Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và điều kiện quyết định thắng lợi của liên minh trong cách mạng xã hội chủ nghĩa


Khi phân tích cơ cấu xã hội giai cấp trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện vai trò lịch sử của giai cấp vô sản và lực lượng đồng minh để giai cấp vô sản có điều kiện hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảnC.Mác và Ph.Ăngghen đã nói đến khả năng và sự cần thiết phải đoàn kết giai cấp vô sản với các tầng lớp trung gian. Sau cách mạng 1848 - 1852Tây Âu, các ông thấy rõ, vấn đề liên minh giữa giai cấp vô sản và các giai tầng khác trong xã hội, nhất là giai cấp nông dân trở thành vấn đề có tính sống còn đối với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Khi tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ở châu Âu, đặc biệt là phân tích nguyên nhân thất bại của Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra kết luận, cuộc đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân sẽ không giành thắng lợi nếu nó không được sự ủng hộ của giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Từ thực tiễn Công xã Pari, C.Mác đã bổ sung cho lý luận của mình về liên minh công nông, đó là vai trò quan trọng của giai cấp nông dân không chỉ trong việc giành chính quyền mà còn cả trong việc giữ chính quyền. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra: Sự cần thiết của liên minh công - nông không chỉ từ phía giai cấp vô sản mà còn từ phía giai cấp nông dân. Các ông cho rằng: giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng không thể thoát khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, không thể được giải phóng một cách thực sự và triệt để nếu không liên minh với giai cấp vô sản, không trở thành người bạn đồng minh của giai cấp vô sản. C.Mác khẳng định: “Đứng trước giai cấp tư sản phản cách mạng đã liên minh lại thì dĩ nhiên là những phần tử đã được cách mạng hóa của giai cấp tiểu tư sản và của nông dân, phải liên minh với người đại biểu chủ yếu cho những lợi ích cách mạng, tức là giai cấp vô sản cách mạng”[1]. Hơn nữa... người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình”[2].

Từ những phân tích trên, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, chỉ có nhờ vào sức mạnh của quần chúng nhân dân thì cách mạng vô sản mới giành được thắng lợi cuối cùng. Muốn có được sức mạnh đó thì giai cấp công nhân phải tiến hành liên minh... Các ông còn nhấn mạnh rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thu được những thắng lợi nếu giai cấp nông dân ủng hộ những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, nếu không có nó thì trong tất cả các quốc gia nông, bài “đơn ca” cách mạng của giai cấp vô sản sẽ trở thành bài “ai điếu”[3].

V.I.Lênin đã vận dụng và phát triển nguyên lý về liên minh của chủ nghĩa Mác vào điều kiện nước Nga, vì vậy đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin cho rằng, nhân tố đảm bảo cho sự thắng lợi không chỉ ở chỗ giai cấp công nhân đã có tổ chức và chiếm đa số trong dân cư, mà còn ở chỗ giai cấp công nhân có được sự ủng hộ của nông dân hay không. Về tính tất yếu của liên minh công nông trong giai đoạn cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chỉ rõ: “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giữa giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức, v.v.) hoặc với phần lớn những tầng lớp đó; liên minh nhằm chống lại tư bản, liên minh nhằm lật đổ hoàn toàn tư bản, tiêu diệt hoàn toàn sự chống cự của giai cấp tư sản và những mưu toan khôi phục của giai cấp ấy, nhằm thiết lập và củng cố vĩnh viễn chủ nghĩa xã hội”[4].

V.I.Lênin nhấn mạnh, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội càng phải tiếp tục duy trì và củng cố khối liên minh công - nông và các tầng lớp lao động khác. Bởi lẽ, xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc hoàn toàn mới mẻ, đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, lâu dài, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vì sự nghiệp giải phóng không chỉ cho giai cấp công nhân, mà cho toàn xã hội. Mặt khác, trong cơ cấu xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp với những đặc điểm, vị trí kinh tế - xã hội và vai trò khác nhau, trong đó nông dân còn chiếm đa số, tầng lớp trí thức có xu hướng ngày càng phát triển. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình, giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là đảng cộng sản đề ra đường lối lãnh đạo nhằm củng cố và tăng cường khối liên minh làm nền tảng cho xã hội mới.

Mặt khác, trong thi kỳ quá đ lên ch nghĩa xã hi, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lp lao đông khác vừa là lc lượng sản xuất cơ bản, vừa là lc lượng chính trị - xã hi to ln. Nếu thc hin tt khi liên minh giữa giai cấp công nhân vi giai cấp nông dân và các tầng lp nhân dân lao đng khác, trong đó trưc hết là vi trí thc thì không những xây dng được cơ sở kinh tế vững mạnh mà chế đ chính trị xã hi chnghĩa cũng ngày càng được cng c vững chc. Khẳng định vai trò của trí thc trong khi liên minh, V.I.Lênin chỉ rõ: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuât, không một thế lực đen tối nào đứng vững được”[5].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 284 - 285.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 269.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 762.

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 452.

[5] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 218. 

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Đây là kiểu liên minh được dựa trên cơ sở hợp tác tự nguyện, khác với kiểu liên minh trong cách mạng tư sản. Mục đích của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ xã hội mới, đưa lại quyền tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân lao động.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là hình thức liên minh toàn diện, lâu dài, bền vững được thực hiên bởi sự liên kết, hợp tác, hỗ trợ nhau dựa trên sự thống nhất về lợi ích căn bản giữa ba lực lượng cơ bản trong xã hội.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục đích giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi tình trạng áp bức bóc lột, thu hút được sự tham gia của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản. Vì vậy, động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổng hợp sức mạnh của các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng xã hội, trong đó động lực chủ yếu của cách mạng là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Tuy nhiên, vai trò của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa có sự khác nhau.

Giai cấp công nhân vừa là giai cấp lãnh đạo, vừa là động lực chủ yếu trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền sản xuất đại công nghiệp đã phát triển cả về lượng và chất, là lực lượng lao động chủ yếu tạo nên sự giàu có trong xã hội hiện đại, là lực lượng xã hội đi đầu trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Giai cấp nông dân có nhiều lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân, là một động lực to lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo, giai cấp công nhân chỉ có thể giành được chính quyền và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi lôi kéo được giai cấp nông dân theo mình. Xét về kinh tế, nông dân là lực lượng quan trọng trong xã hội. Xét về chính trị - xã hội, nông dân là lực lượng cơ bản tham gia giành và bảo vệ chính quyền, nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Đội ngũ trí thức là những người có vị trí rất quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.  V.I.Lênin đã khẳng định, không có tri thức không thể có chủ nghĩa xã hội. Trí thức là những người có đóng góp to lớn trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phát triển dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, tham gia xây dựng đường lối của đảng cộng sản, chính sách, pháp luật của nhà nước vô sản và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chính sách đó. Trong thời đại khoa học công nghệ, giá trị lao động chất xám ngày càng cao, thì vai trò động lực phát triển xã hội của trí thức lại càng to lớn hơn.

Có nền kinh tế phát triển cao, nền văn hóa tiên tiến là đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Xây dựng nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp là quan điểm nhất quán của Đảng hướng tới xây dựng một xã hội phát triển, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây là điều kiện suy đến cùng làm cho chủ nghĩa xã hội chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.

Lực lượng sản xuất hiện đại mà nhân dân ta xây dựng đó là lực lượng sản xuất dựa trên hệ thống công nghệ mới với khoa học công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao động rất cao, bảo vệ môi trường sinh thái, hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải dựa trên quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân và đem lại những tiến bộ thật sự cho xã hội.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là đặc trưng quan trọng, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta về phát triển một xã hội toàn diện, hài hòa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội.

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, tiếp thu có chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời kế thừa, phát triển giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng. Sự kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến, hiện đại với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển đất nước.

Tất cả vì con người, cho con người, chăm lo xây dựng con người và phát triển con người toàn diện (đức, trí, thể, mỹ) thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa”[1]. Trong chủ nghĩa xã hội, hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng, nguyện vọng thiết thực của con người là: Có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 123.

Nhân dân làm chủ là đặc trưng cơ bản của đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Đặc trưng này chi phối và thể hiện trong toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Đảng ta nhận thức rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là sự nghiệp của mọi người dân yêu nước, bất kể đó là người Việt Nam ở trong nước hay định cư ở nước ngoài, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các doanh nhân…

Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và được thực hiện trên thực tế ở tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng và có sự tham gia ý kiến của nhân dân.

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Đây là đặc trưng tổng quát, bao trùm, chi phối các đặc trưng khác. Đảng ta xác định, chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng phải thiết thực, cụ thể, phải làm sao cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc… Đồng thời, đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới mà nhân dân ta xây dựng.

Dân giàu, là một trong những tiêu chí cốt lõi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thể hiện sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội qua phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tạo nên nguồn của cải vật chất dồi dào, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng nâng cao.

Nước mạnh, là một tiêu chí quan trọng nhằm đưa đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Sức mạnh quốc gia được nâng cao toàn diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; giữ vững môi trường hoà bình để phát triển đất nước; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.

Dân chủ, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Công bằng, đảm bảo toàn diện trên các lĩnh vực xã hội đối với nhân dân. Về kinh tế, thực hiện công bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Về xã hội, từng bước hoàn thiện chính sách xã hội, làm tốt chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Về xây dựng hệ thống chính trị, công bằng xã hội phải được thể hiện trong từng hoạt động, từng chính sách phát triển.

Văn minh, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội hiện đại, văn minh, giàu bản sắc dân tộc. Xây dựng một xã hội có sự tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại kết hợp với sự kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.

Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

 


Khẳng định hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội mới, tiến bộ hơn chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trước hết, việc quản lý công nghiệp và tất cả các ngành sản xuất nói chung sẽ không còn nằm trong tay của cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau nữa. Trái lại, tất cả các ngành sản xuất sẽ do toàn thể xã hội quản lý,... Do đó, chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu và phải được thay bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận chung,... Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp. Cho nên, những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình”[1]. Kế thừa và bổ sung phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí. Và nếu quần chúng lao động đang xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không biết đem ứng dụng những cơ quan của mình cho phù hợp với những phương thức hoạt động của đại công nghiệp cơ khí, thì không thể nói đến việc thiết lập chủ nghĩa xã hội được”[2]. Trên cơ sở luận chứng một cách khoa học về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại.

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.

Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.

Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 467.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 193.

Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội

 


Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định, sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự phủ định biện chứng hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, do sự vận động, phát triển của các quy luật khách quan chi phối, mà trước hết và chủ yếu là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn về kinh tế và chính trị - xã hội trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và được phân chia thành các thời kỳ và các giai đoạn khác nhau. Dựa trên cơ sở khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin phân chia hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (Chủ nghĩa xã hội); giai đoạn cao (Chủ nghĩa cộng sản).

Chủ nghĩa xã hội, theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát triển lên chủ nghĩa cộng sản.

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam và cán bộ quân sự cơ sở trong thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, việc chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt để hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề quan trọng thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nhất là trong tình hình mới hiện nay, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bưc hiện đại, một s quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đốì trung thành với Tổ quốc, vi Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống[1]. Thực hiện tốt việc tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhất là trước âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hòng “phi chính trị hóa Quân đội”. Trước thực tiễn đó, Quân đội ta cần phải phát huy tốt vai trò chức năng của mình hơn bao giờ hết để góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Cán bộ quân sự xã, phường là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng ở cơ sở. Với chức năng tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tổ chức thực hiện công tác này góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở. Đào tạo đội ngũ cán bộ cán bộ quân sự xã, phường trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở có năng lực, trình độ chuyên môn tương đương sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên; trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước từ trung cấp trở lên là bước tiến quan trọng trong xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, là chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng, có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự xã, phường vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bảo đảm là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân ở cơ sở.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 157 - 158.

Sự vận dụng lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam


Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đã tạo nên những thắng lợi vĩ đại trong các giai đoạn cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phải tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1]. Với đường lối cách mạng đúng đắn, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam thực hiện chiến lược vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đã lập lên kỳ tích bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp, Miền Bắc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thống nhất đất nước.

Sự vận dụng tài tình lý luận cách mạng không ngừng của Đảng ta trong giai đoạn 1954 đến 1975 là lãnh đạo hai miền Nam, Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc.

Sau thắng lợi năm 1975, đất nước ta được giải phóng hoàn toàn, giang sơn thu về một mối. Đảng ta vẫn kiên định và thể hiện rõ sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, đó là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, bối cảnh trong nước và quốc tế đang đặt ra những thời cơ, thách thức mới, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, giải quyết tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân ta; để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, quân đội thường xuyên làm tốt công tác giáo dục cho các quân nhân thấy rõ tính đúng đắn, những khó khăn, thuận lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng sai trái phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Mỗi quân nhân phải ra sức tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận và hoàn thành cương vị, chức trách được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong mọi tình huống. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nơi đóng quân, giúp đỡ nhân dân địa phương hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ. Chú trọng xây dựng quân đội theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 2. 

Lời Bác dạy

Khi phải đương đầu với kẻ địch hung ác, một dân tộc dù bé nhỏ, nếu luôn luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Ủng hộ Cuba chống đế quốc Mỹ”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3175, ra ngày 04 tháng 12 năm 1962.

 Đây là thời điểm nhân dân Cuba vừa giành được nền độc lập và tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chịu sự bao vây, chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ hòng ngăn chặn, xóa bỏ tiền đồn chủ nghĩa xã hội ở Tây bán cầu. Lời của Bác như một chân lý, một lời hiệu triệu, cổ vũ động viên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Cuba hãy tin tưởng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội và dù là một dân tộc nhỏ bé, nhưng nếu luôn cảnh giác, đoàn kết nhất trí, kiên quyết và bền bỉ đấu tranh, thì cuối cùng nhất định thắng lợi.

Từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã chứng minh một chân lý của thời đại: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nhưng luôn có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào... Tiếp đó, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta lại một lần nữa tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ hơn chân lý trên.

Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Gần 60 năm đã trôi qua, lời của Bác đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần cổ vũ động viên các dân tộc dũng cảm, kiên cường giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc; lạc quan, tin tưởng thực hiện thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Thực hiện lời dạy của Bác, Quân đội ta phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc, là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; kiên trì xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với quân đội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội cần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức sâu sắc đối tượng, đối tác của cách mạng, đối tượng tác chiến của quân đội trong thời kỳ mới; ra sức thi đua huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin


Khi giai cấp tư sản đang lên và còn giữ vai trò là giai cấp trung tâm của thời đại, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tư tưởng cách mạng không ngừng là phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo vừa mang tính liên tục vừa mang tính giai đoạn và diễn ra không ngừng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất cả những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biến tất cả những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó”1. Ở những nước mà giai cấp công nhân chỉ chiếm số ít trong dân cư thì trước hết cùng với giai cấp tư sản làm cách mạng dân chủ tư sản triệt để, rồi ngay sau đó tiến hành cách mạng vô sản, thực hiện xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện đường lối cách mạng không ngừng theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen là phải giữ vững tính độc lập về tư tưởng, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản hết vai trò tiến bộ, quan điểm của V.I.Lênin về tư tưởng cách mạng không ngừng trong quá trình cách mạng dân chủ  tư sản: giai cấp công nhân phải nắm lấy quyền lãnh đạo cách mạng dân chủ tư sản (tức cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới) sau đó chuyển lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa hai cuộc cách mạng đó không có bức tường nào ngăn cách.

V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong hoàn cảnh lịch sử mới, vào những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc ngày càng bộc lộ bản chất phản động, hiếu chiến, xâm lược những nước lạc hậu, biến thành thuộc địa của chúng. Giai cấp tư sản tỏ ra có tư tưởng thoả hiệp, cấu kết với giai cấp phong kiến, không muốn thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân chủ tư sản và tìm mọi cách để ngăn chặn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Trong phong trào công nhân đã xuất hiện tư tưởng cơ hội muốn phủ nhận tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác. V.I.Lênin phân tích sâu sắc tình hình nước Nga trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, là một nước tư bản trung bình nhưng là một khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Sự hội tụ đầy đủ những mâu thuẫn cơ bản trong lòng nước Nga, tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng dân chủ tư sản nổ ra trong tương lai không xa.

Điều kiện để thực hiện chuyển biến từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo V.I.Lênin cần phải thực hiện ba điều kiện cơ bản. Một là, giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai là, phải tăng cường khối liên minh với giai cấp nông dân. Ba là, chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân phải chuyển sang làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản.

Nội dung thực chất của quy luật cách mạng không ngừng mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã chỉ ra là tính liên tục, tính giai đoạn trong quá trình thực hiện đến mục tiêu cuối cùng của cách mạng vô sản, mỗi giai đoạn có mục tiêu, phương pháp cách mạng khác nhau.

Cách mạng không ngừng là đặc trưng của cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, vì mục đích cuối cùng của giai cấp công nhân là xoá bỏ giai cấp chứ không phải thay xã hội có giai cấp này bằng xã hội có giai cấp khác. Sau khi giành được chính quyền, nếu giai cấp công nhân không tiến hành đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội đến cùng thì không thể giữ được quyền lãnh đạo chính trị và chính quyền sẽ rơi vào tay giai cấp khác.

Quá trình cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra liên tục nhưng lại được chia ra thành những giai đoạn cụ thể, các giai đoạn đó có mối quan hệ chặt chẽ và tạo ra tiền đề để thực hiện mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ giai cấp. Bởi lẽ, mỗi giai đoạn cách mạng giai cấp công nhân phải đấu tranh thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng khác nhau. Cho nên, không nên hiểu cách mạng không ngừng chỉ theo nghĩa bất chấp điều kiện lịch sử cụ thể, cứ tiến thẳng mà không có những khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phản ánh có tính quy luật trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa là vấn đề mang tính chiến lược và sách lược trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân. Lý luận cách mạng không ngừng luôn mang ý nghĩa mới, có những nội dung cụ thể trong những điều kiện lịch sử mới. Cho nên, tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận để các đảng cộng sản vận dụng vào điều kiện cụ thể nước mình, để mỗi giai đoạn cách mạng định ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 126. 

“Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3176, ra ngày 05 tháng 12 năm 1962.

Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm không ngừng phát triển kinh tế - xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.

Là người sáng sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải tôn chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền tự Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam, cộng khổ, chi ngọt, sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí.

Sưu tầm