Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ đổi mới.

 Đảng Cộng sản Việt Nam xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bài viết khái quá trình đổi mới tư duy và nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm rõ những bước tiến về mặt nhận thức của Đảng về tính tất yếu khách quan, nội hàm, đặc trưng và các mối quan hệ phổ biến trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng CNXH ở nước ta _ Ảnh: tuyengiao.vn

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò và tính tất yếu phát triển sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường

Trong 10 năm đầu xây dựng CNXH (1975-1985) trên cả nước, với mong muốn xóa bỏ mọi mầm mống của chủ nghĩa tư bản một cách nhanh chóng, Đảng ta đã phủ nhận sự tồn tại tất yếu của sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường, bởi cho rằng đó là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Bên cạnh đó, những thành tựu to lớn mà miền Bắc đã đạt được trong giai đoạn 1954-1975 khi áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến cho rằng có thể áp dụng mô hình xây dựng CNXH ở miền Bắc trong thời chiến vào miền Nam khi đất nước thống nhất.

Tuy nhiên, thực tiễn đã cho thấy việc áp dụng mô hình kinh tế XHCN với hai thành phần chủ yếu là kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, thực hiện kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trong bối cảnh lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp đã khiến cho nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng, sản xuất sa sút, lưu thông ách tắc, đời sống nhân dân khó khăn vào cuối những năm 1970. `Trong giai đoạn 1976-1980, tốc độ tăng GDP trung bình hằng năm chỉ đạt 1,4%; cả sản xuất công nghiệp và nông nghiệp bị ngưng trệ. Sản lượng lúa năm 1980 chỉ đạt 11,647 triệu tấn (chỉ tiêu là 21 triệu tấn), thấp hơn mức năm 1976, nước ta phải nhập 1,57 triệu tấn lương thực(1)...

Trong bối cảnh đó, với mong muốn đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước đột phá trong nhận thức.

Bước đột phá thứ nhất là tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8-1979) với quan điểm “làm cho sản xuất bung ra”, Đảng ta đã thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong quản lý kinh tế. Theo đó, xóa bỏ những rào cản, tạo động lực để cho lực lượng sản xuất phát triển, chú ý kết hợp các lợi ích, trong đó có lợi ích thiết thân của người lao động...

Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6-1985) đánh dấu bước đột phá thứ hai, với việc thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa. Đảng ta chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, chuyển ngân hàng sang hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh.

Bước đột phá thứ ba được đánh dấu bằng Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng (tháng 8-1986) và Hội nghị Trung ương 11 khóa V (cuối năm 1986), Đảng ta đã hình thành và khẳng định ba quan điểm kinh tế cơ bản. Một là, xác định lại thứ tự ưu tiên trong phát triển kinh tế, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; Hai là, xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; Ba là, trong khi lấy kế hoạch làm trung tâm, phải đồng thời sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa tiền tệ, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; chính sách giá phải theo quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.

Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định kinh tế thị trường là thành tựu của văn minh nhân loại mà chúng ta cần sử dụng. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) đã phát triển thêm một bước khi đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần.

Đại hội VII (tháng 6-1991) khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”(2).

Tại Đại hội VIII (tháng 6-1996), Đảng ta đã đưa ra một kết luận mới rất quan trọng, đó là sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng. Tại thời kỳ này, Đảng ta mới bàn đến kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm kinh tế thị trường.

Như vậy, từ chỗ đồng nhất sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản và cự tuyệt nó một cách cực đoan, Đảng ta đã thay đổi nhận thức, khẳng định kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại và Việt Nam tất yếu phải sử dụng nó như một phương tiện chính yếu để phát triển theo con đường XHCN. Chính sự đòi hỏi cấp bách của thực tiễn và những bước đột phá về tư duy đã tạo nên nhận thức mới về quy luật phát triển trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới, chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN.

2. Làm rõ nội hàm, bản chất, đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Giai đoạn tiếp theo trong đổi mới nhận thức của Đảng ta bắt đầu từ khi đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN và làm rõ nội hàm, bản chất, đặc trưng của mô hình kinh tế này qua các kỳ Đại hội của Đảng.

Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN, đó là nền “kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(3). Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường vừa mang tính đặc thù của định hướng XHCN. Việc định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác. Đây là bước chuyển nhận thức quan trọng từ “nền kinh tế hàng hóa” sang “nền kinh tế thị trường”, từ nhận thức thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của xã hội trong giai đoạn tiến lên CNXH.

Việc khẳng định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN làm cho việc xác định mối quan hệ giữa 2 phạm trù “kinh tế thị trường” và “định hướng XHCN” trở thành một nội dung cốt lõi trong đổi mới nhận thức ở nước ta hơn 35 năm đổi mới.

Đại hội IX của Đảng chỉ rõ:“Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối”(4); “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc”(5).

Việc khẳng định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN làm cho việc xác định mối quan hệ giữa 2 phạm trù “kinh tế thị trường” và “định hướng XHCN” trở thành một nội dung cốt lõi trong đổi mới nhận thức ở nước ta hơn 35 năm đổi mới.

Đại hội xác định, Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN “bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”(6). “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”(7)

Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã làm sáng tỏ hơn mô hình, bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có bốn đặc thù. Thứ nhất, về mục tiêu tổng quát, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN để hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua giải phóng và phát triển sức sản xuất; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn. Thứ hai, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Thứ ba, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. Thứ tư, phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta tiếp tục bổ sung: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”(8). Quy luật thị trường và tính định hướng XHCN là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, khiến cho mô hình kinh tế của nước tavừa khắc phục được những hạn chế và tiêu cực của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vừa kế thừa và phát huy được các yếu tố tích cực và hợp lý của nó. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu của CNXH là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đại hội XII (năm 2016) tiếp tục thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(9).

Điểm mới là, tại Đại hội XI Đảng ta vẫn xác định nền kinh tế thị trường ở nước ta là một “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần...” thì Đại hội XII đã khẳng định, đó là một nền “kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế” - một trình độ phát triển cao hơn của kinh tế hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập, tính định hướng XHCN không nằm ngoài mà là yếu tố“nội sinh” trong quá trình phát triển kinh tế, thể hiện ở những điểm chủ yếu như sau:

Một là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”(10).Trong điều kiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn chưa đồng đều thì quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ sở hữu còn đa dạng, với “nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”(11) và “các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”(12).

Hai là, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Bên cạnh đó, các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm bảo đảm tính định hướng XHCN nhưng vẫn phải phù hợp với cơ chế thị trường.

Ba là, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được xác định qua ba chức năng chính: (i) Nhà nước định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; (ii) Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; (iii) Nhà nước bảo đảm sự hài hòa và gắn bó hữu cơ giữa tăng trưởng và tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước phát triển, từng chính sách, từng kế hoạch, chiến lược phát triển của đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN có vai trò quan trọng trong bảo đảm tính định hướng XHCN của mô hình kinh tế thị trường ở nước ta.

Bốn là, bên cạnh vai trò của Nhà nước, thị trường thì vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội được phát huy. Quan điểm tại Đại hội XII là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế là phù hợp với quy luật của thời đại. Một đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay là sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở một trình độ rất cao. Trong mô hình kinh tế thị trường hiện đại, do lực lượng sản xuất phát triển với trình độ xã hội hóa cao, phân công lao động và chuyên môn hóa sâu đã tạo điều kiện cho thị trường phát triển ở phạm vi quốc tế. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu, rộng. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu khách quan đối với các nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế đòi hỏi phải tuân thủ luật chơi, cách chơi của quốc tế để cùng tham gia phát triển; cần tuân thủ các cam kết quốc tế đã ký, hài hòa hệ thống pháp luật với pháp luật quốc tế và đặc biệt là nỗ lực cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế để được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03-6-2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã khái quát, làm rõ nội hàm tính hiện đại và hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam. Theo đó, “Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn hơn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến”(13).

Đến Đại hội XIII (năm 2021), nội hàm của kinh tế thị trường định hướng XHCN và vai trò của các thành phần kinh tế được làm rõ như sau: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(14).

Như vậy, trong quá trình đổi mới, từ thực tiễn, Đảng nhận thức rõ hơn, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng CNXH; từ chỗ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triển kinh tế thị trường, đưa ra quan niệm và từng bước cụ thể hóa mô hình, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình thống nhất giữa tính kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN, là hai mặt mang tính bản chất, là yếu tố nội tại bền vững trong mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta. Tính định hướng XHCN phải được quán triệt khi vận hành các nguyên tắc của thị trường, ngược lại, việc thực hiện định hướng XHCN không được tách rời với các quy luật của thị trường. Giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường là thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Một sự phát triển nhận thức quan trọng của Đảng về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam trong những kỳ Đại hội gần đây là nhận thức vềmối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Từ chỗ phủ nhận thị trường, lấy kế hoạch của Nhà nước làm công cụ bao trùm, Đảng ta đã thừa nhận vai trò khách quan của thị trường; khẳng định Nhà nước phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, phối hợp cùng thị trường để vận hành, điều hành nền kinh tế. Vai trò của thị trường trong phân bổ các nguồn lực phát triển ngày càng được bảo đảm. Tính hai mặt của cơ chế thị trường được nhìn nhận theo hướng ngày càng khách quan và cân bằng hơn. Từ đó, nhận thức ngày càng rõ phương thức ứng xử có tính nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp với thị trường; hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động quản lý của Nhà nước đều phải bám sát vào những tín hiệu của thị trường để đưa ra phương án sản xuất, kinh doanh đúng đắn cũng như chính sách vĩ mô hiệu quả, bảo đảm các cân đối lớn, tổng thể của nền kinh tế như tổng cung - tổng cầu, sản xuất - tiêu dùng, hàng hóa - tiền tệ, xuất khẩu - nhập khẩu…

Từ chỗ chưa có sự tách bạch giữa vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế và chủ thể quản lý kinh tế, càng ngày, nhận thức về vai trò của Nhà nước càng trở nên sáng rõ.

Với tư cách là chủ thể sở hữu tư liệu sản xuất, tham gia vào quá trình sản xuất (đặc biệt là cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công) và chủ thể tiêu dùng (mua sắm chính phủ...), người mua và bán các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, thành phần kinh tế nhà nước hoạt động phải tuân thủ đúng theo quy luật thị trường, được đối xử bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Với tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, Nhà nước phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các chức năng tạo lập môi trường, định hướng, kiểm soát, điều tiết nền kinh tế bằng các bộ công cụ, cơ chế kinh tế và phi kinh tế. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình quản lý, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, trước hết bảo đảm môi trường để “doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật”(15).

Sự đổi mới quan trọng ở đây là “tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước ở doanh nghiệp nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các Bộ, ủy ban nhân dân đối với tài sản, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước”(16).

Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng: doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư”(17).

Nhìn chung, nhận thức của Đảng ta hiện nay về quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - doanh nghiệp, về sự tồn tại của quyền lực thị trường bên cạnh quyền lực nhà nước và về sự phân định ranh giới, không gian tồn tại của hai loại quyền lực này đã tiến gần đến nhận thức chung của thế giới.

Từ Đại hội XII bổ sung thêm một cấu phần, nhân tố “xã hội” trong mối quan hệ Nhà nước - thị trường và làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã nêu rõ: “Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”(18).

Đại hội XIII xác định rõ vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội, trong đó “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế...; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động... Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những những doanh nghiệp yếu kém. Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật”(19).

3. Kết luận

Như vậy, quá trình hình thành và phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là quá trình nhận thức về tính tất yếu khách quan của sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường cũng như vai trò của nó trong quá trình xây dựng những tiền đề vật chất của CNXH. Nhận thức về nội hàm, đặc trưng của một nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, mang những nguyên tắc và bản chất của CNXH; nhận thức về những bộ phận cấu thành, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các yếu tố ngày càng sáng rõ, định hình mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN - mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, góp phần làm cho nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng rõ nét hơn. Đây là thành tựu của quá trình Đảng ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của nước ta thời kỳ đổi mới; là kết quả của quá trình gắn lý luận với thực tiễn, vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm, trên cơ sở nhận thức ngày càng đầy đủ về bối cảnh trong nước và quốc tế.

Lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - một hướng dẫn để hiểu về Việt Nam đương đại.

 Ngày 21-5-2024, tại thành phố Roma, thủ đô nước Cộng hòa Ý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại sứ quán Việt Nam tại Ý đã phối hợp tổ chức Tọa đàm khoa học “Hồ Chí Minh: biểu tượng về hòa bình của nhân dân Việt Nam và thế giới”; đồng thời phối hợp với Nhà xuất bản Anteo Edizioni(1) tổ chức Lễ ra mắt bản dịch tiếng Ý cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, do Nhà xuất bản Anteo Edizioni dịch và xuất bản.

lvl.jpg
GS, TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu đề dẫn Tọa đàm _ Ảnh: HCMA

Ông Stefano Bonilauri - Giám đốc Nhà xuất bản Anteo Edizioni đã thay mặt nhóm tác giả biên dịch có bài phát biểu tại Lễ ra mắt cuốn sách. Tạp chí Lý luận chính trị giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà xuất bản Anteo Edizioni, với niềm tự hào lớn, đã xuất bản bản dịch tiếng Ý của cuốn sách “Teoria e Pratica del Socialismo in Vietnam” (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam) - là tuyển tập các diễn văn và bài viết của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, bao quát nhiều chủ đề về chính trị, đối nội và quốc tế. Đây là cuốn sách lý luận chính trị quan trọng, giúp độc giả hiểu được sự phát triển về chính trị và xã hội của Việt Nam đương đại.

Đầu tiên, phải khẳng định giá trị, ý nghĩa của việc dịch và xuất bản cuốn sách quan trọng này, gắn với bối cảnh lịch sử Việt Nam đương đại. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là một nhân vật chính trị nổi bật, mà còn là một nhà lý luận sâu sắc đã dành phần lớn cuộc đời của mình cho việc nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở đất nước mình. Cuốn sách này mang lại một góc nhìn độc đáo, trực tiếp từ trí tuệ, tâm huyết của một trong những kiến trúc sư hàng đầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, người đảm nhận vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 1-2011 đến nay.

Việc nghiên cứu nội dung cuốn sách với những tư liệu, thông tin phong phú giúp người đọc dễ dàng hiểu được cụ thể, chi tiết về chủ nghĩa xã hội, về hành trình Việt Nam lựa chọn sự phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa và mô tả một xã hội lý tưởng đặt sự phát triển con người, công bằng xã hội và sự hài hòa với thiên nhiên là các mục tiêu chính. Đồng thời, phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản từ quan điểm duy vật lịch sử và đánh giá các đối tượng, hiện tượng trong các mối quan hệ khách quan với sự thay đổi và phát triển liên tục từ nhiều góc độ khác nhau.

Từ đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định rằng: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”(2).

Lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - một hướng dẫn để hiểu về Việt Nam đương đại
Đại sứ Dương Hải Hưng phát biểu khai mạc Tọa đàm. (Ảnh: Trường Dụy/TTXVN)

Nội dung cuốn sách khám phá lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội được điều chỉnh, vận dụng và phát triển phù hợp những đặc điểm cụ thể của Việt Nam - quốc gia với một quá trình lịch sử lâu dài chiến đấu cho độc lập, tự do và chủ quyền thiêng liêng của mình, được khởi xướng bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội đã được áp dụng ở Việt Nam, cho thấy sự cân nhắc để bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế và sự cần thiết của việc duy trì bản sắc văn hóa và chính trị của đất nước. Thông qua những phân tích, luận giải chi tiết, cuốn sách luận bàn về các chính sách Đổi mới được khởi đầu từ năm 1986, đã biến nền kinh tế Việt Nam từ một mô hình kế hoạch hóa tập trung sang một mô hình hướng tới kinh tế thị trường, trong khi vẫn giữ vững các giá trị của chủ nghĩa xã hội.

Từ góc độ lý thuyết, bắt đầu từ bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, mở đầu cho tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng bước trả lời một số câu hỏi cơ bản để hiểu rõ nền tảng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội là gì? Tại sao Việt Nam chọn con đường chủ nghĩa xã hội? Làm thế nào và bằng cách nào chủ nghĩa xã hội đã dần dần được xây dựng ở Việt Nam “vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam”(3).

Ông Stefano Bonilauri, Giám đốc Nhà xuất bản Anteo Edizioni, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN _ Ảnh: Dương Hoa/TTXVN.

Cuốn sách này vì vậy rất quan trọng không chỉ đối với những người nghiên cứu về Việt Nam mà còn đối với bất kỳ ai quan tâm đến chủ nghĩa xã hội và cách áp dụng trong thế giới đương đại. Bản dịch sang tiếng Ý của cuốn sách cung cấp cơ hội cho độc giả Ý trực tiếp đi sâu nghiên cứu về những quan điểm quý giá về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc trao đổi, hiểu biết sâu sắc và thông tin đầy đủ, phong phú hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh đối mặt với các phương tiện truyền thông chính thống tại Ý thường có xu hướng cung cấp một cái nhìn sai lệch về các quốc gia xã hội chủ nghĩa, một trong những mục tiêu của cuốn sách này là cung cấp quan điểm khách quan, công bằng về những thành công đã đạt được của Việt Nam trong gần 40 năm Đổi mới, nhất là những thành tựu về kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khát vọng của nhân dân Việt Nam thể hiện trong sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội, được minh chứng bởi hơn 90 năm đấu tranh cách mạng và hơn 35 năm Đổi mới.

Trong toàn bộ tác phẩm này, hình ảnh của nhà lãnh đạo cách mạng Hồ Chí Minh và là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập luôn là một điểm tham chiếu liên tục, với nhiều trích dẫn và đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng tư tưởng vững chắc của Việt Nam xã hội chủ nghĩa đương đại.

Trong báo cáo “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”, được trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam “là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(4).

Một điểm quan trọng khác được Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập đến là sự phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, văn hóa và phát triển văn hóa cần phải được đặt ngang bằng với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội: Đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam “là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần”, “động lực phát triển”, và “soi đường cho quốc dân đi”(5).

Trong lĩnh vực ngoại giao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống ngoại giao của Việt Nam được khởi xướng bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những đặc điểm quốc gia phong phú của “cây tre Việt Nam” có “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.

Về nguyên tắc, ngoại giao của cây tre là: (1) Linh hoạt và tinh tế nhưng kiên định và mạnh mẽ, linh hoạt và sáng tạo nhưng dũng cảm, kiên cường đối mặt với mọi sự biến đổi của tình hình để đạt được mục tiêu độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân; (2) Đoàn kết và hữu nghị nhưng quyết đoán và kiên trì trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia; (3) Biết khi nào mềm dẻo và khi nào mạnh mẽ, cứng rắn, hiểu và nắm vững thế thời, biết mình biết người, để hành động phù hợp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, những nhiệm vụ cơ bản của ngoại giao Việt Nam trong thế kỷ 21 là: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(6).

Nhấn mạnh những thành tựu to lớn của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, từ tăng trưởng kinh tế đến ngoại giao, thành công trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém, thiếu sót, thể hiện tinh thần tự phê bình mạnh mẽ, nhằm thúc đẩy đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước phấn đấu hơn nữa cho thắng lợi của cách mạng trong tương lai. Với tinh thần đánh giá khách quan và toàn diện về các kết quả đã đạt được, cùng việc nhận rõ những hạn chế, yếu kém, phân tích cụ thể nguyên nhân của tình hình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra lộ trình cho những giải pháp cụ thể cần được thực thi có hiệu quả. Đặc biệt, nỗ lực thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, quyết tâm đạt được mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội trong kế hoạch 5 năm 2021-2025, trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phản ánh một tư duy sâu sắc, nhất quán, cam kết và sáng tạo, thể hiện tầm cao lý luận cùng sự hiểu biết về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, được Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam thực hiện. Hơn nữa, cuốn sách chỉ ra các mục tiêu, định hướng và giải pháp cho công cuộc xây dựng quốc gia trong bối cảnh mới của thế kỷ XXI, với quyết tâm cao nhằm tổ chức thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đáp ứng được mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng của toàn dân tộc Việt Nam.

Việc xuất bản cuốn sách này tại Ý trong bối cảnh cuộc tranh luận về chủ nghĩa xã hội ở cấp độ quốc tế đang diễn ra sôi động hơn bao giờ hết. Mặc dù ở phương Tây có nhiều người đã tuyên bố chủ nghĩa xã hội đã chết khi Liên Xô tan rã, nhưng trên thực tế, các quốc gia như Việt Nam không chỉ chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội chưa chết, mà nó còn là cách tiếp cận phù hợp nhất để vượt qua những thách thức của thế kỷ XXI. Trong thời đại của những sự chênh lệch ngày càng gia tăng và những thách thức toàn cầu mới, những kinh nghiệm và tư duy của Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có thể là những gợi ý quý báu cho các quốc gia khác. Cuốn sách này không chỉ là một bản chứng nhận lịch sử, mà còn là một hướng dẫn cho tương lai, mà Nhà xuất bản Anteo Edizioni tự hào mang đến cho độc giả Ý.

Sau cùng, chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này có thể làm phong phú cuộc thảo luận chính trị và học thuật tại Ý, mở ra một cửa sổ nhìn vào một mô hình chủ nghĩa xã hội đã biết thích nghi và phát triển trong một điều kiện độc đáo. Chúng tôi kêu gọi các độc giả hãy đọc và suy ngẫm về những trang sách này, không chỉ là lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà còn là một tầm nhìn về hy vọng và sự phấn đấu kiên cường cho tương lai tươi sáng.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “đời sống mới” vào xây dựng nông thôn mới hiện nay.

 Tác phẩm “Đời sống mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng những chỉ dẫn quý báu, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mang giá trị định hướng trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, xây dựng nông thôn mới theo Người là cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, con người. có việc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay. Bài viết khái quát một số nội dung về xây dựng đời sống mới và giá trị vận dụng vào xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “đời sống mới” vào xây dựng nông thôn mới hiện nay

Huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh về đích nông thôn mới năm 2018 và đang phấn đấu trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu _ Ảnh: baohatinh.vn

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới

Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dù trong điều kiện nào cũng phải thực hiện xây dựng đời sống mới. Xây dựng đời sống mới vừa là nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, vừa là trách nhiệm của tất cả mọi người, tất cả các ngành, các giới, phù hợp với xu thế của nhân loại. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới thể hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, về mục đích của xây dựng đời sống mới

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống mới là nhằm làm cho đời sống vật chất của nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, đời sống tinh thần được cải thiện và nâng cao. Để đạt được mục đích trên, nội dung cốt lõi là thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích: “Cần” trong lúc này nghĩa là quân đội phải siêng tập, siêng đánh; còn nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi. “Kiệm” là binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Nhân dân phải tiết kiệm vật liệu, mới giúp được bộ đội và đồng bào tản cư. “Liêm” tức là trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Còn “Chính” tức là mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập. Cần, kiệm, liêm, chính là những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh vừa kế thừa, vừa bổ sung, đổi mới cho phù hợp với điều kiện của đất nước.

Hai là, về tính kế thừa và đổi mới trong xây dựng đời sống mới

Hồ chí Minh đã chỉ ra phương pháp luận mang tính nguyên tắc trong xây dựng đời sống mới, đó là phải kế thừa và đổi mới, thể hiện ở mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới, Người chỉ rõ: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới”(1). Do đó, muốn đổi mới thành công phải biết kế thừa cái tốt, cái hợp lý của cái cũ, đó là đòi hỏi tất yếu, khách quan, là mối quan hệ biện chứng giữa cái cũ và cái mới trong quá trình vận động và phát triển. Tuy nhiên, kế thừa không phải là khôi phục, hoặc giữ nguyên cái cũ, bởi vì, trong quá trình vận động đi lên, tất yếu cái cũ phải bị tiêu diệt nhưng vẫn có những cái cũ vẫn được giữ gìn, đổi mới và bổ sung, phát triển phù hợp với trình độ của cái mới. Hồ Chí Minh cho rằng: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp”(2).

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống mới trên cơ sở kế thừa từ những truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc, sửa đổi lại những “phiền phức” của cái cũ cho phù hợp, phát triển thêm trong điều kiện mới; đồng thời tiếp thu những cái “mới mà hay” vào xây dựng đời sống mới và loại bỏ những “cái cũ mà xấu” ra khỏi đời sống mới.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra tác hại của “thói quen” trong quá trình nhận diện, đánh giá cái mới. Người cho rằng: “Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu. Cái xấu mà quen người ta cho là thường”(3), bởi vì, thói quen rất khó thay đổi nên họ không quyết tâm từ bỏ cái xấu.

Ba là, về nội dung của đời sống mới

Hồ Chí Minh cho rằng, trong xây dựng đời sống mới, việc trước tiên là phải sửa đổi lại những việc rất cần thiết, rất phổ thông hằng ngày của mọi người về cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc; xóa bỏ những hủ tục lạc hậu trong đời sống nhằm tiến đến xây dựng đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới trong xã hội.

Theo Hồ Chí Minh phạm vi của đời sống mới bao gồm: Đời sống mới của một người, của một nhà, đến đời sống mới của làng, trong trường học, trong công sở,… Người giải thích rõ nội dung của từng phạm vi đó như sau:

Xây dựng đời sống mới của một người: Mỗi một người là gốc của làng nước; nội dung đời sống mới của từng người được thể hiện qua cách ăn, cách mặc, cách ở, cách học tập, cách làm việc. Mỗi người phải thực sự yêu Tổ quốc; việc gì lợi cho nước, phải ra sức làm, việc gì hại đến nước, phải hết sức tránh; sẵn lòng công ích; bất kỳ việc to việc nhỏ, có ích chung thì phải hăng hái làm; chớ kiêu căng; chớ nịnh hót; chớ tham lam, bủn xỉn. Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác. Cách làm việc phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách, đã làm việc gì thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, chớ làm dối. Trong quan hệ ứng xử thì phải thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ.

Xây dựng đời sống mới của một nhà: Thể hiện ở quan hệ giữa các thành viên trong gia đình; quan hệ giữa các gia đình với nhau; làm cho gia đình trở thành kiểu mẫu. Trong gia đình thì phải trên thuận, dưới hoà, không thiên tư, thiên ái. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm, phải công bằng, có kế hoạch, ngăn nắp. Thực hành tiết kiệm, đơn giản trong việc cưới hỏi, giỗ tết. Trong nhà ngoài vườn luôn luôn sạch sẽ gọn gàng; đối với xóm giềng phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ; đối với việc làng việc nước phải hăng hái gương mẫu; trong gia đình ai cũng biết chữ.

Xây dựng đời sống mới của một làng: Phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Xóa bỏ những tệ nạn, hủ tục lạc hậu như: say sưa, cờ bạc, hút xách, trộm cắp. Xây dựng tình làng, nghĩa xóm hoà thuận, làm cho làng trở nên “phong thuần tục mỹ”. Giữ gìn vệ sinh môi trường, đường sá thông thoáng, sạch đẹp.

Xây dựng đời sống mới của một trường học: Hồ Chí Minh xác định vị trí, vai trò của thế hệ trẻ - là người chủ tương lai của đất nước; nhà trường là nơi rèn luyện của thanh thiếu nhi, phải dạy cho học sinh biết yêu nước, thương nòi, có ý chí tự lực, tự cường, không chịu thua kém ai. Nội dung dạy và học trong nhà trường phải hướng đến phát triển toàn diện, đặc biệt chú trọng đến giáo dục đạo đức cách mạng; thực hiện nguyên tắc giáo dục học đi đôi với hành, lao động gắn với sản xuất và chiến đấu; xóa bỏ những tàn tích của nền giáo dục thực dân cũ để lại, hướng đến một nền giáo dục hiện đại.

Xây dựng đời sống mới trong bộ đội: Phải giữ kỷ luật, chế độ tập luyện thật nghiêm; học tập văn hóa, chính trị; tăng gia sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm; giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa dịch bệnh; làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, giúp đỡ dân và đánh giặc giỏi.

Xây dựng đời sống mới trong công sở: Tất cả cán bộ, công chức, viên chức đều là người phục vụ cho nhân dân, phải được nhân dân tin cậy, vì vậy, cán bộ trong các công sở phải làm gương về xây dựng đời sống mới cho nhân dân noi theo. Cán bộ, công chức, viên chức phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, nếu không giữ được 4 đức tính ấy sẽ dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ làm việc phải có giờ giấc, nhanh chóng, chu đáo, làm việc có kế hoạch; phải tiết kiệm giấy bút, vật liệu, tiền bạc của nhân dân; phải trong sạch, không lợi dụng chức vụ để phát tài, tham ô, đục khoét nhân dân, đến khi lộ ra, bị xử phạt, thì mất hết cả danh giá, tiền tài; phải thật sự công tâm, công đức. “Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán,… Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh”(4).

Xây dựng đời sống mới trong một nhà máy, xí nghiệp: Thiết lập mối quan hệ chủ - thợ chặt chẽ, hợp tác cùng có lợi, yêu thương nhau. Trong đó, những người làm chủ phải chăm lo đời sống cho công nhân đủ ăn, đủ mặc thì họ mới đủ sức lực và động lực để lao động, phải quan tâm đến “lương bổng, nhà ở, vệ sinh và cách đối đãi công nhân, cần phải rộng rãi tử tế”(5). Nếu làm được điều đó, công nhân sẽ có thêm động lực làm việc, làm nhanh hơn, khéo hơn, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm vật liệu. Vì lợi cho chủ tức là lợi cho mình một phần.

Bốn là, về phương pháp xây dựng đời sống mới

Để nhân dân hiểu đúng và thực hành đời sống mới, theo Hồ Chí Minh, trước hết cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và nêu gương. Người yêu cầu: “Phải chịu khó nói rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào, cách thi hành đời sống mới thế nào. Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần. Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi”(6). Người yêu cầu cán bộ làm công tác tuyên truyền, vận động xây dựng đời sống mới phải nói một cách giản đơn, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay. Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc to, việc khó.

Cán bộ phải “miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”(7). Việc làm gương bắt đầu từ mỗi người, mỗi nhà đến mỗi làng; khi trông thấy hiệu quả tốt thì những người khác, nhà khác, nơi khác sẽ hăng hái làm theo. Người cho rằng trong quá trình tuyên truyền, tránh tình trạng “hăng quá” dễ làm hỏng việc, phải trên tinh thần tự nguyện, tránh ép buộc; trong tuyên truyền “phải hăng hái, bền gan, chịu khó, đồng thời phải cẩn thận, khôn khéo, mềm mỏng”(8).

Hồ Chí Minh chỉ ra một phương pháp quan trọng trong xây dựng đời sống mới là phải tổ chức tốt các phong trào thi đua, thi đua giữa người với người, giữa nhà với nhà, giữa làng với làng, giữa đơn vị, địa phương này với đơn vị, địa phương khác.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập một cách toàn diện của vấn đề xây dựng đời sống mới ở nước ta cả về mục đích, nội dung, phương pháp và cả về phương pháp. Đây là những chỉ dẫn quan trọng mà Đảng ta đã vận dụng vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung và xây dựng đời sống mới cho nhân dân Việt Nam nói riêng, trong đó có hoạt động xây dựng nông thôn mới hiện nay.

2. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay theo quan điểm xây dựng đời sống mới của Hồ Chí Minh

Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt biệt quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Ngày 16-6-2022, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW tiếp tục thực hiện vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân mà trọng tâm là xây dựng nông thôn mới.

Tính đến tháng 7-2023, nước ta có 6.022/8.177 xã (73,65%) đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 11,3% so với cuối năm 2020). Trong đó, cả nước bình quân mỗi xã đạt 16,9 tiêu chí;có 263 đơn vị cấp huyện của 58 tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (chiếm 40,8% tổng số đơn vị cấp huyện trên cả nước), tăng 90 đơn vị so với cuối năm 2020. Có 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 7 địa phương so với cuối năm 2020), trong đó có 5 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai, Hà Nam, Hưng Yên và Hải Dương) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới(9).

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới hiện nay gồm có 11 nội dung thành phần cùng với 19 tiêu chí về quy hoạch; giao thông; thủy lợi và phòng, chống thiên tai; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; thông tin và truyền thông; nhà ở dân cư; thu nhập; nghèo đa chiều; lao động; tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn; giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa; môi trường và an toàn thực phẩm; hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; quốc phòng và an ninh.

Khái quát một số nội dung cơ bản trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta như sau: thứ nhất, đó là xây dựng làng, xã văn minh, sạch đẹp, bảo đảm về cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân; thứ hai, sản xuất ở khu vực nông thôn được phát triển theo hướng bền vững gắn với nền kinh thế thị trường; thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở khu vực nông thôn ngày càng nâng cao; thứ tư, bản sắc văn hóa của dân tộc được giữ gìn và phát triển; thứ năm, an ninh ở khu vực nông thôn được bảo đảm, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy.

Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới trong xây dựng nông thôn mới, Đảng và Chính phủ đã xác định Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chú trọng các nội dung:

Một là, tuyên truyền, vận động nhân dân, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, tổ chức các phong trào thi đua trong nhân dân là một trong những giải pháp quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục xác định: Tăng cường tuyên truyền, vận động, hướng dẫn đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tham gia phát triển nông nghiệp, nông thôn. Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22-02-2022 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục xác định giải pháp: Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới.

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, xây dựng nông thôn mới phải dựa trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được của quá trình xây dựng và phát triển nông thôn trước đó; phải làm cho đời sống văn hóa tinh thần ở khu vực nông thôn phong phú, lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc; gắn với bảo vệ các giá trị của nền văn minh lúa nước, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Ba là, những nội dung về xây dựng nông thôn mới của nước ta hiện nay là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh về đời sống mới trên tất cả các bình diện: thứ nhất, xác định mục tiêu của xây dựng nông thôn mới là nhằm không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; thứ hai, phát huy tinh thần yêu nước, cần cù trong lao động, đoàn kết, tương thân, tương ái là một trong những yêu cầu quan trọng trong xây dựng nông thôn mới; thứ ba, trong xây dựng nông thôn mới phải loại bỏ những hủ tục, những “cái cũ mà xấu”, những cái lạc hậu cản trở cái mới, cái tiến bộ; thứ tư, trong xây dựng nông thôn mới phải thực hiện nhất quán phương pháp tuyên truyền, vận động, phát động phong trào thi đua, nêu gương với cách thức lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau; thứ năm, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân là khâu then chốt trong xây dựng nông thôn mới mà theo Hồ Chí Minh đó là “trách nhiệm công dân”.

3. Kết luận

“Đời sống mới” là một trong những tác phẩm của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, góp phần chỉ đạo xây dựng, phát triển đất nước sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về các mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh. Nhờ đó, Việt Nam đã vượt qua vô vàn khó khăn những ngày đầu độc lập, thực hiện thành công công cuộc kháng chiến và kiến quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiên lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dù đã qua hơn 75 năm nhưng tác phẩm “Đời sống mới” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn chỉ dẫn quá trình xây dựng đất nước hiện nay, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện.

Tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới.

 Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của thành phần kinh tế tư nhân là kết quả của quá trình nhận thức, tìm tòi, sáng tạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam và cả hệ thống chính trị. Từ việc thừa nhận và tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển tại Đại hội VI đến nhấn mạnh kinh tế tư nhân “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế” tại Đại hội XIII, tư duy lý luận của Đảng về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng rõ ràng, sâu sắc, mang tính khái quát cao, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân trong việc thúc đẩy đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Bài viết phân tích vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới.

tttctt.1cdn.vn-2020-12-29-_kinh-te-viet-nam.jpg
Từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến nay, tư duy lý luận của Đảng về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng rõ ràng, sâu sắc, mang tính khái quát cao _ Ảnh: TTXVN

1. Đặt vấn đề
Kinh tế tư nhân (KTTN) là hình thức tổ chức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Đây là một thành tố quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tập trung vào đổi mới kinh tế và mở đường cho KTTN tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế. Các chủ trương và chính sách mới được ban hành nhằm khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN. Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh KTTN là một phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân và việc phát triển KTTN là một khâu đột phá nhằm xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Sự tham gia của KTTN là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế, CNH, HĐH và tăng cường năng lực nội tại của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và cho phép KTTN tồn tại và phát triển là một bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nhờ những chủ trương, chính sách đổi mới tích cực và hiệu quả của Đảng và Nhà nước, khu vực KTTN đã có những đóng góp rất quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách cân bằng và hài hòa với các giá trị xã hội. KTTN giúp giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Ngoài ra, khu vực KTTN có tính năng động, tranh thủ được mọi nguồn lực trong xã hội nhằm cải thiện đời sống của nhân dân, tăng thu ngân sách nhà nước và thực hiện các chủ trương xã hội hóa trong y tế, văn hóa, giáo dục. Tất cả những đóng góp này không chỉ góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội của đất nước, mà còn từng bước hiện thực hóa mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
2. Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân

Sau Đại hội VI (năm 1986), nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi cơ bản, KTTN ở Việt Nam không còn bị “cấm cản” mà dần được tự do sản xuất, kinh doanh. Đại hội VI nhấn mạnh: “Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích lũy tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội”(1). Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15-7-1988 của Bộ Chính trị khóa VI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI tiếp tục khẳng định phát triển KTTN nhằm mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia và nâng cao đời sống người dân.

Tuy nhiên, KTTN mà nòng cốt là kinh tế tư bản tư nhân (doanh nghiệp tư nhân) chỉ thực sự được thừa nhận và tham gia vào nền kinh tế Việt Nam sau khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân chính thức được Quốc hội Việt Nam thông qua vào tháng 12-1990 (có hiệu lực từ ngày 15-4-1991). Điều 3, Luật doanh nghiệp tư nhân nhấn mạnh: “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của kinh doanh. Trong khuôn khổ pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh”(2). Đây là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên chính thức thừa nhận sự tồn tại khách quan của bộ phận cơ bản nhất thuộc khu vực KTTN trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Điều này đã tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN quy mô lớn được thành lập và đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đại hội VII (tháng 6-1991) tiếp tục nhận thức sự cần thiết phải phát triển kinh tế nhiều thành phần để giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sản xuất, đồng thời đánh giá khách quan, đúng đắn về thành phần KTTN. Đại hội VII khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước”(3). Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đại hội VII nhấn mạnh: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”(4). Như vậy, đến Đại hội VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức khá rõ về vị trí, vai trò của KTTN và khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất cho KTTN phát triển.

Cơ sở pháp lý quan trọng và có hiệu lực cao nhất bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bình đẳng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế là Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp đã ghi nhận sự tồn tại của thành phần “kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân” và thừa nhận nhiều hình thức sở hữu, bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của người kinh doanh. Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định, lâu dài của KTTN ở Việt Nam.
Đại hội VIII tiếp tục khẳng định tất cả các thành phần kinh tế được đối xử một cách bình đẳng, công bằng. Trong đó, tạo điều kiện về vốn, hành lang pháp lý, thủ tục hành chính… để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư sản xuất, đặc biệt nhấn mạnh: kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài.

Trên cơ sở đường lối và quan điểm của Đảng đối với KTTN, Nhà nước Việt Nam đã có những đổi mới về cơ chế, chính sách để phát triển KTTN, đặc biệt là việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2000) thay cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1991. Trên cơ sở đó, Nghị định 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03-2-2000 về việc hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho các thành phần kinh tế phát triển, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 đã đánh dấu bước ngoặt mới nhằm thúc đẩy KTTN phát triển ở tầm cao. Đại hội IX (năm 2001) tiếp tục nhấn mạnh vị trí, vai trò quan trọng của thành phần KTTN: “Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm”(5).

Tiếp tục khẳng định những đóng góp quan trọng của KTTN, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18-3-2002 “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Hội nghị đánh giá cao vai trò của KTTN, coi KTTN là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân. Thông qua việc phát huy tính năng động, sự sáng tạo, khả năng thích ứng của khu vực KTTN tạo thêm động lực đưa nền kinh tế Việt Nam vươn lên tầm cao mới, với nhiều cơ hội phát triển, qua đó tăng tốc độ tăng trưởng GDP, mở ra nhiều cơ hội việc làm, xóa đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực…

Từ thực tế đúc kết kinh nghiệm trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Đại hội X (năm 2006) khẳng định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”(6). Đảng chủ trương “xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”(7).

Tại Đại hội VI (năm 1986), lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam có quan niệm mới về vai trò, vị thế của KTTN, thì sau 20 năm, tại Đại hội X (năm 2006), Đảng đã có nhận thức mới về KTTN khi thừa nhận KTTN là “một trong những động lực của nền kinh tế”. Quan điểm này là một bước phát triển cao về chất, ghi nhận sự tiến bộ trong tư duy lý luận của Đảng về KTTN. Nói cách khác, đến Đại hội X, nhận thức về phát triển KTTN của Đảng ta đã được bổ sung, hoàn thiện, toàn diện hơn và có cách nhìn đa chiều cả về khung pháp lý, cơ sở lý luận và thực tiễn. Mặt khác, Đảng cũng chủ trương thành lập các tập đoàn kinh tế lớn, có sự tham gia của KTTN trong và ngoài nước. Đây là một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy của Đảng, hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan nhằm tăng cường hiệu suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Điểm đột phá ấn tượng nhất là Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28-8-2006 “Về đảng viên làm kinh tế tư nhân”. Việc Đảng cho phép đảng viên làm KTTN là một quyết sách đúng đắn, mở rộng ranh giới, phá vỡ những giới hạn truyền thống trong tư duy của Đảng. Tuy nhiên, đảng viên phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) diễn ra trong một thời điểm có ý nghĩa trọng đại. Công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua 25 năm, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã thực hiện được 20 năm. Để phát triển đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh, Đại hội XI đã làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn trong phát triển thành phần KTTN: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(8). Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh vai trò của KTTN: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật”(9). Để KTTN thực sự phát triển và hoạt động hiệu quả, Đại hội XI đã ưu tiên phát triển các loại hình KTTN ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành, đặc biệt nhấn mạnh “hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh”(10).

Vị trí, vai trò của KTTN đối với nền kinh tế quốc dân một lần nữa được nâng lên tầm cao mới trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng (năm 2016). Đây là kết quả của quá trình nhận thức và đổi mới tư duy của Đảng. Điểm mới của Đại hội XII so với các nhiệm kỳ đại hội trước là: Đảng khẳng định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Đại hội nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp”(11). Cũng từ đây, khái niệm tập đoàn KTTN xuất hiện. Thông qua việc không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện một tư duy tiến bộ với những nhận thức mới. Điều này tạo ra cơ hội và môi trường lý tưởng cho KTTN tiếp tục phát triển trên quy mô xứng tầm, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội toàn diện của đất nước.

Để phát triển KTTN trong tình hình mới, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03-6-2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết khẳng định, KTTN ở Việt Nam đã không ngừng phát triển, có nhiều ảnh hưởng tích cực, đóng góp vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta ngày càng có cái nhìn sâu sắc, tích cực và toàn diện hơn về vị trí và vai trò của KTTN. Hệ thống pháp luật, cơ chế, và chính sách từng bước được cải thiện và hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để KTTN có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của KTTN có xu hướng giảm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức cạnh tranh thấp, cơ cấu ngành nghề bất hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu, tiềm ẩn nhiều rủi ro và thiếu tính minh bạch. Từ đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nêu rõ: Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết, KTTN đã có sự phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, tạo việc làm và cải thiện an sinh xã hội.

Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta đã nhận thức rõ ràng và đầy đủ về vị trí và vai trò của KTTN với nhiều nội dung mới có tính khái quát cao. Đại hội đã thống nhất và nâng cao nhận thức về sự phát triển mạnh mẽ của KTTN ở Việt Nam: Phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”(12). Đồng thời, Đại hội cũng tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, thúc đẩy sự phát triển của KTTN, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tiến hành đổi mới, cải thiện công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Đặc biệt, Đại hội nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong việc tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường và thực hiện trách nhiệm xã hội. Tất cả những nội dung trên phản ánh sự kết hợp trí tuệ và sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, cũng như sự phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về KTTN.

3. Kết luận

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ đổi mới cùng với việc thừa nhận KTTN “là một động lực quan trọng của nền kinh tế” chính là sự đột phá trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua các kỳ Đại hội, từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, quá trình nhận thức về vai trò và vị trí của KTTN đối với sự phát triển của đất nước đã được minh chứng rõ ràng và ngày càng được hoàn thiện.

Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta đã nhận thức rõ ràng và đầy đủ về vị trí và vai trò của KTTN với nhiều nội dung mới có tính khái quát cao.

Trải qua gần 40 năm đổi mới, sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng đã tạo nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế, cơ chế và chính sách để phát triển KTTN ở Việt Nam; thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhận thức ngày càng rõ hơn vai trò của KTTN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Những chủ trương và chính sách kịp thời, đúng đắn đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của KTTN và khẳng định mạnh mẽ vị trí và vai trò trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các thành tựu Việt Nam đạt được là minh chứng rõ ràng nhất cho sự đúng đắn và phù hợp khi lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện thể chế kinh tế, từ đó đưa Việt Nam tiếp tục hội nhập và phát triển.