Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Cơ sở lý luận sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Chủ nghĩa tư bản ra đời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Nhờ sự ra đời, phát triển của đại công nghiệp cơ khí, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanh chóng: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[1].

 Khi lực lượng sản xuất càng phát triển và mang tính xã hội hoá cao thì quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất ngày càng trở lên lạc hậu, cản trở, kìm hãm sự phát triển của nó bấy nhiêu. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, trong xã hội đầy đối kháng giai cấp đó, con người ngày càng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên bao nhiêu thì tình trạng người áp bức, bóc lột người càng được mở rộng bấy nhiêu. Sự phát triển của kinh tế - kỹ thuật đi liền với sự suy đồi về đạo đức; sự giàu có, thừa thãi của một số ít người đẩy số đông người vào cảnh cùng khổ. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn kinh tế cơ bản đó của chủ nghĩa tư bản được thể hiện trên lĩnh vực xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn chính trị - xã hội tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ gay gắt của mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Chính sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phù hợp với tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp cơ khí, giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt hơn. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng, chuyển từ tự phát sang tự giác nhằm thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra tiền đề kinh tế và xã hội để thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”[2].

Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa về chính trị là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Khi những nhân tố khách quan trong sự vận động lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chín muồi và sự nỗ lực chủ quan của giai cấp công nhân và chính Đảng của nó, đồng thời phải có sự hoạt động cách mạng tự giác của quảng đại quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để đủ sức tiến hành một cuộc cách mạng xã hội, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, từng bước cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ được hình thành thông qua cách mạng vô sản để thực hiện sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn. Vì vậy, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là một tất yếu lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, sự ra đời của nó ở mỗi dân tộc không những bị chi phối bởi các quy luật, điều kiện chung ấy mà còn chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử - cụ thể về tự nhiên, kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, dân tộc, điều kiện quốc tế… Điều đó làm cho sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mang tính phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình. Đó là nét đặc thù về thời gian và không gian cụ thể, về mô hình và bước đi để đến được chủ nghĩa cộng sản.

 



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 603.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trí tuệ từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Khái niệm giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1].

Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Bởi vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].

Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, họ vẫn là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng sản xuất công nghiệp, vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng dư bằng những hình thức tinh vi hơn.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới (mặc dù, ít nhiều họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.



[1] C.MácPh.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 56.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt thực tiễn

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện cách mạng, những thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, phụ nữ và nhân dân.

Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

Chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa học cho Nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách mạng.

Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng...

Nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học luận chứng một cách khoa học tính tất yếu về mặt lịch sử sự thay thế của chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội gắn liền với sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, địa vị, vai trò của quần chúng do giai cấp công nhân lãnh đạo trong cuộc đấu tranh cách mạng thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải một cách khoa học về phương hướng và những nguyên tắc của chiến lược, sách lược; về con đường và các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân, về những tiền đề, điều kiện của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về những quy luật, bước đi, hình thức, phương pháp của việc tổ chức xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa; về mối quan hệ gắn bó với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và phong trào xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng thế giới.

Chủ nghĩa xã hội khoa học tiến hành phê phán, đấu tranh bác bỏ những trào lưu tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Chủ nghĩa xã hội khoa học hướng vào nghiên cứu những biến đổi về đời sống hiện thực của thời đại, những tác động của nó đến các vấn đề chính trị - xã hội và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, kịp thời đưa ra những kết luận khoa học, làm cơ sở đề ra chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế; tiếp tục luận chứng việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tìm tòi những điều kiện, con đường, biện pháp, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân tiếp tục phát triển và giành được thắng lợi mới trong thế kỷ XXI; giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng, lập trường giai cấp công nhân, xây dựng lý tưởng, niềm tin cộng sản cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, tập hợp, lôi kéo họ vào cuộc đấu tranh cách mạng; đồng thời, trở thành vũ khí sắc bén, đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các quan điểm sai trái, thù địch, phản động.

Các nhiệm vụ chủ yếu trên đây của Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cần được nhận thức đầy đủ, thường xuyên coi trọng và vận dụng thích hợp, sáng tạo, không được xem nhẹ trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hiện nay, cần quán triệt sâu sắc chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về nhiệm vụ của Chủ nghĩa xã hội khoa học: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứu chính ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nay đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều kiện và bản chất sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản”2.



2 C.Mác Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

Chức năng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chức năng thế giới quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ một thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản. Đồng thời, trên cơ sở tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải sâu sắc, toàn diện về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhận, thông qua chính đảng mác xít- lênin nít lãnh đạo.

Chức năng giáo dục. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở khoa học; củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng cộng sản được tiếp nhận chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của con người không phải bằng sức mạnh quyền uy hay bằng sự mê hoặc mang tính chất tôn giáo, mà bằng chính sức mạnh của trí tuệ và tình cảm của mỗi con người, trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật của cuộc sống và sự truyền bá, giáo dục những nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản vào quần chúng nhân dân lao động.

Chức năng dự báo khoa học, định hướng chính trị, hướng dẫn thực tiễn. Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường, biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật tiến hoá của lịch sử. Từ đó định hướng chính trị tư tưởng và hướng dẫn hoạt động thực tiễn để đạt được những mục tiêu chính trị đã đề ra, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người, thúc đẩy lịch sử phát triển. Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, đem khoa học thay cho mộng tưởng, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài lịch sử, vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh để thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

ĐỔI MỚI VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN

 


 Cần thiết phải đổi mới chính sách đầu tư, phân bổ nguồn lực tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện làm việc cho công tác nghiên cứu lý luận. Về quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu lý luận cần chuyển sang chế độ đặt hàng, quyết toán đầu tư theo kết quả nghiên cứu, kiên quyết cắt bỏ những khâu thủ tục hành chính, giấy tờ phức tạp và không có ý nghĩa thực tế. Các kết quả nghiên cứu phải có địa chỉ sử dụng hoặc gắn liền với yêu cầu hoạch định chính sách. Cần có sự chỉ đạo, đánh giá chung, thống nhất trong cả hệ thống để tránh sự chồng chéo, trùng lặp đề tài, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.

 Bên cạnh đó, để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu lý luận cần có chính sách, chế độ đầu tư, đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật như thông tin, tư liệu, thư viện, không gian làm việc cho các cơ quan lý luận, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành.

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CƠ QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CHUYÊN GIA LÝ LUẬN

 


 Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành là đòi hỏi tất yếu. Trên thực tế, mô hình tổ chức các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng đã được hình thành trong quá trình đổi mới, đến nay chưa có thay đổi, cơ chế vận hành của hệ thống có nhưng chuyển biến nhất định nhưng nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhất là cơ chế vận hành, sự phân định trách nhiệm, các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quan hệ giữa các cơ quan nghiên cứu trong cả nước. Hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận còn tách rời với hoạt động tham mưu về chính sách. Vì thế, việc đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của các cơ quan nghiên cứu, phát triển lý luận là cấp bách.

 Việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận, từ công tác đào tạo ban đầu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, đến chế độ sử dụng, đãi ngộ với cán bộ nghiên cứu lý luận nhất là cán bộ khoa học đầu ngành cần được đổi mới đồng bộ. Cần có chính sách thu hút nhân tài vào các ngành đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng và nhiều biện pháp ưu đãi khác. Đối với các chuyên gia đầu ngành, cần có chính sách sử dụng thống nhất, chế độ đãi ngộ thích hợp, khuyến khịch đối với các thành tựu nghiên cứu. Cần có chính sách sử dụng, khai thác hợp lý đối với những cán bộ, chuyên gia lý luận đã quá tuổi lao động nhưng còn có sức khỏe và năng lực làm việc tốt.

Phòng ngừa vấn nạn “nghiện chơi game và các trang mạng xã hội” cho quân nhân

Nghiện game và các trang mạng xã hội là một vấn đề ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội hiện đại. Bởi sự hấp dẫn của nó khi cho người tham gia thỏa mãn được thú vui khi được nhập vai, tính mạo hiểm, ganh đua, chiến thắng, phần thưởng...  

Tuy nhiên, khi “nghiện” có thể dẫn đến suy kiệt sức khỏe, lâu ngày sẽ quen lối sống khép kín, trở nên rụt rè, thiếu tự tin và các kĩ năng ứng xử tối thiểu.

Hiện nay, nghiện game, nghiện mạng xã hội không chỉ là hiện tượng ở một số quốc gia phát triển mà đã lan rộng đến nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới và đã trở thành căn bệnh thời đại, trong đó, giới trẻ chiếm số lượng rất lớn. Nguy hiểm hơn, đã có các vụ án liên quan đến những đối tượng “nghiện game và các trang mạng xã hội” với độ tuổi tương đối trẻ trong thời gian qua đang tạo lên những lo lắng trong dư luận xã hội.

Từ diễn biến các vụ án cho thấy, những “ý tưởng” trong game và các trang mạng xã hội đã vô tình trở thành “gợi ý” cho các đối tượng thực hiện các vụ bắt cóc, giết người dã man, gây ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội. Hơn nữa, Không ít người trẻ tuổi xuất phát từ việc “nghiện game và các trang mạng xã hội” đã rơi vào trạng thái không phân định được thế giới ảo và thật, mất kiểm soát hành vi, cảm xúc ở cuộc sống thật, nên dễ dẫn đến các hành vi sai trái, bạo lực. Ngoài ra, một số người sẽ tìm cách bất hợp pháp, vi phạm pháp luật như: trộm cắp, cướp giật tài sản, tước đoạt tính mạng của người khác… chỉ để có tiền chơi game.

Thiết nghĩ, đã đến lúc coi “nghiện game và các trang mạng xã hội” là một vấn đề đáng báo động. Là một tổ chức trong các cơ quan, đơn vị trong quân đội cần phải có những biện pháp sớm nắm bắt, phát hiện ngăn ngừa vấn nạn nghiện chơi game và các trang mạng xã hội cho quân nhân tránh vi phạm pháp luật

Trước hết, cần phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kỷ luật, đạo đức lối sống trong đơn vị, nhất là kỹ năng sống, tác hại nghiện chơi game, mạng xã hội. Sâu sát, nắm chắc tình hình tư tưởng của quân nhân trong đơn vị. Duy trì chặt chẽ nền nếp, chế độ; tổ chức hiệu quả hoạt động văn hóa tinh thần trong ngày nghỉ, giờ nghỉ như: tham quan, vận động, thể thao... Từ đó, tạo cho quân nhân những sân chơi bổ ích; hạn chế việc tìm đến các trò chơi, trang mạng xã hội gây hại. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Hội trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, có những diễn đàn, hoạt động lành mạnh, giúp quân nhân tránh xa vấn nạn nghiện chơi game và các trang mạng xã hội.

Thông thường, để nhận biết các quân nhân “nghiện game và các trang mạng xã hội” thường có các dấu hiệu như chơi game và mạng xã hội lớn hơn 1 năm và ảnh hưởng đến các chức năng xã hội nghề nghiệp. Thường coi trọng việc chơi game và lên mạng lớn hơn tất cả các công việc khác. Hay thức khuya, nói dối, bỏ bê công việc để chơi game và lên mạng xã hội. Khi được giao nhiệm vụ hay quên, chất lượng hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ thấp, chậm tiến độ, không quan tâm, thờ ơ với những hoạt động đơn vị... Hoặc là quân nhân thường xuyên có suy nghĩ mơ hồ, sống ảo, có biểu hiện giảm cân hoặc suy nhược cơ thể, có xu hướng hành xử, phát ngôn theo các mối quan hệ trong trò chơi online và trên mạng xã hội và có dư luận trong tập thể quân nhân.

Do đó, một biện pháp quan trọng là các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp nắm, quản lý của cán bộ các cấp, tính chủ động của mỗi tổ chức đối với quản lý quân nhân ở mọi lúc, mọi nới, nhất là những thời điểm nhạy cảm nhằm sớm nắm bắt, phát hiện những dấu hiệu “nghiện game và các trang mạng xã hội” của quân nhân để có biện pháp can thiệp kịp thời. Chú trọng, xây dựng bầu không khí dân chủ, đoàn kết, kỷ luật trong đơn vị; tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân trong học tập, rèn luyện và công tác.

Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị quân đội cần phải luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, tổ chức tốt các hoạt động giờ nghỉ, ngày nghỉ, thực hiện tốt các chính sách quân đội, hậu phương quân đội. Thường xuyên phối hợp chính quyền các địa phương và các ngành chức năng nắm tình hình trên địa bàn đứng chân, làm tốt công tác tuyên truyền. Đồng thời, cần tăng cường sự kết nối với gia đình, các đoàn thể chính trị xã hội để ngăn chặn tệ nạn “nghiện game và các trang mạng xã hội”, góp phần ngăn chặn hành vi phạm tội và các vụ việc thương tâm do các đối tượng “nghiện game và các trang mạng xã hội” gây ra./.

Sưu tầm

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TIỄN

 


 Về nội dung: Tiếp tục đào sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định được những giá trị đúng đắn, những vấn đề phương pháp luận cốt lõi, những vấn đề lịch sử đã vượt qua. Mở rộng việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, những bài học thành công, thất bại của phong trào công nhân, cộng sản, của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những thành tựu lý luận khác của nhân loại, theo phương châm tận dụng tốt nhất những giá trị tích cực của nhân loại phụ vụ cho lợi ích dân tộc, cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ hơn và truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những giá trị sáng tạo to lớn của Người về vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với tổng kết thực tế, đặc biệt là các mô hình hay, những kinh nghiệm tốt trong việc giải quyết các mối quan hệ lớn, cập nhật và làm rõ những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, phát hiện và phản biện kịp thời những chính sách không còn phù hợp. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tế, tiếp tục làm sáng tỏ hơn mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận giải và làm rõ những vấn đề thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước đang đặt ra, xây dựng cơ sở khoa học và thực tế phục vụ tốt cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

 Để thực hiện, cần thực sự đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vận dụng những phương pháp, cách tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở phải đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm. Những phương pháp, phong cách đó là cần thiết đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nói chung, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho việc đổi mới nội dung, phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận nói riêng.

Đấu tranh phản bác luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” của các thế lực thù địch

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng các thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để thực hiện mục tiêu xuyên suốt không bao giờ thay đổi là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng thường xuyên tung lên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các trang mạng xã hội những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ lịch sử, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Trong đó, luận điệu: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” là một trong những điển hình của những thủ đoạn thâm độc đó.

Thực chất luận điệu trên của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta, hướng lái con đường cách mạng sang chủ nghĩa tư bản. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm, tác động không nhỏ đến việc định hướng, củng cố niềm tin của Nhân dân với con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã chọn từ năm 1930. Do đó, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại luận điệu xuyên tạc đó của các thế lực thù địch, góp phần củng cố, kiên định niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vấn đề luôn có tính cấp thiết hiện nay.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở ở Liên Xô vào năm 1991 là một thực tế lịch sử không phủ nhận, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, trong đó nguyên nhân “cốt tử” đó là do trong thời điểm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô và một số cá nhân trong ban lãnh đạo của đảng đã xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoặc cứng nhắc, máy móc, giáo điều trong vận dụng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị (cải tổ chính trị trước cải tổ kinh tế...); sai lầm về công tác tư tưởng và công tác tổ chức, thậm chí có sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ lãnh đạo cao cấp (nhất là người đứng đầu, như Goócbachốp...). Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, tìm mọi cách tác động vào công cuộc cải tổ của Liên Xô, lợi dụng những sai lầm từ bên trong đảng, nhà nước, đội ngũ cán bộ để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô... Sự đổ vỡ ấy là tổn thất vô cùng to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của chủ nghĩa xã hội hiện thực, và vô hình chung đã tạo thành “vết xe đổ” trên con đường hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Nhưng xét một cách khách quan về thực tiễn, chính “vết xe đổ” ấy là bài học kinh nghiệm vô cùng “đắt giá” cho những người mác xít chân chính, các đảng cộng sản nhìn nhận, đánh giá, đúc rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, cải cách ở đất nước mình, dân tộc mình. Trên thực tế, vấn đề có tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Nếu các đảng cộng sản không kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, không giữ vững nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng vô sản; không vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách; việc định ra đường lối, chiến lược, sách lược không đúng đắn, phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa của dân tộc... thì sớm hay muộn sẽ “đi vào vết xe đổ” ấy của Liên Xô. Ngược lại, nếu các Đảng Cộng sản thật sự nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, luôn trung thành và kiên định, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, luôn sáng tạo, linh hoạt trong quá trình đổi mới, cải cách, định ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện của từng nước, luôn cảnh giác, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch... thì nhất định công cuộc đổi mới, cải cách sẽ thành công, và cố nhiên sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô”. Điều đó được minh chứng bằng sự đổi mới, cải cách thành công của các nước xã hội chủ nghĩa: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào...

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ không thể và không bao giờ đi vào “vết xe đổ của Liên Xô” như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang rêu rao, xuyên tạc, phủ nhận. Bởi vì, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là sự lựa chọn của lịch sử, của lương tri và phẩm giá của con người Việt Nam, là sự lựa chọn duy nhất đúng và được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, hợp với quy luật phát triển của lịch sử loài người và điều kiện lịch sử của Việt Nam đầu thế thế kỷ XX. Chính lựa chọn con đường đúng đắn đó đã trở thành mục tiêu, động lực cho cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên độc lập, tự do, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ hai đầu biên giới phía Tây Nam và phía Bắc... đã chứng minh sự lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng, đưa Việt Nam bước phát triển trong Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, do Đảng ta đã tuyệt đối trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định với đường lối đổi mới, nhất là kiên định với những nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản, cùng với việc khơi dậy và phát huy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kết hợp chặt chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... cách mạng Việt Nam đã đổi mới thành công, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là những điều kiện, tiền đề quan trọng để nước ta vượt qua Kỷ nguyên đổi mới, phát triển, bước vào Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Thành tựu to lớn ấy càng minh chứng: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hoàn toàn đúng đắn, phù hợp không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô”, mà là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, đáp ứng ước nguyện của toàn thể dân tộc và là con đường duy nhất đúng trong thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Như vậy, luận điệu “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là đi vào vết xe đổ của Liên Xô” là hoàn toàn sai trái, thù địch, nhằm xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, hơn lúc nào hết chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, nêu cao tinh thần đấu tranh cách mạng, luôn tin tưởng, kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã chọn, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

Sưu tầm

ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, NHẤT LÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC VỀ CÔNG TÁC LÝ LUẬN

 


 Việc đổi mới nhận thức về công tác lý luận đặt ra trước hết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, những người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nướctrong việc hiểu đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng và tính chất của công tác lý luận trong xây dựng, phát triển đất nước. Đây là điều kiện quyết định không chỉ để có một môi trường tích cực cho việc phát triển lý luận, mà quan trọng hơn là nhằm hai mục đích lớn hơn. Thứ nhất, từ nhận thức đúng đắn về lý luận, đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng sẽ ý thức đầy đủ hơn trong việc học tập, nghiên cứu, nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những thành tựu lý luận Mác xít hiện đại. Đến lượt nó, đó chính là cơ sở để củng cố niềm tin, lý tưởng và ý thức chính trị cho cán bộ. Thứ hai, giúp đội ngũ cán bộ chiến lược quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tế, tiếp nhận và vận dụng những thành tưu lý luận mới vào thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO CÔNG TÁC LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG

 


 Nghiên cứu lý luận là một khoa học đặc thù. Đặc biệt, hoạt động nghiên cứu khoa học về lý luận lại diễn ra trong điều kiện các tiến trình xã hội liên tục vận động, vì thế, việc đưa ra đánh giá về tính chất của thực tiễn xã hội là vô cùng khó khăn. Khi nói về tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong bức thư gửi cho K.Smith, Ph.Ăngghen đã cho rằng, “đó là vấn đề khó khăn nhất trong tất cả các vấn đề, vì các điều kiện biến đổi không ngừng”. Mặt khác, việc minh chứng cho sự đúng đắn của các kết quả nghiên cứu lý luận phần lớn phải đòi hỏi có thời gian, thậm chí thời gian khá lâu. Vì thế, hoạt động nghiên cứu lý luận cũng đòi hỏi phải được ứng xử khoa học, phù hợp với tính chất của nó. Nói cách khác, môi trường chính trị - xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển lý luận. Tuy nhiên, nhận thức về lý luận của nhiều cán bộ, cấp ủy chưa ngang tầm với yêu cầu. Thiếu các cơ chế đánh giá thực sự khoa học, khách quan, các quy định pháp lý bảo đảm về mặt khoa học cho các kết quả nghiên cứu, cũng như bảo vệ những người nghiên cứu lý luận. Một số kết quả nghiên cứu khoa học, ý kiến phản biện còn bị đánh giá quá khắt khe, nhiều khi có những quy kết có tính chính trị bất lợi cho các tác giả. Đặc biệt là chưa có cơ chế để kịp thời đánh giá, kết luận và đưa các kết quả nghiên cứu lý luận vào đường lối, chính sách. 

Từ thực tế và các vấn đề đặt ra cần có giải pháp cơ bản khả thi nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lý luận, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.

 

 

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, SỬ DỤNG, ĐÃI NGỘ CÁN BỘ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

 


 Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thực tế đời sống xã hội đã có nhiều thay đổi to lớn, kéo theo những thay đổi về vị trí lao động, việc làm. Từ vị trí trong top đầu của ưu tiên lựa chọn công việc, ngày nay, công tác nghiên cứu, giảng dạy về lý luận hầu như đã xuống vị trí rất thấp, thay vào đó là các ưu tiên cho ngành nghề, công việc liên quan đến kinh doanh, kinh tế. Tình trạng chung hiện nay cho thấy, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về lý luận của Việt Nam thiếu cả về số lượng và chất lượng, nhất là sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ đầu đàn, chuyên gia trình độ cao. Cùng với sự thiếu hụt về số lượng, tư tưởng của cán bộ lý luận cũng có vấn đề. Một bộ phận cán bộ nghiên cứu giảng dạy lý luận chính trị nhưng không tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, còn nghi ngờ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 Đào tạo ban đầu ở trình độ đại học về các môn chính trị cũng có vấn đề, do các chuyên ngành lý luận chính trị không còn sức hấp dẫn đối với thanh niên. Chương trình giảng dạy về chủ nghĩa Mác - Lênin ở các trường đại học, cao đẳng đã bị thu hẹp lại. Việc tuyển sinh đi đào tạo ở nước ngoài về lĩnh vực lý luận chính trị chưa chặt chẽ, chưa thống nhất trong cả hệ thống, phụ thuộc nhiều vào học bổng của nước ngoài. Việc tuyển dụng sinh viên các chuyên ngành lý luận chính trị ra trường vào các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy cũng còn nhiều vướng mắc, hạn chế.

 Việc sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận cũng gặp những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Việc sử dụng cán bộ nghiên cứu lý luận khi đã hết tuổi lao động theo luật lao động không rõ ràng, không thống nhất về điều kiện, chế độ. Các điều kiện làm việc của cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, nhất là cơ sở hạ tầng thông tin khoa học, chế độ nhuận bút...

 

NGHIÊN CỨU, TIẾP NHẬN CÓ CHỌN LỌC THÀNH TỰU LÝ LUẬN HIỆN NAY

 


Có một thời kỳ dài, do mặc cảm về ý thức hệ và yêu cầu khắc nghiệt của chiến tranh, hầu như chúng ta đóng cửa với những phát triển lý luận chính trị của thế giới nếu không phải là chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi những quan điểm chính thống của các nhà nghiên cứu Xô Viết. Trong thời kỳ đổi mới, với tinh thần mở cửa hội nhập quốc tế, chúng ta đã có nhiều đổi mới về nhận thức trong vấn đề nghiên cứu, chắt lọc những thành tựu nghiên cứu, tổng kết lý luận của nhân loại, nhất là những vấn đề về kinh tế. Đây là xu hướng khách quan, khoa học, theo đúng phương pháp luận mác xít.

 Trong điều kiện ngày nay, khi mà cuộc các mạng khoa học - công nghệ và tiến trình toàn cầu hóa diễn ra vô cùng nhanh chóng, tác động hằng ngày, hằng giờ đến mọi quốc gia, dân tộc, vấn đề nghiên cứu, tiếp nhận có chọn lọc các thành tựu lý luận, các học thuyết khoa học, các bài học kinh nghiệm về phát triển của nhân loại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Đó là phương pháp thông minh để phát triển, hay như cách nói khác, “đứng trên vai” của người khác để thực hiện thành công mục tiêu cộng sản chân chính. Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề nghiên cứu, tiếp thu chọn lọc tinh hoa về lý luận của nhân loại hầu như còn chậm, chưa cập nhật kịp thời nhiều thành tựu nghiên cứu, bài học phát triển của thế giới, chưa theo kịp tiến trình hội nhập quốc tế về kinh tế, chính trị và nhiều lĩnh vực khác của chính chúng ta.

VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG

 


Khung khổ lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng cầm quyền; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; về nền kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế chia sẻ, xã hội số, chính phủ số; về mô hình tổng quát phát triển đất nước: bền vững, sáng tạo, bao trùm; về cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội; về giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển kinh tế; về xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội; đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị; vấn đề xây dựng, phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện; về kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; về quan hệ giữa độc lập dân tộc với hội nhập quốc tế... Trong điều kiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta có đặc thù riêng, không giống với các nước khác, chúng ta phải vừa đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa phải tổng kết thực tiễn đúc rút thành lý luận phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nước ta. Điều này đặt ra nhiều vấn đề mới và khó cho công tác tư tưởng, lý luận. Một mặt, công tác tư tưởng phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần, tin tưởng vào chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng để thống nhất, đoàn kết, cùng chung sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mặt khác, công tác lý luận của Đảng phải nhanh chóng, kịp thời tổng kết thực tiễn trong từng giai đoạn cách mạng để bổ sung, phát triển lý luận, ngày càng hoàn thiện lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, đủ sức thuyết phục toàn Đảng, toàn dân tạo ra sự thống nhất, đồng thuận cao...

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Chúng ta đều thống nhất với nhau rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho chúng ta thế giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học soi đường, chỉ lối cho sự nghiệp cách mạng nước ta. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng đến nay cần làm rõ thêm: những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào của chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị vĩnh viễn, trường tồn; những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào của chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua; những luận điểm, quan điểm, nguyên lý nào cần bổ sung, phát triển. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng nào là vận dụng, tư tưởng nào là bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin để phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. Công tác lý luận phải làm như thế nào để chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo, thống soái trong đời sống tinh thần xã hội. Đảng ta xác định công tác lý luận là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển và củng cố niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để có niềm tin khoa học thì phải vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam nhằm hình thành cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng; phổ biến, truyền bá chủ trương, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân thấm nhuần, hiểu đúng, tin tưởng và cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân biến thành hành động cách mạng cụ thể, thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác lý luận trên cơ sở khoa học phải góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi chống phá cách mạng nước ta của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch... Đây là những công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi công tác lý luận của Đảng phải đổi mới hơn nữa và phải có cách thức, phương thức thiết thực, phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Tình hình quốc tế diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho thế giới thay đổi một cách căn bản trên tất cả các phương diện vừa mang lại những thời cơ, cơ hội mới, vừa tạo ra những thách thức, nguy cơ mới, yêu cầu mới. Tình hình trong nước, sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nước ta có thế và lực mới trên trường quốc tế; đồng thời còn nhiều hạn chế, khó khăn, thách thức mới, tác động trực tiếp đến công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Các nguy cơ đã được dự báo, thì có nguy cơ không những chưa được đẩy lùi, mà còn phức tạp hơn. Nền kinh tế nước ta đã và sẽ còn nguy cơ tụt hậu so với nhiều nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, nếu chúng ta không biết tận dụng cơ hội để vươn lên. Tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được chặn đứng, một bộ phận đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi “diễn biến hòa bình”... Nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế như: nguy cơ lệ thuộc về kinh tế, phân hóa giàu - nghèo ngày càng doãng ra, ô nhiễm môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sự xâm lăng văn hóa...

Công tác lý luận phải gắn bó chặt chẽ với công tác tổ chức và cán bộ. Thời gian qua công tác tổ chức và cán bộ bên cạnh những mặt thành tựu, còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém đã làm ảnh hưởng không nhỏ và đặt ra nhiều vấn đề mới tới công tác tư tưởng, lý luận. Nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên còn xem nhẹ công tác lý luận. Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra, lý luận chưa có lời giải đáp thỏa đáng... Cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề mới, khó khăn phức tạp cho công tác lý luận phải giải quyết. Nếu không giải quyết thỏa đáng, kịp thời thì ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân...

Trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng, tiếp thu những giá trị tiến bộ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và các tư tưởng thù địch. Nghiên cứu về bản chất, đặc điểm mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại... để tiếp tục khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những vấn đề nước ta cần học tập, tiếp thu vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...

Các thế lực cơ hội, thù địch chống phá quyết liệt trên mặt trận tư tưởng, lý luận với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong khi đó chúng ta đấu tranh, phản bác còn bị động, chưa thực sự quyết liệt. Sự đấu tranh, phản bác của ta trên một số vấn đề chưa đủ cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn để làm cho đối phương phải “tâm phục, khẩu phục”, do vậy, chưa thể làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch... Nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng còn xem nhẹ công tác lý luận, việc bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng chưa được làm tốt; nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng chưa đi vào cuộc sống; công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt được như mong muốn, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả cấp cao chưa nêu gương, năng lực hạn chế, nhiều người tham nhũng, tiêu cực, nói không đi đôi với làm, làm không như nói; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn biến phức tạp... tất cả những điều trên đây dẫn đến sự suy giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.