Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

 CÁCH MẠNG TRẮNG – ÂM MƯU BIẾN VIỆT NAM THÀNH UCRAINA THỨ 2

 

 

 

Henry Kissinger từng tuyên bố: “Những gì mà mấy chục năm nay nước Mỹ không làm được ở trên đất nước này, thì con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ của người Mỹ. Hai mươi năm sau chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la.

 

Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như một ân nhân “.

 

 

 

Cho đến nay, quả thật những gì mà Mỹ đã tuyên bố, đang manh nha trở thành sự thật. Và không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ lại tự tin tuyên bố như vậy.

 

 

 

Nước Mỹ có một sự kiên nhẫn vô hạn, có khi một chương trình được hoạch định tới 50 năm, như trường hợp nuôi dưỡng cả một thế hệ đối lập để lật đổ chính phủ hợp hiến ở Thổ Nhĩ Kỳ. Điển hình như sự kiện tên sát thủ trẻ len lỏi được thật sâu vào hàng ngũ cảnh sát đặc biệt Thổ Nhĩ Kỳ, rồi ám sát đại sứ Nga.

 

 

 

Nước Mỹ có một nguồn tiền của bao la. Với hệ thống tài chính Petro đô la đang nắm trong tay, Mỹ có thể in tiền một cách vô tội vạ mà không sợ lạm phát, và dùng nó để rải ra mọi chiến dịch trên khắp toàn cầu.

 

 

 

Đơn cử như trường hợp “nhỏ” là việc Mỹ bảo kê và tài trợ giáo sĩ Fethullah Gülen, kẻ chủ mưu vụ đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm 2016. Mỹ dự kiến xây khoảng 300 trường học ở Thổ Nhĩ Kỳ, hòng đào tạo lực lượng ước tính hơn 2 triệu học sinh, sinh viên. Tuy nhiên sau đảo chính, đã bị đóng cửa hết.

 

Sau đó, khi thời cơ chín muồi, một nhân tố như kiểu Gorbachev của Liên Xô là đủ để thay đổi một chính quyền theo chiều hướng tuân phục nước Mỹ.

 

Môi trường giáo dục là nơi đào tạo thế hệ kế cận sẽ lãnh đạo đất nước sau này, nên nắm được môi trường này sẽ chắc phần thắng. Tấn công vào môi trường giáo dục là một trong những mũi tấn công của những thế lực chống phá do phương Tây tài trợ.

 

Không phải ngẫu nhiên mà một bộ trưởng nước Nga từng phát biểu:

 

Chức năng cơ bản và chủ yếu của trường học là giáo dục trí tuệ và nhân cách con người, chứ không phải là dịch vụ giáo dục. Cần phải trả lại hoạt động giáo dục cho nhà nước quản lý, trở lại truyền thống giáo dục tốt đẹp thời Xô Viết.

 

 

 

Bộ trưởng quan trọng nhất trong chính phủ là Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Một Bộ trưởng Bộ y tế tồi, cùng lắm chỉ gây khó khăn cho người dân khám chữa bệnh và ảnh hưởng tới sức khỏe. Bộ trưởng Bộ kinh tế tồi, cùng lắm là làm chậm sự phát triển kinh tế. Nhưng Bộ trưởng Bộ giáo dục tồi thì phá hoại cả tương lai của đất nước và của quốc gia.

 

 

 

Đã đến lúc phải chấm dứt các cuộc thí nghiệm giáo dục theo mô hình phương Tây đang tạo ra tình trạng hỗn loạn trong lĩnh vực này.

 

 

 

Rõ ràng nước Nga ngày nay và chúng ta có điểm tương đồng, áp dụng rập khuôn mô hình giáo dục theo kiểu phương Tây, xem đó là giá trị cốt lõi, dần dần lâu hơn nữa khi đạt tới trình độ nhất định, những người được đào tạo ra sẽ xem những giá trị lịch sử như Chủ nghĩa Xã hội là lỗi thời cần phải bị loại bỏ.

 

 

 

Chỉ cần 20 năm là có thể thay máu hoàn toàn thế hệ trẻ của đất nước, khi người ta không biết tới giá trị lịch sử, chắc chắn người ta cũng sẽ quên quá khứ của tương lai, Ucraina là một bài học không thể sinh động hơn. Chỉ sau một đến hai thế hệ tiếp thu các giá trị Tây Phương sau khi Liên Xô sụp đổ, giới trẻ Ucraina thậm chí còn tự tay giật đổ tượng Lê nin, người đã có công tạo ra nhà nước Xô Viết Ucraina trong quá khứ.

 

 

 

Hiện nay, nhiều giáo viên đang xem những giá trị phương Tây là cốt lõi, mô hình giáo dục Xã hội chủ nghĩa là cổ hủ lạc hậu.

 

 

 

Tất nhiên là họ phủ nhận những thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vậy thử hỏi những giáo viên như thế sẽ đào tạo ra những học sinh như thế nào?

 

 

 

Trong lĩnh vực Truyền thông cũng vậy, nhiều tờ báo me Tây tiếng Việt đã trở thành cánh tay nối dài đắc lực nối dài cho truyền thông Tây Phương. Họ đơn giản chỉ bê nguyên các bài báo Tây Phương về dịch, rồi in ra cho đọc giả đọc mà không biết rằng trong đó chứa đầy thông tin tâm lý chiến, xuyên tạc và bịa đặt.

 

 

 

Bên cạnh đó, liên minh đế quốc Mỹ và đế quốc thần quyền Tây Phương khác cũng đang ráo riết thực hiện chiến lược Ngụy sử, Lật Sử, và Tẩy trắng lịch sử, một phần trong cách mạng trắng và diễn biến hòa bình tại Việt Nam.

 

Có thể bạn còn nhớ, khi Obama sang thăm Việt Nam, nhiều người Việt đã coi ông ta như một thần tượng. Họ ca ngợi Obama như một lãnh đạo thân thiện.

 

 

 

Nhưng có thể bạn không biết rằng, người nhận giải Nobel hòa bình Obama chính là người đã gây ra 7 cuộc chiến dưới thời kỳ ông ta nắm quyền ở Mỹ.

 

 

 

Obama chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ tại Apghanistan khi ông ta lên nắm quyền năm 2009.

 

 

 

Tháng 3/2011, Obama tuyên bố Mỹ sẽ tham gia một liên minh không kích vào Libya. Các cuộc không kích cuối cùng đã kết thúc với cái chết của nhà lãnh đạo lâu năm Moammar Gadhafi.

 

Và Lybia từ một trong các quốc gia giàu có thịnh vượng nhất Châu Phi, nay đã trở thành một vùng đất nghèo đói loạn lạc, nội chiến giữa các phe phái, và chưa thể tìm ra lối thoát.

 

Obama cũng là chủ mưu trong việc mua chuộc những kẻ biến chất thoái hóa trong các cơ quan báo chí, giáo dục Việt Nam, để phát động phong trào xét lại lịch sử, công nhận ngụy quyền Sài Gòn là chính danh, và tôn vinh những kẻ phản quốc như Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, với chiêu bài “hòa hợp dân tộc”. Chúng cố tình một mặt bôi nhọ tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mặt khác chúng cố tình tung hô bản chất chế độ tay sai bán nước của Ngụy quân Ngụy Quyền. Thông qua chiến lược Ngụy Sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử, chúng công khai tuyên bố “Việt Nam đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp – Mỹ”, hay công khai kêu gọi bỏ từ Ngụy trong lịch sử.

 

 

 

Thực tế đây là một chiến dịch tẩy trắng lịch sử nhằm chạy tội cho giặc ngụy, rửa nhục cho Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng một dự án quy mô lớn của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA với tên gọi, “Dự án tưởng niệm chiến tranh Việt Nam”, do Obama phát động bởi 1 đạo luật, khởi động năm 2012. Dự án này chia 3 giai đoạn:

 

 

 

Giai đoạn 1 (2012-2014): Tổ chức các hoạt động tưởng niệm ở Mỹ.

 

Giai đoạn 2 (2014-2017): Xây dựng chân rết ở Mỹ và các quốc gia khắp Thế giới (tất nhiên Việt Nam là chính).

 

Giai đoạn 3 (2017-2025): Là giai đoạn cao điểm. Nội dung chính là nhằm tôn vinh lính Mỹ, lính ngụy; xoá bỏ “hội chứng Việt Nam”, sửa đổi lịch sử, tẩy xoá sự thật cuộc chiến ở Việt Nam

 

 

 

Tiền ngân sách ban đầu là 5 triệu đô/năm, sau nâng lên 180 triệu/13 năm nhưng thực tế số tiền còn lớn hơn nhiều so với dự án này.

 

 

 

Dự án Obama đang trong giai đoạn 3 như vậy và sẽ kết thúc vào năm 2025. Đó là lý do tại sao nhiều kẻ đang điên cuồng xuyên tạc lịch sử.

 

 

 

Thực ra, chế độ ngụy quyền Việt Nam Cộng Hòa là chế độ tay sai bán nước, do Mỹ lập ra để cai trị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Hầu hết các thành phần lãnh đạo, tướng lĩnh của Ngụy quyền Việt Nam cộng hòa đều đã từng đứng dưới chế độ Ngụy quyền quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp lập ra, học trong các trường quân sự của Pháp, và chiến đấu trong các chiến dịch chống lực lượng giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong trận Điện Biên Phủ.

 

 

 

Chúng ta đừng bao giờ quên những lời người Mỹ nói: “Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân”

 

 

 

Và đó là mục tiêu mà Mỹ không bao giờ từ bỏ, với việc đầu tiên là phải tẩy xóa sự thật cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những đồng USD giơ bẩn từ việc xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

 

 

 

Thông qua mạng Internet, trước đây là các trang Blog, Diễn đàn, Youtube và giờ tập trung chủ yếu là trên Facebook, chúng đã có nhiều bài viết xuyên tạc về lịch sử và tình hình xã hội của Việt Nam.

 

 

 

Khi thời cơ chín muồi, Mỹ sẽ tìm cớ để đưa quân đội quay lại Việt Nam, lập nên chính quyền bù nhìn tay sai của Mỹ như các nước ở khu vực Trung Đông hay Bắc Phi.

 

 

 

Các bạn thân mến.!!

 

 

 

Không phải ngẫu nhiên mà các hành vi Ngụy sử, Lật Sử và Tẩy trắng lịch sử đã diễn ra một cách rầm rộ và công khai như hiện nay. Tất cả đều nằm trong chiến lược được các đế quốc thế quyền thần quyền Tây Phương vạch ra, với sự phản bội của một bộ phận người nói tiếng Việt ở trong nước.

 

 

 

Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần phải tỉnh táo, để tránh lập lại bài học như tại Ucraina hiện nay, nơi mà máu xương của lớp lớp các anh hùng liệt sĩ đã bị bôi nhọ và xúc phạm.

 

Tôi tin rằng, với sự anh linh của tiên tổ Lạc Hồng, nước Việt Nam sẽ ngày càng độc lập, hùng cường, và sẽ không một thế lực có thể ngăn cản được điều đó, kế hoạch thâm độc của các đế quốc thần quyền và thế quyền Tây Phương sẽ thất bại.

 

 

 

Một lần nữa tôi kêu gọi, con Rồng Cháu Tiên toàn thế giới hãy đoàn kết lại !

 

 TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU 

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.

Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.

Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.

Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.

 

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ LÃNH ĐẠO BỘ QUỐC PHÒNG THÁNG 12-2024

 áng 2-12, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị lãnh đạo Bộ Quốc phòng tháng 12-2024. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Tại hội nghị, các đại biểu đã cho ý kiến về chương trình công tác của Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tháng 12-2024; một số công tác chuẩn bị cho tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và triển khai công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội. Theo chức năng, nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng đã phân công đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam tham gia Tổ biên tập của Ban Chỉ đạo Trung ương và giao Bộ Tổng Tham mưu chủ trì, phối hợp với Tổng cục Chính trị chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW hình thức phù hợp và xây dựng Báo cáo tổng kết của Quân ủy Trung ương gửi Ban Chỉ đạo Trung ương theo kế hoạch…
Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang đặc biệt nhấn mạnh, tháng 12-2024 này là một tháng đặc biệt, với rất nhiều nhiệm vụ quan trọng nằm trong khuôn khổ của chuỗi các hoạt động hướng tới, chào mừng và tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu các đồng chí Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đặc biệt là các cơ quan chiến lược của Bộ cần phát huy hết tinh thần trách nhiệm, nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong tháng 12. Trong đó cần tập trung tổ chức tốt các chương trình kỷ niệm của Quân đội, Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024, Hội nghị Quân chính toàn quân, Hội nghị tổng kết các ngành năm 2024…
Về việc triển khai tổng kết Nghị quyết số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu triển khai tổng kết và đề xuất giải pháp bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, đúng quy định.
Về việc triển khai công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Ban Chỉ đạo 1389 Bộ Quốc phòng tham mưu giúp Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quân ủy Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống lãng phí trong Quân đội sao cho đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất./.
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SƯ ĐOÀN 395 (QUÂN KHU 3) RÚT KINH NGHIỆM XÂY DỰNG ĐƠN VỊ ĐIỂM TOÀN DIỆN NĂM 2024!

     Ngày 29-11, Sư đoàn 395 (Quân khu 3) tổ chức Hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm xây dựng đơn vị điểm toàn diện năm 2024. Thiếu tướng Hà Tất Đạt, Phó tư lệnh Quân khu 3 dự, chỉ đạo hội nghị!
Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 395; đại biểu cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị Quân khu 3; chỉ huy 3 cơ quan và lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trực thuộc sư đoàn.

Báo cáo trung tâm tại hội nghị đánh giá, năm 2024, Sư đoàn 395 đã quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu” trong toàn quân; chấp hành nghiêm và hoàn thành 100% nội dung kế hoạch giáo dục chính trị cho các đối tượng, trận địa tư tưởng của đơn vị được giữ vững.

Các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của các cấp; làm tốt mọi mặt công tác chuẩn bị cho huấn luyện; thực hiện nghiêm công tác tham mưu huấn luyện kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện và rèn luyện thể lực, duy trì nghiêm chế độ thông qua giáo án, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp theo đúng kế hoạch. Đồng thời, tăng cường các biện pháp quản lý quân số, phương tiện tham gia giao thông, duy trì kỷ luật, tạo sự ổn định vững chắc trong toàn đơn vị; số vụ vi phạm kỷ luật thông thường phải xử lý dưới 0,2%.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thiếu tướng Hà Tất Đạt biểu dương và ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 395; yêu cầu, thời gian tới, Đảng ủy, chỉ huy sư đoàn và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, nắm chắc nhiệm vụ xây dựng đơn vị điểm toàn diện. Cùng với đó, phát huy vai trò của các tổ chức, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ; nắm chắc và giải quyết tốt tình hình tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác.

Bên cạnh các nhiệm vụ trên, Thiếu tướng Hà Tất Đạt yêu cầu Sư đoàn 395 tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, nhất là trong công tác quản lý, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy; kịp thời phát hiện biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, nhân rộng trong toàn đơn vị. Trước mắt, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 50 năm Ngày truyền thống Sư đoàn (26-12-1974 / 26-12-2024)./.
Ảnh: Thiếu tướng Hà Tất Đạt, Phó tư lệnh Quân khu 3 phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Yêu nước ST.

Chủ nghĩa xã hội (giai đoạn thấp)

 


Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hỉnh thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tương ứng bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội tồn tại và phát triển lên chủ nghĩa cộng sản.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, vạch rõ những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tư duy khoa học và biện chứng để khẳng định tính đúng đắn trong học thuyết của mình, để sau đó căn cứ vào sự phát triển của thực tiễn mà tiếp tục bổ sung những khía cạnh cần thiết.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp hiện đại

Mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, không những bảo đảm cho nó tồn tại và phát triển mà còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó. Cơ sở vật chất - kỹ thuật là một tiêu chí quan trọng để phân biệt các thể chế xã hội - chính trị khác nhau.

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất với trình độ lạc hậu, thủ công. Chủ nghĩa tư bản ra đời khi nó đã có một cơ sở vật chất- kỹ thuật là nền đại công nghiệp cơ khí. Chủ nghĩa xã hội nảy sinh với tính cách là phủ định biện chứng chủ nghĩa tư bản, thì đương nhiên cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền công nghiệp hiện đại.

Hai là, chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, xoá bỏ chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của cuộc cải tạo xã hội theo lập trường giai cấp vô sản. Nhưng chủ nghĩa xã hội không xoá bỏ chế độ tư hữu nói chung, mà xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Vì chính nó là nguyên nhân sâu xa của sự áp bức, bóc lột bất công, của mọi tai họa đối với người lao động. Cùng với việc xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó không chỉ phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội mà còn bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Khi các tư liệu sản xuất đã thuộc về xã hội, khi giai cấp vô sản với tư cách là giai cấp, đã thắng giai cấp tư sản, thì chế độ của những xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”[1]. Xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội.

Ba là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới

Để khắc phục những tàn dư của tình trạng lao động bị tha hoá, xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị làm chủ xã hội của người lao động và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới. Đó là lao động được tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch và kỷ luật lao động tự giác, tự nguyện, nghiêm minh.

Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động

Theo nguyên tắc này, mỗi người sản xuất sẽ được nhận từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang số lượng, chất lượng và hiệu quả lao động mà họ đã cống hiến cho xã hội, sau khi đã trừ đi một khoản đóng góp nhất định cho các hoạt động vì lợi ích chung. Điều đó thực sự mang lại lợi ích chính đáng về vật chất và tinh thần cho mỗi cá nhân trên cơ sở kết quả lao động của họ. Đây không chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, mà còn là nhân tố quan trọng trực tiếp kích thích người lao động tích cực, tự giác, sáng tạo trong lao động xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, nhà nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động

Nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, thực hiện nhiệm vụ của chuyên chính vô sản. Thực chất của chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo chính trị của chính đảng của giai cấp công nhân đối với nhà nước và toàn xã hội nhằm bảo vệ và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Nhân dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trước hết và chủ yếu bằng nhà nước, thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng lãnh đạo nhà nước cũng nhằm một mục đích duy nhất là nhân dân được làm chủ, nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, thể hiện quyền lực và ý chí của nhân dân.

Sáu là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bình đẳng trước pháp luật và có điều kiện phát triển toàn diện

Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Nhờ đó mà chủ nghĩa xã hội xoá bỏ được đối kháng giai cấp, loại bỏ tình trạng người bóc lột người, tình trạng nô dịch và áp bức dân tộc, thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xã hội, trước hết là bình đẳng về địa vị xã hội của con người, thực hiện mối quan hệ bình đẳng và hữu nghị giữa các dân tộc. Toàn bộ quá trình cải biến xã hội lịch sử đó sẽ tạo ra những điều kiện cần thiết để từng bước tiến tới giải phóng triệt để con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, để con người phát triển toàn diện.

Những đặc trưng bản chất mà chủ nghĩa xã hội cần phải có với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vạch rõ trên cơ sở tư duy khoa học và biện chứng. Đó chính là những tiêu chí cơ bản và có tính hệ thống để phân biệt chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản và các thể chế xã hội - chính trị khác, nghĩa là chỉ có những thuộc tính đó thì chủ nghĩa xã hội mới là nó, mới trở thành chính nó. Nếu quốc gia nào, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể hiện và bảo vệ được những đặc trưng đó thì quốc gia đó đã chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, bất cứ nước nào trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng phải triệt để tuân theo những đặc trưng ấy. Tuy nhiên, trong các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau lại có sự vận động thông qua các mô hình xây dựng cụ thể, các con đường, hình thức và biện pháp riêng biệt khác nhau lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[2].

Trên cơ sở trung thành và phát triển một cách sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và trong nước, với một thế giới quan khoa học và phương pháp xem xét đúng đắn, Đại hội XI của Đảng ta đã chỉ rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[3].

Những đặc trưng đó vừa phản ánh bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, vừa là những định hướng lớn chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng xong, từ nay đến đó nước ta còn phải trải qua nhiều năm của thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ có mặt được hình thành, phát triển sớm, nhanh, có mặt được hình thành, phát triển dần từng bước, làm cho bộ mặt của chủ nghĩa xã hội bộc lộ dần dần cho đến khi đầy đủ. Quá trình đó không phải là tự phát, mà là quá trình tự giác đấu tranh cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới đầy khó khăn và phức tạp của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 45, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 425.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 160.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 70.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TĂNG CƯỜNG THANH TRA, XỬ LÝ NGHIÊM VI PHẠM QUY ĐỊNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ!

     Ngày 1/12, Thủ tướng Phạm Minh Chính ký công điện số yêu cầu các Bộ ngành, địa phương đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí!

Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp.

Cụ thể, tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết của Chính phủ và Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024.

Nhấn mạnh việc tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm chỉ đạo thống nhất việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2024 theo định hướng, chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật.

Cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, xóa bỏ cơ chế "xin - cho".

Phân cấp, phân quyền cho cơ quan, địa phương có thẩm quyền giải quyết và chịu trách nhiệm. Tăng cường thực hiện giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức trong phục vụ nhân dân.

Hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo đảm đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, nâng cao hiệu quả việc quản lý, sử dụng các nguồn lực Nhà nước.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí, đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành tự giác, tự nguyện. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những gương điển hình trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện các biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin phát hiện lãng phí.

Tăng cường công tác tổ chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên các lĩnh vực, trong đó tập trung vào lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý tài nguyên, khoáng sản, đặc biệt là đối với đất đai; quản lý vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; tổ chức bộ máy, quản lý lao động, thời gian lao động...

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có quy định xử lý vi phạm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các cá nhân để xảy ra lãng phí.

Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả rà soát lại toàn bộ tài sản công, trụ sở làm việc không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả và đề xuất phương án xử lý./.
Yêu nước ST.

Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Thời kỳ quá độ diễn ra trong sự vận động liên tục với nội dung chuyển hóa, thay thế những “cái cũ” lỗi thời bằng những “cái mới”, các yếu tố cần thiết bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, mà chủ nhân của quá trình đó là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Về kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Tùy theo tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để từng bước cải tạo, xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương. Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động; từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.

Về chính trị, giữ vững, củng cố, tăng cường chuyên chính vô sản, bảo đảm cho nó hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đảng cộng sản vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và phương thức lãnh đạo, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở không ngừng củng cố khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống mọi biểu hiện trái với bản chất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về xã hội, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công. Thông qua những chính sách xã hội, hệ thống pháp luật đúng đắn của nhà nước xã hội chủ nghĩa, các hình thức liên minh, hiệp tác và đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau của các giai cấp, tầng lớp xã hội để khắc phục sự đối lập giữa các giai tầng xã hội, tạo sự đồng thuận trong xã hội và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tệ nạn xã hội, những biểu hiện tiêu cực, sai trái, sự phân hóa giàu nghèo, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Phát huy vai trò của nhân dân lao động trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Về văn hóa - tư tưởng, phát triển nền văn hoá xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền thống văn hoá và những thành tựu khoa học, công nghệ của dân tộc và nhân loại. Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, phát triển khoa học và công nghệ, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Trung thành, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh chống mọi biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho thế giới quan mác xít giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng, tâm lý, tập quán cũ, lạc hậu, những tư tưởng, văn hoá xấu độc nảy sinh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự cùng tồn tại, đan xen lẫn nhau những nhân tố của xã hội mới và những “dấu vết” của xã hội cũ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: “Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh; hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại, nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu”[1]. Đôi khi “cái cũ” còn lấn át cả “cái mới”, nên sự phát triển của chủ nghĩa xã hội phải trải qua những bước trung gian, quá độ, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Tính chất quá độ đó thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hoá. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức…”[2]

Trên lĩnh vực kinh tế: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại đan xen nhiều thành phần kinh tế, những bộ phận kinh tế của cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, vận động trong sự tác động hỗ trợ, hp tác và đấu tranh với nhau để dần dần chuyển hoá thành các thành phần kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin, trong thời kỳ quá độ ở nước Nga đã tồn tại 5 thành phần kinh tế: kinh tế gia trưởng, kinh tế hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực chính trị - xã hội: tương ứng với các thành phần kinh tế là sự tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ. Và do đó, lợi ích cơ bản của họ có sự khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau. Sự quá độ chính trị diễn ra quá trình thay thế nền dân chủ tư sản bằng nền dân chủ vô sản. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được thiết lập, không ngừng củng cố hoàn thiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân lao động và tổ chức xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình vừa liên minh, hiệp tác, vừa đấu tranh chuyển hóa lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường phát triển lên chủ nghĩa xã hội hay lên chủ nghĩa tư bản diễn ra trong điều kiện mới với nội dung mới và hình thức mới. Tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động để khắc phục dần sự đối lập giữa các giai tầng xã hội, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, từng bước thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn tồn tại đan xen nhiều loại hình tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Nền văn hoá mới đang hình thành phát triển trên cơ sở hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, bên cạnh đó có sự tồn tại, ảnh hưởng của hệ tư tưởng cũ và tâm lý, thói quen, tập quán, hủ tục lạc hậu của chế độ cũ còn rơi rớt lại. Quá trình đó diễn ra đồng thời với sự tồn tại dai dẳng và níu kéo tinh vi của “cái cũ” làm cho tính chất quá độ trên lĩnh vực này càng phức tạp, khó khăn, lâu dài hơn, đòi hỏi phải tiến hành cải biến cách mạng hết sức kiên trì, linh hoạt và toàn diện.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 310.

[2] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 15.

Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao. Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. C.Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[1]. Khẳng định quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin cho rằng: “Về lý luận không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”[2]. “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”[3]

Xã hội trong thời kỳ quá độ là một xã hội vừa thoát thai từ chủ nghĩa tư bản, còn mang nặng những “dấu vết” của xã hội cũ mà nó vừa lọt lòng. Những “dấu vết” đó chỉ mất đi thông qua hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện cải tạo cái cũ trên toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước xây dựng cái mới của chủ nghĩa xã hội. Để đảm bảo những tiền đề vật chất, văn hoá và tinh thần cần thiết cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó, thì sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành chủ thể cầm quyền, phải trải qua một quá trình “cải biến cách mạng” sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là quá trình tổ chức, xây dựng và đấu tranh để từng bước cải tạo các quan hệ kinh tế - xã hội cũ, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới tương ứng, hình thành và phát triển một cơ cấu xã hội tiến bộ, đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh nhằm giải phóng triệt để con người. V.I.Lênin đã khẳng định: “Mục đích đó, người ta không thể đạt ngay tức khắc được; muốn thế cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là một việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản”[4].

Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đã chứng minh tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ khó khăn và phức tạp, lâu dài, không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn.

Trong điều kiện lịch sử mới được hình thành sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, V.I.Lênin đã khẳng định: Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xôviết và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[5]. Xuất phát từ quan điểm đó, về hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã nêu ra hai hình thức quá độ: quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. Theo V.I.Lênin, chỉ ở các nước tư bản phát triển cao, giai cấp công nhân đã trưởng thành mới có đủ những tiền đề kinh tế, xã hội cho sự quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Trái lại, các nước lạc hậu, các nước tiền tư bản chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián tiếp. Đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải trải qua nhiều bước trung gian, quá độ mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội”[6].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 47.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 309.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 85.

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 464.

[5] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2006, tr. 295.

[6] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 43, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 274.

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

 


C.Mác đã chỉ ra rằng, từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền đến khi giai cấp công nhân xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển trên cơ sở của chính nó.

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước, tiến hành xây dựng xã hội mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chỉ kết thúc khi xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp.

Cơ sở phân kỳ hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” viết năm 1875, lần đầu tiên C.Mác trình bày rõ sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp (hay còn gọi là giai đoạn đầu) và giai đoạn cao, sau này gọi là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản (hay xã hội xã hội chủ nghĩa xà xã hội cộng sản chủ nghĩa). Và giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ quá độ chính trị từ xã hội nọ sang xã hội kia. Đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do vậy, còn mang nhiều dấu vết của xã hội tư bản. C.Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[1].

Trung thành, bảo vệ và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về các giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, V.I.Lênin trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, đã viết:

“I. Những cơn đau đẻ kéo dài.

II. Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

III. Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa”[2].

Theo V.I.Lênin, sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội công sản chủ nghĩa gồm một thời kỳ (thời kỳ quá độ) và hai giai đoạn (chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chỉ rõ thời kỳ quá độ nằm trong giai đoạn đầu và bao gồm nhiều bước quá độ nhỏ.

Tựu trung lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa hình thành và phát triển qua một thời kỳ (thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội) và hai giai đoạn (giai đoạn thấp hay giai đoạn đầu - chủ nghĩa xã hội hay xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản hay xã hội công sản chủ nghĩa).

Thực tiễn các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua thời kỳ quá độ - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản. Trong đó thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ khó khăn, phức tạp, lâu dài, không thể nôn nóng đốt cháy giai đoạn. Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba… đều đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 47.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 223.

Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã xây dựng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Học thuyết vạch rõ những quy luật cơ bản của vận động xã hội, chỉ ra phương pháp khoa học để giải thích lịch sử nhân loại. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin vừa làm rõ những yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội vừa xem xét xã hội trong sự vận động biến đổi và phát triển không ngừng.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã chỉ ra tính tất yếu sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là quá trình lịch sử tự nhiên. Sự thay thế này được thực hiện thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa xuất phát từ hai tiền đề vật chất quan trọng nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân. Học thuyết kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho sự phân kỳ lịch sử, trong đó có sự phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là nền tảng cho các phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử và chính trị thế giới.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một khái niệm chỉ xã hội ở giai đoạn phát triển cao trong lịch sử xã hội loài người, trong đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng được xây dựng thể hiện ý chí, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

Ngày 02 tháng 12
“Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”.

Cách đây 104 năm, ngày 02-12-1920, báo cáo theo dõi của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc vừa nhận được số “La Revue Communiste” (Tạp chí Cộng sản).

Ngày 02-12-1940, “Cứu Vong Nhật báo” đăng bài “Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc” của Nguyễn Ái Quốc, trong đó tác giả vạch rõ: “Phong trào giải phóng của Việt Nam là đội quân đồng minh trong công cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Về tinh thần cũng như về vật chất chúng ta đều cần phải cổ vũ và giúp đỡ. Quốc phụ (chỉ Tôn Trung Sơn) từng dạy chúng ta: Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do, độc lập. Cơ hội thực hiện lời di huấn đó đã đến”.

Ngày 02-12-1942, từ nhà ngục Thiên Giang (Quảng Tây), Hồ Chí Minh bị giải đi Liễu Châu rồi tới Lai Tân trên một toa xe lửa chở than. Tình cảnh gian khó này được tả lại trong bài thơ “Tháp hỏa xa vãng Lai Tân” (Đáp xe lửa đi Lai Tân) được Đỗ Văn Hỷ và Huệ Chi dịch: “Cuốc bộ mấy mươi ngày vất vả/Hôm nay được bước lên xe hỏa/Dù rằng chỉ ngồi trên đống than/Sang gấp mấy lần khi cuốc bộ”.

Tháng 12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu mới thành lập với những lời động viên và căn dặn: “Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan cơ mật giúp Trung ương và Chính phủ xây dựng và điều chỉnh bộ đội, bày mưu tính kế để đánh thắng kẻ thù. Muốn thắng địch phải biết địch biết ta, nắm chắc ý định cấp trên, có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể... Vừa kháng chiến lại vừa phải kiến quốc, nhiệm vụ chính của quân đội là chống giặc ngoại xâm, song không được coi nhẹ các việc khác như: công tác vận động quần chúng, tổ chức quần chúng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”.

Ngày 02-12-1948, Bác viết thư gửi Bộ trưởng Canh nông Cù Huy Cận, góp ý kiến rất cụ thể và chi tiết về bản “Nội quy kiểu mẫu của Quỹ nghĩa thương” (một hình thức tương trợ lương thực ở nông thôn) và căn dặn: “Nói tóm lại, phải làm nội quy giản đơn, thì dân mới dễ hiểu, dễ làm hơn”.

Ngày 02-12-1961, Bác dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 thảo luận một số vấn đề của Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô và bàn việc đưa Đảng bộ miền Nam ra công khai. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình cách mạng, Bác căn dặn: “Trong lời nói cũng như bài viết, trước hết là của các đồng chí Trung ương phải hết sức cẩn thận. Lúc này, một cái gì không thận trọng sẽ bị hiểu lầm ngay”.

Ngày 02-12-1965, phát biểu tại Đại hội những phụ nữ xuất sắc trong phong trào “Ba đảm đang” của thủ đô, Bác biểu dương: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng. Hai nghìn năm trước đây, ta có các nữ anh hùng Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống giặc Pháp trước kia và trong kháng chiến chống giặc Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ là Phó Tổng tư lệnh như ở miền Nam nước ta... Khó khăn đến mấy chúng ta cũng vượt qua được và nhất định chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược”./.
Môi trường ST.

Trên lĩnh vực chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tiến hành cách mạng về chính trị nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản để giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo, là cơ sở và tiền đề để thực hiện các nội dung về kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Để tiến hành nội dung cách mạng về chính trị giành thắng lợi, giai cấp công nhân ở mỗi nước phải tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân lao động dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Sau khi giành được chính quyền nhà nước, giai cấp công nhân thực hiện bước tiếp theo là không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho nhân dân lao động, bảo đảm cho họ thực hiện quyền làm chủ xã hội, thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nhà nước chuyên chính vô sản phải thường xuyên được củng cố vững chắc, không chia sẻ quyền lực chính trị của giai cấp công nhân cho bất kỳ một lực lượng nào, từng bước xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Tính chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Tính chất của một cuộc cách mạng là yếu tố cơ bản để phân biệt các cuộc cách mạng khác nhau trong lịch sử. Cơ sở để xác định tính chất của một cuộc cách mạng là dựa vào bản chất của giai cấp lãnh đạo cách mạng và mục tiêu, nhiệm vụ mà cuộc cách mạng đó hướng tới, giải quyết. Cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài; mang tính nhân dân; tính quốc tế sâu sắc.

Tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khách quan tính chất cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thực chất là hệ quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, đây là cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người, diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm xoá bỏ triệt để mọi nguồn gốc của áp bức, bóc lột và bất công, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn áp bức, bóc lột. Đây là công việc vô cùng khó khăn gian khổ, phức tạp và lâu dài vì những nhân tố mới của xã hội - xã hội chủ nghĩa không có sẵn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Mặt khác giai cấp tư sản là một lực lượng quốc tế, nó có thể bị lật đổ địa vị thống trị xã hội ở một quốc gia, những mối liên hệ quốc tế và những tiềm lực kinh tế, quân sự, chính trị, còn tồn tại lâu dài. Thực tế đã chứng minh, giai cấp công nhân ở một số nước thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản giành được chính quyền nhà nước, đã có một quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng do sai lầm chủ quan kết hợp với sự chống phá của các lực lượng phản cách mạng đã quay lại phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc, cùng các thế lực thù địch luôn sử dụng mọi âm mưu, thủ đoạn để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa để lấy lại và mở rộng phạm vi của chủ nghĩa tư bản.

Tính chất nhân dân của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được biểu hiện đây là cuộc cách mạng do nhân dân lao động tiến hành thông qua vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, đem lại lợi ích chính đáng và đáp ứng nguyện vọng giải phóng họ khỏi mọi áp bức, bóc lột của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa. Còn các cuộc cách mạng xã hội khác đã diễn ra trong lịch sử chỉ là những cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho một bộ phận thiểu số - giai cấp thống trị, khi thắng lợi quay lưng lại với nhân dân lao động, không đem lại lợi ích chính đáng cho họ. Vì vậy, trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra, thì chỉ có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc.

Tính chất quốc tế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được thể hiện đây là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo khi giành được thắng lợi sẽ ảnh hưởng to lớn đến xu hướng vận động, phát triển của nhân loại tiến bộ. Nó sẽ thu hẹp phạm vi tồn tại thực tế của chủ nghĩa tư bản thế giới, từng bước hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân là xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên toàn thế giới. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước muốn giành được thắng lợi phải có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới cả về vật chất và tinh thần.

Thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nói riêng, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước nói chung là những bằng chứng sinh động phản ánh sâu sắc tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.