật tầm thường và chủ nghĩa chiết trung nên khoa học tự nhiên rơi vào tình trạng không có lối thoát, không thể phát triển. Để thoát khỏi tình trạng đó, khoa học tự nhiên tất yếu phải quay về với tư duy biện chứng. Từ đó, Ph.Ăngghen chỉ ra vai trò quan trọng của tư duy lý luận đối với sự phát triển và sự giải thoát khoa học tự nhiên khỏi những quan niệm duy tâm, tôn giáo thần bí.

Ông khẳng định tư duy biện chứng là chiếc chìa khóa, là con đường để dẫn tới sự phát triển của khoa học tự nhiên, để khoa học tự nhiên làm tròn sứ mệnh cao cả của mình. Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận... chỉ có phép biện chứng mới có thể giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận... Trên thực tế, ở đây, ngày nay không còn một lối thoát, không còn một khả năng nào để có thể nhìn thấy ánh sáng nếu không từ bỏ tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng, bằng cách này hay cách khác”(8).

Như vậy, lịch sử phát triển của triết học đã chứng tỏ rằng, triết học có vai trò to lớn trong việc rèn luyện năng lực tư duy lý luận của con người, bởi như Ph. Ăngghen khẳng định: “Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta có mà thôi. Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời đại trước”(9). Rõ ràng hơn, trong “Lời tựa” viết cho ba lần xuất bản tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph. Ăngghen khẳng định: “Chỉ có khi nào khoa học tự nhiên tiếp thu được những kết quả của hai nghìn năm trăm năm phát triển của triết học thì nó mới có thể, một mặt, thoát khỏi mọi thứ triết học tự nhiên đứng tách riêng, đứng ngoài và đứng trên nó và, mặt khác, thoát khỏi cái phương pháp tư duy hạn chế của chính nó, do chủ nghĩa kinh nghiệm Anh để lại”(10).

Bằng sự phân tích, khảo nghiệm thực tiễn, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ sự cần thiết của tư duy biện chứng đối với khoa học tự nhiên. Không thể phủ nhận vai trò của triết học, nhất là triết học duy vật biện chứng đối với khoa học tự nhiên hiện đại. Trong phép biện chứng duy vật, những nguyên lý, quy luật, phạm trù là cơ sở lý luận và phương pháp luận của các nhà khoa học tự nhiên và chứng minh cho giá trị phổ biến của bản thân phép biện chứng duy vật.

Như vậy, theo quan điểm của Ph.Ăngghen, triết học đóng vai trò là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận phổ biến cho khoa học tự nhiên, là cơ sở lý luận để đánh giá các thành tựu của khoa học tự nhiên, vạch ra phương hướng phát triển, phương pháp nghiên cứu của các khoa học đó.

Ba là, về vai trò của khoa học tự nhiên đối với triết học

Trước hết, vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học và thực tiễn được thể hiện rất rõ trong quan điểm của Ph.Ăngghen khi đánh giá ý nghĩa to lớn mang tính vạch thời đại của thuyết Nhật tâm của N. Côpécních ở thời kỳ Phục hưng. Ph.Ăngghen cho rằng sự ra đời của thuyết Nhật tâm là một cuộc cách mạng từ trên trời báo trước cuộc cách mạng trong đời sống xã hội. Có thể nói, cuộc cách mạng này, trước hết là cuộc cách mạng về thế giới quan, nó tác động rất lớn đến khoa học và thực tiễn xã hội. Không phải ngẫu nhiên, từ khi thuyết Nhật tâm ra đời, khoa học và thực tiễn xã hội ở Tây Âu phát triển như vũ bão. Ph.Ăngghen khẳng định: “Hành vi cách mạng mà khoa học tự nhiên dùng để tuyên bố sự độc lập của mình... chính là việc xuất bản tác phẩm bất hủ trong đó Côpécních - tuy với thái độ rụt rè và có thể nói là chỉ trong khi hấp hối, đã thách thức uy quyền của Giáo hội trong các vấn đề của giới tự nhiên. Từ đó trở đi, khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học... Từ ngày đó, sự phát triển của các ngành khoa học cũng tiến được những bước khổng lồ và ngày càng mạnh lên...”(11).

Khi phân tích đặc trưng, phương pháp của khoa học tự nhiên thời kỳ cận đại thế kỷ XVII - XVIII, Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, do sự thống trị của cơ học cổ điển của Niutơn đã làm cho phương pháp thực nghiệm thống trị trong khoa học tự nhiên và từ đó dẫn đến phương pháp siêu hình trở nên thống trị trong triết học. Về vấn đề này, Ph.Ăngghen viết: “Nhưng phương pháp nghiên cứu ấy đồng thời cũng để lại cho chúng ta một thói quen là xem xét những sự vật tự nhiên và quá trình tự nhiên trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ to lớn chung, và do đó không xem xét chúng trong trạng thái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biến đổi, mà coi chúng là vĩnh viễn không biến đổi, không xem xét chúng trong trạng thái sống mà xem xét chúng trong trạng thái chết. Và khi phương pháp nhận thức ấy được Bê-cơn và Lốc-cơ đưa từ khoa học tự nhiên vào triết học thì nó tạo ra tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây, - tức là phương pháp tư duy siêu hình”(12).

Phương pháp siêu hình chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn thể, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”(13).

Khi đề cập đến vai trò của các khoa học tự nhiên giữa thế kỷ XIX đối với sự phát triển của triết học, trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen đã nhắc lại cơ sở khoa học tự nhiên dẫn đến sự cáo chung của phép siêu hình và sự hình thành phép biện chứng duy vật. Chính sự phát triển của khoa học tự nhiên từ khoa học sưu tập “về những vật chất bất biến” sang khoa học hệ thống hóa đã dẫn đến sự sụp đổ của phương pháp tư duy siêu hình và khẳng định vị trí tất yếu của phương pháp tư duy biện chứng, nhờ đó giờ đây có được “một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên dưới một hình thức gần như có hệ thống”(14).

Trước kia việc cung cấp một bức tranh bao quát như vậy là nhiệm vụ của triết học tự nhiên. Triết học tự nhiên đã có những tư tưởng thiên tài, mang tính vượt thời đại, vì nó đã phỏng đoán ra những điều mà mãi sau này khoa học mới chứng minh. Song, những thành tựu của khoa học tự nhiên đã cung cấp những bằng chứng chứng minh rằng giới tự nhiên là thống nhất. Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng đánh giá cao ý nghĩa của các thành tựu trong khoa tự nhiên đối với tư duy triết học và đối với bức tranh bao quát về thế giới: “Nhờ ba phát hiện vĩ đại đó và nhờ những thành tựu lớn lao khác của khoa học tự nhiên mà ngày nay chúng ta có thể chứng minh những nét lớn của mối liên hệ giữa các quá trình của tự nhiên không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực riêng biệt ấy nói chung và có thể trình bày một bức tranh bao quát về mối liên hệ trong tự nhiên”(15).

Những phát minh khoa học tự nhiên từ giữa thế kỷ XIX đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm siêu hình về tự nhiên, đòi hỏi phải có quan niệm mới phản ánh đúng tự nhiên, đó chính là quan điểm biện chứng duy vật. Vì vậy, Ph.Ăngghen coi giới tự nhiên là “hòn đá thử vàng” đối với phép biện chứng. Chính các phát minh vạch thời đại trong khoa học tự nhiên cùng với những biến đổi trong các khoa học lịch sử đã góp phần đưa đến sự cáo chung hình thức cũ của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật siêu hình; nó cần được thay thế bằng hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng. Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử - tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó”(16).

Khoa học tự nhiên với những thành tựu của mình không chỉ giúp triết học khái quát hóa thành các quan điểm triết học, mà còn giúp các nhà triết học hình thành và củng cố thế giới quan, phương pháp luận triết học. Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn toàn không phải chỉ riêng sức mạnh của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng. Trái lại, trong thực tế cái thực sự thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển và ngày càng nhanh chóng, ngày càng mạnh mẽ của khoa học tự nhiên và của công nghiệp”(17).

Ph.Ăngghen cho rằng, để trở thành một nhà triết học chân chính, điều kiện trước tiên là phải nắm vững kiến thức về khoa học tự nhiên - lịch sử, từ toán học, vật lý đến các khoa học về con người. Sứ mệnh lịch sử đó mà khoa học giao phó đã được đảm nhiệm bởi C.Mác và Ph.Ăngghen. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc các thành tựu khoa học tự nhiên, kế thừa những giá trị tinh hoa của lịch sử triết học nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập nên một hệ thống triết học vĩ đại nhất trong lịch sử - Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức và thực tiễn.

3. Ý nghĩa quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên trong giai đoạn hiện nay

Nhờ nghiên cứu một hệ thống các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem lại một cơ sở khoa học vững vàng cho việc vận dụng một cách sáng tạo trong thời đại ngày nay. Trong “Lời tựa” khi xuất bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bản tiếng Anh, năm 1888, Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Mặc dầu hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi lăm năm qua, nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày trong “Tuyên ngôn” này vẫn còn hoàn toàn đúng. Ở đôi chỗ, cần có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời”(18). Sau này, V. I. Lênin đã chỉ rõ: “phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể”(19), đó là “bản chất” và “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác.

Tiếp thu và vận dụng quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội, mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên được hiểu ở một tầm cao mới, sâu sắc hơn. Giải quyết mối quan hệ này có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của bản thân triết học, khoa học tự nhiên và có tầm quan trọng đặc biệt tác động đến sự phát triển của đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không những không bị thủ tiêu, trái lại, vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới hết sức đa dạng và phức tạp. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu nếu không được trang bị bởi các thành tựu của khoa học tự nhiên. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật và nếu thiếu tư duy biện chứng thì khoa học tự nhiên sẽ mất phương hướng và trở nên bế tắc. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết càng cần phải củng cố, phát triển mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, hình thành liên minh giữa các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên, như trong tác phẩm Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu được coi là bản “Di chúc triết học”, V.I.Lênin khẳng định: “Ngoài sự liên minh với những người duy vật chủ nghĩa triệt để, không ở trong Đảng cộng sản, thì một điều không kém quan trọng, nếu không phải là quan trọng hơn đối với sự nghiệp mà chủ nghĩa duy vật chiến đấu sẽ phải làm tròn, đó là sự liên minh với những đại biểu của các ngành khoa học tự nhiên hiện đại đang ngả về chủ nghĩa duy vật, có can đảm bảo vệ và truyền bá chủ nghĩa này chống những khuynh hướng triết học duy tâm chủ nghĩa và hoài nghi chủ nghĩa là những khuynh hướng đang thịnh hành trong cái mà người ta gọi là “giới có học thức””(20).

Luận điểm của V.I.Lênin về việc thiết lập liên minh giữa các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên vẫn giữ nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Sự gắn bó giữa triết học và các khoa học tự nhiên, sự hợp tác giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học tự nhiên là một yêu cầu tất yếu và càng trở nên bức thiết. Trong quan hệ với khoa học tự nhiên, mối quan hệ giữa triết học Mác - Lênin và khoa học tự nhiên là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: Triết học Mác - Lênin trang bị những công cụ thế giới quan khoa học và phương pháp luận phổ biến, định hướng cho sự phát triển của khoa học tự nhiên. Đến lượt mình, khoa học tự nhiên là điều kiện tiên quyết, cung cấp các thành tựu của mình cho sự phát triển của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử - Triết học Mác - Lênin.

Các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên cần bổ sung cho nhau trong công việc nghiên cứu của mình, từ việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và công cụ nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu,... Các nhà triết học nắm bắt sự phát triển của tri thức hiện đại trong khi nghiên cứu các quy luật, phạm trù; còn các nhà khoa học tự nhiên thì không nên đối lập các phạm trù của các khoa học tự nhiên với các phạm trù triết học, mà cần phải thấy chúng liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng vì một mục đích chung là phục vụ cho yêu cầu tiến bộ xã hội và hạnh phúc con người.

Vậy, làm thế nào để hình thành liên minh giữa các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên? Có rất nhiều các biện pháp cụ thể, nhưng chung quy lại, có thể khái quát thông qua các biện pháp cụ thể và chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, phải có cơ chế, chính sách cụ thể quy định mối quan hệ hợp tác giữa những người làm công tác triết học với các nhà khoa học tự nhiên.

Điều này chỉ có thể thực hiện được ở tầm vĩ mô, thông qua công cụ quản lý nhà nước của các cơ quan, các tổ chức, hiệp hội khoa học và triết học. Các cơ chế, chính sách được ban hành và thực thi sẽ trở thành chất keo kết nối, một động lực tinh thần cho sự hình thành, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên.

Thứ hai, tăng cường các hội thảo khoa học về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên

Thông qua các hội thảo, các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên có điều kiện, cơ hội để thảo luận, tranh luận, trao đổi về các vấn đề do lĩnh vực nghiên cứu khoa học của mình đặt ra. Chẳng hạn, các vấn đề triết học được đặt ra trước các thành tựu của khoa học tự nhiên; các vấn đề liên quan đến giá trị định hướng về thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với khoa học tự nhiên;...

Thứ ba, tăng cường nguồn lực cho sự phát triển mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực và trình độ nghiên cứu cả hai lĩnh vực triết học và khoa học tự nhiên. Đó là các nhà triết học đồng thời cũng thành thạo các lĩnh vực của khoa học tự nhiên và các nhà khoa học có sự uyên thâm về triết học. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua vai trò tổ chức, quản lý, đào tạo, sử dụng của các cơ quan nhà nước, thông qua việc mở rộng quan hệ quốc tế trong việc đào tạo nguồn nhân lực triết học và các khoa học hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay. Đặc biệt, yếu tố quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực triết học và khoa học tự nhiên chính là phải xuất phát từ chính nhu cầu và sự đam mê, tình cảm và trách nhiệm của các nhà triết học và các nhà khoa học tự nhiên đối với Tổ quốc và nhân dân.

Tăng cường nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ các lĩnh vực triết học và khoa học tự nhiên. Đó là các phương tiện công nghệ hiện đại, máy móc, phòng thí nghiệm, môi trường làm việc của những người làm công tác triết học và khoa học tự nhiên, nhờ đó hoạt động nghiên cứu triết học và khoa học tự nhiên mới phát huy hiệu quả và phát triển.

4. Kết luận

Quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên chỉ rõ rằng, giữa chúng có sự liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Triết học đóng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến, định hướng cho sự phát triển của các khoa học tự nhiên. Nhờ có sự định hướng của triết học mà các khoa học tự nhiên có phương hướng, mục đích, động cơ phát triển rõ ràng, tránh những trở ngại về phía khách quan cũng như chủ quan trên con đường phát triển. Về phía mình, các khoa học tự nhiên cung cấp cho triết học các thành tựu để từ đó triết học khái quát thành những quan điểm triết học, đồng thời các thành tựu ấy có ý nghĩa kiểm chứng các kết luận triết học. Các khoa học tự nhiên không thể tồn tại và phát triển tách rời triết học; và ngược lại, triết học cần có các thành tựu của các khoa học tự nhiên để làm giàu kho tàng lý luận của mình, và đặc biệt, có như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu phát triển của đời sống xã hội.

Mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên đòi hỏi trong nhận thức và thực tiễn cần tránh cả hai thái cực: Hoặc là xem thường triết học, sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, mù quáng, tùy tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động, sáng tạo trong công việc; hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của triết học, sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể, hậu quả là sẽ khó tránh khỏi bị thất bại.

Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh soi sáng, định hướng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

 Hồ Chí Minh là người đặt nền móng xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng, đồng thời là nhà thực hành đạo đức mẫu mực và vĩ đại của Việt Nam. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là giá trị tinh thần to lớn, là di sản quý báu mà Người để lại cho Đảng, cho dân tộc. Tư tưởng, tấm gương đó vẫn tiếp tục soi sáng, định hướng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục bồi đắp, hoàn thiện nền đạo đức mới, con người mới, xã hội mới nhằm đưa dân tộc Việt Nam đến văn minh và tiến bộ. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài Mã số KX.02.11/21-25.

bac-ho-voi-nu-chien-si-thi-dua-mien-bac.jpg
Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc _Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967

1. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo các nhà kinh điển mácxít, đạo đức là hình thái ý thức xã hội và xét đến cùng là sự phản ánh các quan hệ xã hội, phản ánh hiện thực đời sống, vận động và biến đổi cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực hiện cuộc cách mạng về đạo đức, xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản. Khác biệt về bản chất của các nền đạo đức trước đó nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị. Đạo đức cộng sản nhằm giải phóng con người khỏi mọi cầm tù, giam hãm, vì sự tiến bộ xã hội và vì hạnh phúc của con người, mà trước hết là những người lao động. “Đạo đức giúp xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động”(1), “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản”(2). V.I. Lênin đề ra những chuẩn mực đạo đức mới mà mỗi đảng viên phải không ngừng tự phấn đấu, rèn luyện để có đủ phẩm chất, tư cách, xứng đáng là người lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng, vì giá trị tốt đẹp của con người và xã hội.

Kế thừa sáng tạo tinh thần đó của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên nền tảng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh xây dựng đạo đức mới. Người đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng về đạo đức, đạo đức cán bộ, đảng viên. Người khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng được xác lập, duy trì, phát triển là do trí tuệ sáng suốt, tư tưởng vững vàng, đạo đức trong sáng, tổ chức chặt chẽ và trước hết trên nền tảng đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng là “gốc”, như cây “không có gốc thì cây héo”; là “nguồn” như “sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn”(3), là “căn bản”, người không có đạo đức là “không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”(4). Tính “căn bản” của đạo đức cách mạng thể hiện ở cả khía cạnh động lực thúc đẩy và hướng dẫn, tiết chế nhu cầu, tự chủ bản thân trước mọi cám dỗ, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, khẳng định tính chính đáng, hợp đạo lý, hợp lẽ phải của người lãnh đạo, quản lý.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Xây dựng Đảng về đạo đức có nhiều nội dung, trong đó vấn đề đầu tiên là xây dựng chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Đó là những phẩm chất mà người cán bộ, đảng viên cần có; là thang giá trị, thước đo, căn cứ để các tổ chức đảng, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá, xem xét tư chất đạo đức của cán bộ, đảng viên; giúp mỗi cán bộ, đảng viên có định hướng để rèn luyện, xứng đáng là thành viên của Đảng cách mạng chân chính, đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình. Không đáp ứng những chuẩn mực đó, tất yếu đảng viên sẽ bị rơi vào suy thoái, đánh mất niềm tin của nhân dân - yếu tố mang tính quyết định đối với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Là hiện thân của những giá trị đạo đức cao đẹp và với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh ngay từ tháng ngày chuẩn bị thành lập Đảng đã chỉ ra những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cách mạng trong các mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Trong quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ xã hội mới, Người không ngừng xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các phẩm chất đạo đức chung cho cán bộ, đảng viên cũng như mỗi ngành, mỗi giới. Những phẩm chất đạo đức mà Hồ Chí Minh nêu ra vừa là sự tiếp thu giá trị đạo đức cộng sản của các nhà kinh điển, vừa kế thừa giá trị đạo đức, đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại.

Việc xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng đã tạo nên những thế hệ cán bộ, đảng viên tận tụy, trung thành vì lợi ích chung; góp phần hình thành nên nền đạo đức mới cho dân tộc; định hướng xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”(5) và sự phát triển dân tộc theo hướng “xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt”(6).

Người phân biệt rất rõ giữa đạo đức cách mạng và đạo đức công dân. Người cách mạng phải hội tụ đủ các phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân, ra sức làm việc cho Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người; có tinh thần quốc tế trong sáng.

Với cách nhìn biện chứng, toàn diện về đạo đức, Người cảnh báo: thiếu hoặc yếu một phẩm chất sẽ dẫn đến sai lầm, thất bại. Do vậy, muốn trở thành một người cách mạng thực sự “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” thì sự rèn luyện, bồi đắp không ngừng các phẩm chất đó là công việc hằng ngày, bền bỉ, không được xem nhẹ ở bất kỳ thời điểm nào.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, để phòng tránh sự tha hóa quyền lực, để “gánh được nặng và đi được xa”(7), thì sự tu dưỡng, nêu gương về đạo đức luôn là yếu tố căn cốt, tạo nên giá trị và sức sống vững bền nhất của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo nên sự hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta tấm gương mẫu mực của người cộng sản vĩ đại và tư tưởng về đạo đức cách mạng - nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam. Tấm gương và tư tưởng đạo đức của Người đã góp phần quan trọng xây dựng các thế hệ đảng viên trung kiên trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bước đầu xây dựng chế độ mới; đời sống đạo đức mới; đưa văn hóa dân tộc lên tầm cao mới và luôn định hướng cho công cuộc xây dựng đất nước qua mọi thời kỳ cách mạng.

2. Giá trị của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay

Gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, đã củng cố và nâng vị thế của dân tộc lên tầm cao mới, tạo cơ sở cho việc đặt ra mục tiêu chiến lược mới: đến năm 2045 là nước phát triển, có thu nhập cao. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít hạn chế, thách thức đối với sự phát triển bền vững của đất nước, với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Không phải ngẫu nhiên mà trong ba kỳ Đại hội gần đây, Ban Chấp hành Trung ương đều có nghị quyết hoặc kết luận về công tác xây dựng Đảng. Điều đó cho thấy sự nhận thức sâu sắc của Đảng về vai trò, tính cấp thiết của công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trong đó, vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ra là nhiệm vụ riêng, với những nội dung cụ thể để nâng cao ý thức tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên.

Sự phát triển của đất nước trong bối cảnh mới của thế giới hiện nay với tất cả sự đa dạng, đầy mâu thuẫn đang tác động sâu sắc đến đạo đức xã hội nói chung, đạo đức cán bộ, đảng viên nói riêng.

Vấn đề xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tuy đã được chú trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, kết quả chưa thực sự tương xứng với tầm quan trọng của nó trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Những văn bản quy định các chuẩn mực đạo đức cần có của người cán bộ, đảng viên cũng như những biện pháp để ngăn chặn, xử lý những biểu hiện suy thoái về đạo đức tuy đã được ban hành và bổ sung, sửa đổi nhưng chưa đồng bộ và chưa được thực hiện nghiêm.

Tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi và có mặt còn diễn biến phức tạp, tinh vi hơn ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương. Điều đó không chỉ thể hiện qua số lượng đảng viên bị kỷ luật, qua những vụ đại án gây bức xúc trong dư luận được đem ra xét xử, mà đáng lo ngại hơn nữa là tâm lý coi thường, xuống cấp đạo đức mà còn cho thấy danh dự, liêm sỉ đã trở nên xa xỉ hoặc trở thành lớp ngụy trang tinh vi, che đậy bản chất và hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Sự suy thoái đạo đức do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ thiếu rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên cũng như thiếu biện pháp đồng bộ, quyết liệt từ cơ quan quản lý. Một nghịch lý là, sự phát triển văn hóa và củng cố, vun đắp giá trị đạo đức không tương xứng với sự phát triển kinh tế, dù đây là vấn đề chúng ta đã đề cập rất nhiều trong định hướng phát triển của đất nước.

Trong bối cảnh mới của đất nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế với sự xâm nhập, giao thoa của nhiều luồng văn hóa và trong điều kiện phát triển của công nghệ, vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt, đặt ra yêu cầu mới và cao hơn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - với tư cách là đảng duy nhất cầm quyền. Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống chính trị, toàn thể nhân dân vừa bảo đảm lợi ích cốt lõi của quốc gia, vừa phải ổn định tình hình an ninh chính trị, bảo vệ chủ quyền; gìn giữ bồi đắp giá trị văn hóa dân tộc... Điều đó cũng là để giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, để Đảng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là hiện thân cao quý của lương tri và phẩm giá của con người và dân tộc Việt Nam để nâng tầm vị thế đất nước trên trường quốc tế. Đó là những trọng trách của mỗi cán bộ, đảng viên, mà muốn hoàn thành nhiệm vụ đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có đức, có trí, có tầm, có bản lĩnh.

Trên nền tảng giá trị to lớn và tấm gương đạo đức vĩ đại Hồ Chí Minh, công tác xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay cần quan tâm thực hiện những nội dung cơ bản sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi một cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc hơn nữa về sự cần thiết của việc rèn luyện, bồi đắp, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề không mới, được đề cập rất nhiều trong các văn kiện Đại hội, các nghị quyết của Đảng; trong pháp luật của Nhà nước, nhưng vẫn cần tiếp tục được khắc sâu hơn nữa để trở thành nhu cầu tự giác, một đòi hỏi nội tại của mỗi cán bộ, đảng viên, bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”(8). Chỉ lơ là, mất cảnh giác, cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước sẽ bị “bịt mắt, bịt tai”, kéo xuống dốc lúc nào không hay biết, mà những vụ án vừa qua là minh chứng đau xót cho những cán bộ, đảng viên tự đánh mất mình trước cám dỗ của danh vọng, tiền tài. Việc phát huy tính tự giác, chủ động tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên là yếu tố căn cốt tạo nên sự vững bền của việc xây dựng Đảng về đạo đức.

Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên dù ở bất cứ cương vị hay thực hiện nhiệm vụ công tác nào cũng nêu cao tinh thần chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái trong bản thân mình và trong nội bộ Đảng. Ngay sau khi cách mạng thành công, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc và cảnh báo nguy cơ Đảng dễ mắc phải khi trở thành Đảng cầm quyền, như hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, coi khinh nhân dân, sa vào chủ nghĩa cá nhân... Cuộc đấu tranh phòng, chống những nguy cơ đó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong xã hội đang biến đổi mạnh mẽ hiện nay lại càng khó khăn, phức tạp mà đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải biết giữ tâm sáng, bản lĩnh vững vàng, sự nhạy cảm chính trị, tầm cao văn hóa trong cách ứng xử với nhân dân, với bạn bè quốc tế và sự cương quyết, khôn khéo với các lực lượng thù địch.

Ba là, một vấn đề quan trọng hiện nay là, trên nền tảng giá trị đã có để xây dựng những nội dung mới về chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên phù hợp với điều kiện mới của tình hình trong nước và thế giới. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(9).

Việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, đảng viên đòi hỏi phải luôn giữ vững yếu tố căn cốt, “Đảng tính” và “Chất” của người cộng sản, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu, đó là tận trung với Tổ quốc; tận hiếu với nhân dân; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Tất nhiên, theo sự phát triển của thời đại, những phẩm chất đó cần được bổ sung nội hàm mới. Bên cạnh đó, cần bổ sung những phẩm chất như hợp tác và sáng tạo; trung thực, bản lĩnh... là phẩm chất cần có để đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập và phát triển.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kỷ luật của Đảng và thực thi pháp luật của Nhà nước. Đây là công việc không thể thiếu trong công tác lãnh đạo, quản lý và là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Việc thi hành kỷ luật đảng là nhằm đề cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, giữ vững kỷ cương của Đảng, ngăn chặn và loại trừ những nhân tố làm giảm sức mạnh kỷ luật của Đảng. Thi hành kỷ luật phải thực hiện theo phương châm công bằng, công minh, chính xác, kịp thời. Tuy nhiên, trong việc xử lý kỷ luật, như Hồ Chí Minh lưu ý “cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”(10).

Bên cạnh đó, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức và thực thi pháp luật theo tinh thần “pháp quyền nhân nghĩa” Hồ Chí Minh. Pháp luật được sinh ra với mục đích bảo vệ các giá trị về đạo đức và chuẩn mực chung của cộng đồng; là cơ sở pháp lý bảo vệ đạo đức và các quy tắc đạo đức khi được luật hóa bằng các quy định cụ thể, có hiệu quả thực thi trên thực tế. Nhà nước cùng với hệ thống pháp luật, các chế tài và hệ thống các chính sách có liên quan là chủ thể góp phần vào việc rèn luyện đạo đức, xử lý những vi phạm đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Năm là, phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(11). Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hưởng ứng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nêu ý kiến, góp ý xây dựng Đảng; kiểm tra, giám sát, phát hiện và đề nghị xử lý những vi phạm đạo đức của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì sự kiểm soát của nhân dân đóng vai trò rất quan trọng trong kiểm soát quyền lực của Đảng. Để phát huy tối đa vai trò của nhân dân, cần phải giúp nhân dân “biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”(12).

Bên cạnh đó, cần nâng cao dân trí, bồi dưỡng văn hóa chính trị, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; khuyến khích nhân dân giám sát công việc của các cơ quan nhà nước. Với cán bộ đảng viên, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, mà phải thật thà tự phê bình và thành khẩn tiếp thu ý kiến trước nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “xây đi đôi với chống”, xây dựng, bồi đắp giá trị tốt đẹp là liều thuốc hiệu quả nhất để chống lại sự cũ kỹ, xấu xa, suy thoái. Các tầng lớp nhân dân đánh giá về Đảng trước hết thông qua hành động, tấm gương của mỗi đảng viên cụ thể. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng CNXH hiện nay, việc tiếp tục rèn luyện, củng cố, nâng cao đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa sống còn với sự tồn vong của Đảng, của chế độ cũng như hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị trong tình hình mới.

 Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh nhuệ về chính trị là nhiệm vụ đặc biệt trong xây dựng Quân đội, có những đặc thù so với xây dựng Quân đội về tư tưởng và tổ chức. Vì vậy, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội trong điều kiện mới.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn_ Ảnh minh họa: IT

1. Những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị

Một là, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

Quân đội “tinh nhuệ” là quân đội “thiện chiến”, tinh thông về kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, có thể tác chiến và đánh thắng mọi đối tượng, trong mọi không gian và thời gian, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Theo đó, Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh nhuệ” về chính trị, thể hiện thông qua sự tuyệt đối tin tưởng vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, với nhân dân; có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, dám đánh, biết đánh và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(1); “Chủ động phát hiện, có các phương án, đối sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa và kiểm soát tốt các nhân tố có thể gây bất lợi đột biến”(2). Cùng với đó là việc “triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh theo Kết luận số 16-KL/TW ngày 07-7-2017 và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01-8-2017 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng và bảo đảm vũ khí trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam”(3).

Như vậy, để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN, đòi hỏi Quân đội không chỉ tinh nhuệ về quân sự, mà trước hết phải tinh nhuệ về chính trị, luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành, lực lượng vũ trang sắc bén, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN và nhân dân, luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Hai là, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội trong tình hình mới

Nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội đã và đang đặt ra những vấn đề rất lớn, tác động trực tiếp đến xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Trong điều kiện thời bình, kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó có cuộc cách mạng khoa học và công nghệ quân sự..., bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, nhiệm vụ xây dựng Quân đội gặp không ít khó khăn, thách thức về quy mô biên chế, bảo đảm vũ khí, trang bị, kỹ thuật quân sự, về xây dựng cơ sở hạ tầng, phương thức tác chiến, phương thức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, ngân sách, trong đó có vấn đề xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị.

Trong điều kiện hòa bình, binh nghiệp trở thành nghề nghiệp xã hội, lợi ích cá nhân trở thành động lực trực tiếp của người lao động, khi có sự chênh lệch về thu nhập, mức sống, điều kiện sống của những người thuộc các nghề nghiệp khác nhau trong xã hội so với những người thuộc nghề nghiệp quân sự sẽ dẫn đến tư tưởng so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, từ đó tác động đến động cơ, thái độ, trách nhiệm, ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chính trị của Quân đội, đến sức mạnh chính trị - tinh thần, đến xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị.

Chiến tranh trong thời đại ngày nay là những cuộc chiến tranh công nghệ cao. Để đánh thắng chiến tranh công nghệ cao của các thế lực thù địch khi chúng tiến hành chống Việt Nam, trước hết đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản lĩnh chiến đấu, có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao: dám đánh, biết đánh và quyết thắng. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới đòi hỏi phải xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị.

Ba là, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và Quân đội

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá cách mạng Việt Nam, chúng phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phủ nhận cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam đối với Lào, Campuchia; phủ nhận công cuộc đổi mới đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, trong đó có vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, đòi thực hiện chế độ đa đảng.

Chúng cho rằng cần xây dựng “quân đội nhà nghề” như ở các nước tư bản, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, cho rằng Quân đội phải “trung lập về chính trị”, Quân đội chỉ cần trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, không cần phải trung thành với Đảng... Chúng chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội với nhân dân, các mối quan hệ trong nội bộ Quân đội, chia rẽ quan hệ giữa Quân đội với Công an.

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm tác động trực tiếp đến niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, vào chế độ XHCN, vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”(4).

Bốn là, sự tác động từ các tiêu cực và tệ nạn xã hội đối với Quân đội

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của xã hội, vì thế tình hình của đất nước tác động trực tiếp đến Quân đội. Thực tế cho thấy, bên cạnh những tác động tích cực từ thành quả của công cuộc đổi mới, các tiêu cực và tệ nạn xã hội đã và đang tác động mạnh đến cán bộ, chiến sĩ. Các tiêu cực nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường như sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội và ngay trong mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng..., đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí...đã ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của cán bộ, chiến sĩ đối với sự nghiệp cách mạng, đến tương lai, tiền đồ của đất nước. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “...những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội”(5); “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ”(6).

Tình trạng tiêu cực, tệ nạn xã hội tác động bất lợi đến lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào bản chất và tính ưu việt của chế độ XHCN, làm cho họ không muốn gắn bó với sự nghiệp quân sự, giảm sút nhiệt tình, trách nhiệm, động cơ phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến vi phạm kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước, thoái thác nhiệm vụ. Vì thế, đòi hỏi phải tăng cường lãnh đạo xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị, làm cơ sở xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện.

Năm là, những hạn chế trong xây dựng Quân đội

Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trong xây dựng Quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, vẫn tồn tại những hạn chế. Đó là, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn có biểu hiện chưa thật sự tin tưởng vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, mơ hồ về đối tác, đối tượng; một bộ phận cán bộ, đảng viên, quân nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng vi phạm kỷ luật, tham ô, tham nhũng, quan liêu, quân phiệt vẫn xảy ra.

Những hạn chế, khuyết điểm, những tiêu cực trên ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng, niềm tin của bộ đội, đến bản chất, truyền thống của Quân đội, đến sức mạnh chính trị - tinh thần, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Vì vậy, đòi hỏi phải xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong tình hình mới.

2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quyết định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào Quân đội nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ cách mạng. Để xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị trong giai đoạn hiện nay, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội cần tập trung đổi mới những vấn đề sau:

Một là, đổi mới tư duy, quan điểm đối với xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị

Đây là vấn đề trọng tâm hàng đầu trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Bởi lẽ, muốn lãnh đạo xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị thì Đảng phải có tư duy, nhận thức đúng về chính trị của Quân đội, trình độ tinh nhuệ về chính trị của Quân đội và những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị.

Quân đội “tinh nhuệ về chính trị” không đơn giản là một khái niệm khoa học mà còn là quan điểm thuộc về đường lối xây dựng Quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm đó phải được nhận thức đúng đắn trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, để từ đó huy động mọi nguồn lực, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong xây dựng Quân đội. Vì vậy, trước hết cần có quan niệm đúng về chính trị của Quân đội, tiêu chuẩn tinh nhuệ về chính trị của Quân đội; tiêu chí để đánh giá trình độ tinh nhuệ về chính trị của Quân đội và của các loại hình đơn vị trong Quân đội. Đây là căn cứ lý luận, cơ sở pháp lý để các cấp, các ngành, các đơn vị trong Quân đội có chủ trương, giải pháp xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Tránh tình trạng mỗi đơn vị tự quy định các tiêu chuẩn tinh nhuệ về chính trị và các tiêu chí đánh giá trình độ tinh nhuệ về chính trị.

Hai là, đổi mới cơ chế, chính sách

Xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị liên quan đến đường lối, cơ chế lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với Quân đội. Xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị chịu sự quy định chặt chẽ của cơ chế, chính sách, được thể chế hóa thành các luật, quy chế, quy định cụ thể. Nếu cơ chế, chính sách, các luật, quy chế, quy định không được đổi mới, không được bổ sung hoàn thiện sẽ gây ra những rào cản, tác động tiêu cực đến quá trình xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Theo đó, cần căn cứ vào tiêu chuẩn Quân đội tinh nhuệ về chính trị và yêu cầu của thực tiễn để đổi mới cơ chế, chính sách, các quy chế, quy định cho phù hợp ở cấp toàn quân cũng như ở từng loại hình đơn vị trong Quân đội. Khắc phục tình trạng không đồng bộ giữa cơ chế, chính sách, quy chế, quy định với đòi hỏi từ thực tiễn xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị; mâu thuẫn giữa các quy chế, quy định, gây khó khăn, cản trở quá trình xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp

Để xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị trước hết phải chủ động đổi mới về nội dung. Theo đó, cần tập trung vào những vấn đề mới như cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ quân sự trên thế giới, về phương thức tiến hành chiến tranh công nghệ cao của các nước đế quốc chống các quốc gia độc lập có chủ quyền, giữa các nước có sự đối lập về lợi ích quốc gia, dân tộc; những vấn đề mới về âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng các phương thức vũ trang và phi vũ trang, đặc biệt là nội dung chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân; quan điểm về tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, giải quyết xung đột quân sự, tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch...

Cùng với đổi mới nội dung, cần đổi mới hình thức, biện pháp xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Trong đó, tập trung đổi mới các hình thức, biện pháp của công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác chính sách, trong đó chú trọng đổi mới các hình thức, biện pháp giáo dục chính trị, tuyên truyền cổ động, văn hóa quần chúng, giáo dục lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Đảng, của Quân đội; đổi mới hình thức thi đua, khen thưởng... nhằm thực hiện nội dung xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị đạt hiệu quả cao.

Bốn là, đổi mới cách thức đầu tư ngân sách, kinh phí, cơ sở vật chất

Xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị là kết quả tổng hợp của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách của Đảng trong Quân đội, có nhu cầu rất lớn về ngân sách, kinh phí, cơ sở vật chất. Thực tế cho thấy, việc đầu tư ngân sách, kinh phí, cơ sơ vật chất cho xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị hiện còn nhiều hạn chế do chủ yếu được trích từ kinh phí công tác đảng, công tác chính trị. Do đó, cần đổi mới cách thức đầu tư ngân sách, kinh phí, cơ sở vật chất, điều kiện bảo đảm cho xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị. Trên cơ sở nội dung, yêu cầu, mục tiêu, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị cần đầu tư thỏa đáng ngân sách, kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị, khắc phục tình trạng các đơn vị tự cân đối, sử dụng kinh phí công tác đảng, công tác chính trị.

Xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị có ý nghĩa cấp thiết trong điều kiện mới.

Những đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong công tác xây dựng Đảng.

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những đóng góp to lớn đối với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Đối với công tác xây dựng Đảng, Đồng chí giữ vai trò là ngọn cờ lý luận, là người truyền cảm hứng, là nhà lãnh đạo xuất sắc trong thực hành công tác xây dựng Đảng, là người cộng sản mẫu mực, là tấm gương sáng ngời cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - nhà lãnh đạo trí tuệ, bản lĩnh ...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những đóng góp to lớn đối với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân _ Ảnh: daibieunhandan.vn

1. Tổng Bí thư là ngọn cờ lý luận về xây dựng Đảng

Với trọng trách là hạt nhân lãnh đạo của Đảng, đồng chí đặc biệt coi trọng công tác lý luận của Đảng nói chung và lý luận về xây dựng Đảng nói riêng. Đồng chí trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về công tác xây dựng Đảng; kiên định bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, thù địch.

Đồng chí đã để lại nhiều nghiên cứu có giá trị lớn về lý luận xây dựng Đảng, được tập hợp trong các công trình tiêu biểu, các cuốn sách: Xây dựng và chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (năm 2012); Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, khó khăn nào cũng vượt qua (năm 2018); Vững bước trên con đường đổi mới (năm 2021); Toàn Đảng, toàn dân chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc (năm 2021); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (năm 2022); Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh (năm 2023); Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc (năm 2023); Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII, (năm 2023); Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (năm 2024)…

2. Tổng Bí thư là người truyền cảm hứng, là nhà lãnh đạo xuất sắc trong thực hiện công tác xây dựng Đảng

Những quan điểm chỉ đạo của Đồng chí trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đã cung cấp phương pháp luận, phương pháp tổ chức thực hiện và cổ vũ quyết tâm thực hiện của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Trong xây dựng Đảng về chính trị, Đồng chí cùng Trung ương Đảng chú trọng xây dựng Cương lĩnh, đường lối, quyết sách chính trị đúng đắn, sáng tạo; là hạt nhân lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối, quyết sách chính trị đã đề ra; chú trọng củng cố và nâng cao vị trí cầm quyền, vai trò lãnh đạo, uy tín chính trị của Đảng, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, lập trường chính trị cho cán bộ, đảng viên. Đồng chí là hạt nhân xây dựng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tạo được sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị về mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, quyết tâm chính trị; qua đó giành được nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực phát triển đất nước, với những dấu ấn nổi bật, làm cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được củng cố và phát triển.

Trong xây dựng Đảng về tư tưởng, cùng với Trung ương Đảng, đồng chí luôn khẳng định và định hướng tiếp tục thực hiện “4 kiên định” gồm: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (1); chú trọng tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển lý luận, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; công tác nghiên cứu, học tập quán triệt nghị quyết của Đảng; công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công tác văn hóa - văn nghệ; kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Với trọng trách là hạt nhân lãnh đạo của Đảng, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đặc biệt coi trọng công tác lý luận của Đảng nói chung và lý luận về xây dựng Đảng nói riêng.

Trong xây dựng Đảng về đạo đức, đồng chí cùng Trung ương Đảng đẩy mạnh lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp với yêu cầu: “kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chống” là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân không trong sáng nào. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh” (2).

Trong xây dựng Đảng về tổ chức, Đồng chí cùng Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cấp ủy viên các cấp, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo chính trị, công tác quản lý, rà soát, sàng lọc đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ được Đồng chí quan tâm chỉ đạo sát sao.

Trong xây dựng Đảng về cán bộ, Đồng chí Tổng Bí thư xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ là giải pháp đột phá. Đồng chí cùng Trung ương Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống các quy định và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, lựa chọn, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm, đãi ngộ, tạo môi trường khuyến khích, bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”(3). Đồng thời, chú trọng kiểm soát quyền lực, sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, qua đó góp phần bảo đảm kỷ cương, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, Đồng chí đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, thực hiện đúng phương châm “chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”, bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Trong công tác dân vận của Đảng, với vai trò của người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí là tấm gương quy tụ, đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị, giữ mối liên hệ mật thiết, máu thịt giữa Đảng với nhân dân, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đồng chí quán triệt: “Kết quả và thành công của Đại hội là rất quan trọng, tuy nhiên đó cũng mới chỉ là bước mở đầu. Còn làm được hay không, mai kia có biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động hay không; có làm ra của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân hay không, đấy mới là thành công thực tế của Đại hội”(4) và tiếp tục yêu cầu: “Cần quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(5).

Đồng chí có những đóng góp to lớn vào công tác phát triển lý luận của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bằng sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với tinh thần: “Phải kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải gương mẫu chấp hành, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, tiêu cực… biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”(6) , “chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai để “không dám” tham nhũng, tiêu cực” (7) và mục tiêu “nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”(8). Nhờ đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với nhiều cách làm mới, sáng tạo, đã đạt được những kết quả trên cả hai mặt “phòng” và “chống”, tiếp tục tạo bước đột phá trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được cán bộ, đảng viên, nhân dân tin tưởng, đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và phát triển về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới, Đồng chí cùng Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; chú trọng lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy dân chủ, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

3. Tổng Bí thư là người cộng sản mẫu mực về bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, uy tín; là tấm gương sáng ngời cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện

Trong các cương vị quan trọng được Đảng giao cho, Đồng chí luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Toàn bộ quan điểm, lời nói và hành động của Đồng chí thể hiện rõ sự tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với nhân dân, quan tâm chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

Đồng chí là minh chứng cho chí khí của người cộng sản, có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, cả cuộc đời bền bỉ nghiên cứu, học tập, hoàn thiện bản thân; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân; nỗ lực hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đồng chí là hạt nhân đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân.

Đồng chí là tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời trung thực trước Đảng, trong công việc, trước nhân dân, thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, có phong cách lãnh đạo, chỉ đạo dân chủ, quyết liệt, khách quan, công tâm, có đời sống cá nhân thanh bạch, luôn đề cao tự trọng, giữ gìn phẩm giá, coi danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất của người cộng sản, như đại ý của câu nói mà đồng chí thường nhắc tới: “Cái quý nhất của con người là Cuộc sống và Danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ty tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời - sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự trường tồn của Dân tộc, sự vẻ vang của Giống nòi và hạnh phúc của Nhân dân!”(9).

Sự khiêm tốn của người cộng sản mẫu mực thể hiện trong lời phát biểu của đồng chí: “tất cả những gì tôi đã làm là vô cùng nhỏ bé so với công lao giáo dục, rèn luyện của Đảng; sự kèm cặp, chỉ bảo của các đồng chí đảng viên đi trước; sự cộng tác, giúp đỡ của đồng chí, đồng nghiệp; sự động viên, ủng hộ của nhân dân, mà trực tiếp là những cơ quan - nơi tôi từng học tập, công tác và làm việc”(10).

Người cộng sản mẫu mực Nguyễn Phú Trọng đã truyền cảm hứng, giúp cán bộ, đảng viên có thêm động lực để tiếp tục bền bỉ tu dưỡng, rèn luyện, nuôi dưỡng niềm tin và lý tưởng cộng sản, như Đồng chí vẫn thường nhắc: “Tôi xin nguyện suốt đời phấn đấu, hy sinh, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng, ra sức tu dưỡng, rèn luyện; cố gắng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng là một đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, như lời của một bài hát: “Nếu là hoa hãy là hoa hướng dương; nếu là chim hãy là chim câu trắng; nếu là đá hãy là đá kim cương; nếu là người hãy là người cộng sản”” (11).

Tọa đàm khoa học “Sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở”.

 Sáng ngày 2-8-2024, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tọa đàm khoa học: “Sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở”, PGS, TS Dương Trung Ý, Phó Giám đốc Học viện dự và chủ trì Tọa đàm.

Quang cảnh Tọa đàm _ Ảnh: HCMA

Đồng chủ trì Tọa đàm có ông Christian Timo Rinke, Trưởng đại diện Viện FES tại Việt Nam, PGS, TS Hoàng Văn Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế; PGS, TS Lê Văn Chiến, Viện trưởng Viện Lãnh đạo học và Chính sách công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Tham dự Tọa đàm có đại diện lãnh đạo Thành ủy Hà Nội, Tỉnh ủy Bắc Ninh cùng đông đảo các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên trong và ngoài hệ thống Học viện.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Tọa đàm, PGS, TS Dương Trung Ý nhấn mạnh: dân chủ là mục tiêu, giá trị phổ quát của nhân loại cũng như các hình thức chính thể tiến bộ ngày nay. Trong thế giới đương đại, nhân loại đã và đang nỗ lực, phấn đấu và đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, to lớn, toàn diện về dân chủ. Tuy vậy, bảo đảm dân chủ để “mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền” ở nhiều quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng hiện vẫn là hành trình gian nan. Các cuộc khủng hoảng, rủi ro có tính khu vực, toàn cầu như đại dịch Covid-19, xung đột vũ trang, chiến sự, khủng hoảng di cư, nghèo đói, phân cực xã hội, phát triển công nghệ số hiện đại, v.v. khiến việc bảo đảm dân chủ cho người dân, nhất là các nhóm yếu thế (nữ giới, người cao tuổi, người nghèo, người dân tộc thiểu số, v.v.) ở nhiều quốc gia trên thế giới còn nhiều thách thức hơn bao giờ hết.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu xây dựng một Nhà nước dân chủ, của dân, do dân và vì dân. Thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Với phương châm, Nhà nước luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; đồng thời nhấn mạnh “thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở” .

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thực thi dân chủ trên thực tế. Năm 1998, Chính phủ ban hành Quy chế dân chủ ở xã; năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban Hành Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam ghi rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”. Năm 2022 Quốc hội đã ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng lên. Qua đó huy động và phát huy được tiềm năng, sức sáng tạo, đóng góp ý kiến của nhân dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát, đánh giá các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; bầu không khí dân chủ trong Đảng, trong xã hội được mở rộng hơn.

Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức. Chính sách về thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày càng hoàn thiện nhưng triển khai chưa hiệu quả như mong đợi, có lúc, có nơi còn hình thức, máy móc; quyền làm chủ của người dân một số nơi chưa được tôn trọng một cách thỏa đáng. Việc giải quyết mối quan hệ giữa bảo đảm, phát huy dân chủ với lắng nghe ý kiến, tư duy khác biệt và giữ vững kỷ luật, kỷ cương còn bất cập. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng” ở cơ sở khi triển khai còn lúng túng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chủ trương sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thực hiện Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số đến năm 2030, v.v. việc thi hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, huy động sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị xã hội ngày càng trở nên cấp thiết.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về xây dựng nền dân chủ xã hội giữa các quốc gia với nhau là điều cần thiết. Việc này không chỉ giúp mở rộng tầm nhìn, nâng cao kiến thức mà còn giúp chúng ta tìm ra những mô hình, giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Tọa đàm khoa học “Sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở” được tổ chức bởi sự phối hợp giữa nhóm chuyên gia, giảng viên, nhà nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trực tiếp là Viện Lãnh đạo học và Chính sách công cùng sự hỗ trợ tích cực của FES tại Việt Nam. Các trao đổi tại Tọa đàm về các kết quả nghiên cứu sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở tại Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh có ý nghĩa quan trọng trong gợi mở các cơ hội và biện pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở tại các địa phương hiện nay.

Phát biểu tại Tọa đàm, ông Christian Timo Rinke, Trưởng đại diện Viện FES tại Việt Nam nhấn mạnh, Tọa đàm là dịp để trao đổi về các nguyên tắc trong thực hiện dân chủ cơ sở, từ đó hướng tới đạt được các kết quả thực hiện dân chủ cơ sở tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hoạt động nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá nhằm bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở của Việt Nam hiện nay. Tọa đàm là cơ hội chia sẻ các kết quả nghiên cứu về sự tham gia của người dân đối với việc thực hiện dân chủ cơ sở ở Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, qua đó thúc đẩy hoàn thiện các kết quả nghiên cứu, góp phần cải thiện các quyết sách của Đảng và Nhà nước trên nhiều phương diện. Từ phương pháp luận và các hoạt động nghiên cứu, khảo sát triển khai trong thực tiễn, các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng mang lại các giá trị cốt lõi thúc đẩy thực hiện dân chủ cơ sở tại Việt Nam hiện nay.

Tọa đàm nhận được hơn 20 tham luận và các ý kiến phát biểu tập trung phân tích làm rõ thực trạng sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện dân chủ cơ sở trên các phương diện “dân biết”, “dân bàn”, “dân quyết định”, “dân kiểm tra giám sát” theo Luật định; vai trò và năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở, của các tổ chức tự quản quần chúng như thôn, tổ dân phố trong việc thực hiện dân chủ cơ sở tại địa phương; các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện dân chủ cơ sở, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp, khuyến nghị khả thi trong việc thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động thực hiện dân chủ cơ sở.

Trình bày tham luận ”Sự cần thiết của thực hiện dân chủ cơ sở và chủ trương, chính sách của Việt Nam trong thực hiện dân chủ cơ sở”, TS Nguyễn Thị Hồng Minh, Viện Chính trị học phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ cơ sở, qua đó vận dụng các lý thuyết trong nghiên cứu về dân chủ cơ sở trong các bối cảnh xã hội. Dân chủ có nhiều cách tiếp cận nhưng đều có chung giá trị phổ biến là hướng tới sự hạnh phúc của người dân. Trong xã hội hiện đại, dân chủ đại diện là hình thức phổ biến trong các hoạt động chính trị của các quốc gia. Tuy nhiên, hình thức này có hạn chế trong việc truyền tải thông tin giữa nhà nước và người dân, dẫn đến những nhìn nhận không đồng nhất giữa nhà nước và người dân. Do đó sự biểu đạt ý kiến của người dân là nguồn thông tin quan trọng, có ý nghĩa đối với các quyết sách của nhà nước.

Nhận thức rõ ý nghĩa của thực hiện dân chủ cơ sở trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo dựng hành lang pháp lý, bảo đảm thực hiện rộng rãi dân chủ cơ sở trong mọi hoạt động công quyền. Tiêu biểu là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20-4-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở được Quốc hội ban hành ngày 11-12-2022. Qua đó từng bước xây dựng và hoàn thiện các quy định về thực hiện dân chủ cơ sở phù hợp với thực tiễn, như: nguyên tắc thực hiện dân chủ cơ sở; quyền, nghĩa vụ của công dân và những điều nghiêm cấm trong thực hiện dân chủ cơ sở; nội dung, hình thức và thời điểm công khai thông tin; nội dung, hình thức dân bàn và quyết định cùng hiệu lực quyết định của cộng đồng dân cư; trách nhiệm của người dân trong tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định …

Phân tích thực trạng nhận thức và thực hành dân chủ cơ sở của người dân ở Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, PGS, TS Đặng Thị Ánh Tuyết, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học cho biết: qua đánh giá của cán bộ, công chức cấp xã, phường về nhận thức, mức độ quan tâm và thực thi dân chủ cơ sở của người dân nhận thấy, người dân có nhận thức tốt về dân chủ cơ sở cũng như có sự quan tâm, có tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện dân chủ cơ sở đối với các hoạt động chính trị họ được tham gia. Tại Bắc Ninh, có 88,25% người dân trong tổng số phiếu được khảo sát lựa chọn “hình thức bầu chọn trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố” là “do người dân tại địa bàn dân cư bầu chọn”. Tại Hà Nội, tỷ lệ lựa chọn này cũng khá cao (79,11%). Tuy nhiên, qua khảo sát cũng cho thấy, việc tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở đối với người dân cũng còn hạn chế: mức độ thực hành dân chủ cơ sở của người dân đối với một số nội dung công việc công khai tại địa phương còn thấp (chỉ 47,79% cho rằng bản thân họ hoặc người đại diện gia đình đã đi bầu trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố vào kỳ bầu cử gần nhất; 50,99% người dân được khảo sát “không biết, hoặc “không nhớ” ai đã đi bầu cử các chức danh này vào kỳ bầu cử gần nhất; tỷ lệ người dân ở Thành phố Hà Nội đi bầu đại biểu HĐND cấp xã thấp (43,57%)). Qua khảo sát ở Bắc Ninh và Hà Nội, nghiên cứu nhận thấy các yếu tố tác động hình thành nhận thức và tham gia thực hành dân chủ cơ sở của người dân tại địa bàn gồm: vai trò, năng lực tổ chức của hệ thống chính trị đối với việc thực hiện dân chủ cơ sở, nhận thức của các cấp chính quyền và người dân về thực hiện dân chủ cơ sở; các điều kiện tiếp cận thông tin tại địa phương…

Phát biểu tại Tọa đàm, PGS, TS Lê Văn Chiến, Viện trưởng Viện Lãnh đạo học và Chính sách công nêu rõ vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong việc thực hiện dân chủ cơ sở. Đối với việc thực hiện dân chủ cơ sở, hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò chủ đạo trong xây dựng nghị quyết, chương trình, kế hoạch; tổ chức triển khai các hoạt động thực hiện dân chủ cơ sở, vận động nhân dân thực hiện dân chủ cơ sở; kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện dân chủ cơ sở tại địa phương. Các kết quả khảo sát tại Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh cho thấy, hệ thống chính trị tại 2 địa phương về cơ bản đã thực hiện tốt vai trò trong thực hiện dân chủ cơ sở đối với người dân. Có 68,5% ý kiến được hỏi đánh giá mức “tốt”, “rất tốt” đối với các hoạt động lãnh đạo, quản lý thực hiện dân chủ cơ sở tại các địa phương; 74% ý kiến đánh giá mức “tốt”, “rất tốt” đối với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ liên quan đến bảo đảm dân chủ cơ sở của các cơ quan công quyền tại địa phương. Tuy nhiên, hạn chế trong thực hiện, phát huy vai trò của hệ thống chính trị đối với việc thực hiện dân chủ cơ sở tại địa phương là vấn đề nguồn lực.

Tại Tọa đàm, nhiều đại biểu thảo luận, gợi mở các cách thức vận dụng hệ thống lý luận trong đánh giá việc thực hiện dân chủ cơ sở hiện nay, đặc biệt là đối với các vùng dân tộc thiểu số, các đối tượng yếu thế trong xã hội; đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan chức năng ban hành văn bản pháp lý nhằm bảo đảm việc thực hiện dân chủ cơ sở phù hợp, thực chất hơn trong các hoạt động chính trị của các địa phương hiện nay.

Bế mạc Tọa đàm, PGS, TS Dương Trung Ý đánh giá cao các tham luận gửi đến và ý kiến phát biểu tại Tọa đàm, đã phân tích làm rõ quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về thực hiện dân chủ cơ sở với cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; phân tích làm rõ thực trạng sự tham gia của người dân trong thực hiện dân chủ cơ sở tại Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, những kết quả đạt được trong thực hiện dân chủ cơ sở ở 2 địa phương, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện; đề xuất các giải pháp thiết thực, khả thi trong nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở hiện nay.