Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 Theo quan điểm của Đảng, bảo vệ môi trường là một nội dung, biện pháp quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước và vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bài viết làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng; thực trạng và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững đất nước - Ảnh: nangluongsach.vn

1. Quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững đất nước

C. Mác từng nhấn mạnh: “Con người là bộ phận của giới tự nhiên”(1). Luận điểm kinh điển của C. Mác cho thấy vấn đề cơ bản là quá trình hình thành, phát triển của xã hội loài người gắn liền với tự nhiên; con người sinh sống gắn liền với tự nhiên, giới tự nhiên chính là thân thể vô cơ của con người, đó chính là mối quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên, không rời nhau. Kế thừa quan điểm, tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói về vấn đề bảo vệ môi trường sống của con người. Người phát động các phong trào trồng cây gây rừng, Tết trồng cây, giữ gìn vệ sinh, diệt ruồi, muỗi. Các phong trào do Người khởi xướng và phát động đã nhận được sự đồng tình, hưởng ứng sôi nổi của các tầng lớp nhân dân.

Người sớm đặc biệt quan tâm, chú trọng bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sống của con người. Người chỉ rõ: “Mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ? Sạch sẽ là một phần của đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm”(2).
Để bảo vệ môi trường, một trong những nội dung, biện pháp được Người đặc biệt nhấn mạnh đó là phải trồng cây xanh. Bởi theo Người, trồng cây xanh không chỉ đơn thuần là trồng cho nhiều, mà trồng cây xanh còn nhằm góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người trong bảo vệ môi trường, đem lại không khí trong lành, xanh mát, hạn chế, giảm thiểu hạn hán, lũ lụt, thiên tai.

Như vậy, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của môi trường, là môi trường mà hàng ngày, hàng giờ con người sống và làm việc. Những tư tưởng đó của các đã được Đảng ta quan tâm, cụ thể hóa vào thực tiễn

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) xác định: “tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”(3). Đó là vấn đề căn cốt bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững của quốc gia, dân tộc trong tiến trình đi lên CNXH.

Nghị quyết 24 -NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước”(4).

Việt Nam từ điểm xuất phát thấp, trình độ, công nghệ lạc hậu, nếu không quan tâm, chú trọng bảo vệ môi trường sẽ để lại hậu quả đến thế hệ mai sau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: “Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường”(5). Và “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, càng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”(6).

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930) cho đến trước năm 1975, dân tộc ta tập trung mọi nguồn lực cho đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Đảng ta chưa có nhiều điều kiện để đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Song, những quan điểm, chủ trương của Đảng về chăm lo sức khoẻ nhân dân, phát động các phong trào giữ gìn vệ sinh, trồng cây xanh, đắp đê ngăn lũ, xây dựng các công trình thủy lợi… đã cho thấy việc bảo vệ môi trường được Đảng ta quan tâm, chú trọng.

Từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) với đường lối đổi mới toàn diện nền đất nước, xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế hoạch toán kinh doanh, tập trung nguồn lực xây dựng, phát triển đất nước, Đảng ta đã nhận thức rõ loài người đang đứng trước nhiều vấn đề mới có tính chất toàn cầu, trong đó có vấn đề sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH được Đại hội VII (năm 1991) của Đảng thông qua cũng xác định: Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau.
Bước tiến quan trọng đánh dấu tư duy đổi mới, nhìn nhận, đánh giá về bảo vệ môi trường thời kỳ CNH, HĐH đất nước của Đảng ta là Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ thị nhấn mạnh, bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Tiếp đó, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ môi trường, là một trong những nội dung quan trọng. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và những thách thức của những vấn đề toàn cầu, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Trong đó, Đảng ta xác định quan điểm, mục tiêu: Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) xác định: “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường”(7). Kết luận số 56-KL/TW ngày 23-8-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã khẳng định: Môi trường không chỉ là không gian sinh tồn của con người, mà còn là điều kiện, nền tảng, yếu tố tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục nhấn mạnh quan điểm bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu… xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(8).

Quan điểm, chủ trương của Đảng ta từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XIII (năm 2021) đều xác định bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề sống còn của quốc gia, dân tộc, có tác động qua lại đến sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước; ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng môi trường sinh thái hài hòa, thân thiện đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng thế giới. Đối với Việt Nam, đó là sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương các doanh nghiệp và mỗi người dân. Cùng với đó là thực hiện các giải pháp đồng bộ, thiết thực, cụ thể để khai thác, sử dụng, tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng nhân dân, bảo vệ môi trường trong lành, không gây ô nhiễm bởi tiếng ồn, nguồn nước, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp.

2. Thực trạng bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên: “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu… xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”.

Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương đã tích cực, chủ động trong kiểm soát, đưa ra phương án, biện pháp khoa học, toàn diện với từng vùng, từng địa bàn chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để phối hợp giải quyết; các chỉ tiêu về môi trường trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành, địa phương.

Cụ thể là: “Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đến năm 2020 đạt khoảng 90%, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh ước đạt 90,2% tăng mạnh so với năm 2015 (86,2%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường năm 2020 là 90%. Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 khoảng 42%, đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra”(9).

Hợp tác quốc tế, tham gia vào các hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm, tiêu biểu như: cam kết của Chính phủ về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Net Zero) tại Hội nghị COP26; tham gia Thỏa thuận Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với một số nước G7 và đối tác quốc tế khác; tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Hiệp ước Tài chính toàn cầu mới tại Pháp ngày 21 đến 24-6-2023.

Cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chương trình, dự án của Chính phủ, các địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, điển hình như Cần Thơ đã đề ra nhiều giải pháp ứng phó với biển đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân và doanh nghiệp, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững; trong sản xuất nông nghiệp, nhân rộng sản xuất theo quy trình vietGAP, Global GAP, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biến đối khí hậu (tham gia thỏa thuận các thị trưởng toàn cầu về biến đổi khí hậu và năng lượng; tham gia mạng lưới các thành phố BreatheLife; thành viên trong mạng lưới 100 thành phố toàn cầu có khả năng chống chịu…); tổ chức nhiều hội thảo, tập huấn phổ biến thông tin, kiến thức về môi trường, biến đổi khí hậu cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong thành phố(10).

Để ứng phó với biến đổi khí hậu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giang đã triển khai thực hiện nhiều công trình, dự án chống xói mòn, sạt lở đất ven biển, phục hồi rừng ngập mặn, xây dựng kè chống sạt lở ven biển, xây dựng hàng rào giữ bùn gây bồi, tạo bãi phát triển rừng ngập mặn, xây dựng 2 dự án đê biển, xây dựng công trình thủy lợi cống Kênh Nhánh ngăn mặn, giữ ngọt cho vùng Tứ giác Long Xuyên. Tiến hành giao khoán bảo vệ rừng gần 10.000 ha cho hộ dân sản xuất theo mô hình lâm - ngư kết hợp, khoanh nuôi tái sinh hơn 500 ha và trồng rừng gần 1.000 ha(11).

Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn để chủ động ứng phó với biến đổi khi hậu: phấn đấu đến năm 2025, giảm 30% thiệt hại về người đối với các loại hình thiên tai có cường độ, quy mô lớn; 100% hộ gia đình được tiếp nhận thông tin về thiên tai; giai đoạn 2021 – 2025, giảm 50% thiệt hại do thiên tai gây ra; tăng cường đầu tư nghiên cứu cơ bản về thiên tai, nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, nâng cấp trang thiết bị(12).

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, hạn chế. Ý thức, trách nhiệm của một bộ phận người dân, doanh nghiệp chưa tốt, không có kế hoạch, phương án dự phòng, đề phòng những rủi ro có thể xảy ra khi gặp sự cố.

Ở nhiều địa phương, xây dựng nhà máy, xí nghiệp sản xuất kinh doanh ngay ở trong khu dân cư nhưng không bảo đảm về môi trường; vẫn còn tình trạng doanh nghiệp xả thải không qua xử lý ra môi trường tự nhiên; người dân xả thải, rác bừa bãi xuống kênh, hồ, ao; nhiều bãi rác tập trung được thu gom ở gần khu dân cư; có địa phương, lãnh đạo tỉnh bắt tay với doanh nghiệp khai thác quặng, than đá, cát gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong sạt lở đất, lở núi, ngập nước, hủy diệt hệ sinh thái, sa mạc hóa những cánh đồng trù phú, tình trạng xâm nhập mặn; những bãi bồi bị mất đi do nạn hút “cát tặc”.
Nhận thức rõ thực trạng này, Đảng ta chỉ rõ: “Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả, quản lý, sử dụng chưa cao, chưa theo nguyên tắc của thị trường, nhất là đất đai…. Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị còn hạn chế, môi trường nước ở một số đô thị bị ô nhiễm… rác thải ở khu vực nông thôn, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, các nhà máy sản xuất công nghiệp gia tăng”(13).

Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do: (1) Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho người dân và doanh nghiệp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; thấy lợi ích trước mắt về kinh tế mà chưa tính đến việc bảo đảm phát triển bền vững trong mỗi một chủ trương, dự án. Chúng ta “Chưa nhận thức đầy đủ và xử lý tốt quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu”(14). (2) Hệ thống pháp luật, Luật bảo vệ môi trường tuy khá hoàn chỉnh, song vẫn còn kẽ hở, chưa đủ mạnh để răn đe, chế tài quá nhẹ đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. (3) Người đứng đầu chính quyền các cấp ở một số địa phương buông lỏng lãnh đạo, quản lý, thiếu sâu sát kiểm tra, đánh giá việc bảo vệ môi trường sinh thái. (4) Các cơ quan chức năng, ban, ngành chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ trong xử lý, giải quyết các vấn đề có liên quan đến bảo vệ môi trường; (5) Năng lực dự báo, đánh giá tình hình và xử lý vi phạm đối với tập thể, cá nhân vi phạm đến môi trường chưa thật quyết liệt, mạnh mẽ, còn nể nang, né tránh, bao che, dung túng, tiếp tay cho sai phạm.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Các thách thức về biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, sử dụng nguồn nước xuyên biên giới, nhất là nguồn nước sông Mê Kông, thiên tai, dịch bệnh và thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu ngày càng cấp bách về tăng cường hợp tác xử lý, đặt ra nhiều vấn đề, thách thức lớn chưa từng có cho phát triển nhanh và bền vững”(15). Trong khi đó, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước là trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng XHCN, đỏi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để bảo đảm phát triển bền vững.

3. Một số biện pháp bảo vệ môi trường vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi chủ thể về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Một trong những giải pháp quan trọng được Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương xác định: “Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường”(16). Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”(17). Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quán triệt nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Đến nay, các văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường đã tương đối hoàn thiện, đồng bộ, toàn diện cho từng ngành, lĩnh vực; người đứng đầu các sở, ban, ngành ở các tỉnh, thành cần phải tích cực, chủ động cụ thể hóa thành các chương trình, dự án hành động cụ thể, thiết thực, không thụ động, trông chờ sự giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng từ Trung ương.
Trên cơ sở đặc điểm tình hình ở mỗi khu vực, địa bàn, người đứng đầu ở nơi đó xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể trong tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhưng phải bảo đảm môi trường, không gây tổn hại đến đời sống của nhân dân, không để lại những bức xúc, gây cản trở trong sinh hoạt đời sống của người dân; nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người đối với sự phát triển bền vững của địa phương, không vì lợi ích trước mắt mà đánh đổi sức khoẻ, tính mạng của người dân; đa dạng hóa các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục người dân, doanh nghiệp trên địa bàn, cam kết chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, địa phương và những tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường; xây dựng các mô hình “Ngày thứ Bảy, Chủ nhật xanh”; “Nhà tôi xanh, sạch, đẹp”; “Chống rác thải nhựa”… và lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là cơ chế tài chính về khai thác, sử dụng về tài nguyên nước, bảo đảm công bằng, hiệu quả, bền vững trên nguyên tắc của thị trường và quản lý tổng hợp nguồn nước, bảo đảm nghiêm ngặt an ninh nguồn nước, nhất là nước sạch cho sinh hoạt”(18). Quán triệt tinh thần trên, các cơ quan, ban, ngành có liên quan đề cao tinh thần, trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, tham mưu, đề xuất những nội dung đúng, trúng, có liên quan trực tiếp đến thực tiễn ô nhiễm môi trường, hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các địa phương, từ đó, tổng hợp tình hình, báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành các quy định, hướng dẫn, điều chỉnh, bổ sung về bảo vệ môi trường phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ ở mỗi vùng, địa phương. Đồng thời, tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, kinh phí chống biến đổi khí hậu, tránh lạm dụng quyền lực trong xây dựng cơ chế, chính sách, lồng ghép động cơ cá nhân, “lợi ích nhóm”. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên môi trường, đẩy lùi tình trạng ô nhiễm, xâm hại môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học”(19).

Ba là, tập trung xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, đô thị lớn, các cụm công nghiệp.

Người đứng đầu các địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa biện pháp tuyên truyền, giáo dục với xử lý theo quy định pháp luật đối với hộ gia đình, chủ sản xuất không tuân thủ quy định về môi trường. Ở những khu vực, địa bàn thường xuyên xảy ra ô nhiễm môi trường, nguồn nước sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng, chính quyền các cấp cần tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, không để tình trạng đó kéo dài, ảnh hưởng đến sản xuất, cuộc sống của người dân.

Tăng cường sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào xử lý ô nhiễm môi trường, huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng có liên quan, đặc biệt là nhân dân trong bảo vệ môi trường.

Bốn là, quản lý chặt chẽ, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

Nước ta đang đứng trước nguy cơ khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản… Các cơ quan, ban, ngành cần tăng cường công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên đều tính đến tái sinh, phát triển bền vững, đem lại hiệu quả thiết thực, phục vụ hữu ích cho sự phát triển của địa phương. Nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân trong bảo vệ tài nguyên rừng, đẩy mạnh việc trồng rừng, không để kẻ xấu chặt cây, phá rừng, khai thác gỗ lậu; tăng đầu tư kinh phí, hỗ trợ cho bộ phận, lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, nhất là ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa. Cần tính toán trước khi quyết định xây dựng các nhà máy thủy điện ở các địa phương, do những ảnh hưởng đến lòng đất và tài nguyên thiên nhiên mà không thể tái tạo được.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự vận dụng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác tư tưởng và đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống những quan điểm sai trái, phi mácxít, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết thuộc đề tài cấp Bộ: "Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tình hình mới" do TS Đào Thị Minh Thảo làm Chủ nhiệm.

TS ĐẶNG THỊ PHƯƠNG DUYÊN
Trường Đại học Công đoàn

(LLCT) - Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác tư tưởng và đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống những quan điểm sai trái, phi mácxít, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết thuộc đề tài cấp Bộ: "Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tình hình mới" do TS Đào Thị Minh Thảo làm Chủ nhiệm.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự vận dụng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở khoa học cho đường lối xây dựng Đảng cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Ảnh: laichau.gov.vn

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, coi “công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất”(1), có ý nghĩa quyết định đến đường lối chính trị của Đảng. Đồng thời, Người cũng luôn coi trọng công tác bảo vệ, phát triển hệ tư tưởng của Đảng. Vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh để lại những bài học vô cùng sâu sắc đối với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, khẳng định tầm quan trọng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Để thực hiện mục tiêu của cách mạng, vấn đề đầu tiên là phải xác định được hệ tư tưởng dẫn đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự bế tắc về con đường cách mạng ở Việt Nam những năm 1920 đã cho thấy tính cấp thiết cần có một hệ tư tưởng khoa học, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử. Kết quả hoạt động thực tiễn và lý luận nhiều năm đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ nhận thức sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2).Sở dĩ như vậy là bởi, đây là học thuyết duy nhất từ trước đến nay quan tâm đến vận mệnh của các dân tộc bị áp bức, gắn cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó cũng là khát vọng của dân tộc ta. Do đó,“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản(3).

Hồ Chí Minh luôn khẳng định, hệ tư tưởng lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu”(4). Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh khẳng định,cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn là do nhiều nhân tố, nhưng “trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác -Lênin”(5). Người coi V.I.Lênin là “ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức”.

Hai là, phê phán những khuynh hướng tư tưởng sai trái, lệch lạc, phi mácxít

Khẳng định vai trò của hệ tư tưởng vô sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng phê phán gay gắt những tư tưởng đi ngược lại với quan điểm của chủ nghĩa Mác. Trong thời kỳ hoạt động cách mạng sôi nổi tại Pháp, Hồ Chí Minh đã nhận rõ thực chất của chủ nghĩa cơ hội tiểu tư sản trong Quốc tế II, với sự ủng hộ chính sách thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, với chính sách phân biệt chủng tộc (công nhân da trắng và công nhân da màu). Người viết: “Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ”(6).

Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin và bảo vệ tư tưởng của V.I.Lênin trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề thuộc địa. Hiểu chủ nghĩa Lênin và con đường cách mạng vô sản, Ngườitích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và trong Quốc tế III, “tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”, Người “không chỉ tranh luận trong chi bộ”,mà còn đi đến các chi bộ khác để đặt câu hỏi:“Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”(7).

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú và sự nhạy bén về chính trị, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ bản chất và mưu đồ của những phần tử tờrốtxkít. Bởi chủ nghĩa Tơrốtxky và những phần tử tờrốtxkít đã phá hoại phong trào cách mạng ở nhiều nước, như Liên Xô, Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban Nha và trong Quốc tế cộng sản. Năm 1939, khi hoạt động ở Trung Quốc, Người viết thư gửi Trung ương Đảng ở trong nước để trao đổi nhiều vấn đề về đường lối, chính sách của Đảng, trong đó có đề cập đến việc chống phái tờrốtxkít. Trong bàiVề chủ nghĩa Tờrốtxki, đăng trên báo Notre Voix, ngày 23-6-1939, Người chỉ rõ: “Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”(8).

Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, “Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che dấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng”(9). Trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương 1936 - 1939, những phần tử tờrốtxkít đã công khai phá hoại đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, lôi kéo, lừa bịp nhân dân với những khẩu hiệu “tả” khuynh. Từ nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đề nghị các đồng chí trong Đảng cần phải cảnh giác đối với những phần tử này: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(10).

Nhận rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong lời phát biểu tại Hội nghị Đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa (tháng 11-1957), Người nhắc lại tinh thần của Bản Tuyên bố của Hội nghị, “chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”(11).

Hồ Chí Minh chỉ rõ, nguyên nhân của mọi thắng lợi trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng Việt Nam là do “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác -Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng ta không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản và những khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc; chống luận điệu “tả” của bọn tơrốtxkít trong phong trào công nhân; chống khuynh hướng hữu và “tả” trong Đảng khi quy định và chấp hành chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ”(12).

Mọi tư tưởng cơ hội, cải lương, phản cách mạng, phi mácxít hay giả danh mácxít đều nguy hại cho cách mạng. Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là bảo vệ đường lối chính trị của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng. Đó là yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào.

Ba là, phê phán cách nghĩ, cách làm giáo điều, dập khuôn máy móc

Hồ Chí Minh thấm nhuần nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, Người nhận thức rõ lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc mà đầy tính sáng tạo, do đó, "phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc từng nơi”(13). Người chỉ rõ những sai lầm có thể mắc phải trong nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như trong chỉ đạo thực tiễn. “Tả" khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân ta và nhân dân thế giới và sẽ thất bại. Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc. Không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, làm nhụt tinh thần phấn đấu của nhân dân. Quên tác phong gian khổ; chỉ mong muốn một đời sống yên ổn dễ dàng”(14). Và Người kết luận, “Khuynh hướng “tả” cũng như hữu đều là sai lầm, đều sẽ bị địch lợi dụng, đều có hại cho ta mà lợi cho địch”(15).

Nắm vững những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác, lại có vốn kinh nghiệm và hiểu biết thực tiễn sâu sắc, Hồ Chí Minh đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(16).

Khi miền Bắc bắt tay vào cải tạo XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, cải tạo giai cấp tư sản cũng cần có cách thức khác, “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(17). Rõ ràng, việc xây dựng đường lối, chính sách cũng như việc thực hiện đường lối đó không thể máy móc, giáo điều mà phải luôn chú ý đặc điểm, hoàn cảnh riêng của Việt Nam. Trong Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc (ngày 7-9-1957), Người đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam, phải trên cơ sở nắm vững điều kiện đặc biệt của nước ta “là một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu”.

Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán bệnh giáo điều, xét lại. Đó là do vừa không nắm vững lý luận, vừa xa rời thực tế, thiếu tính sáng tạo trong vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng. “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”(18). Vì thế, Người luôn yêu cầu vừa coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận, vừa gắn lý luận với thực tiễn. “Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại”(19). Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ là “làm theo” chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin mà là vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo lý luận vào hoàn cảnh cụ thể, làm cho lý luận đó thể hiện một cách sinh động trên thực tiễn và mang lại hiệu quả.

Bốn là, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên trì học tập hệ tư tưởng của Đảng, không ngừng nâng cao trình độ lý luận

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(20). Người thấy rõ, “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(21). Do đó, Người cho rằng, “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”(22).

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đánh dấu bước trưởng thành về chất của phong trào công nhân, từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác. Tuy nhiên, để giai cấp công nhân và Đảng của nó thực sự giữ vững vai trò lãnh đạo và luôn đạt đến trình độ tự giác, việc học tập, thấm nhuần hệ tư tưởng của Đảng là một yêu cầu tất yếu. Vì vậy, ngay trong giai đoạn Đảng tập trung cho mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn hoàn thành những nhiệm vụ to lớn của cách mạng, bên cạnh việc “đấu tranh không nhân nhượng, chống tư tưởng bè phái”, Đảng “phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”(23).

Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, nâng cao hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là thuộc lòng câu chữ một cách máy móc mà là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”(24).

Trong Diễn văn khai mạc lớp học tập lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, Người chỉ rõ, một trong những nhược điểm lớn của Đảng là “trình độ lý luận còn thấp kém”, vì thế trước những nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, “trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”(25). Người phê phán gay gắt đối với những biểu hiện sai lệch trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là những cán bộ đảng viên “học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không để vận dụng vào công việc cách mạng. Đó cũng là chủ nghĩa cá nhân(26).

Việc học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, là để mỗi cán bộ, đảng viên làm giàu tư duy khoa học, kiên định về chính trị, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân”(27)… “Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ… những phần tử hèn nhát lung lay”(28). Người nhấn mạnh phải xây dựng Đảng trên cả ba mặt, tư tưởng, chính trị và tổ chức, trong đó, về tư tưởng “nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin”… “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng. Đảng phải tăng cường tư tưởng của giai cấp công nhân và gột rửa những tư tưởng trái với nó”(29). Do ảnh hưởng của chế độ thực dân và phong kiến, nên những tư tưởng phi vô sản có thể ảnh hưởng trong Đảng, nên Người yêu cầu “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh vào những tư tưởng “phi vô sản””(30).

Hồ Chí Minh coi trọng việc học tập tư tưởng, lý luận, xem đó là việc làm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Người chỉ rõ mục đích của vấn đề này là nhằm “nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình”(31). Vì vậy, Người yêu cầu, “Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ, mỗi cấp ủy đảng phải luôn luôn tăng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng”(32).

2. Bài học đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Đảng không tách rời nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Người chỉ rõ sự nguy hại của tư tưởng, thái độ, hành vi phản động, phản khoa học, phi mácxít trong đảng và trong phong trào công nhân, đồng thời đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá về tính khoa học, tinh thần kiên quyết, kiên định, triệt để trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng luôn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cơ sở khoa học cho đường lối xây dựng Đảng cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một là, không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mỗi cán bộ, đảng viên và trong toàn Đảng. Việc xem thường lý luận hoặc học lý luận không đến nơi là vô cùng nguy hiểm, là biểu hiện của sự “tự chuyển hóa” từ trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, là sự tự xa rời hệ tư tưởng cũng như lý tưởng của Đảng. Nguy hiểm hơn, việc học tập và hiểu không đúng, không đầy đủ về chủ nghĩa Mác, sẽ làm méo mó lý luận khoa học đó, khi thực hành sẽ vận dụng sai lầm, dẫn đến những hậu quả tai hại.

Hai là, luôn đề cao cảnh giác trước những luận điệu, thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, mưu toan “trộn lẫn” phải trái, đúng sai, vu cáo, xuyên tạc và phủ nhận hiện thực lịch sử. Cảnh giác trước những mưu toan “làm mới” hệ tư tưởng để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cảnh giác trước những thủ đoạn “dân túy”, nhân danh “cách mạng”, “yêu nước”, “lợi ích dân tộc” để kích động, chia rẽ, lôi kéo quần chúng. Tỉnh táo và thận trọng, sáng suốt và nhạy bén trong việc nhận diện những biểu hiện của các trào lưu tư tưởng phi mácxít, đặc biệt là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, từ đó có những chủ trương và biện pháp đấu tranh phù hợp và kịp thời.

Ba là, kết hợp nhuần nhuyễn tính đảng, tính khoa học và tinh thần cách mạng tiến công trong đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng. Phải đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, với những luận cứ, luận chứng khoa học, thuyết phục. Muốn vậy phải mài sắc vũ khí tư tưởng, hiểu thật sâu sắc, toàn diện hệ tư tưởng của Đảng, không nửa vời, không chắp vá.

Bốn là, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ dừng ở sự trung thành, kiên định đối với hệ tư tưởng đó, mà còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận đó cho phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải từng bước hiện thực hóa lý luận khoa học đó, để lý luận đó thể hiện sinh động trong thực tiễn, thông qua các quyết sách chính trị phù hợp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và mang lại giá trị thực tiễn cụ thể. Đó là minh chứng có sức mạnh nhất để đập tan mọi âm mưu bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Chỉ dẫn của V.I.Lênin về Nhà nước trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng và sự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, lần đầu tiên vấn đề nhà nước được V.I.Lênin trình bày một cách có hệ thống. Giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm là đã làm sáng tỏ tính quy luật trong sự sinh thành, vận động và phát triển, đưa ra những dự báo khoa học về xu hướng và điều kiện về sự tự tiêu vong của nhà nước trong tiến trình tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng và tính thời sự. Trong tình hình hiện nay, nắm vững thực chất và vận dụng tư tưởng của tác phẩm là cơ sở vững chắc để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1. Lý luận về nhà nước trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng

Những đóng góp của V.I.Lênin về lý luận nhà nước ở việc làm sáng tỏ những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, trở thành vũ khí lý luận sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, giành lấy, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như đấu tranh chống lại mọi âm mưu hòng xuyên tạc, bẻ cong và nhằm bác bỏ lý luận mácxít về nhà nước. Tác phẩm đi sâu, phát triển lý luận mácxít về nhà nước trên một số phương diện.

Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nhà nước là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp”(1) và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”(2).

Theo V.I.Lênin, khái niệm “nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nước trong xã hội có giai cấp. Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay. Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự”(3). Sự tập trung quyền lực chính trị trong tay một giai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhà nước với mọi hình thức tổ chức xã hội khác. V.I.Lênin chỉ rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”(4).

V.I.Lênin giải thích: “Quyền chính trị là gì, nếu không phải là cách diễn đạt, là việc ghi nhận so sánh lực lượng?”(5). Đây chính là sự phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen: quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác.

Về nguồn gốc của nhà nước, V.I.Lênin nêu rõ, bản thân nhà nước với sự xuất hiện và tồn tại của nó đã là một vấn đề trung tâm của chính trị, nó trở thành một trong những dấu hiệu đặc trưng, một trong những dấu hiệu căn bản nhất để nhận diện xã hội chính trị đã ra đời như thế nào trong lịch sử.

V.I.Lênin đã kế thừa những quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về nhà nước và đưa ra hai quan điểm quan trọng: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”(6).

Đây là luận điểm căn bản của V.I.Lênin về nguồn gốc của nhà nước. Đây là sự kế thừa và khái quát một cách cô đọng, xúc tích của V.I.Lênin, đồng thời là sự phê phán trực diện các quan điểm sai trái về nguồn gốc của nhà nước, những ý kiến cho rằng nhà nước cũng chỉ là sản phẩm phản ánh ý niệm từ bên ngoài, sản phẩm từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, sản phẩm làm theo ý Chúa, sản phẩm của Chúa.

Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I.Lênin khẳng định: Nhà nước mang bản chất giai cấp sâu sắc. Bất cứ nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng phục vụ lợi ích của nó. Xem xét các nhà nước trong lịch sử cho thấy: Nhà nước trong chế độ chiếm hữu nô lệ - chủ nô nắm lấy nhà nước để áp bức vô nhân đạo đối với nô lệ; Nhà nước của chế độ phong kiến - địa chủ nắm lấy nhà nước để đàn áp nông dân; Nhà nước tư bản - Tư sản nắm lấy nhà nước để trấn áp giai cấp vô sản. Nhà nước vô sản công khai tuyên bố rằng: nhiệm vụ thứ nhất của nó là trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ cho đến khi triệt để tiêu diệt chúng. Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì dân. Ngoài bản chất giai cấp, nhà nước vô sản còn mang bản chất xã hội sâu sắc.

V.I.Lênin chỉ rõ, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì dân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi: “Bất cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lột không”(7). Đối với V.I.Lênin: “Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản...”(8).

Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổ sung, là hình thức thể hiện của dân chủ: “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng chế độ dân chủ được. Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản”(9).

Điều cần quan tâm là, trong xã hội xã hội chủ nghĩa - lực lượng đóng vai trò thống trị trong xã hội, và vì thế nắm quyền chuyên chính, dân chủ và pháp luật là đại đa số nhân dân lao động. “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với bọn chúng: đó là sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản”(10).

2. Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển quan điểm của V.I.Lênin về nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tư tưởng V.I.Lênin về nhà nước được hình thành trên cơ sở sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác về nhà nước vào điều kiện cụ thể của nước Nga và tình hình thế giới những năm đầu thế kỷ XX. Những tư tưởng ấy chứa đựng nhiều giá trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Ở nước ta, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần đưa đến thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước.

Quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng được hoàn chỉnh với việc đẩy mạnh cải cách, hội nhập quốc tế, hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa,…Trong thời kỳ quá độ, đó là nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước ta là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật; quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã đề ra chủ trương tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước; sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương các cấp. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và nêu cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam: tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, do Đảng lãnh đạo.

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII) nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước: xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp; quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam; quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Đại hội VIII của Đảng (năm 1986), tiếp tục khẳng định các quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII). Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) nhấn mạnh ba yêu cầu: tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Quan điểm về Nhà nước pháp quyền tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện tại Đại hội IX của Đảng, khi xác định: Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế với các nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế.

Nhiệm vụ cụ thể của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được Đại hội X của Đảng (năm 2006) xác định: xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quản lý nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng dựa trên tám đặc trưng và “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” là một đặc trưng cơ bản.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị,... Đồng thời, khẳng định: tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(11). Đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.

Ngày 09-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII ban hành Nghị quyết 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn mới, xác định những quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay như sau:

Một là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng. Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hai là, thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của nhân dân.

Ba là, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa; thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Ðảng; lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Bốn là, bám sát thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại, kế thừa những thành tựu đã đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, bảo đảm tổng thể, đồng bộ, liên thông giữa đổi mới lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; tiến hành khẩn trương, nghiêm minh, nhất quán, có trọng tâm, trọng điểm và lộ trình, bước đi vững chắc. Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết thực hiện; những vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, thực hiện thí điểm khi cơ quan có thẩm quyền cho phép; những chủ trương đã thực hiện, nhưng không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời.

Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống lý luận của V.I.Lênin, bởi đó là những lý thuyết khoa học gắn chặt với quan điểm chính trị; gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động của V.I.Lênin. Chính vì vậy, nghiên cứu, vận dụng những tư tưởng V.I.Lênin về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công việc khó khăn, bền bỉ, đòi hỏi tính tích cực, chủ động và sáng tạo rất lớn của Đảng và Nhà nước. Hoàn thành mục tiêu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cũng xuất phát từ đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn bộ hệ thống chính trị. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh để quản lý xã hội có hiệu quả, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Những chỉ dẫn của V.I.Lênin trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng đến nay vẫn giữ nguyên giá trị đối với Đảng ta trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.