Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là sự kết tinh, phát triển giá trị dân tộc và nhân loại.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về vai trò của con người, mục đích, nội dung, biện pháp xây dựng con người; là tài sản tinh thần to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam để Đảng đề ra đường lối, chủ trương về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Bài viết khái quát cơ sở hình thành và giá trị lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là sự kết tinh, phát triển giá trị dân tộc và nhân loại

Con người là nguồn vốn của mọi nguồn vốn, là nguồn lực quan trọng nhất của mọi nguồn lực, giá trị cao nhất của mọi giá trị - Ảnh: bvhttdl.org.vn

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là sự kết tinh và phát triển các giá trị của dân tộc và thời đại

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là sự kết tinh và phát triển các giá trị của dân tộc 

Dân tộc Việt Nam luôn coi trọng nhân tố con người, xem con người là vốn quý nhất

Con người vừa là sản phẩm của lịch sử, đồng thời lại sáng tạo ra lịch sử, thúc đẩy xã hội phát triển. Cha ông ta từng nói “Một mặt người bằng mười mặt của”, luôn đặt phẩm giá con người lên trên hết “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”...

Hồ Chí Minh sớm khẳng định con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”(1). Vì thế, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, con người là vấn đề số một của cách mạng. Người thường nói: Tất cả là do con người, có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(2)

Về xây dựng con người, dân tộc Việt Nam luôn đề cao giá trị tinh thần

Giá trị tinh thần là những thứ làm nên nhân cách, phẩm giá con người, với những giá trị tiêu biểu, như: Yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết, nhân ái, yêu thương lẫn nhau, coi trọng nghĩa tình; yêu lao động, cần cù chịu khó... Những giá trị tinh thần đó được hình thành,  trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, lao động, sản xuất, chiến đấu, sáng tạo. Nhiều thế hệ nối tiếp nhau đã hình thành nên những phẩm chất, bản lĩnh, bản chất, thể hiện tinh hoa của các giá trị truyền thống, làm nên cốt cách, bản sắc con người Việt Nam.

Hồ Chí Minh luôn đề cao giá trị tinh thần của con người Việt Nam “tinh thần dân tộc” làm nên sức mạnh Việt Nam. Những giá trị tinh thần của con người Việt Nam được Hồ Chí Minh kế thừa, bổ sung, phát triển, nâng lên tầm cao mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin: Từ lòng yêu nước truyền thống đã trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại cách mạng vô sản; từ truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa đã nâng lên trở thành vấn đề mang tính chiến lược của cách mạng, đoàn kết dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế; từ lòng nhân ái yêu thương con người được nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, mang bản sắc Việt Nam.

Người Việt Nam truyền thống luôn coi trọng đạo đức

Người Việt Nam coi việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là để dựng làng, giữ nước; khuyên răn con người ăn ở có “đức”, có “nhân”. Người Việt Nam thường đúc kết kinh nghiệm tu dưỡng đạo đức, kinh nghiệm ứng xử bằng những câu ca dao, tục ngữ gần gũi, dễ nhớ, không mang tính kinh viện, thường xây dựng hình ảnh nhân vật, những hiện tượng đạo đức thông qua những câu chuyện cổ tích thần kỳ để giáo dục, cảm hóa con người. Người Việt Nam luôn coi trọng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, nhớ ơn tổ tiên, nhớ ơn những người có công với đất nước; ứng xử trọng tình, trọng nghĩa. 

Kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giá trị đạo đức, xem đó là yếu tố cốt lõi, tiêu chuẩn nhân cách của con người. Nhất là đối với người cách mạng, đạo đức như gốc của cây, nguồn của sông, suối. Hồ Chí Minh thường sử dụng những mệnh đề đạo đức truyền thống, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu, duy tâm, đưa vào những nội dung mới trở thành phẩm chất đạo đức của người Việt Nam trong thời đại mới. Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng những hình ảnh tiêu biểu, điển hình về đạo đức để toàn xã hội học tập, noi theo; đồng thời Người phát triển, nâng lên tầm cao mới, coi đó là nhân tố làm nên sức mạnh tinh thần trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới.

Những giá trị truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam là cơ sở, nền tảng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người. 

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam là sự kết tinh và phát triển các giá trị của thời đại

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng về giá trị của con người phương Đông

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho, Hồ Chí Minh sớm tiếp thu Nho giáo một cách căn bản và có hệ thống. Hồ Chí Minh tiếp thu giá trị con người thông qua quan niệm của Nho giáo về vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ giữa Trời, Đất, Con người và Vạn vật trong vũ trụ. Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có 4 cái lớn: Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn. Con người cùng với Trời, Đất là 3 ngôi tiêu biểu cho tất cả mọi vật trong thế giới vật chất và tinh thần. Hồ Chí Minh khẳng định con người có vị trí, vai trò rất to lớn, là lực lượng có sức mạnh vô địch. Người nói: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3); “Dễ mười lần không dân cũng chịu; Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(4).

Hồ Chí Minh tiếp thu giá trị con người thông qua quan niệm về Thiện - Ác của Nho giáo. Trong cuộc sống, Hồ Chí Minh thường hay mượn câu của Nho giáo “Nhân chi sơ, tính bản thiện” làm đầu đề nói chuyện. Hồ Chí Minh giải thích vấn đề Thiện - Ác một cách giản dị, sáng rõ: “Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người THIỆN và người ÁC. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH, là người THIỆN. Làm việc TÀ là người ÁC”(5).

Hồ Chí Minh gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, tiếp thu những yếu tố tích cực, trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo, mở rộng và phát triển lên một tầm cao mới, một phạm vi rộng lớn hơn. Thí dụ như quan niệm Trung - Hiếu. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh rộng hơn, không chỉ là Trung với vua, Hiếu với cha mẹ, mà là Trung với Đảng, với nước, Hiếu với nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, “NHÂN là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào (...) sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ... không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền”(6). “NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy... không có lợi ích riêng phải lo toan... Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói”(7)... Hồ Chí Minh đã sắp xếp lại các chuẩn mực đạo đức Nho giáo thay vì “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” thì Người yêu cầu: “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(8).

Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người Việt. Phật giáo chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh, như: “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”, khuyên răn con người yêu thương lẫn nhau, sống trong sạch, sống có đạo đức, làm điều thiện, tránh điều ác, yêu lao động...(9). Từ triết lý của Phật giáo, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng con người có cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui, no ấm.

Hồ Chí Minh cũng tiếp thu những yếu tố tích cực của các tôn giáo, mong muốn xây dựng một xã hội văn minh, quan hệ giữa người với người tốt đẹp, sống trung thực.

Như vậy, Hồ Chí Minh tiếp nhận các giá trị xây dựng con người của phương Đông không phải là một sự tiếp nhận máy móc, sao chép, cũng không phải chỉ là sự gạn lọc tinh hoa một cách đơn thuần, không có cải biến đổi mới, bồi đắp và nâng cao. Hồ Chí Minh đã cho chúng ta những bài học để tiếp nhận các dòng tư tưởng phương Đông về xây dựng con người. Và chính Người là tấm gương, là sự tỏa sáng những phẩm chất đạo đức và vẻ đẹp của một phong độ thanh tao, cao quý, tỏa sáng những nét đặc sắc của người phương Đông.

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng về giá trị của con người phương Tây

Hồ Chí Minh tiếp cận giá trị văn hóa Pháp và văn hóa phương Tây từ rất sớm. Ngay từ khi còn học ở trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, trường Quốc học Huế, qua một số tờ báo tiếng Pháp có xu hướng tự do, Người đã được tiếp xúc với văn hóa Pháp, với các khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” là những giá trị tốt đẹp của nhân loại. Những tư tưởng tiến bộ của Cách mạng Pháp năm 1789 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Người và là một trong những yếu tố tác động đến Người trong việc sang phương Tây để tìm đường cứu nước, cứu dân.

Sau này, trên hành trình tìm đường cứu nước, được sống, hoạt động ở môi trường văn hóa phương Tây, có điều kiện đọc các tác phẩm văn học đặc sắc, đề cao khát vọng tự do, phê phán những bất công, bất bình đẳng trong xã hội, hướng tới xây dựng một xã hội tốt đẹp, trực tiếp tìm hiểu tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng. Người đã đến nước Mỹ, tìm hiểu tinh thần bất hủ của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(10). Quyền con người là quyền thiêng liêng, vốn có. Hồ Chí Minh đã khái quát, nâng lên thành quan điểm tư tưởng của mình, đó là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(11).

Thiên Chúa giáo có ảnh hướng sâu sắc trong xã hội phương Tây. Khi nói tới Thiên Chúa giáo, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh giá trị nhân văn, lòng thương người “Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”(12)

Đối với Hồ Chí Minh, lòng nhân ái trước hết phải hướng về những con người lao khổ, lòng nhân ái phải biến thành sức mạnh để phá tan chế độ áp bức bóc lột. Bởi vậy, “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh... Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý ở đó có Hồ Chí Minh... Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh”(13).

Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, giá trị con người

Từ quan điểm lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải về vấn đề con người, giá trị của con người. Giá trị của con người thể hiện trước hết ở chỗ, con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử, mà con người còn làm nên lịch sử. Các ông viết: “hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”(14). Con người là chủ thể của sự tồn tại và phát triển của xã hội, tạo ra giá trị xã hội. 

Trong Bản thảo kinh tế - triết học (năm 1884), C.Mác đã nêu lên giá trị con người thông qua khái niệm “lực lượng vật chất” người và lý thuyết “tha hóa” người. 

Trong Luận cương thứ sáu về Phơ-bách, C.Mác khẳng định: “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(15). Không có con người trừu tượng, mà chỉ có người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định.

Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định tính lịch sử - xã hội, tính giai cấp, tính thực tiễn và sự nhận thức được các giá trị. Giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù và mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người. Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng và cá nhân thường có những quan niệm khác nhau về giá trị. Khi xã hội thay đổi thì thang giá trị cũng thay đổi. Lịch sử loài người suy đến cùng là quá trình không ngừng tìm kiếm, nhận thức các giá trị; là quá trình phát hiện, lựa chọn, kế thừa các giá trị mới phù hợp với sự phát triển của xã hội. Khi những giá trị của cá nhân có ý nghĩa, tác dụng đối với cộng đồng, được xã hội thừa nhận sẽ trở thành giá trị xã hội, đến lượt mình, giá trị xã hội có vai trò định hướng cho hoạt động của con người.

Tiếp thu thế giới quan khoa học và phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hòa nhiều yếu tố hợp thành như thể lực và trí tuệ, tính người - mặt xã hội và tính bản năng - mặt sinh học của con người. Đồng thời, nhìn nhận con người trong tính đa dạng của nó: đa dạng trong quan hệ xã hội (quan hệ dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đồng chí, đồng bào...); đa dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc, v.v..

Hồ Chí Minh cho rằng, trong bất cứ xã hội nào cũng đều có người tốt và người xấu; trong mỗi con người ai cũng có mặt tốt và mặt xấu. Tính tốt hay xấu, thiện hay ác trong mỗi con người không phải sinh ra đã có sẵn, mà do điều kiện xã hội, do giáo dục mà nên. Từ thực tiễn hòa mình vào cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc bị áp bức, Người đã rút ra kết luận: “Trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(16)

Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giá trị con người trên cả hai phương diện: tư duy lý luận và phẩm chất đạo đức của V.I.Lênin. Hồ Chí Minh nhận thấy, V.I.Lênin là một người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất. Hồ Chí Minh ca ngợi tấm gương đạo đức cách mạng của V.I.Lênin: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”(17)

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam để Đảng ta đề ra đường lối, chủ trương về xây dựng con người

Quán triệt, vận dụng và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng con người, trong Cương lĩnh, đường lối, các nghị quyết, Đảng ta luôn kiên định quan điểm xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. 

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước, đồng thời cũng đánh dấu mốc quan trọng cho những quan điểm, tư tưởng của Đảng về xây dựng, phát triển con người trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội VI chỉ rõ: “Tôn trọng con người, phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới”(18).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã xác định một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”(19)

Về quan điểm và mục tiêu phát triển, Cương lĩnh nhấn mạnh: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước”(20).

Cương lĩnh đã nêu lên những phẩm chất của con người Việt Nam: “Đó là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”(21).

Tại Đại hội VIII (năm 1996), Đảng nhấn mạnh vai trò của khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hóa trong xây dựng con người mới. Đảng ta khẳng định: “Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ... Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”(22).

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) xác định nội dung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện: “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội”(23).

Đại hội X của Đảng (năm 2006) đề cập đến xây dựng nhân cách con người Việt Nam, trong đó đặc biệt chú ý đến xây dựng nhân cách đối với thế hệ trẻ Việt Nam: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”(24)

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh việc xây dựng con người Việt Nam “giàu lòng yêu nước; có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa; có tinh thần quốc tế chân chính”(25)

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã đặt con người Việt Nam vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện những quan điểm đúng đắn về phát huy sức mạnh con người Việt Nam phù hợp bối cảnh mới của đất nước và thời đại: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(26)

Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) đã ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tiếp tục khẳng định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, với 4 giá trị cốt lõi là Trí - Đức - Thể - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Trung ương Đảng không những xác định nhiệm vụ quan trọng là “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”(27), mà còn nêu rõ các phẩm chất, năng lực của con người phát triển toàn diện Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước(28).

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) xác định tính tất yếu phải xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học nhằm “phát huy tốt vai trò chủ thể sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”(29); “phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”(30); “đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”(31) trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đảng yêu cầu phải “tạo điều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trí tuệ, năng lực, kỹ năng sáng tạo; khỏe về thể chất; nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật”(32). Đảng ta coi đây là một mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hệ thống chính trị nước ta hiện nay, thể hiện tầm nhìn mới, hết sức đúng đắn của Đảng, không những phù hợp với thời đại mà còn đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ XXI. 

Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”(33).

Đại hội tiếp tục xác định 1 trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc (...) tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”(34).

Đường lối đổi mới của Đảng đã không ngừng được bổ sung, phát triển và dần hoàn thiện, trong đó, về xây dựng con người, Đảng ta luôn khẳng định: Con người là nguồn vốn của mọi nguồn vốn, là nguồn lực quan trọng nhất của mọi nguồn lực, giá trị cao nhất của mọi giá trị. Con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là sức sống của đổi mới, là trung tâm của sự nghiệp đổi mới.

Quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về thái độ với sai lầm, khuyết điểm.

 Trên cơ sở phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những thái độ thường gặp đối với sai lầm, khuyết điểm trong Đảng; phân tích và khẳng định thái độ đúng đắn, cách mạng nhất của người cán bộ, đảng viên với sai lầm, khuyết điểm, từ đó bài viết rút ra những bài học trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về thái độ với sai lầm, khuyết điểm

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự tiến bộ của mỗi con người và sự lớn mạnh của mỗi tổ chức chính là thái độ và hành động đúng đắn với những sai lầm, khuyết điểm - Ảnh tư liệu TTXVN

Không có bất cứ lý do gì để biện minh cho những sai lầm, khuyết điểm và không có gì tốt hơn là tránh các sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, phải khách quan thừa nhận rằng, sai lầm, khuyết điểm là điều khó có thể tránh khỏi trong quá trình hoạt động của con người nói riêng, của tổ chức nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm”(1); “có hoạt động thì khó mà hoàn toàn tránh khỏi sai lầm”(2). Người nhắc lại lời của V.I.Lênin: “Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người chết đã bỏ vào quan tài. Còn hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm”(3). Đối với một đảng chính trị, nhất là đảng lãnh đạo và cầm quyền, gánh vác những trọng trách lớn mà dân tộc và nhân dân giao phó, lại là Đảng cầm quyền duy nhất, lâu dài và liên tục như Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc “nói không với sai lầm khuyết điểm” là điều không tưởng. Điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sự tiến bộ của mỗi con người và sự lớn mạnh của mỗi tổ chức chính là thái độ và hành động đúng đắn với những sai lầm, khuyết điểm.

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về thái độ đúng đắn với những sai lầm, khuyết điểm trong Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra những kiểu thái độ cơ bản đối với những sai lầm, khuyết điểm trong Đảng. Thái độ của bọn phản động là lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng, tô vẽ thêm để công kích, phá hoại, hạ thấp uy tín của Đảng. Thái độ của những cán bộ, đảng viên đầu cơ là lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để đạt mục đích tự tư, tự lợi. Hồ Chí Minh cho rằng: “Bọn phản động và bọn đầu cơ là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại”(4). Loại thái độ thứ ba là thái độ của những cán bộ ươn hèn, yếu ớt, thờ ơ trước sai lầm, khuyết điểm của mình và của đồng chí, “mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi”. Thái độ này phổ biến là của cấp dưới đối với cấp trên và thường dẫn đến hậu quả “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”, “gây nên sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng”, tạo cơ hội cho các thế lực phản động và đầu cơ lợi dụng. Tiếp theo là thái độ của những người máy móc, chủ quan, thường “nghiêm trọng hóa” sai lầm, khuyết điểm của người khác, đòi phải đuổi những người mắc sai lầm, khuyết điểm ra khỏi tổ chức và nếu không làm được như vậy thì sinh ra chán nản, thất vọng. Với thái độ này, Hồ Chí Minh cho rằng, sẽ khiến cho “Đảng chỉ còn một nhóm cỏn con, vì số đông sẽ bị khai trừ hết. Mà chính những người có thái độ đó cũng bị khai trừ, vì họ đã phạm cái khuyết điểm hẹp hòi”(5).

Vậy, thái độ đúng đắn với sai lầm, khuyết điểm trong Đảng là như thế nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước sai lầm, khuyết điểm cần: Phân tích rõ ràng cái đúng, cái sai; không chịu ảnh hưởng của những tư tưởng sai lầm, những phần tử không tốt; ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt; không để mặc kệ mà phải ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng; không làm máy móc mà khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ; đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ; nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng(6). Người đi đến kết luận: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Đây chính là quan điểm mang tính khoa học, cách mạng và nhân văn của Hồ Chí Minh.

Quan điểm đó được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, công khai thừa nhận khuyết điểm. Trước những sai lầm, khuyết điểm của cá nhân và tổ chức, nếu chối bỏ, lấp liếm, che giấu hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác, thì không những không tiến bộ được, mà còn càng làm cho khuyết điểm gia tăng, tự mình làm giảm sút uy tín của cá nhân và làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức. Hồ Chí Minh khẳng định: “Một khi đã phạm khuyết điểm, thì dù mình muốn bưng bít, người ta cũng biết. Phải nhớ câu tục ngữ: “Sừng có vạch, vách có tai”. Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình, là một đoàn thể hoặc chính quyền yếu ớt, thoái bộ”(8). Do đó, Đảng và cán bộ, đảng viên phải có dũng khí, bản lĩnh, dám thừa nhận một cách công khai những sai, khuyết điểm của mình trong tổ chức và trước nhân dân: “Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”(9).

Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra những cán bộ có nhận thức không đúng rằng, nếu công khai những khuyết điểm của mình thì sẽ có hại, vì kẻ địch sẽ lợi dụng để phản tuyên truyền; làm giảm bớt uy tín của đoàn thể và chính quyền; làm mất thể diện của cán bộ đã phạm khuyết điểm; cho rằng chỉ cần phê bình qua loa trong nội bộ là đủ. Quan điểm đó “không khác gì ốm mà sợ thuốc”, bệnh không khỏi được cũng như khuyết điểm không sửa chữa được mà còn nặng thêm.

Thứ hai, tìm ra nguyên nhân và hoàn cảnh sinh ra sai lầm, khuyết điểm. Muốn sửa chữa được sai lầm, khuyết điểm thì phải tìm ra được căn nguyên và những điều kiện khách quan, chủ quan sinh ra sai lầm, khuyết điểm. Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm rất khoa học và nhân văn: “hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng. Vì vậy, cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”(10).

Người đã từng phân tích và chỉ ra các loại bệnh, vừa là biểu hiện của sai lầm, khuyết điểm, vừa là nguyên nhân dẫn đến sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên như: bệnh tham lam (luôn đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, dùng của công làm việc tư, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi); bệnh lười biếng (tự cho mình cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết, lười học hỏi, lười suy nghĩ. Việc dễ thì tranh làm, việc khó thì đùn cho người khác); bệnh kiêu ngạo (tự cao, tự đại, ham địa vị; ưa người ta tâng bốc mình, ưa sai khiến người khác, khoe khoang, vênh váo, việc gì cũng muốn làm thầy người khác); bệnh hiếu danh (tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại, chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ chứ không ham công tác thiết thực); bệnh thiếu kỷ luật (tùy tiện, phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa; cất nhắc thì cốt làm ơn với người mình quen thuộc); bệnh hẹp hòi (luôn sợ người khác hơn mình, không biết liên hệ, hợp tác với người ngoài Đảng); óc địa phương (chỉ biết đến lợi ích của cơ quan mình, của địa phương mình); bệnh lãnh tụ (cho mình là tài giỏi, xứng đáng làm lãnh tụ), bệnh “hữu danh vô thực” (làm việc không thiết thực, làm ít suýt ra nhiều, làm báo cáo rất kêu nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch); bệnh kéo bè, kéo cánh (ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay và ngược lại); bệnh cận thị (không nghĩ xa, thấy rộng, những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn) và nhiều các bệnh khác như bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua; v.v..

Thứ ba, kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Đây là vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong cả tư tưởng và chỉ đạo thực tiễn. Ngay khi giáo dục những thanh niên yêu nước trong Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên về “tư cách của người cách mạng”, Người đã yêu cầu phải “cả quyết sửa lỗi mình”. Sau này, Người tiếp tục khẳng định: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa”(11); “chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”(12); “hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa”(13); “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”(14). Người sử dụng những cụm từ “cả quyết”, “ra sức”, “cố gắng”, “kiên quyết”, “quyết tâm”... để yêu cầu về hành động ở mức độ cao nhất của người cán bộ, đảng viên trong sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Thậm chí, Người còn cho rằng, chúng ta phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.

Lịch sử đã chứng minh, khi nào Đảng thực hiện thái độ cách mạng, khách quan, khoa học trước những sai lầm, khuyết điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, khi đó Đảng củng cố được uy tín và niềm tin, ngày càng lớn mạnh hơn, giành được những thắng lợi to lớn hơn.

Trong cải cách ruộng đất, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không né tránh, bao biện, chối bỏ những sai lầm, khuyết điểm mà nhìn thẳng vào sự thật, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm và nguyên nhân, đồng thời đề ra các giải pháp thiết thực, cụ thể để khắc phục. Cuộc vận động sửa sai trong cải cách ruộng đất được tiến hành triệt để và toàn diện, rộng rãi và nghiêm túc, dẫn đến uy tín của Đảng được củng cố, lòng tin của nhân dân đối với Đảng được khẳng định, sức mạnh của Đảng được tăng lên.

Bài học về thái độ với những sai lầm, khuyết điểm trong Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được phát huy khi Đảng nhận thức và có hành động đúng đắn trước những sai lầm, khuyết điểm trong việc duy trì cơ chế quản lý kinh tế đất nước cuối những năm 70 đầu những năm 80 thế kỷ XX và kịp thời có những giải pháp hiệu quả để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, đưa đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước sang một giai đoạn phát triển mới bằng đường lối đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng.

2. Bài học trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trong công cuộc đổi mới, trong suốt những nhiệm kỳ vừa qua, công tác xây dựng Đảng đã được đẩy mạnh và đạt được thành tựu quan trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ này đã đạt được kết quả toàn diện, trong đó nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị; đổi mới công tác cán bộ và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay; Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”(15). Kết quả đó có được nhờ vào nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó đặc biệt có sự nhận thức đúng đắn và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với việc sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm.

Tuy nhiên, bên cạnh những nhận thức và thái độ đúng đắn, trong thời gian vừa qua vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên có những thái độ chưa đúng đắn trước những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, của đồng chí, đồng nghiệp và tổ chức.

Trước hết và nguy hiểm nhất là, trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và “sức nóng” của công tác xây dựng Đảng, một số cán bộ do nhận thức mơ hồ, thiếu bản lĩnh chính trị, ham mê tiền tài, danh vọng đã bị lợi dụng, kích động dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số nơi có hiện tượng cán bộ, đảng viên lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của tổ chức và đồng chí, đồng nghiệp, lợi dụng tự phê bình và phê bình để tìm cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự của người khác, tìm kiếm cơ hội để tư lợi. Một hiện tượng khác là cán bộ, đảng viên có thái độ đoàn kết “một chiều”, trước những sai lầm, khuyết điểm thường nể nang, xuê xoa, “dĩ hòa vĩ quý”, “mũ ni che tai”, sợ “đấu tranh thì tránh đâu” (thái độ này khá phổ biến là của cấp dưới trước sai lầm, khuyết điểm của cấp trên). Đặc biệt, có thái độ thờ ơ, lảng tránh, không dám đấu tranh, sợ sai lầm, khuyết điểm mà không dám làm việc, hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho cấp trên, cho người khác... Tất cả những thái độ không đúng đắn đó ở mức độ nặng nhẹ khác nhau đều ảnh hưởng đến sức mạnh và uy tín của Đảng.

Thấm nhuần những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần thực hiện tốt những giải pháp cụ thể sau:

Một là, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực phản động, thù địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “chúng ta phải ra sức đề phòng. Mỗi khi trong Đảng có khuyết điểm thì chúng ta phải tìm cách chớ để cho ai lợi dụng. Đó là phận sự của mỗi đảng viên chân chính”(16). Xây dựng và chỉnh đốn là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của bất cứ tổ chức nào nếu muốn vững mạnh và có sức đề kháng tốt. Điều đó càng không là ngoại lệ đối với đảng chính trị cầm quyền duy nhất và nhiều năm như Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh, xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc là vấn đề có tính nguyên tắc, quy luật và mang tính chiến lược. Tuy nhiên, với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước thời gian qua để cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công”, “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền, thuộc bản chất thể chế không thể thay đổi được”, “đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, “tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”... Những luận điệu xuyên tạc theo kiểu nói lấy được, vô căn cứ đó đã, đang và sẽ phải kiên quyết tiếp tục lên án, phê phán, phản bác, đấu tranh bằng những lập luận sắc bén, có căn cứ thuyết phục và minh chứng thực tiễn.

Hai là, “thuyết phục, cảm hóa và dạy bảo cán bộ”. Cần thấm nhuần “cách đối với cán bộ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải “đúng” và “khéo” mới phát huy hết được vai trò quyết định của cán bộ đối với muôn việc của Đảng. Bởi lẽ, trừ những thành phần cố ý phá hoại thì không ai cố ý phạm sai lầm, có thể sai lầm vì thiếu hiểu biết. Do đó, đối với cán bộ bị sai lầm, không nên công kích mà phải “dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa?”(17).

Tổ chức đảng phải dùng cách “thuyết phục” giúp cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm sửa chữa, “không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa”, đã “cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng”(18).

Mỗi cán bộ, đảng viên phải dũng cảm, kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm. Phải xây dựng, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, phấn đấu vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Tuy nhiên, để bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật đảng, cần nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: đối với những cán bộ phạm sai lầm do “hám danh trục lợi”, “cố ý phá hoại”, lại “ngoan cố, không chịu ăn năn”, “phê bình, giáo dục mấy cũng cứ ỳ ra, không chịu sửa đổi” phải nghiêm khắc, phải đưa họ ra khỏi Đảng, “phải có kỷ luật thích đáng”, để tránh “con sâu làm rầu nồi canh”. Bởi, nếu không xử phạt nghiêm minh sẽ mở đường cho những phần tử cố ý phá hoại lợi dụng.

Ba là, “thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình”. Cần tiếp tục phát huy vai trò của tự phê bình và phê bình - “vũ khí sắc bén”, “thang thuốc hay nhất” giúp cho người cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận, đánh giá lại mình, đồng thời nắm được sự nhìn nhận, đánh giá của đồng chí, đồng nghiệp về hành động của mình, từ đó điều chỉnh nhận thức và hành vi của cá nhân theo các quy định chung.

Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên. Việc tự phê bình và phê bình phải được tiến hành rõ ràng, thiết thực, thẳng thắn, chân thành, có tính xây dựng, phải “đúng và khéo”, được tiến hành một cách toàn diện, “phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”(19).

Bốn là, khuyến khích cán bộ “sáu dám”. Đó là những cán bộ không vì sợ sai lầm, khuyết điểm mà nhụt chí; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng yêu cầu, lãnh đạo phải biết động viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là làm cho cấp dưới, cán bộ, đảng viên không sợ nói ra sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật, tạo ra những điều kiện thuận lợi để cấp dưới, đảng viên phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí và tâm lý tích cực trong sinh hoạt đảng.

Đổi mới là một cuộc cách mạng tạo ra những cái mới tốt đẹp, tích cực và phù hợp mà không có những cán bộ, đảng viên có khát vọng, có tầm nhìn, có bản lĩnh mà chỉ có những cán bộ sợ sai lầm, khuyết điểm, không dám và không chịu dấn thân thì công cuộc đổi mới không thể thành công. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhìn nhận một cách đúng đắn về công tác xây dựng Đảng, không vì “sức nóng” của công tác chỉnh đốn Đảng mà sợ sệt, hoang mang, e dè, cầm chừng; cần mạnh dạn phát huy bản lĩnh người đảng viên trên cương vị mà Đảng, Nhà nước phân công.

Đồng thời, Đảng, Nhà nước cần kịp thời có chủ trương, chính sách, cơ chế, hành lang pháp lý khuyến khích, bảo vệ để tạo điều kiện cho phẩm chất “sáu dám” của cán bộ, đảng viên phát triển, khơi nguồn tư duy và hành động đổi mới sáng tạo, phát huy nguồn lực con người cho sự nghiệp đổi mới.

Thái độ và hành động đúng đắn của người cán bộ, đảng viên trước khuyết điểm, sai lầm của mình và của Đảng chính là biểu hiện của lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng là tiêu chuẩn, thước đó quan trọng của người cán bộ trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong tác phẩm Thường thức chính trị.

 Tác phẩm “Thường thức chính trị” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày cụ thể, toàn diện những quan điểm về chính trị, cung cấp những tri thức phổ thông cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần đáp ứng nhiệm vụ cách mạng thời điểm tác phẩm ra đời. Bài viết làm rõ những giá trị của tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trên phương diện tư tưởng, chính trị, tổ chức, từ đó vận dụng, liên hệ đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong tác phẩm Thường thức chính trị

Bác Hồ nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính ở cơ quan Trung ương, ngày 6-2-1953 - Ảnh tư liệu TTXVN 

Cách đây 70 năm, năm 1953 các bài trong tác phẩm Thường thức chính trị lần đầu tiên được đăng trên báo Cứu quốc, đến năm 1954 được in thành sách. Tác phẩm là tập hợp 50 bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung trình bày khá toàn diện, đầy đủ những quan điểm cơ bản về chính trị. Trong đó, vấn đề Đảng được Người dành nhiều thời gian và tâm huyết nhất, chiếm 14/50 bài viết. Đến nay, giá trị, ý nghĩa của tác phẩm Thường thức chính trị, nhất là vấn đề xây dựng Đảng, vẫn còn nguyên tính thời sự đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, nói về vai trò lãnh đạo của Đảng trong tác phẩm

Trong Mục 31 của tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến vai trò và sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người viết: “Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”(1). Đây là quan điểm, tư tưởng nhất quán xuyên suốt của Hồ Chí Minh, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cách mạng cũng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng thì cách mạng mới thành công.

Thực tiễn đã chứng minh, sau khi bắt gặp Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanite) của Đảng Xã hội Pháp ngày 16 và 17-7-1920; trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo luận điểm chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng vô sản chỉ có thể giành thắng lợi khi có Đảng Cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo”; ngay từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng Việt Nam.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người đặt câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và Người đã tự trả lời: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(2).

Vấn đề trên, một lần nữa được Người khẳng định trong tác phẩm Thường thức chính trị: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi”(3).

Hồ Chí Minh nêu rõ “Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”(4).

Người còn nhấn mạnh: “Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền”(5). Qua đây, Người đã làm sáng tỏ vị trí, vai trò quyết định của Đảng Cộng sản với cách mạng Việt Nam.

Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam là duy nhất, không một tổ chức, cá nhân nào có thể thay thế được, cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN. Người đã khẳng định trong tác phẩm: “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”(6).

Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng là đường hướng, phương châm khoa học, cách mạng để Đảng và nhân dân ta xây dựng Đảng của mình trở thành Đảng cách mạng, chân chính, vững mạnh, xứng đáng là người chèo lái con thuyền cách mạng nước ta đi tới thành công.

Thứ hai, vì sao phải xây dựng Đảng

Theo Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bước vào giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy, cách mạng chuyển biến theo hướng đặt ra yêu cầu và nội dung ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp. Do đó, cần phải xây dựng Đảng để Đảng không bị tụt hậu trước những chuyển biến đó.

Mặt khác, từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, nhất là trong giai đoạn 1950 đến năm 1953, Người đã sớm phát hiện những nguy cơ, “căn bệnh” diễn ra trong nội bộ Đảng. Trong đó, sự suy thoái của một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong bộ máy chính quyền cách mạng, chủ yếu là suy thoái về đạo đức, lối sống, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và sự thành bại của cách mạng.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì sao phải chỉnh huấn? Vì cán bộ ta lập trường chưa vững chắc, tư tưởng chưa thông suốt. Do đó mà mắc nhiều khuyết điểm như: Chưa hiểu rõ đường lối cách mạng dân tộc - dân chủ; chưa nắm được vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh. Chưa phân biệt rõ ràng ai là thù, ai là bạn (trên thế giới, trong nước và trong bản thân mình). Vì vậy mà mắc nhiều bệnh. Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác, như: Tự tư tự lợi, sợ khó, sợ khổ; Không yên tâm công tác. Ham địa vị danh tiếng; Lãng phí, tham ô. Quan liêu, mệnh lệnh v.v...”(7).

Theo Người, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhu cầu tự hoàn thiện của Đảng, là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nội dung quan trọng, là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

Thứ ba, nội dung xây dựng Đảng

Theo Hồ Chí Minh, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, đồng thời, để củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc, Đảng cần phải tăng cường xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức.

Về tư tưởng, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin”(8). Đây là quan điểm đã được Người khẳng định từ khi được đọc Luận cương của Lênin (năm 1920), rồi sau đó tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc kháng chiến ác liệt lúc bấy giờ, trong Đảng xuất hiện những tư tưởng hoài nghi về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là những biểu hiện, theo Hồ Chí Minh, là hết sức nguy hiểm, nếu không được ngăn chặn sẽ ảnh hưởng đến sự sống còn của Đảng.

Thấm nhuần quan điểm của V.I.Lênin: “Chỉ có lý luận tiên tiến, Đảng mới có thể thực hiện vai trò chiến sĩ tiên tiến” và quan điểm của Xtalin: “Chỉ có thông suốt lý luận Mác - Lênin, Đảng mới chắc tiến lên, mới lãnh đạo được giai cấp công nhân tiến lên”. Do đó, trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người đã khẳng định lại một lần nữa về vai trò nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”(9).

 Ngoài ra, xuất phát từ thực tế trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế, như Người đã nêu trong tác phẩm: “Nước ta đã lâu ở dưới chế độ thực dân và phong kiến, cho nên những tư tưởng bất chính có thể ảnh hưởng vào trong Đảng. Số đông đảng viên là nông dân và tiểu tư sản trí thức (điều đó tuy là tốt và hợp lý), cho nên cũng mang vào Đảng những tư tưởng “phi vô sản””(10). Chính vì vậy, theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của Đảng là phải giáo dục lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh với những tư tưởng “phi vô sản””(11). Đồng thời, Người yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(12).

Những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về phương diện công tác tư tưởng của Đảng trong tác phẩm Thường thức chính trị đã góp phần làm phong phú học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, về sự kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng.

Về phương diện chính trị: theo Hồ Chí Minh, công tác xây dựng Đảng về chính trị, góp phần bảo đảm cho quyền lực chính trị và vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng không ngừng được củng cố và nâng cao. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với Đảng, mà cả đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, cũng là tiền đề cho công tác xây dựng Đảng về mọi mặt.

Nội dung xây dựng Đảng về chính trị, theo Hồ Chí Minh bao gồm: đường lối chính trị, tư duy chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị... Trong đó, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng.

Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người yêu cầu: “Đảng chống khuynh hướng “tả” và khuynh hướng “hữu””(13). Tức là, phải xây dựng đường lối chính trị của Đảng phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn, phù hợp nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời, chỉ ra được mục tiêu, phương hướng và giải pháp cơ bản của cách mạng. Trên cơ sở đó, tập hợp, tổ chức, động viên nhân dân thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ cách mạng để biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành hiện thực. Đường lối chính trị của Đảng phải hoạch định được cả đường lối chính trị chung và đường lối trong từng lĩnh vực cụ thể.

Ngoài ra, thông qua xây dựng Đảng về chính trị làm cho mọi cán bộ, đảng viên tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào con đường phát triển của cách mạng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống các tư tưởng sai trái, nhận thức lệch lạc trong cán bộ, đảng viên.

Để xây dựng Đảng về chính trị đạt hiệu quả cao, theo Hồ Chí Minh phải đề cao vai trò của tự phê bình và phê bình. Bởi vì, theo Người: “Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ đó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”(14). Trong tác phẩm, Người đã lý giải: “Để nâng cao trình độ lý luận và chính trị thì mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình. Đảng thì dùng cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên”(15).

Về phương diện tổ chức, theo Hồ Chí Minh, để hoàn thành vai trò là người lãnh đạo, dẫn đường cách mạng, Đảng phải chú trọng xây dựng về tổ chức. Do đó, trong tác phẩm, Người nhấn mạnh: “Về mặt tổ chức, Đảng phải có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức”(16). Bởi vì, theo Người, lịch sử và thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng, Đảng ta không thể tồn tại và lãnh đạo nhân dân giành lấy chính quyền, giữ vững chính quyền nếu không có kỷ luật nghiêm minh. Người từng nhấn mạnh: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên”(17).

Kỷ luật của Đảng theo Hồ Chí Minh là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, kỷ luật của những người cùng chung một lý tưởng, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Kỷ luật đó xuất phát từ ý chí của toàn Đảng nhằm bảo đảm cho sự thống nhất, tập trung cao trong Đảng.

Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu, tất cả mọi đảng viên, bất kể đảng viên đó giữ chức vụ hay không giữ chức vụ hoặc giữ chức vụ cao hay thấp, đều phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật đảng. Bởi vì theo Người, nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Kỷ luật đảng rõ ràng, chặt chẽ, nghiêm minh là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được thực hiện thắng lợi.

Trong tác phẩm, Người nhấn mạnh: “Đảng phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn”(18). Theo Người, việc thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với công tác tổ chức và chế độ hoạt động, lãnh đạo của Đảng.

Người chỉ rõ trong tác phẩm: “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung”(19). Không những xem đây là nguyên tắc, Người còn gọi đây là “Chế độ dân chủ tập trung của Đảng”, nhằm nhấn mạnh đây là nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức cao nhất, là chế độ lãnh đạo của Đảng. Mục đích xây dựng Đảng về tổ chức là nhằm tạo ra sự khoa học, đồng bộ, thống nhất trong Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn là tổ chức tinh gọn, hiệu quả, luôn đổi mới cho phù hợp thực tiễn.

Thường thức chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng. Từng luận điểm của Người trong tác phẩm, nhất là trong công tác xây dựng Đảng, đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo và cụ thể hóa vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc chỉ dẫn của Người trong tác phẩm Thường thức chính trị đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt và thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là bài học lớn của cách mạng Việt Nam được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, chứng minh. Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định... Đảng đề ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, một nhà nước có bộ máy chính quy, làm việc khoa học, với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực tổ chức và quản lý, hết lòng vì nhân dân. Theo đó, phải tăng cường giáo dục trong Đảng và xã hội những chuẩn mực đạo đức cách mạng và mỗi cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đó; Đảng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cán bộ, đảng viên cần phải coi danh dự là điều thiêng liêng nhất, phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. Tấm gương về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có sức động viên, lan tỏa lớn lao, nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hai là, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo (chủ trì, chủ chốt) ở các cơ quan, đơn vị, địa phương để tăng cường đoàn kết nội bộ trong Đảng

Cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan, đơn vị, địa phương phải luôn đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và tổ chức về những khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý; tích cực, chủ động lập kế hoạch xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra; xác định cụ thể, rõ ràng những khâu yếu, mặt yếu ở từng lĩnh vực, mặt hoạt động; phân công, giao nhiệm vụ cho cấp ủy theo dõi, giúp đỡ các tổ chức đảng trong triển khai nhiệm vụ; phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, giải quyết mọi công việc; tuyệt đối tránh tư tưởng quyền anh, quyền tôi, “cua cậy càng, cá cậy vây”; chuyên quyền, độc đoán.

Quán triệt và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Thường thức chính trị, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị, địa phương phải thực sự trong sạch, liêm khiết, gìn giữ phẩm chất đạo đức, lối sống; có uy tín với tập thể; có năng lực làm việc; phương pháp, tác phong công tác quyết đoán; dám làm, dám chịu trách nhiệm; có chính kiến, phân minh rõ đúng - sai, tốt - xấu; không bao che, giấu giếm khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên; thưởng - phạt công bằng; khách quan, trung thực; là hạt nhân đoàn kết, trung tâm quy tụ sức mạnh ý chí, tài năng, tâm huyết và là chỗ dựa vững chắc về tinh thần của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị, địa phương.

Ba là, đặt ra yêu cầu cao cho mỗi cán bộ, đảng viên để tự giác tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống

Từng cán bộ, đảng viên phải đặt mình vào trong tổ chức, ý thức được sâu sắc những hành động, việc làm của mình dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng không chỉ đến bản thân, gia đình mình mà còn ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, niềm tin của tổ chức đảng nơi mình công tác, làm việc. Phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị, địa phương nơi cán bộ, đảng viên sinh hoạt, công tác hàng ngày; nghiêm khắc sửa chữa, rút kinh nghiệm đối với bản thân nếu phạm phải những khuyết điểm, sai lầm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật; đặt mình vào môi trường công tác, sống và làm việc theo đúng chức trách, nhiệm vụ được phân công.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự đặt ra những yêu cầu cao cho bản thân, không để cuộc sống giàu sang, phú quý trước mắt làm cho choáng ngợp, đánh mất lý trí và sự nghiệp của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải tự rèn luyện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu; có bản lĩnh vững vàng, không ngả nghiêng, dao động trước khó khăn, thử thách, thậm chí là thất bại, đặc biệt là không dao động trước những dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất, danh vọng, tiền tài của những kẻ cơ hội chủ nghĩa, làm việc bất chính.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, chúng ta cần phải thực hiện “xây” đi đôi với “chống”, vừa bồi dưỡng, giáo dục nhưng đồng thời cũng phải kiên quyết, xử lý, đấu tranh với những cái xấu, với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về đạo đức, lối sống.

Xử lý nghiêm đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không gương mẫu, tham nhũng, tiêu cực, bè phái, cục bộ, “kiêu ngạo cộng sản”, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, không đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lên trên hết, trước hết, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân cho riêng mình. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được triển khai thực hiện nghiêm túc trong mỗi tổ chức, tập thể. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xem đó như là công việc hằng ngày để trau dồi, rèn luyện, tự sửa chữa những khuyết điểm của chính mình.

Tác phẩm ra đời cách đây 70 năm, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng từ những năm kháng chiến, kiến quốc vẫn rất cần được quán triệt và vận dụng sáng tạo trong giai đoạn hiện nay và mai sau. Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong tác phẩm Thường thức chính trị là một nội dung đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng mới. Qua đó, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đại diện cho lương tâm, danh dự, trí tuệ, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam.

Xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn là tài sản tinh thần vô cùng quý báu, soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta hướng đến xây dựng nông thôn mới hiện đại, bền vững, đạt chuẩn nâng cao và kiểu mẫu, góp phần vào thắng lợi chung của công cuộc đổi mới đất nước. Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, nội dung, động lực, cách thức xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn, ý nghĩa của những chỉ dẫn của Người đối với xây dựng và phát triển nông thôn nước ta trong bối cảnh hiện nay.


Xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh: TTXVN


1. Về vai trò của xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn


Trước hết, xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết những vấn đề cơ bản và cần kíp của đời sống kinh tế - xã hội. Đó là cái ăn, mặc, ở, đi lại, học hành cho người dân của một đất nước có hơn 90% dân số là nông dân, vừa giành độc lập dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển sản xuất để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết nhất của đời sống nhân dân: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”(1). Phát triển kinh tế nông thôn nhằm nâng cao đời sống nhân dân lao động, mà đông đảo là nông dân, những người mà trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đã “bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh”(2).


Thứ hai, xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn là nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc và xây dựng thành công CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(3).


Trong đó, đối với nông thôn, Người nhấn mạnh: “Chỉ có thực hiện cải cách ruộng đất, người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn khỏi ách trói buộc của giai cấp địa chủ phong kiến, mới có thể chấm dứt tình trạng bần cùng và lạc hậu của nông dân, mới có thể phát động mạnh mẽ lực lượng to lớn của nông dân để phát triển sản xuất và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”(4).


Quá độ đi lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn là bước đầu của sự nghiệp xây dựng CNXH: “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường. Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh... Cho nên lúc đầu là cải cách ruộng đất, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn, lúc bấy giờ mới có chủ nghĩa xã hội”(5).


2. Về nội dung xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn


Thứ nhất, xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý ở nông thôn


Nhiệm vụ đầu tiên là phát triển toàn diện cơ cấu ngành kinh tế, bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp.


Hồ Chí Minh coi công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế, Người nhấn mạnh, điểm xuất phát của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, do đó, “con đường no ấm thực sự” của chúng ta tất yếu là công nghiệp hóa để phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Người xác định vai trò của công nghiệp nặng là cơ sở để mở mang các ngành công nghiệp khác và cung cấp máy móc cho nông nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển được.


Người cũng khẳng định vai trò của nông nghiệp: “Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”(6), “Nước ta là nước nông nghiệp, cho nên hiện nay nông nghiệp là quan trọng nhất. Nâng cao nông nghiệp là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn chính quyền, toàn dân”(7). Song, nông nghiệp chỉ thực sự phát triển khi máy móc được sử dụng một cách rộng rãi. Hồ Chí Minh ví máy móc như chắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần, có thể làm được những việc phi thường.


Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu bảo đảm nhu cầu cho toàn xã hội, là thị trường tiêu thụ và là cơ sở để phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân khác: “Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay, cho nên cần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác. Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà. Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh”(8).


Đồng thời, phải chú trọng thương nghiệp: “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh”(9).


Xây dựng kinh tế nông thôn có cơ cấu kinh tế hợp lý, phải phát triển đồng bộ cả nông - lâm - ngư nghiệp. Hồ Chí Minh lưu ý: “Sản xuất phải toàn diện, trồng cây lương thực và cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, phát triển nghề rừng, chú trọng đẩy mạnh chăn nuôi”(10). Trồng cây gây rừng, phát triển lâm nghiệp còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống đồi trọc, ứng phó với sự thay đổi bất thường của thiên nhiên, phòng chống thiên tai, chống lũ lụt, xói mòn đất... Đẩy mạnh nuôi trồng thủy, hải sản để mang lại lợi ích kinh tế, phục vụ nhu cầu lương thực của nhân dân: “Cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu, v.v..”(11); “Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực phẩm bổ sung cho thịt, cải thiện đời sống nhân dân”(12). Nông thôn nước ta phong phú về khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên, thảm động thực vật, rừng, biển, do đó, cần khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên để phát triển kinh tế nông thôn, tránh ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sự phát triển bền vững của đất nước.


Thứ hai, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn trên cơ sở phát triển giao thông, xây dựng nhà ở, phát triển các công trình thủy lợi với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm: “đắp đường lớn là do Trung ương phụ trách, Bộ Giao thông chịu trách nhiệm. Nhưng địa phương có thể làm những đường nhỏ. Làng này qua làng khác, thì xã tự động làm. Nhiều xã đã làm tốt. Nên làm cho đồng bào thấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường sá, tuyên truyền giải thích cho khéo, thì đồng bào tự làm và làm tốt”(13). Sau khi xây dựng đường sá, kết cấu hạ tầng đã phát triển, cần chú ý xây dựng nhà ở cho nhân dân: “Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới. Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng”(14), nhằm chỉnh trang diện mạo nông thôn, tạo khung cảnh tươi đẹp cho nông thôn mới.


Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của nền nông nghiệp nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề xây dựng các công trình thủy lợi để phát triển kinh tế nông thôn: “Công tác thủy lợi phải kịp thời để phục vụ phong trào hợp tác hóa, đồng thời phải dựa vào phong trào hợp tác hóa mà làm tốt công tác thủy lợi. Nói đến kinh tế nông thôn trước hết là nói đến vấn đề nước. Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền, nước sông lên nhiều thì thuyền đi lại dễ dàng”(15).


Làm thủy lợi không phải là công việc dễ dàng, có thể làm ngay một lúc mà phải kết hợp công trình nhỏ và vừa trước mắt với những công trình lớn, bởi nguồn lực có hạn, cán bộ là người tiên phong, tuyên truyền để nhân dân hiểu ích lợi và tự nguyện phát huy sức dân: “Làm thủy lợi thì phải khó nhọc trong vài năm để được sung sướng muôn đời. Làm thủy lợi cần phải kết hợp công trình lớn với công trình vừa và công trình nhỏ”(16); “Làm đại thủy lợi thì nhà nước phải xuất tiền, nhân dân phải xuất sức. Trung thủy lợi thì nhà nước với nhân dân cùng làm. Tiểu thủy lợi thì do nhân dân làm”(17)...


Thứ ba, xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chú trọng phát triển thành phần kinh tế hợp tác xã


Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến nền kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu đa dạng, bao gồm: kinh tế quốc doanh, có tính chất XHCN; kinh tế hợp tác xã (hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã cung cấp và các hội đổi công của nông dân) có tính chất nửa XHCN; kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ; kinh tế tư bản của tư nhân; kinh tế tư bản quốc gia(18). Người quan niệm, đi lên CNXH không thể nóng vội, chủ quan duy ý chí, vội vã xóa bỏ các thành phần kinh tế, mà phải hướng các thành phần kinh tế cùng phát triển, tuân theo các quy luật kinh tế trong công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH.


Chú trọng phát triển kinh tế hợp tác xã là một cách làm đúng, phù hợp với đặc thù nông thôn nước ta: “Nông thôn ta đất hẹp người đông, kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp kém. Chỉ riêng việc tổ chức nhau lại, cải tiến kỹ thuật, quản lý cho khéo, thì cũng đã nâng cao được năng suất lao động hơn làm ăn riêng lẻ. Nông dân ta đã hiểu điều đó. Vả lại nông dân ta có truyền thống cách mạng, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng, nghe lời kêu gọi của Đảng. Cho nên họ hăng hái vào tổ đổi công và hợp tác xã, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa”(19).


Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 18-12-1959, Người chỉ rõ: “kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển. Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc”(20).


Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Hưng Yên, ngày 16-9-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên 9 điều cần phải làm đúng để các hợp tác xã tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, đó là: Phải cần, kiệm, chống tham ô, lãng phí; Sản xuất nông nghiệp phải toàn diện, sản xuất thóc là chính, nhưng phải rất coi trọng hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi, thả cá và nghề phụ, phải rất coi trọng tăng năng suất, tăng vụ và khai hoang; Phát triển sản xuất chung của hợp tác xã là chính, nhưng cần chiếu cố đúng mức sản xuất gia đình của xã viên; Phải làm đúng 8 việc: “đủ nước, nhiều phân, cày sâu, cấy dầy, chọn giống tốt, làm cỏ sạch, cải tiến nông cụ và hàng ngày lo diệt chuột, trừ sâu”; Mỗi hợp tác xã chỉ nên có từ 150 đến 200 hộ, không nên quá nhiều, quá nhiều thì khó quản lý; Hợp tác xã cấp cao thì sản xuất và thu nhập phải cao; Quản trị phải dân chủ, công bằng, minh bạch; Cán bộ, đảng viên, đoàn viên và dân quân tự vệ cần phải xung phong, gương mẫu trong mọi công việc; Phải chú ý phát triển công nghiệp địa phương nhằm phục vụ cho nông nghiệp(21).


3. Phát huy các động lực trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn


Thứ nhất, phát huy động lực con người, vai trò chủ thể của nông dân


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xây dựng CNXH trước hết phải có những con người XHCN, muốn xây dựng và phát triển nông thôn phải có những nông dân có trí tuệ và văn minh. Xây dựng nông thôn mới chính là đổi mới xã hội nông thôn, dựng xây những con người mới bằng cách “sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”(22), nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động có cuộc sống ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc.


Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc; trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước: “Đa số dân ta là nông dân. Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng”(23). “Kinh nghiệm của Đảng ta trong quá trình cách mạng đã chỉ rõ là nơi nào, lúc nào cán bộ ta giải quyết tốt lợi ích thiết thân của nông dân, nắm vững nguyên tắc liên minh công nông, thì nơi đó, lúc đó cách mạng đều tiến mạnh”(24).


Chất lượng cuộc sống của người nông dân cũng chính là mục tiêu của xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của nông dân nói riêng. Muốn đạt mục đích đó thì nhất định phải củng cố và phát triển hợp tác xã cho thật tốt, phải nâng cao không ngừng thu nhập của xã viên”(25).


Trong Di chúc, Người mong muốn Đảng và Chính phủ thực hiện tâm nguyện của Người là chăm lo đời sống nông dân, khi điều kiện cho phép: “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(26).


Thứ hai, phát huy động lực tổ chức


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức đảng, các cấp chính quyền cần phát huy vai trò trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn. Trong lãnh đạo, cần phát huy dân chủ, sâu sát thực tiễn, chú trọng đoàn kết, mọi việc phải có sự bàn bạc để có ý kiến và sự thống nhất của nhân dân: “Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo của mình. Các cơ quan nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến nông nghiệp, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của ngành mình trong sản xuất nông nghiệp. Các cán bộ tỉnh, huyện phải đi sâu xuống các hợp tác xã, giúp đỡ các hợp tác xã tiến bộ. Nhưng cán bộ tỉnh, huyện không thể đi khắp được. Cho nên cái gốc trong việc lãnh đạo hợp tác xã vẫn là chi bộ đảng ở cơ sở. Chi bộ phải tăng cường hơn nữa việc đoàn kết nông thôn và làm cho toàn thể xã viên, toàn thể nông dân phấn khởi, hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển và củng cố hợp tác xã”(27).


Người đánh giá cao vai trò của chi bộ trong hệ thống tổ chức đảng ở nông thôn: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở nông thôn. Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách của Đảng và Chính phủ nhất định thi hành được tốt”(28). Phát huy vai trò của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng: “Sau phát động quần chúng, giáo dục chi bộ và cốt cán ở nông thôn là một việc rất quan trọng và cần kíp”(29). “Chi bộ mạnh hay là yếu, công tác của chi bộ tốt hay là xấu, ảnh hưởng rất lớn đến việc cải tạo nông thôn”(30).


Bên cạnh tổ chức đảng và chính quyền ở nông thôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ: “Nông hội có trách nhiệm chính đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất. Đoàn thanh niên có nhiệm vụ xung phong thúc đẩy phong trào. Phụ nữ cần phải phát huy lực lượng của mình để sản xuất nhiều, sản xuất tốt. Các ngành đều phải có kế hoạch phục vụ cho sản xuất nông nghiệp(31).


Người cho rằng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn mang lại hiệu quả thiết thực, cụ thể: “Tất cả đảng viên và đoàn viên ở nông thôn phải tham gia tổ đổi công và hợp tác xã và phải làm gương mẫu. Anh hùng và chiến sĩ nông nghiệp phải làm đầu tàu. Các đồng chí bộ đội phải cố gắng giúp đỡ đồng bào nông dân. Các chị em phụ nữ phải là lực lượng xung phong. Toàn thể đồng bào và cán bộ kiên quyết một lòng, ra sức sản xuất, thì vụ mùa nhất định thắng lợi”(32).


Thứ ba, tranh thủ ngoại lực thông qua hợp tác kinh tế quốc tế


Để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra các chính sách kinh tế mấu chốt (trong đó có chính sách mậu dịch), nhằm mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế để phát triển kinh tế nông thôn: “Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta”(33).


Năm 1955, sau chuyến thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, trong quan hệ hợp tác với các nước trong hệ thống XHCN, Người nói rõ thêm: “Các nước bạn giúp ta để hàn gắn mau chóng những vết thương chiến tranh; để tăng gia sản xuất về nông nghiệp, công nghiệp và để phát triển thương nghiệp; để khôi phục và phát triển kinh tế và văn hóa; để ta dần dần nâng cao đời sống của nhân dân ta”(34). Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là hợp tác kinh tế quốc tế để phát huy tiềm năng của nước ta, dùng ngoại lực để thúc đẩy nội lực, trên nguyên tắc các nước tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, bình đẳng, cùng có lợi.


4. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho đường lối xây dựng và phát triển nông thôn Việt Nam


Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, mục tiêu, nội dung, biện pháp xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn đã trở thành “kim chỉ nam”, tư tưởng chỉ đạo và cơ sở lý luận quan trọng cho Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn về phát triển nông thôn Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối phát triển kinh tế nông thôn mới qua từng thời kỳ, tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới.


Từ năm 2010 đến nay, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều dấu ấn nổi bật về phát triển kinh tế, làm cho nông thôn nước ta đẹp về diện mạo, mới về chất. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện. Nông nghiệp trở thành trụ đỡ của nền kinh tế. Nước ta có xuất siêu chủ yếu từ xuất khẩu nông, lâm, thủy sản...


Những kết quả quan trọng trong xây dựng nông thôn mới đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ghi nhận những thành tựu của xây dựng nông thôn mới: “kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm hơn gần 2 năm so với kế hoạch đề ra, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân”(35).


Việc vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải nhận diện được cả thời cơ và thách thức. Hiện nay, hơn 65% dân số Việt Nam sinh sống ở địa bàn nông thôn; sự ổn định và phát triển của khu vực này đóng vai trò quan trọng đối với vấn đề an ninh lương thực và phát triển đất nước. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đề ra mục tiêu: “Nông thôn phát triển toàn diện, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, môi trường sống an toàn, lành mạnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh”(36). Để đạt được những mục tiêu này, cần tiếp tục dày công nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tam nông nói chung, về nông thôn nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển mạnh mẽ đất nước hiện nay.