Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Phòng, chống xâm phạm An ninh quốc gia trên không gian mạng

Không gian mạng là mạng lưới kết nối toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm internet, hệ thống máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, là môi trường đặc biệt mà con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng thế mạnh của không gian mạng để triển khai các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) nước ta.

Chúng triệt để lợi dụng các kênh truyền hình trên internet, trang web và mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo, tạo cớ để bên ngoài can thiệp nội bộ nước ta.

Chúng còn lợi dụng công nghệ để cắt dán, trích dẫn sai lệch các hình ảnh, tài liệu nhằm làm cho nhân dân và cộng đồng quốc tế hiểu không đúng về chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và các thành tựu đã đạt được trong việc xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội, qua đó hòng xuyên tạc tình hình thực tế trong nước. Điển hình như năm 2022, tổ chức phản động Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) đã tổ chức Diễn đàn trực tuyến với chủ đề “Hội luận về Thiên Chúa giáo ở vùng Tây Nguyên - thách đố và triển vọng” nhằm xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, kích động hận thù, vận động người dân trong nước tham gia diễn đàn, kêu gọi quốc tế gây sức ép yêu cầu Nhà nước Việt Nam “cải thiện tự do tôn giáo, tín ngưỡng”.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và gần 100 hội, nhóm trên mạng xã hội Facebook thường xuyên đăng tải thông tin chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động gây rối an ninh, trật tự, kích động biểu tình, bạo loạn, thực hiện “cách mạng màu”,“cách mạng đường phố”...

Bên cạnh đó, các tổ chức và lực lượng phản động, thù địch lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động gián điệp, thu thập tin tức chống Việt Nam thông qua việc tung ra những phần mềm chứa các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn, các ứng dụng miễn phí trên điện thoại. Chúng sử dụng kỹ thuật hiện đại lợi dụng lỗ hổng bảo mật để xâm nhập chiếm đoạt bí mật nhà nước, lấy cắp phát minh, sáng chế nhằm gây thiệt hại cho kinh tế nước ta.

Chúng còn lợi dụng internet, mạng xã hội để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội hoặc làm lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp, mã tin học độc hại... nhằm phá hoại kinh tế, cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn của nước ta. Theo cơ quan chức năng, tính từ đầu năm 2023 đến nay, đã có hơn 13.750 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam gây ra sự cố nghiêm trọng. Riêng trong quý I-2024, các cơ quan chức năng đã phát hiện 32.265 nguy cơ tấn công mạng nhằm vào các mạng công nghệ thông tin trọng yếu của các cơ quan Đảng, Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2023.

Nghiêm trọng hơn, chúng lợi dụng internet, mạng xã hội để kích động, lôi kéo người dân tham gia hoạt động chống phá an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta; đồng thời, móc nối, cấu kết với cán bộ, đảng viên có biểu hiện tha hóa, biến chất, số có tư tưởng "cấp tiến" là lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành để mua chuộc, lôi kéo hình thành tổ chức phản động. 

Dưới chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước”, chúng âm mưu hình thành, phát triển “xã hội dân sự” và các tổ chức chính trị-xã hội, hội nhóm bất hợp pháp như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“ Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”... Thông qua internet, mạng xã hội, các đối tượng bên ngoài và trong nước cấu kết, móc nối với nhau để lôi kéo, mua chuộc người tham gia tổ chức phản động. Trong đó, bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; số đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thành lập tổ chức, hội nhóm, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài xuyên tạc; điển hình như các tổ chức phản động: "Việt Tân", "Tuổi trẻ yêu nước"... 

Cùng với đó, cũng phải thấy một thực tế là, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng, thời gian qua, công tác này còn tồn tại những khó khăn, hạn chế nhất định. Đó là công tác quản lý công nghệ viễn thông, bảo mật thông tin nội bộ của không ít cơ quan nhà nước, cá nhân tại Việt Nam còn sơ hở, chưa được bảo mật tốt. Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực quản lý mạng xã hội, internet và đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trong quá trình đồng bộ để đáp ứng tình hình thực tế. Công tác tuyên truyền, định hướng thông tin và đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch vẫn có lúc thụ động, thiếu sắc bén.

Lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội còn mỏng; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật còn khó khăn. Trong khi đó, tội phạm lợi dụng internet, mạng xã hội là những đối tượng có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và liên tục thay đổi phương thức hoạt động trên phạm vi hoạt động rộng, đặc biệt là từ nước ngoài, gây khó khăn trong phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn.   

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục chủ động tăng cường công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự báo, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta; chú trọng nắm tình hình từ xa, nắm tình hình ngay từ trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài để triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Chủ động xây dựng hệ thống thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng có khả năng chỉ huy, kết nối, chia sẻ thông tin, tiếp nhận và xử lý sớm các thông tin gây hại tới không gian mạng quốc gia. 

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG nước ta, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Làm cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên thấy rõ tính hai mặt của không gian mạng; có khả năng nhận diện và “miễn dịch” với các nội dung thông tin xấu, độc, nguy hại đối với xã hội; kịp thời tố giác hành vi lôi kéo người dân vào các hoạt động vi phạm pháp luật thông qua không gian mạng.

Xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội, internet; không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước. Phát huy hơn nữa lợi thế của internet, mạng xã hội trong việc cập nhật thường xuyên các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thành tựu đã đạt được trong xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.  

Ba là, phát huy vai trò của Ban chỉ đạo An toàn, an ninh mạng quốc gia, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia trong việc tham mưu với Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn cán bộ, đảng viên và người dân cùng tham gia công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp chung trong công tác phòng, chống hoạt động xâm phạm ANQG trên không gian mạng. 

Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm ANQG có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén trong điều tra, khám phá âm mưu, hoạt động lợi dụng không gian mạng để chống phá nước ta. Tiếp tục đầu tư, trang bị các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động này. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng. 

Năm là, tăng cường, mở rộng hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin và an ninh mạng để trao đổi kinh nghiệm trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống hoạt động vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này; tranh thủ tiếp thu công nghệ mới và hợp tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng làm công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nước ta. 

Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về viễn thông, truyền thông, internet, bảo vệ bí mật nhà nước và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Nghiên cứu sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin để ngăn chặn triệt để những tin tức xấu, độc trên các trang mạng, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung độc hại./.

Sưu tầm

Thủ đoạn xuyên tạc việc củng cố lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở

Ngày 1/7 vừa qua, các địa phương trên cả nước đồng loạt tổ chức lễ ra mắt lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự (ANTT) ở cơ sở. Đây là dấu mốc quan trọng khẳng định địa vị pháp lý, vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Tuy nhiên, nhiều đối tượng xấu đã cố tình tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc, hướng lái tiêu cực nhằm kích động sự hoài nghi, mâu thuẫn trong xã hội xung quanh việc thành lập lực lượng này.

Ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo luật, lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân cũng như quá trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lực lượng này đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Đến nay, khi luật chính thức có hiệu lực, những giọng điệu độc hại, sai trái vẫn tiếp tục được một số báo đài nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng những phần tử xấu trong, ngoài nước tung ra. Họ tung ra những luận điệu như: “lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là gánh nặng cho người dân”, “mục đích thành lập lực lượng này là nhằm đàn áp nhân dân”, “việc gia tăng lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở có sở là để quản lý người dân, doanh nghiệp và chính đảng viên để có thể trừng trị bất cứ khi nào”, “lập thêm lực lượng để bòn rút nhân dân”…

Thâm hiểm hơn, bằng những suy luận phiến diện, phi logic, các đối tượng xấu đã công kích, gây chia rẽ mối quan hệ giữa lực lượng Công an và Quân đội bằng giọng điệu như “gia tăng lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở để Công an chuẩn bị đấu với Quân đội”! Ngày 26/6, trang Facebook “Chân Trời Mới media” của tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tải bài viết có nội dung xuyên tạc Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, cho rằng từ ngày 1/7/2024, Bộ Công an sẽ ngày càng phình to ra và “luật này ban hành là để trói buộc, gò ép người dân”!

Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là một trong những lực lượng quần chúng, được bố trí ở thôn, tổ dân phố, làm nòng cốt hỗ trợ Công an cấp xã, giúp UBND cùng cấp trong bảo vệ ANTT và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Theo quy định của pháp luật, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở có 6 nhóm nhiệm vụ gồm: hỗ trợ nắm tình hình về ANTT; hỗ trợ xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hỗ trợ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; hỗ trợ quản lý hành chính về trật tự xã hội; hỗ trợ vận động, giáo dục người đã có hành vi vi phạm pháp luật đang cư trú tại cơ sở; hỗ trợ tuần tra bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT khi được điều động.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Đặc biệt, pháp luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thực tế cho thấy, những vụ việc, hiện tượng liên quan đến ANTT phần lớn đều xảy ra tại các địa bàn cơ sở, xuất phát từ cơ sở, do đó công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cấp bách, là nhiệm vụ tất yếu của đất nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở không phải là lực lượng được ra đời mới hoàn toàn. Về mặt bản chất, đây là sự điều chỉnh lại các lực lượng, chức danh đã được thành lập, hoạt động ở địa bàn cơ sở từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, bao gồm Công an xã bán chuyên trách, bảo vệ dân phố và các chức danh đội trưởng, đội phó dân phòng. Thực tế cho thấy, lực lượng này góp phần quan trọng trong đấu tranh làm thất bại các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Bởi vậy, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh từ thực tiễn, việc thống nhất các lực lượng kể trên thành lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Do đó, không hề có chuyện “chính quyền gia tăng lực lượng để đàn áp người dân” như luận điệu độc hại mà các đối tượng xấu tung ra.

Trong mối quan hệ giữa lực lượng Công an và Quân đội, những năm qua, các đối tượng xấu luôn tìm đủ mọi cách để kích động hòng tạo mâu thuẫn, hiểu lầm, gây chia rẽ giữa hai lực lượng. Lợi dụng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chính thức có hiệu lực, một lần nữa chúng lại “tát nước theo mưa”, xuyên tạc về sự “đấu đá” giữa Công an và Quân đội. Phải khẳng định rõ, Công an và Quân đội là hai lực lượng có chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng theo Hiến pháp và các luật liên quan. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hai lực lượng này luôn phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định rõ: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là Quân đội để đánh giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì tập luyện. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc…”. Với vai trò là các cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cả Quân đội và Công an đều nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, qua đó tạo môi trường hòa bình, ổn định để đất nước ngày càng phát triển.

Tình hình trong nước thời gian qua cho thấy, mặc dù an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững nhưng nước ta vẫn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức tiềm ẩn, đe doạ đến sự ổn định và phát triển. Đặc biệt, các thế lực thù địch luôn thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, tập hợp lực lượng, kích động chống phá ngay từ cơ sở. Trên thực tế, một số tình huống phức tạp nảy sinh ở một số địa bàn, cơ sở có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng và chưa phát huy hết vai trò của lực lượng bảo vệ ANTT tại cơ sở. Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, việc giữ vững ANTT ở địa bàn cơ sơ đóng vai trò then chốt. Bởi vậy, chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, kịp thời nhận diện, đầu tranh với các âm mưu, ý đồ, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, thấy rõ vị trí, vai trò của lực lượng bảo vệ ANTT tại cơ sở trong tình hình mới.

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và đồng thời cũng là quyền cao quý của mỗi công dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nhận thức rõ sự nghiệp cách mạng mà Đảng khởi xướng, lãnh đạo chỉ có thể thành công nếu phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc. Vì vậy, cùng với việc xây dựng lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, Đảng, Nhà nước ta cũng luôn quan tâm, chú trọng đến việc phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Suy cho cùng, mục đích của việc thành lập lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chính là để huy động sức mạnh nhân dân tham gia giữ gìn ANTT, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Sưu tầm

Bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Thêu dệt để xuyên tạc những sự kiện lịch sử nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kích động xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những hình thức mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh bác bỏ thủ đoạn này là yêu cầu cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Lịch sử là những điều đã qua, nhưng luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Đối với mỗi chủ thể khác nhau, lịch sử bao gồm cả những thành công và hạn chế, thậm chí là thất bại. Có nhiều góc nhìn về lịch sử, song về nguyên tắc, xem xét, đánh giá lịch sử phải công bằng, khách quan, không được tô hồng, bôi đen, định kiến, chủ quan. Cho đến nay, nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là sự khái quát cao nhất, khoa học nhất để xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng nói chung và lịch sử nói riêng. Mọi sự xa rời hoặc không tuân thủ nguyên tắc này khi xem xét, đánh giá lịch sử sẽ không tránh khỏi sai lầm. Điển hình như việc các thế lực thù địch xuyên tạc về cơ sở hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin; lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin; xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Đây là những luận điểm hết sức sai lầm về mặt khoa học và phản động về chính trị và những luận giải dưới đây sẽ làm rõ tính chất phản động của nó.

Trước hết, về cơ sở sự hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị viện cớ: thời gian hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin từ giữa, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là quá lâu và quá cũ rồi nên đã hết giá trị khoa học, ý nghĩa hiện thực. Rằng, chủ nghĩa Mác chỉ đúng, phù hợp với điều kiện lịch sử ở châu Âu, thế kỷ XIX, nay đã lạc hậu; chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp ở một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thời đại ngày nay; chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông,... (!). Đây chính là biểu hiện cố tình tách rời, thậm chí là đối lập giữa C.Mác và Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, trong khi tư tưởng của các ông là thống nhất ở bản chất cách mạng, khoa học, cho dù có sự khác nhau ở một số nội dung, quan điểm cụ thể.

Về mặt khoa học, nếu chỉ lấy yếu tố thời gian hình thành, phát triển sớm hay muộn của một học thuyết, một tư tưởng để phán xét giá trị của nó là không khách quan, thậm chí hoàn toàn sai lầm. Bởi, trong thực tế có những học thuyết, tư tưởng vừa mới ra đời đã lạc hậu, không còn giá trị đối với xã hội. Ngược lại, có những lý luận, định đề, định lý của khoa học tự nhiên hay tư tưởng mang tính nhân đạo, nhân văn của nhân loại ra đời trước chủ nghĩa Mác - Lênin rất lâu, như: tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái xuất hiện vào thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV - XVI) ở phương Tây đến nay vẫn được nghiên cứu, thừa nhận như một tín hiệu mới, có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển của xã hội. Do đó, không thể chỉ căn cứ vào yếu tố thời gian để chủ quan phán xét về giá trị của một học thuyết, mà phải xem xét trên cơ sở khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển của sự vật, hiện tượng. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác - Lênin với tính chất của một học thuyết dẫn đường đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; là nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản tập trung nhất ở phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư,… đã, đang chứng minh sức sống và giá trị bền vững thì sự xuyên tạc về lịch sử hình thành, phát triển cũng như sự phù hợp của học thuyết này là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Không những thế, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở; là sự định hướng về thế giới quan, phương pháp luận khoa học chung cho cả nhân loại, chứ không riêng cho quốc gia nào,... cho nên không thể nói rằng nó chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông như các luận điệu xuyên tạc. Điều đó càng cho thấy, việc lấy yếu tố thời gian cũng như sự phù hợp với nơi này, không phù hợp với nơi khác,... để phủ nhận giá trị khoa học, bản chất cách mạng một học thuyết chỉ là cái cớ hòng thực hiện mưu đồ chống phá nền tảng tư tưởng, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Hai là, không thể lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu (thập niên cuối thế kỷ XX) để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta đều biết, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật lịch sử vô cùng đáng tiếc sau bao nhiêu năm dày công vun đắp. Tuy nhiên, đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa cụ thể, với những nguyên nhân xác đáng chứ không phải là sụp đổ của một học thuyết cách mạng và khoa học như chủ nghĩa Mác - Lênin và càng không phải là sự chấm dứt lịch sử phát triển của nhân loại đi lên chủ nghĩa xã hội theo tiến trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Thế nhưng các thế lực thù địch lại vin vào sự kiện này để quy chụp rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin đã không có giá trị, sức sống; chủ nghĩa xã hội chỉ là “quái thai” của lịch sử hoặc chỉ tồn tại trong tư tưởng, không có tính hiện thực; C.Mác và Ph.Ăngghen sáng tạo ra lý luận đấu tranh giai cấp để quăng lên vai những người lao động sứ mệnh tàn sát lẫn nhau; thậm chí, họ còn biện hộ cho chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao nhất của lịch sử nhân loại, v.v. Toàn bộ những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cả trong lịch sử và hiện nay, dù diễn đạt dưới bất cứ hình thức nào, chung quy lại vẫn là đổ lỗi cho các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, họ rêu rao rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; kiên định với mục tiêu chủ nghĩa xã hội là không thức thời, lầm đường, lạc lối, đi vào ngõ cụt và trước sau cũng sụp đổ (!).

Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng ta khẳng định rằng: sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là sự phản ánh bước phát triển quanh co, phức tạp của lịch sử chứ không phải là sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội với tính chất là xu hướng phát triển chung của nhân loại. Đó chỉ là sụp đổ của một mô hình bị rơi vào xơ cứng, giáo điều, không sinh động ở những thập niên cuối thế kỷ XX. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật thì mô hình ấy đáng phải sụp đổ để tư tưởng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là khoa học, cách mạng. Bởi, xơ cứng, giáo điều là kẻ thù số một của phép biện chứng duy vật. Sự sụp đổ đó không phải do lỗi của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, vì họ đã chỉ ra lý luận của mình chỉ là định hướng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và khi vận dụng vào thực tiễn phải sáng tạo, cụ thể. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu từ sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga đến thập niên 70 của thế kỷ XX đã thu được những thành tựu kỳ diệu, mà nhân loại không thể phủ nhận. Đáng tiếc là sau đó, Đảng Cộng sản ở các nước đó không tuân thủ những nguyên tắc căn bản trong xây dựng đảng, bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, đặc biệt là bọn cơ hội xét lại trỗi dậy, lũng đoạn bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Vì vậy, việc đổ lỗi do sai lầm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là không tôn trọng lịch sử, thể hiện rõ mưu đồ của các thế lực thù địch là chống phá cách mạng, mà trực tiếp nhất là chống phá Đảng Cộng sản. Và, thật nực cười khi họ lại suy diễn một cách cơ học, siêu hình như vậy, trong khi lẽ ra phải khẳng định rằng, mặc dù Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu, Liên Xô xa rời, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đến sụp đổ, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là một biểu tượng sáng ngời về tính kiên định, sự trung thành mới phải.

Ba là, về sự xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều vấn đề, nhưng tựu trung lại là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã vượt lên trên tất cả các tư tưởng đương thời trong nước lúc bấy giờ, thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học, cách mạng; đồng thời, mang sắc thái riêng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, khẳng định vị trí, định hướng tư tưởng cho lịch sử phát triển ở Việt Nam. Kết quả lịch sử hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Với tầm vóc to lớn về tính cách mạng và giá trị khoa học như thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991) đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ấy vậy mà, các thế lực thù địch lại xuyên tạc một cách trắng trợn rằng, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ có khác biệt, không có sự thống nhất. Họ thường sử dụng thủ đoạn: cường điệu hóa tính dân tộc trong tư tưởng của Người để tách biệt, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tỏ vẻ ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh rất khách quan, nhưng thực chất là hạ thấp uy tín, tầm ảnh hưởng của Người ở trong nước và quốc tế; không nghiên cứu kỹ hoặc cố tình không hiểu bản chất, cốt lõi tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. Thâm hiểm hơn, họ còn vu khống rằng: Hồ Chí Minh đã đưa tư tưởng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vào Việt Nam để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành các cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn; nồi da, nấu thịt”; họ cho rằng không nhất thiết phải tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng mà vẫn có thể có độc lập dân tộc. Đây là một sự phỉ báng lịch sử, nhằm phủ nhận những cống hiến, hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta. Họ cũng không hiểu hay cố tình không hiểu rằng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và độc lập theo kiểu tư sản trái ngược nhau về nội dung, bản chất, giá trị tiến bộ. Hiện thực minh chứng: mặc dù nhiều nước đã có độc lập tư sản mà không phải tiến hành chiến tranh, nhưng thực chất vẫn không có độc lập dân tộc theo đúng nghĩa của nó. Sự độc lập đó vẫn làm cho các đảng phái chính trị trong nước thường xuyên tranh giành quyền lực, gây bất ổn chính trị, thậm chí là đảo chính, xung đột vũ trang, tổn thất rất nhiều xương máu của quần chúng nhân dân và ở chừng mực nào đó, vẫn bị lệ thuộc vào các nước đế quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”1.

Từ những phân tích trên cho thấy, bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề mang tính thường xuyên, cấp bách hiện nay. Cùng với đó, cần không ngừng nắm vững và vận dụng sáng tạo, phù hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Xây dựng đời sống tinh thần xã hội với tính đồng thuận cao, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.

Bộ Quốc phòng khai mạc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 năm 2024

 Chiều 1/12, Bộ Quốc phòng tổ chức khai mạc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 năm 2024. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự, chỉ đạo và phát biểu khai mạc diễn tập.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo diễn tập có Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Tham dự, chỉ đạo diễn tập còn có các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập; Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập; Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Cùng dự và chỉ đạo diễn tập có Trung tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Trưởng ban Chỉ đạo diễn tập.

Dự diễn tập có lãnh đạo các tổng cục, các cơ quan Bộ Quốc phòng; đại biểu lãnh đạo các quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng…

Cuộc diễn tập tiến hành từ ngày 1 đến ngày 4/12, với sự tham gia của các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang và địa phương trên địa bàn Quân khu 7 và nhiều quân chủng, binh chủng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Cuộc diễn tập được tiến hành qua 3 giai đoạn: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị tác chiến phòng thủ và thực hành tác chiến phòng thủ với 7 vấn đề huấn luyện cơ bản.

Cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 7 là hoạt động quân sự quy mô lớn nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn; nâng cao khả năng xử trí tình huống tác chiến thực tế, ứng dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại; rèn luyện kỷ luật và tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội; làm cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị huấn luyện, diễn tập sát với yêu cầu nhiệm vụ…

Phát biểu khai mạc diễn tập, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh: Tác chiến phòng thủ quân khu có vị trí rất quan trọng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc dựa trên nền tảng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được xây dựng và chuẩn bị thời bình. Hoạt động tác chiến phòng thủ quân khu có tính tổng hợp cao do quân khu tổ chức với sự tham gia của quân và dân trên địa bàn quân khu, lấy lực lượng vũ trang quân khu làm nòng cốt và các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng đứng chân trên địa bàn quân khu, tạo thành thế trận phòng thủ trên từng hướng chiến lược của đất nước, trên chiến trường đã được xác định trong quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.

Diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu là một hình thức huấn luyện tổng hợp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, khả năng tham mưu hiệp đồng tác chiến của các cấp, các lực lượng tham gia diễn tập và trình độ, sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn quân khu; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch tác chiến; đồng thời làm cơ sở nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự phù hợp với địa hình, địa bàn, đối tượng tác chiến, cách đánh và tổ chức biên chế, yêu cầu của nhiệm vụ Quân đội trong thời kỳ mới…

Để cuộc diễn tập thành công tốt đẹp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lưu ý: Ban Chỉ đạo, cơ quan Ban Chỉ đạo điều hành diễn tập chặt chẽ, đạt mục đích, yêu cầu đề ra; theo dõi, chỉ đạo thực hiện đúng nội dung theo kế hoạch; kịp thời rút kinh nghiệm để chỉ đạo các cuộc diễn tập tiếp theo với yêu cầu ngày càng cao; tiếp tục làm rõ đối tượng, quy mô, lực lượng, phương tiện, âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn Quân khu trong tương lai. Thông qua diễn tập điều chỉnh, bổ sung quyết tâm tác chiến sát yêu cầu thực tiễn.

Công tác lãnh đạo, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ với các lực lượng của Bộ trên địa bàn và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; chủ động phương án sử dụng lực lượng đối phó với chiến tranh hiện đại.

Đối với các đồng chí đạo diễn vừa làm nhiệm vụ, vừa phải theo dõi khung tập, thực hiện đúng yêu cầu đặt ra. Đây cũng là quá trình tích lũy, học tập để cùng rút kinh nghiệm.

Đối với đơn vị diễn tập phải chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, quy định của Ban Chỉ đạo; giữ mối quan hệ đoàn kết tốt với các cơ quan, đơn vị và chính quyền, nhân dân địa phương trên địa bàn; vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tế để giải quyết tốt các vấn đề đặt ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong diễn tập.

Đối với lực lượng phục vụ, bảo đảm phải chấp hành nghiêm quy định bảo mật, giữ gìn an ninh, an toàn, phục vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất, đúng kế hoạch của Ban Chỉ đạo...

Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu, quá trình diễn tập, các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân chấp hành nghiêm quy định bảo mật, tuyệt đối không để lộ lọt thông tin, vi phạm quy định về bí mật quân sự… góp phần vào thành công của cuộc diễn tập.

 

 

Thiếu tướng Hoàng Sâm trong ký ức gia đình và người thân

 

Thiếu tướng Hoàng Sâm là Đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Hoàng Sâm là một vị tướng tài năng, huyền thoại với nhiều chiến công, từng đảm nhiệm trọng trách quan trọng như: Khu trưởng Liên khu 2, Liên khu 3 thời kháng chiến chống thực dân Pháp; Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, Quân khu Hữu Ngạn, Quân khu 3 và Quân khu Trị - Thiên thời kháng chiến chống Mỹ.

Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Sâm gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua hơn 40 năm hoạt động cách mạng, Thiếu tướng Hoàng Sâm có nhiều kinh nghiệm và đóng góp quan trọng với cách mạng Việt Nam. Từ trải nghiệm sâu sắc thực tiễn chiến trường và trước những yêu cầu mới đặt ra, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã viết nhiều bài báo, tài liệu huấn luyện quân sự giàu tính thực tiễn và lý luận có giá trị cho đến ngày nay.

Mới đây, tại Hội thảo khoa học: “Thiếu tướng Hoàng Sâm - Người Cộng sản kiên trung, nhà chỉ huy quân sự tài năng, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình” do Tỉnh ủy Quảng Bình tổ chức, đã khẳng định, làm rõ về cuộc đời hoạt động, những cống hiến to lớn của Thiếu tướng Hoàng Sâm với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Tri ân, tôn vinh công lao, phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Thiếu tướng Hoàng Sâm; khơi dậy lòng tự hào dân tộc và học tập tấm gương sáng về tài năng, đức độ, cùng những tình cảm thiêng liêng, cao quý mà ông dành cho quê hương, đất nước, qua đó góp phần vào công tác giáo dục truyền thống, xây dựng và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ Hội thảo, chúng tôi đã liên hệ với gia đình Thiếu tướng Hoàng Sâm để chia sẻ, lắng nghe và nhận tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp của ông. Trong ký ức của gia đình và người thân, nhất là bà Phan Thị Lệ - Phu nhân của Thiếu tướng Hoàng Sâm và các con ông, hình ảnh Thiếu tướng Hoàng Sâm, người chồng, người cha kính yêu luôn hiện lên với những dấu ấn sâu đậm về lòng dũng cảm, sự hy sinh và tình yêu thương vô bờ bến dành cho gia đình.

Điều này thể hiện thật rõ nét qua bức thư tay gửi về cho vợ và các con từ nơi chiến trường ác liệt chỉ một tháng trước ngày ông hy sinh và những lần ghé thăm ngắn ngủi cùng vợ và các con ăn bữa cơm đầm ấm như bao gia đình khác. Bức thư của ông là một bức tranh sống động và chân thật nhất về tình cảm gia đình giữa chiến tranh khốc liệt, đặc biệt là sự gắn bó, yêu thương và nỗi niềm của một người vợ xa chồng, người cha xa con. 

“Lan yêu quý của bố,

Bố đã nhận được thư của con viết từ hồi đầu tháng 8/68 đến nay là tháng 11/68 bố mới viết thư trả lời và báo tin cho con hay: Từ khi bố vào đến nay vẫn được mạnh khỏe như thường, bố đi đường vừa đi xe ô tô, vừa đi bộ mất tròn một tháng thì vào đến vị trí nhiệm vụ, suốt dọc đường đi mọi điều đều tốt lành, tuy có bị ném bom cách 300m, 500m. Vừa đến nơi, ngày hôm sau đế quốc Mỹ liền cho máy bay đến chào đón bố bằng mấy chục quả bom, cách hơn 10m cũng chẳng ai việc gì cả. Nói bom đạn thì trong này chẳng có thiếu, nhưng bom đạn nó cũng tránh người, chứ nó không phải là nam châm với sắt thép! Còn nói về bọn đế quốc Mỹ và tay sai thì thật là dã man, tàn bạo: Giết người moi gan xào ăn, đốt nhà, đốt làng rồi quẳng trẻ con vào lửa, bắt nhân dân tập trung lại cả ông già, bà lão, trẻ thơ rồi xả súng bắn chết hàng mấy chục người một lúc, những sự việc này thường xảy ra. Còn ruộng lúa, hoa màu cây cối đều bị phá trụi, rải chất độc hóa học xuống nữa, thật là thương tâm, mà cũng thật là căm thù. Do đó, bộ đội phải đánh Mỹ và chư hầu để cứu nhân dân, nhân dân tích cực cương quyết đánh Mỹ và chư hầu để mà sống, không còn con đường nào khác, tất cả tập trung đánh đế quốc Mỹ và bọn tay sai, cũng vì vậy mà quân và dân miền Nam liên tục chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai. Và như vậy cũng thấy được rằng: Sự chịu đựng gian khổ, hy sinh của quân và dân miền Nam cũng vô bờ bến, sự kiên cường dũng cảm cũng không thể đo lường được, không thể kể cho hết được. 

Bố biết tin con mạnh khỏe, chuẩn bị tháng 11/68 này đi học, bố rất mừng, con phải cố gắng học tập, rèn luyện, vì làm thuốc phải tỷ mỉ, cẩn trọng, tránh cẩu thả, sơ suất, nếu cẩu thả sơ suất, không thận trọng tỷ mỉ thì chết người đấy! Muốn vậy phải đề cao tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, đối với người; từ việc nhỏ đến việc lớn đều phải tỷ mỉ: viết phải đẹp và rõ ràng, nếu không thì nhầm lẫn cũng chết người, cân đong pha chế phải đúng cân đúng lạng, cẩu thả sơ suất cũng sẽ chết người v.v., con còn phải chú ý hơn là đói cho sạch, rách cho thơm, ăn ở phải sạch sẽ gọn gàng, ăn nói dịu dàng, cần cù chịu khó, thì mọi người kính mến, nếu không chú ý thì người ta khinh ghét con ạ! Con lại phải luôn viết thư cho mẹ, cho em, báo rõ tình hình và khuyên các em chăm học, chơi ngoan, con nhớ rằng con có trách nhiệm bổn phận là người con cả trong nhà, là người chị cả trong nhà đấy! Hơn nữa con phải chú ý giữ gìn sức khỏe, tập tành rèn luyện tạo cho mình một tập quán tốt. 

Bố đi công tác xa, có gian khổ nhưng bố rất phấn khởi, chỉ lo cho các con còn nhỏ, chưa đứa nào tự lập được, giờ có mẹ con ở nhà một mình lại càng buồn, vì vậy mà các con phải hết sức cố gắng chăm chỉ học tập, để cho mẹ con vui con ạ. Bố mạnh khỏe luôn các con cứ yên tâm học hành cho tốt.

Chúc con mạnh khỏe, học tập tiến bộ về mọi mặt. Viết thư cho bố thì gửi về cho mẹ để nhờ Quân khu chuyển giúp mới đến tay bố được.

Ngày 11/11/68

Bố Hải”

Đây là bức thư từ nơi chiến trường ác liệt chỉ một tháng trước ngày ông hy sinh. Chia sẻ với chúng tôi, Ông Hoàng Sùng cho biết: Trong ký ức chúng tôi, hình ảnh bố Hoàng Sâm luôn hiện lên với những dấu ấn sâu đậm về lòng dũng cảm, sự hy sinh, và tình yêu thương dành cho gia đình. Bức thư của bố là một bức tranh sống động và chân thật nhất về tình cảm gia đình giữa chiến tranh khốc liệt, đặc biệt là sự gắn bó, yêu thương và nỗi niềm của một người cha xa con. Tình cảm ấy không chỉ thể hiện qua sự quan tâm chăm sóc, mà còn mang đậm tính trách nhiệm, những bài học về đạo đức và tình yêu nước, truyền tải những ý nghĩa vượt thời gian. 

Mùa Đông cuối năm 1968, ông hy sinh, do điều kiện chiến tranh chờ đợi gần một tháng thì mới đưa được ra đến Hà Nội. Ngày 1-2-1969, tang lễ đồng chí Hoàng Sâm được cử hành trọng thể tại Hà Nội. Tại đây, lễ truy điệu được tổ chức long trọng, gia đình và cơ quan có mặt đầy đủ để tiễn biệt ông về nơi an nghỉ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

Sau khi ông mất, Bà Phan Thị Lệ - Phu nhân của ông viết một bài thơ đầy cảm xúc tưởng nhớ người Chồng yêu dấu:

Vẫn mái nhà xưa anh đi đâu?

Na, cam… ra quả đượm muôn sầu.

Ơn người chăm sóc không còn nữa?

Quả trĩu trên cành nặng nghĩa sâu.

 

Giàn lý, giàn nho, nọ cây đào!

Nhớ anh trước gió lá rì rào.

Phi lao thẳng tắp vi vu mãi…

Mát rượi mong anh tự hôm nao. 

 

Nhìn cá lội bơi lúc xế chiều

Thương anh mơ ước biết bao nhiêu

Trở về ta nấu nồi riêu cá

Chan húp mát lòng bên con yêu.

 

Anh ra đi rồi theo tổ tiên

Nhà xưa vắng vẻ cảnh triền miên

Hương thơm tỏa khói bao quanh ảnh

Hồn nhắn vợ con sống nhẫn kiên.

 

Cỏ đã mọc xanh trên mộ rồi!

Thương anh ngồi khóc lệ tuôn rơi.

Tình riêng nhỏ bé bên non nước,

Khắc phục lâu dài nỗi đầy vơi…

 

Ước mơ tổ quốc được thanh bình

Con cháu tự do sống quang vinh

Nghĩa cả quên mình anh không tiếc

Ngàn thu yên nghỉ dạ đinh ninh…

(Hà Đông, tháng 1/1969)

Những dòng tâm sự tự đáy lòng trong hội thảo, những nỗi nhớ sâu thẳm từ người thân, gia đình của Thiếu tướng Hoàng Sâm, những khẳng định đầy thuyết phục của các tham luận trong hội thảo một lần nữa khẳng định: Với 54 tuổi đời, hơn 40 năm hoạt động cách mạng, Thiếu tướng Hoàng Sâm luôn tỏ rõ là chiến sĩ cộng sản kiên trung của Đảng, nhà chỉ huy quân sự tài năng của Quân đội, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình. Đồng chí đã có đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, được Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Thiếu tướng Hoàng Sâm là tấm gương sáng cho các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập, noi theo. 

 

 

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận

 

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 

Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...

Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.

Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.

Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.

Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 

Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...

Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.

Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 

Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...

Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.

Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Không có chuyện “đu dây”

 

Sau hàng loạt sự kiện đối ngoại thành công gần đây, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, mở rộng. Công tác đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện, quan trọng, trở thành điểm sáng nổi bật; tạo bước phát triển mới về chất trong cục diện đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trước thành công đó của Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức phản động, các thế lực thù địch bày tỏ sự tức tối và càng ra sức chống phá. Chúng lợi dụng internet, thông qua các trang mạng xã hội, một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt để xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Việt Nam; trắng trợn bịa đặt rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”; nền ngoại giao của Việt Nam "cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. 

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch đưa ra lập luận rằng, để “dân chủ” hơn nữa, Việt Nam cần bỏ chính sách quốc phòng “4 không”. Luận điệu xuyên tạc trên vô cùng nguy hại khi nó làm cho số ít người không có thông tin đầy đủ về tình hình Việt Nam thời gian gần đây hoang mang, dao động; thậm chí có thể gây chia rẽ, hiểu sai lệch về quan hệ Việt Nam với các nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh trong trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã đưa ra lập luận rõ ràng để phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

 

Phóng viên (PV): Đề nghị đồng chí làm rõ sự sai trái trong các khái niệm “đu dây”; "ngoại giao cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc... mà các thế lực thù địch xuyên tạc về chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Thứ nhất, không biết họ nói những khái niệm đó là gì, nhưng với những nước nhỏ mà không dựa trên lợi ích quốc gia, không dựa trên những đan xen hai bên cùng có lợi, không dựa trên luật pháp quốc tế thì “đu dây" là cực kỳ nguy hiểm. Đu dây theo tôi hiểu, tức là anh đu bên này một tí, anh đu bên kia một tí và anh rất dễ rơi vào thế kẹt giữa sự cạnh tranh của các nước lớn. Việt Nam không phải kiểu đó. Quan điểm rõ ràng của Việt Nam là: Tôi có lợi ích khi hợp tác với anh, anh có lợi ích khi hợp tác với tôi và nếu các bên song trùng lợi ích thì nhân cái hợp tác đó lên.

Thứ hai, tôi chơi với anh A, tôi cũng chơi với anh B trên nguyên tắc chung, khi có khác biệt thì phải giải quyết bằng đối thoại trên tinh thần các bên tôn trọng lợi ích của nhau. Tôi không đi với bên này để chống bên kia. Ví dụ, tôi quan hệ với Trung Quốc là vì lợi ích của tôi, của Trung Quốc và của chung hai bên. Tôi quan hệ với Mỹ cũng vậy, cũng vì lợi ích của Mỹ, lợi ích của Việt Nam, hai bên phải đan xen lợi ích thì mới thiết lập quan hệ ngoại giao.

“Đu dây" là gió chiều nào theo chiều ấy, thiên bên này một tí, thiên bên kia một tí. Việt Nam không có quan điểm như vậy. Trong nhiều năm làm công tác ngoại giao, tôi đôi khi được các bạn quốc tế nhắc rằng, Việt Nam đôi lúc còn "hơi cứng" trong quan hệ, một số trường hợp còn chưa uyển chuyển. Nguyên nhân là vì chúng ta giữ vững nguyên tắc trong thảo luận một số vấn đề thì có động chạm đến lợi ích quốc gia; nguyên tắc của luật pháp quốc tế hay vấn đề về thể chế chính trị.

Phải mất 10 năm cân nhắc để nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ, trong khi đó, ngay từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, thế thì "đu dây" ở chỗ nào? Trong những lần trả lời phỏng vấn trước đây, cá nhân tôi không thích sử dụng khái niệm cân bằng quan hệ với các nước lớn. Không phải là vấn đề cân bằng, mà là tôi quan hệ với tất cả nước lớn, dựa trên lợi ích quốc gia, hai bên cùng có lợi và tất nhiên phải dựa trên luật pháp quốc tế.

Còn nếu hiểu cân bằng theo cách hiểu cơ học, là nếu tôi đi 50 với nước này, thì tôi phải đi 50 với nước kia là không đúng. Lợi ích quốc gia sẽ quyết định không gian hợp tác giữa hai nước. Ví dụ Việt Nam quan hệ với Pháp, chúng ta thấy tiềm năng địa chính trị của Pháp ở châu Âu; còn với Trung Quốc, ngoài quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn, với thế mạnh về chuỗi cung ứng hàng hóa, nguyên liệu, hạ tầng... Trong khi đó, với Mỹ thì chắc chắn là khoa học-công nghệ. Mỗi nước có thế mạnh riêng, làm sao có thể xuất sang nước này 50% thì cũng xuất sang nước kia 50% theo cách hiểu thô thiển là cân bằng được.

Và như vậy, câu chuyện "đu dây" hay cân bằng nước lớn, nếu cứng nhắc những nguyên tắc cố định theo kiểu cơ học như vậy sẽ không phản ánh đúng sự độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

PV: Như vậy có thể hiểu, ngoại giao với các nước lớn cần có tầm nhìn và chiến lược?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Về đối ngoại hay ngoại giao, có hai thành tố quan trọng: Tầm nhìn chiến lược và thủ thuật. Tầm nhìn chiến lược là gì? Nói đại thể, tại sao từ những năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy phải thiết lập quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ. Đấy là tầm nhìn chiến lược. Còn chỉ để nhằm ứng xử với những cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn thì đó là một phần thủ thuật thôi.

PV: Nếu các nước lớn, các đối tác đặt điều kiện thì mới hợp tác, chúng ta phải làm gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trong quan hệ quốc tế, những câu chuyện đặt điều kiện là chuyện thường xuyên. Bởi vì hai bên có lợi ích song trùng và cả những lợi ích không song trùng.

Ví dụ, việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những điều khoản có thể chưa thực sự phù hợp, nhưng mình phải chấp nhận khi đạt được lợi ích chung lớn hơn. Đấy là khi điểm cộng có tổng bằng dương cho lợi ích quốc gia, không gây hại và không ảnh hưởng tới vấn đề cốt lõi thì phải tiến hành chứ.

Cho nên, trong quan hệ với các nước, luôn tồn tại câu chuyện khác biệt, nhưng vẫn có song trùng, chúng ta phải có cách tiếp cận để giữ được cái cốt lõi của mình nhưng vẫn tranh thủ được thuận lợi từ đối tác.

PV: Trong gần 40 năm đất nước đổi mới, ấn tượng của đồng chí với công tác ngoại giao là điều gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Điều tôi ấn tượng nhất có lẽ là chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế một cách tự tin, chúng ta đã vững mạnh hơn rất nhiều. Ngoại giao vừa đóng góp hiệu quả vào việc phát triển đất nước, đồng thời vừa tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho hòa bình và phát triển. Vị thế Việt Nam đã lên rất nhiều.

Có những lúc, có những thời điểm ngoại giao tạo ra động lực mới, thậm chí là dẫn dắt. Ví dụ, việc “phá vây” ngoại giao thành công đã tạo được không gian để phát triển. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã “phá vây” thành công. Năm 1991 là Hiệp định Paris về Campuchia; chúng ta bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Năm 1994-1995 là giai đoạn vào ASEAN, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Có thể khẳng định, khi được sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các nước lớn, đã tạo ra bước đột phá.

Như vậy, ngoại giao có vai trò định hướng hội nhập và mang tính dẫn dắt. Có thể lấy ví dụ thời điểm dịch Covid-19 mấy năm vừa rồi. Đó là thời gian khó khăn về dịch bệnh, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, cạnh tranh nước lớn quyết liệt, nhiều nước không dám quan hệ với xung quanh. Chính thời điểm khó khăn này lại là những năm đối ngoại Việt Nam đột phá. Tôi nghĩ rằng không phải ngẫu nhiên mà tất cả nước lớn và những nước quan trọng nhất lại cung cấp cho Việt Nam lượng vaccine lớn như vậy để phòng, chống dịch.

Trong bối cảnh đầy cạnh tranh, Việt Nam vẫn sử dụng tốt ưu thế, vị thế của mình, đan xen lợi ích với các đối tác, từ đó thiết lập và nâng cấp quan hệ với những nước mà thậm chí giữa họ đang cạnh tranh với nhau. Ví dụ cụ thể chính là việc giữ được quan hệ tốt đẹp với các nước lớn như Mỹ, Nga và Trung Quốc; tranh thủ được nguồn lực từ các nước này, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại của mình, tạo sự ổn định và môi trường thuận lợi nhất cho phát triển.

Không chỉ với các nước lớn, hiện Việt Nam đang có quan hệ tốt với tất cả những trung tâm quan trọng của thế giới, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mô hình sang phát triển xanh, bền vững, dựa trên đổi mới và sáng tạo. Đối ngoại thể hiện vai trò mở đường, đưa khoa học kỹ thuật mới, công nghệ cao của thế giới về cho đất nước.

PV: Làm tốt công tác đối ngoại chính là góp phần tạo ra sức mạnh mềm. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh mới, đồng chí có thể lý giải sâu hơn về điều này?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Bây giờ Việt Nam đã có sức mạnh mềm và chúng ta phải biết cách nhân lên sức mạnh mềm thì mới tạo ra sức hấp dẫn của chính chúng ta. Không phải chỉ là vấn đề vị thế chung chung, sức mạnh mềm còn có thể tạo ra cơm áo, tiền bạc.

Lấy ví dụ, nếu các khâu liên quan đến thủ tục, thể chế bị trì trệ, chắc chắn các dự án lớn, tập đoàn lớn, nhỏ của các quốc gia sẽ không hài lòng và ta sẽ mất cơ hội. Vì thế, chúng ta phải khắc phục ngay, có môi trường thông thoáng, hạ tầng tốt, con người có trình độ cao, được những người làm công tác ngoại giao quảng bá tốt, nhất định các nhà đầu tư chất lượng cao sẽ tới đầu tư.

PV: Để có thể phản bác kịp thời quan điểm sai trái của các thế lực phản động, là người kinh qua nhiều vị trí công tác trong ngành ngoại giao, đồng chí chia sẻ kinh nghiệm gì với thế hệ cán bộ trẻ?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trước hết, phải xác định rất rõ thông tin mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đánh giá đúng các nguy cơ, thường xuyên cảnh giác, làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc, từ đó có biện pháp ngăn chặn. 

Lấy ví dụ, trước đây lo ngại quá trình hội nhập có thể bị hòa tan, nhưng thực tế gần 40 năm đổi mới chứng minh chúng ta tham gia và hội nhập với thế giới mà chúng ta vẫn đứng vững. Chúng ta được lợi rất nhiều, thậm chí là vững hơn, nhận thức tốt hơn.

Thế giới đang chuyển động rất sâu sắc, có cả thuận lợi và tạo động lực nếu chúng ta bắt kịp thì sẽ vươn lên, mà không bắt kịp thì tụt hậu càng xa. Ngoại giao cũng phải thích ứng để đủ sức nhân lên vị thế của Việt Nam. Ngoại giao bây giờ phải biết đặt câu hỏi điều gì tốt cho sự phát triển của đất nước. Nhà ngoại giao cũng phải hiểu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh... cái gì thì tốt cho Việt Nam, liệu có bị lệ thuộc không.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Nhanh chóng làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo

 

Tối 1-12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Chuỗi sự kiện và điện gió ngoài khơi của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) và Tổng Công ty Cổ phần dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) tổ chức tại Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật PTSC ở TP Vũng Tàu.

Cùng dự sự kiện có: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trần Hồng Minh; Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh; Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Phạm Viết Thanh; lãnh đạo các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và các đối tác trong và ngoài nước của Petrovietnam và PTSC.

Trước những yêu cầu cấp bách về chống biến đổi khí hậu, điện gió ngoài khơi nổi lên như một trong những lĩnh vực có tiềm năng phát triển lớn nhất. Nắm bắt xu hướng này, với sứ mệnh tiên phong trong lĩnh vực năng lượng, ngay từ năm 2019, Petrovietnam và một số đơn vị thành viên, nổi bật là PTSC, đã tập trung đánh giá, nghiên cứu để điều chỉnh, bắt kịp các xu hướng, tận dụng tối đa thế mạnh. Trong đó, định hướng xu hướng dịch chuyển sang năng lượng xanh, sạch thông qua nâng cao tỷ trọng khí, sản xuất H2 và đặc biệt là phát triển điện gió ngoài khơi.

Để chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho cuộc đua năng lượng tái tạo ngoài khơi, Petrovietnam đã và đang chủ động xây dựng chuỗi cung ứng nội địa bao gồm các đơn vị thành viên có nhiều tiềm năng, nhất là các đơn vị chủ lực của Petrovietnam về thiết kế, chế tạo, xây lắp và vận hành các công trình dầu khí biển như PTSC, Vietsovpetro, PETROCONS... với năng lực, kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng sẵn có, đã được Tập đoàn giao nhiệm vụ nghiên cứu, thành lập tổ hợp phát triển chuỗi giá trị năng lượng tái tạo, tăng cường khả năng hợp tác, phát huy năng lực của nhau, phối hợp tìm kiếm cơ hội tham gia vào các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi trong và ngoài nước.

Đặc biệt, những nỗ lực của Petrovietnam trong việc phát triển lĩnh vực điện gió ngoài khơi đã được minh chứng trong những năm gần đây, khi PTSC - đơn vị thành viên của Tập đoàn, đã chủ động tham gia cung cấp dịch vụ điện gió, điện gió ngoài khơi cho nhiều nhà thầu trong và ngoài nước và đã đạt được những thành công hiện hữu.

PTSC đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực năng lượng tái tạo, điển hình là việc đấu thầu quốc tế, trúng thầu hợp đồng chế tạo và cung cấp 33 chân đế điện gió ngoài khơi dự án CHW2204 cho khách hàng Orsted (Đan Mạch); tiếp đó, PTSC trúng thầu cung cấp chân đế trụ điện gió cho dự án điện gió ngoài khơi của khách hàng quốc tế tại thị trường châu Á - Thái Bình Dương. PTSC cũng bắt đầu bước vào giai đoạn khởi công chế tạo 4 trạm biến áp ngoài khơi (OSS) cho dự án điện gió ngoài khơi Baltica 02 tại biển Baltic - một trong những dự án điện gió lớn nhất trên thế giới.

Việc Petrovietnam - PTSC trở thành đối tác, nhà cung cấp dịch vụ cho các đối tác quốc tế đã khẳng định năng lực của Tập đoàn trong chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo ngoài khơi không chỉ cho Việt Nam mà trên toàn thế giới; đồng thời cũng là cơ sở để Petrovietnam hướng tới các mục tiêu phát triển trong giai đoạn sắp tới theo tinh thần Kết luận 76 của bộ Chính trị. Đó là xây dựng Petrovietnam trở thành Tập đoàn Công nghiệp - năng lượng quốc gia hàng đầu đất nước, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế; giữ vai trò nòng cốt, chủ lực, đầu tàu, có tiềm lực mạnh về tài chính và trình độ khoa học tiên tiến; có sức cạnh tranh cao, thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ngành dầu khí…

Tại sự kiện, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện các nghi thức các dự án do PTSC thực hiện gồm: Hạ thủy và bàn giao chân đế điện gió ngoài khơi dự án CHW2204; Lễ khởi công các trạm biến áp - dự án Baltica 02; Lễ khởi công giàn CPP - dự án Lô B. Cũng tại đây, dưới sự chứng kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Công ty PTSC và các đối tác trao Hợp đồng FSO Lạc Đà Vàng và Hợp đồng chế tạo và cung cấp chân đế điện gió ngoài khơi.

Thị sát các khu vực chế tạo chân đế điện gió ngoài khơi nằm trong Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật PTSC, phát biểu tại sự kiện, bày tỏ vui mừng tham dự chuỗi 5 sự kiện quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng và ghi nhận những bước tiến vượt bậc của Prtrovietnam và PTSC trong việc triển khai các dự án dầu khí chiến lược và các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là các dự án điện gió ngoài khơi.

Nhắc lại cách đây gần 2 năm, Thủ tướng Chính phủ đã làm việc với lãnh đạo và giao nhiệm vụ cho Tập đoàn Petrovietnam và Tập đoàn Viettel vượt qua khó khăn, phát triển xứng tầm nhiệm vụ thời kỳ mới. Trong đó, Petrovietnam phải xử lý những tồn tại, yếu kém, tổ chức tái cơ cấu các dự án kéo dài như Nhiệt điện Thái Bình, chuỗi dự án điện khí Lô B… Đến nay các dự án này đã được xử lý, khởi động trở lại và hoạt động hiệu quả, góp phần cùng Petrovietnam đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách của cả nước.

Cho rằng, với tổng giá trị hợp đồng trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi mà PTSC đã và đang triển khai khoảng 2 tỷ USD, đảm bảo việc làm đến 2029, Petrovietnam đã hình thành Tập đoàn năng lượng, không chỉ phát triển dầu khí, phát triển năng lượng, bao gồm điện gió, điện ngoài khơi, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm “đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã thực hiện phải có sản phẩm cụ thể” và “thời gian, trí tuệ, sự quyết đoán có ý nghĩa quyết định mang lại thành công”.

Thủ tướng Chính phủ cho biết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tuy nhiên với tốc độ phát triển như những năm vừa qua, mục tiêu này khó đạt được. Do đó, nhiệm vụ của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, toàn dân, doanh nghiệp là phải tăng tốc, bứt phá, với mức tăng trưởng GDP 2 con số.

Yêu cầu Petrovietnam phải tăng tốc, bứt phá hơn nữa, phấn đấu đạt mức tăng trưởng 15-20%/năm để cùng cả nước đạt các mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, Thủ tướng tin tưởng với truyền thống, cơ đồ, tiềm lực đã tạo dựng và với tinh thần “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành có thể”, Petrovietnam nói chung và PTSC nói riêng tích cực thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, phát huy tiềm năng về năng lượng tái tạo, góp phần vào xu thế phát triển của thế giới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị đến năm 2026, Petrovietnam nhận chuyển giao công nghệ sản xuất turbine điện gió, cánh quạt gió… từ đó làm chủ toàn bộ công nghệ phát triển điện gió ngoài khơi, hình thành ngành công nghiệp năng lượng tái tạo. Cùng với đó, Tập đoàn phải phát triển hạ tầng, tái cấu trúc quản trị theo mô hình mới, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ giai đoạn phát triển mới.

Cho biết, trách nhiệm của Chính phủ là kiến tạo, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các Bộ, ngành cùng Chính phủ xây dựng cơ chế, chính sách cho Tập đoàn phát triển trên cơ sở Petrovietnam đề xuất; các bộ, ngành cùng tập đoàn đề xuất các cơ chế, chính sách, nhất là sửa Luật 69, cố gắng ban hành quý I-2025 theo tinh thần “cởi trói cho doanh nghiệp”, sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và một số luật khác; các bộ, ngành như Bộ Công Thương tiếp tục cụ thể hoá một số Nghị định bằng hình thức rút gọn.

Với định hướng xây dựng Trung tâm công nghiệp năng lượng tại Bà Riạ - Vũng Tàu, Thủ tướng giao Petrovietnam cùng với Bộ Công Thương rà soát, xây dựng Nghị định tháo gỡ vướng mắc; Bà Rịa - Vũng Tàu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển; phối hợp với các Bộ, ngành điều chỉnh, xây dựng quy hoạch; phát triển hạ tầng theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

Cảm ơn và mong muốn các đối tác nước ngoài hợp tác hiệu quả với Petrovietnam với tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Thủ tướng chỉ đạo Petrovietnam tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác dầu khí với các đối tác nước ngoài, mục đích cuối cùng là mang lại lợi ích chung cho Tập đoàn, cho đất nước, góp phần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, phát triển xứng tầm là tập đoàn năng lượng quốc gia.

Lưu ý Petrovietnam, PTSC phải phối hợp các cơ quan liên quan tốt hơn nữa; bứt phá hơn nữa, đột phá hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, vượt qua chính mình để phát triển, Thủ tướng tin tưởng Tập đoàn tiếp tục đoàn kết, phát triển ở vị trí cao hơn, rộng hơn, mang lại hiệu quả nhiều hơn, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

 

 

 

 

Tư duy lý luận của Đảng về xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay

 TCCS - Trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là vấn đề chưa có tiền lệ. Giai đoạn 1954 - 1986, mô hình CNXH của Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu mô hình CNXH của Liên Xô. Đến Đại hội VII (năm 1991), Đảng bước đầu xác định những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam. Đây là lần đầu tiên nhận thức của Đảng về các đặc trưng của mô hình CNXH được thể hiện một cách hệ thống. Tại Đại hội XI (năm 2011), đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng rõ. Sự định hình và dần hoàn thiện các đặc trưng mô hình CNXH của Việt Nam là một minh chứng sinh động về sự phát triển tư duy lý luận của Đảng. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) lần đầu đề ra những đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Trước đổi mới, nhận thức của Đảng về mô hình CNXH ở Việt Nam còn rập khuôn, máy móc, giáo điều theo mô hình của Liên Xô, chưa xuất phát đầy đủ từ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của thực tiễn đất nước ta. Những khuyết tật, hạn chế của mô hình CNXH này là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước rơi vào tình trạng khó khăn, lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn 1975 - 1986. Chính vì thế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, từng bước đổi mới tư duy lý luận về mô hình CNXH, đánh dấu bước chuyển to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mô hình CNXH ở Việt Nam.

Sau 5 năm đưa đường lối đổi mới vào thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã tổng kết: “Qua thực tiễn, chúng ta có thêm những nhận thức mới và kinh nghiệm quan trọng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm nước ta”(1). Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc thông qua Cương lĩnh năm 1991 trong bối cảnh Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã càng thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ của Đảng trước những thách thức hiểm nghèo. Đảng khẳng định: “Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô đã tác động sâu sắc đến nước ta. Đông đảo cán bộ và nhân dân lo lắng, một số người dao động, hoài nghi về tiền đồ của CNXH. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các thị trường truyền thống bị đảo lộn. Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận. Một số thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ. Nước ta một lần nữa lại đứng trước những thử thách hiểm nghèo. Đảng và nhân dân ta kiên trì đường lối đổi mới, ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, vượt qua khó khăn, trở ngại, giành nhiều thắng lợi to lớn”(2). Từ tư duy rập khuôn, máy móc, giáo điều, đến Đại hội VII, tư duy của Đảng có những bước chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ. Việc thừa nhận nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới có thể được xem là một đột phá quan trọng về tư duy của Đảng khi xây dựng mô hình CNXH.

Nhiều nội dung lý luận, thực tiễn được Cương lĩnh đặt ra, trong đó có nội dung quan trọng là xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Lần đầu tiên, cụm từ “Những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa”(3) được đưa vào Văn kiện của Đảng. Đây là một bước phát triển lý luận mang tính đột phá của Đảng, trình bày căn bản quan điểm của Đảng ta về chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân phấn đấu xây dựng.

Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ bản(4), là những đặc trưng bản chất hay mục tiêu cơ bản của CNXH ở Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng và hướng tới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tất cả những đặc trưng trên đều gắn bó mật thiết với nhau, vừa làm tiền đề, vừa làm cơ sở của nhau. Việc thực hiện thắng lợi nội dung này sẽ tác động tích cực tới việc thực hiện có kết quả các nội dung khác. Quá trình xây dựng đồng thời các nội dung đó sẽ đưa đất nước ta từng bước tiến tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Cùng với việc Cương lĩnh năm 1991 xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhận thức của Đảng về CNXH đã tiệm cận tới những nét bản chất của CNXH trong điều kiện Việt Nam. Mô hình CNXH ở Việt Nam lần đầu tiên được nhận diện và khắc phục bước đầu tư duy máy móc, giáo điều, rập khuôn theo mô hình Liên Xô trước đây. Mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ, song các đặc trưng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quan hệ đối nội và đối ngoại đã tạo cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa thành chế độ xã hội có cơ sở hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đây là lần đầu tiên, trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng đã khái quát được một hệ thống tư tưởng, quan điểm chỉ đạo vừa nhằm mục đích thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, đáng chú ý là giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục có nhận thức mới về mô hình CNXH của Việt Nam, với việc lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên CNXH. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) với việc định hình ngày càng sáng rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tư duy, nhận thức mới về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Đảng tiếp tục được phát triển, thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI (năm 2011). Với Cương lĩnh năm 2011, Đảng có bước phát triển nhận thức về các đặc trưng để phù hợp với thuộc tính, bản chất CNXH Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(5).

So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh năm 2011 tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các nội dung phản ánh trong 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời  điều chỉnh, bổ sung, phát triển để có được 8 đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Nhận thức mới của Đảng được thể hiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Cương lĩnh 2011 bổ sung thêm 2 đặc trưng: (i) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; (ii) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đặc trưng bao trùm, tổng quát thể hiện mục tiêu chung của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc trưng này là kết quả của sự kết hợp quan điểm Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa cần đạt tới. Cụm từ “dân chủ” được Cương lĩnh đặt lên trước các cụm từ “công bằng”, “văn minh” nhằm làm rõ hơn: Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất ưu việt, tiến bộ hơn so với dân chủ tư sản, song phải được xây dựng, phát triển thường xuyên và lâu dài, phải coi dân chủ là tiền đề, điều kiện của công bằng, văn minh, khắc phục tư tưởng chỉ coi dân chủ XHCN là động lực, là cái có sẵn sau khi thiết lập chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, ở đặc trưng “do nhân dân làm chủ”, đổi mới trong tư duy của Đảng là nền dân chủ xã hội vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa mang tính nhân dân rộng rãi. Đặc trưng này vừa thể hiện bản chất chính trị ưu việt của CNXH theo quan điểm Mác - Lê-nin, đồng thời tiếp thu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ: người dân là chủ, dân làm chủ.

Thứ ba, đặc trưng về kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nếu như Cương lĩnh năm 1991 xác định: có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, thì Cương lĩnh 2011 chỉ rõ: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Điểm mới này vừa thể hiện những thành quả của cả 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, vừa làm rõ hơn thái độ nhất quán của Đảng trong thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khắc phục nhận thức coi nhẹ đối với các thành phần kinh tế thuộc chế độ sở hữu tư nhân.

Thứ tư, đặc trưng về xã hội, con người. Điểm mới của Cương lĩnh năm 2011 thể hiện điểm trọng tâm về con người và quan hệ xã hội giữa người với người, giữa con người với xã hội, “có điều kiện phát triển toàn diện” thay cho “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Phát triển toàn diện các lĩnh vực đức, trí, thể, mĩ của cá nhân con người, ngăn ngừa khắc phục tư duy máy móc: phát triển cá nhân là tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ với tập thể, cộng đồng, xã hội.

Thứ năm, đặc trưng về dân tộc, quan hệ giữa các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm cả tộc người, cư dân trong nước và cư dân Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời bổ sung thêm nội dung “tôn trọng” để hoàn thiện nội dung bao trùm nhất của chính sách dân tộc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

Thứ sáu, về quan hệ đối ngoại. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn quan hệ hữu nghị, hợp tác không chỉ với nhân dân các nước nói chung, mà là quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới, bao gồm cả các nước, các thể chế chính trị khác nhau trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Những đặc trưng trên là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nghiên cứu tổng kết thực tiễn thường xuyên từ năm 1991, sau 20 năm thực thi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI đã quyết định giữ nguyên tên của Cương lĩnh năm 1991 (chỉ ghi thêm bổ sung, phát triển năm 2011). Điều này thể hiện tính nhất quán của Đảng khi xác định vai trò to lớn của Cương lĩnh là nền tảng chính trị tư tưởng cho toàn bộ hoạt động của Đảng, Nhà nước, của toàn xã hội trong quá trình xây dựng CNXH trong suốt thời kỳ quá độ. Theo đó, các đặc trưng thể hiện mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thường xuyên được bổ sung, đổi mới để có những nhận thức mới, nhận thức đúng về các thuộc tính bản chất của CNXH Việt Nam.

Những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 tiếp tục được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(6).

Để hiện thực hóa được mô hình này là cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phù hợp với thực tiễn đất nước. Việc hiện thực hóa các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa góp phần củng cố niềm tin, tạo ra động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, thuận lợi, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Trải qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 đến Cương lĩnh năm 2011 và đến nay, có thể thấy, tư duy lý luận của Đảng về mô hình CNXH ngày càng sáng rõ hơn. Đảng xác định được mô hình CNXH phù hợp với đặc điểm, thực tiễn của Việt Nam. Những đặc trưng phản ánh các thuộc tính của CNXH ở Việt Nam ngày càng được nhận thức đúng, rõ ràng, thiết thực hơn trên các phương diện liên quan…, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tăng cường tổng kết thực tiễn trong quá trình lãnh đạo xây dựng mô hình CNXH ở Việt Nam, Ðảng ta sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, góp phần xây dựng được mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện với những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mang sắc thái riêng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Sự vận động và biến đổi của thế giới hiện nay, của thực tiễn xây dựng CNXH sẽ tiếp tục cung cấp thêm những cứ liệu mới để bổ sung cho nhận thức lý luận của Đảng ta về mô hình CNXH và con đường để thực hiện mô hình đó ở Việt Nam./.