Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

NHẬN DIỆN, TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO KHÔNG TIN VÀ LÀM THEO TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH

 

BÀI 3: CỦNG CỐ, CHĂM LO CUỘC SỐNG ĐỂ ĐỒNG BÀO KHÔNG TIN VÀ THEO TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP DƯƠNG VĂN MÌNH.
Những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều chủ trương, biện pháp huy động nhân lực, vật lực đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng cơ sở, phát triển mạng lưới giáo dục, y tế, văn hóa… cho người dân vùng sâu, vùng xa. Từ đó đồng bào thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước tiến tới từ bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.
Củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở
Theo thống kê từ Sở Nội vụ tỉnh Bắc Kạn: Tính đến tháng 5-2024, toàn tỉnh có gần 84% cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối chính quyền là người dân tộc thiểu số (DTTS). Trong đó, nhiều cán bộ là người DTTS có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2; hơn 750 cán bộ có trình độ cao cấp lý luận; 100% cán bộ cấp xã có trình độ trung cấp trở lên. Theo thống kê từ Văn Phòng đoàn Đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn: Số lượng, tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia Đại biểu Quốc hội khóa XV là 4/6 người; tham gia Ban chấp hành Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020-2025 là 3/6 (chiếm 50%); tham gia đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh có 39/50 đại biểu (chiếm 78%), cấp huyện 171/238 người (chiếm 71,8%), cấp xã 1.708/1.952 người (chiếm 87,5%).
Những con số điển hình trên là minh chứng cụ thể của tỉnh Bắc Kạn trong thực hiện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”.
Để đẩy mạnh phát triển bền vững toàn diện vùng đồng bào DTTS, văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nêu rõ: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào DTTS. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc”.
Cùng với cấp ủy, chính quyền các cấp, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh Bắc Kạn thời gian qua đã phối hợp với công an tỉnh và các sở, ban ngành, địa phương tham mưu, tổ chức được 39 lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở, đội ngũ cán bộ chuyên trách thôn, xã. Từ năm 2020 đến nay, toàn tỉnh có trên 4.000 lượt người được bồi dưỡng kiến thức dân tộc theo Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Cấp ủy các cấp tham gia làm công tác tham mưu tổ chức quy hoạch, đề bạt, bố trí cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS theo đúng tiêu chuẩn quy định…
Chăm lo cuộc sống đồng bào
Song song với công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo; ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; xóa đói, giảm nghèo; các chính sách về văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội… được triển khai đồng bộ tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn bị ảnh hưởng của tổ chức này.
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2024 (Báo cáo số 447/BC-UBND ngày 28-6-2024 của UBND tỉnh Bắc Kạn) nêu bật: Gần 7,9% số trẻ suy dinh dưỡng trong tỉnh được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng. Tại 2 huyện nghèo Ngân Sơn và Pác Nặm, 100% trẻ em gái vị thành niên từ 12 đến dưới 16 tuổi được bổ sung vi chất sắt; 95% phụ nữ có thai được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng…
Hơn 46.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác được vay vốn phát triển sản xuất, đầu tư cho con em học tập; hơn 3.100 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở; gần 315.000 đối tượng chính sách xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế với tỷ lệ bao phủ trên địa bàn tỉnh đạt 96,19%. Mục tiêu giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều hằng năm đạt và vượt kế hoạch đề ra (năm 2022 giảm 2,66%, năm 2023 giảm 2,76%). Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào DTTS giảm 3,45%. Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo năm sau giảm so với năm trước…
Thượng tá Hà Đức Nam, Trưởng ban Dân vận, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Bắc Kạn cho biết: Năm 2023, Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu, phối hợp, triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát được 301 ngôi nhà từ quỹ Bộ Quốc phòng và Quân khu, trị giá trên 15 tỷ đồng. Thời gian qua, LLVT tỉnh đóng góp trên 13.000 ngày công làm 140km kênh mương, sửa và làm mới 45 cây cầu dân sinh, 31 lớp học; thăm, tặng quà đồng bào và các gia đình chính sách với tổng trị giá gần 3 tỷ đồng; khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho gần 3.000 lượt người, trị giá gần 300 triệu đồng…
Những chính sách an sinh xã hội đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần không nhỏ, thay đổi diện mạo vùng cao. Tại nhà văn hóa thôn Pù Lùng 1, xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn (món quà mà cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu xây tặng), vào những đêm trăng sáng, ngắm nhìn bà con hân hoan quây quần thổi khèn, múa điệu hoa xòe, anh Hoàng Văn Chẹ, Trưởng thôn Pù Lùng 1 phấn khởi: Sự quan tâm, thấu hiểu, động viên và những buổi trò chuyện, tuyên truyền thường xuyên của cán bộ và chính quyền địa phương đối với những người dân tộc Mông bị ảnh hưởng bởi tà đạo đã đưa họ thoát khỏi “bóng tối”, trở lại với cuộc sống bình yên thường nhật./.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG


Nhân sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua, những kẻ phản động, bất mãn, chống đối lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán những bài viết, phát ngôn xuyên tạc vấn đề bầu cử của Đảng, Nhà nước ta. Gần đây, trên trang Doithoaionline có bài viết “Bao giờ dân Việt mới được tự do bầu cử ?” của Bút danh Chánh Thành. Bài viết cho rằng: “Nhu cầu dân chủ và bầu cử trung thực ở Việt Nam đang rất lớn, nhưng nhà nước độc tài làm sao dám chấp nhận”; Y còn cho rằng người dân Việt Nam quan tâm đến bầu cử ở Mỹ nhiều hơn bầu cử ở Việt Nam “Dân Việt Nam rộn ràng háo hức cập nhật từng lá phiếu bầu Tổng thống Mỹ” còn “5 đợt bầu cử Chủ tịch nước trong 4 năm qua nhưng chẳng ai quan tâm” vì “người dân Việt Nam đã quá chán ngán nền chính trị nước nhà”…
Đây là bài viết thể hiện tính chất thù địch, cố tình xuyên tạc sai sự thật, lợi dụng các sự kiện chính trị các nước khác trên thế giới để bôi đen, nói xấu Đảng, Nhà nước và công tác bầu cử ở Việt Nam. Việc bầu cử đại biểu vào các vị trí lãnh đạo Đảng, Nhà nước theo nhiệm kỳ hoặc khi có biến động nhân sự là việc làm bình thường của mỗi quốc gia, mỗi cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Mặt khác, ở mỗi quốc gia với chế độ chính trị khác nhau sẽ có cách thức bầu cử khác nhau, việc đem so sánh bầu cử ở Mỹ và ở Việt Nam thực chất là thủ đoạn “mượn gió bẻ măng” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xuyên tạc, bóp méo công tác bầu cử ở Việt Nam; hạ thấp uy tín của Quốc hội, Đảng, Nhà nước; kích động tâm lý, hướng lái dư luận làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Quốc hội, Đảng, Nhà nước.
Chánh Thành còn tùy tiện phán xét rằng: Việc Quốc Hội tiến hành bầu cử các chức vụ, chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước thời gian qua chỉ là “diễn hề” theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng. Thực chất, đây là sự hằn học, đố kị của những kẻ “thua cuộc” - Những kẻ “bán thân”, vuốt đuôi, tay sai cho giặc, những kẻ vong ân, bội nghĩa. Bời vì: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân; là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền lập hiến, lập pháp, bầu cử, bãi miễn các chức vụ, chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước… Đây là, việc làm hoàn toàn đúng đắn, hợp hiến, hợp pháp và Đảng lãnh đạo công tác bầu cử, tham gia vào công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, là không vi hiến. Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Trong bài viết, Chánh Thành còn cho rằng công tác bầu cử của Quốc hội chỉ là hình thức, thiếu dân chủ, minh bạch, người dân Việt Nam “khao khát có cơ hội được bỏ phiếu, kiểm phiếu một cách khách quan, trung thực”. Thực tế, bầu cử ở Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Thực hiện bầu cử là trách nhiệm của công dân đối với đất nước, nên không có chuyện đi bầu cử chỉ là đóng vai trong show diễn “dân chủ”, tại mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, họ thông qua những người đại diện của mình để thể hiện rõ ý chí, nguyện vọng của họ thông qua lá phiếu.
Với những thủ đoạn như kiểu của Chánh Thành, chúng ta không khó để nhận rõ âm mưu, mục đích sâu xa của chúng. Công dân Việt Nam, tuyệt đại đa số luôn tin tưởng vào những đại biểu của mình đã bầu ra, đại diện cho họ trong việc làm chủ vận mệnh của dân tộc, vì sự phát triển bền vững, phồn vinh của đất nước, tuyệt đối tin tưởng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Bằng lòng tự hào dân tộc, sự tự tôn, tự trọng của con người Việt Nam chân chính, chúng ta cần phân biệt trắng đen, thật giả để kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật như Chánh Thành. Chúng ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ lẽ phải, cái đúng, bảo vệ sự thật, cũng là bảo vệ môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh của chúng ta./.

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ, THÚC ĐẨY ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA BẰNG CÁC BIỆN PHÁP HÒA BÌNH

 Là bộ phận then chốt của công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã và đang khẳng định vai trò quan trọng; là định hướng chiến lược nhằm kiến tạo, củng cố môi trường, điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị liên tục xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác, phát triển của Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái đó là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh mới hiện nay.

Kiên quyết bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc rằng việc Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại quốc phòng “bốn không” độc lập, tự chủ là lỗi thời, lạc hậu, làm hạn chế sức mạnh của đất nước

Những năm qua, quán triệt và “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại để bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”(1), Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả; trong đó nổi bật về lĩnh vực quốc phòng và luôn xác định đó là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mang tính đột phá, tạo điều kiện và môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2). Nhiều mối quan hệ quốc phòng song phương được củng cố, đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc; nhất là quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống. Hợp tác quốc phòng đa phương cũng có những bước phát triển thực chất, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng lòng tin chiến lược, thúc đẩy xu thế hòa bình, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột quân sự. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã thực sự trở thành trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc; là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; là phương thức thực hiện các mục tiêu về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của quân đội trong thời bình. Tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 100 quốc gia, trong đó hầu hết là các đối tác chủ chốt (bao gồm 7 đối tác chiến lược toàn diện; 11 đối tác chiến lược; 12 đối tác toàn diện; 3 quốc gia có quan hệ đặc biệt); đã đặt 33 cơ quan Tùy viên quốc phòng thường trú tại các nước và tại trụ sở Liên hợp quốc; 52 nước đã đặt cơ quan Tùy viên quốc phòng, Tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam đã cử 516 lượt cán bộ, nhân viên tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các phái bộ ở Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc. Bên cạnh đó, tháng 2-2023, Việt Nam đã cử 76 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ(3).

Các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia tìm kiếm cứu nạn trong vụ động đất ở tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ, tháng 2-2023_Nguồn: qdnd.vn

Tuy nhiên, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm, trực tiếp liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, thường gắn kết với các lĩnh vực hợp tác khác và phụ thuộc vào mức độ quan hệ về chính trị, kinh tế với các đối tác. Lợi dụng điều đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước, những nhóm người tự xưng là “yêu nước”, “tâm huyết”, “lo lắng” với vận mệnh quốc gia - dân tộc đã nhiều lần gửi cái gọi là “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Họ thường rêu rao rằng, việc Việt Nam theo đuổi đường lối đối ngoại quốc phòng trung lập, độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “trì trệ”, “tự mình cô lập mình”, là “đơn phương tách khỏi dòng chảy hội nhập của thế giới đương đại”; rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tất yếu tăng lên; thế nhưng, Việt Nam vẫn “khăng khăng thực hiện chính sách quốc phòng bốn không” là “đường lối sai lầm”, “đối sách nhu nhược”, “hành động tự trói”, đã lỗi thời, lạc hậu, đi ngược lại xu thế của thời đại (?!). Họ ra sức xuyên tạc chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Việt Nam là “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước” và việc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” tức là đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ Tổ quốc, xa rời phương pháp cách mạng mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã khẳng định”. Ngang nhiên hơn, họ còn dựng chuyện, cố tình quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước là “khơi mào cho hành động chạy đua vũ trang trong khu vực”, là để chống lại một nước thứ ba (?!).

Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng với chính sách đối ngoại quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Theo họ, để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo, Việt Nam phải “thoát bên này”, “bài bên kia”; phải nhanh chóng trở thành đồng minh, liên minh, liên thủ với một số nước lớn chứ không thể trung lập “một mình một phe”. Gần đây, nhân cuộc xung đột Nga - U-crai-na, các đối tượng phản động với mưu đồ chống phá đã vội vã xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam là “không dám thể hiện lập trường”, là “đối ngoại quốc phòng núp bóng”, “đu dây”, là hành động “tự sát”. Thậm chí, có người còn “bóng gió” đầy ẩn ý rằng, trong bối cảnh xung đột căng thẳng, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Nga tức là đã “đi với nước này để chống nước kia”. Từ đó, họ kích động cách hành xử bạo lực với cộng đồng người Việt Nam tại Nga và U-crai-na. Trơ trẽn và phi lý hơn, thông qua việc này, họ đưa ra yêu sách đòi chúng ta thay đổi đường lối và chính sách đối ngoại quốc phòng.

Rõ ràng, những luận điệu trên là hoàn toàn bịa đặt, vô căn cứ, không đúng sự thật. Mục đích của các thế lực thù địch, phản động là xuyên tạc trắng trợn, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”, độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, hòng hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc bên ngoài, đánh mất độc lập, tự chủ trong các hoạt động quân sự, quốc phòng, đối ngoại; gây khó khăn cho Việt Nam trong việc củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại quốc phòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, họ gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của đường lối quân sự, quốc phòng, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, hòng gây chia rẽ đoàn kết quân - dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, suy giảm sức mạnh quốc phòng của đất nước. Âm mưu thâm độc hơn khi họ cố tình hướng lái người dân từ bỏ trách nhiệm, nghĩa vụ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự, dẫn tới gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng là trụ cột để kiến tạo và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Là bộ phận then chốt của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng; là định hướng chiến lược nhằm kiến tạo, củng cố môi trường, điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam luôn nhận thức rõ, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là cơ sở quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới; là phương thức căn bản để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, trên cơ sở “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(4); Đảng và Nhà nước ta xác định phương hướng “chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh”(5) trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không phân biệt sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”(6)

Mục tiêu của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng thống nhất với mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước, đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình ở khu vực và trên thế giới”(7). Đồng thời, “thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm gắn kết chặt chẽ, kế thừa và phát huy thành tựu, kinh nghiệm, thúc đẩy hội nhập trên các lĩnh vực khác, tạo thành một thể thống nhất, đồng bộ trong chiến lược đối ngoại của quốc gia; góp phần nâng cao vai trò, vị thế của đất nước, quân đội trên trường quốc tế.

Thực hiện mục tiêu đó, quan điểm nhất quán của Việt Nam là đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo hướng phát triển sâu, rộng cả về phạm vi, quy mô và mức độ hợp tác. “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”(9) nhằm phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luôn xác định rõ lộ trình, bước đi của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác và xu hướng hợp tác, liên kết, phát triển của khu vực và thế giới. Triệt để khai thác cơ hội trong quá trình hội nhập; chủ động khắc phục khó khăn, đề cao cảnh giác, không để các thế lực thù địch lợi dụng tiến trình này gây phương hại đến độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng luôn nhất quán “bốn không” là: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(10). Tuy nhiên, thực hiện đối ngoại quốc phòng “bốn không” không phải là bất biến. “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”(11) và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Quan điểm, đường lối đó đã khẳng định rõ tính trung lập của đối ngoại quốc phòng Việt Nam; là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cơ sở lý luận, thực tiễn, khoa học, pháp lý vững chắc; là kế sách bảo vệ Tổ quốc, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.

Thực tiễn quan hệ quốc tế đương đại cho thấy, các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế, thỏa hiệp lẫn nhau rất gay gắt, phức tạp và tăng cường can dự, chi phối nội bộ nước khác. Diễn biến tình hình thế giới, khu vực thời gian gần đây cho thấy cái giá phải trả của việc “tham gia phe nhóm”, “chọn bên” hay “liên minh với nước này để chống nước kia” là vô cùng đắt giá; thậm chí nước nhỏ rất dễ trở thành “quân cờ” trong tay các nước lớn, bị “mặc cả”, “đổi chác”, xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Vậy nên, đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là đúng đắn, sáng suốt, hợp lý trong một thế giới đầy biến động, khó đoán định. Với lẽ đó, Việt Nam không “chọn bên” mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Đây là quan điểm công khai, minh bạch trong đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng hiện nay. Vì vậy, những lời lẽ suy diễn, ngụy biện hay luận điệu núp bóng “hiến kế”, “bày mưu” cho rằng Việt Nam phải “thân cận với bên này” hoặc “liên minh với nước lớn” trong đường lối, chính sách đối ngoại không những là nhận thức sai lầm, phản động, mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, lệ thuộc, trái với phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ, “thêm bạn, bớt thù”, vì hòa bình, hợp tác, phát triển, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” của Việt Nam.

Về phương châm hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, Việt Nam xác định phải “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”(12), không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Lấy mở rộng và phát huy “điểm tương đồng” để hạn chế, khắc phục và thu hẹp “điểm bất đồng”, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh, tăng cường lòng tin chiến lược với các nước. Đây là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinh thần mở rộng hợp tác để giải quyết mâu thuẫn, bất đồng vì mục tiêu bảo đảm độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”(13). Quán triệt quan điểm đó, Việt Nam luôn chủ động tham gia và đóng góp nhiều sáng kiến, định hình các cơ chế hợp tác đa phương về quốc phòng, quân sự phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích của quốc gia - dân tộc; luôn coi trọng củng cố quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; tham gia sâu vào Đối thoại Shangri-La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), nỗ lực tham gia chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt; từng bước tham gia các cơ chế quốc phòng, an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh châu Âu (EU); tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhất là các hoạt động nhân đạo, khắc phục hậu quả chiến tranh, ứng phó với thảm họa; cam kết thực hiện nghiêm túc các điều ước, thỏa thuận đã ký kết với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực; đồng thời, thiết lập và duy trì đường dây nóng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với bộ quốc phòng các nước. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng hướng đến “tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở pháp luật quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng”(14). Với những tranh chấp, bất đồng còn tồn tại, Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Chú trọng sử dụng biện pháp ngoại giao mềm dẻo (như đàm phán, thương lượng, trung gian hòa giải, thông qua các tổ chức quốc tế, khu vực, thông qua ký kết các điều ước song phương, đa phương...) và tài phán quốc tế (tòa án quốc tế, trọng tài quốc tế...). Việt Nam luôn thiện chí thúc đẩy các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp để giải quyết vướng mắc; luôn kiềm chế, không có hành động quá khích, cực đoan, không làm phức tạp tình hình. Tuy nhiên, chúng ta sẵn sàng sử dụng sức mạnh, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích cơ bản của quốc gia - dân tộc bị xâm phạm.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới 

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò chiến lược quan trọng của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thực hiện chủ trương tranh thủ tối đa và phát huy cao nhất các nguồn lực để tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn; cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ và các điểm nóng có chiều hướng gia tăng; các vấn đề về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng chuyển hóa, đan xen, tác động sâu sắc trên nhiều lĩnh vực..., sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới càng đòi hỏi chúng ta tăng cường hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng; xác định rõ chủ trương, giải pháp thực hiện với lộ trình và bước đi phù hợp. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 34-CT/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, “về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng”; Kết luận số 53-KL/TW, ngày 28-4-2023, của Bộ Chính trị, “về Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Đề án xây dựng Trung tâm điều phối quốc gia về gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Các chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 6 và Đội Công binh số 3 xuất quân tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan và khu vực Abyei, tháng 9-2024_Nguồn: qdnd.vn

Xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; trong đó, xác định rõ các cấp độ đối ngoại quốc phòng phù hợp và tương thích với mức độ quan hệ hợp tác với từng đối tác cụ thể. Tập trung thực hiện tốt ba khâu đột phá trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là: Một là, tiếp tục mở rộng đối ngoại quốc phòng song phương có trọng tâm, trọng điểm trên cơ sở các thỏa thuận đã ký kết; tập trung vào lĩnh vực hợp tác về nghiên cứu khoa học quân sự, hiện đại hóa quân đội, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước. Ưu tiên thúc đẩy quan hệ quốc phòng gắn bó mật thiết, ổn định, vững chắc với các nước Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, thúc đẩy hợp tác và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, củng cố đường biên giới hòa bình, ổn định; coi trọng quan hệ hợp tác với các nước ASEAN; củng cố, phát triển quan hệ quốc phòng với các nước lớn; tăng cường quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển. Hai là, tích cực, chủ động tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, trước hết là các cơ chế hợp tác quốc phòng do ASEAN giữ vai trò chủ đạo; tham gia các cơ chế đa phương về kiểm soát vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoạt động chống khủng bố và các hoạt động khác phù hợp với điều kiện, khả năng của đất nước. Ba là, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô, tham gia hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, như quan sát viên quân sự, huấn luyện, diễn tập chung về ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, hoạt động hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh... đúng với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”(15).

Quá trình thực hiện quán triệt phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến; kiên định về nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, sáng tạo về sách lược; về quan điểm luôn khách quan, trung lập; về nguyên tắc phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và độc lập, tự chủ; về biện pháp, cách làm cụ thể phải nhạy bén; kịp thời trao đổi, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm; nâng tầm tư duy, hành động chắc chắn, hiệu quả. Tích cực tạo lập thế trận giữa quốc phòng, an ninh với đối ngoại vững chắc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng; tập trung vào hoạt động đối ngoại của lãnh đạo các cấp, các sáng kiến, đóng góp của Việt Nam tại các hội nghị, diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương, kết quả hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ nhân đạo, đối ngoại biên giới, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nắm chắc diễn biến tình hình, những yếu tố tác động đến hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, nhất là cạnh tranh chiến lược, xu thế tập hợp lực lượng của các nước lớn, tình hình Biển Đông, tình hình trên các tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam, các thách thức an ninh phi truyền thống... để xây dựng đối sách, phương thức xử lý hiệu quả. Triển khai hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đồng bộ trên các lĩnh vực; tham gia đầy đủ, hiệu quả các cơ chế, khuôn khổ, cấu trúc, diễn đàn khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, thể hiện vai trò dẫn dắt ở một số lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh; đảm nhiệm tốt vai trò chủ trì các hoạt động trong khuôn khổ của ASEAN.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ; là sự phản chiếu chính sách quốc phòng vì hòa bình, để tự vệ của Việt Nam. Bất luận ai đó có cố tình phán sai, nói lệch thế nào đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc, phủ nhận điều đó, bởi đây còn là phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình trong tình hình mới./.

st

ĐỂ CÁN BỘ GẦN DÂN, TRỌNG DÂN, VÌ DÂN

 Làm việc sát quần chúng, hòa mình với quần chúng để nghe được những điều quần chúng nói, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, nỗi bức xúc của quần chúng là vấn đề có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và luôn gương mẫu thực hành trong quá trình làm việc.

Học và làm theo Bác, thời gian qua, bên cạnh tuyên truyền, giáo dục, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều giải pháp sáng tạo trong việc đưa cán bộ gần dân, hiểu dân, vì dân hơn.
Đưa lãnh đạo gần dân.
Từ tháng 9/2024, lịch công tác của đồng chí Hà Sỹ Thắng, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bắc Kạn có thêm nội dung hoàn toàn mới là việc đến xã Vân Tùng (Ngân Sơn) để nắm tình hình, hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc phát triển kinh tế-xã hội.
Phần việc mới này xuất phát từ việc Tỉnh ủy Bắc Kạn phân công đồng chí phụ trách xã Vân Tùng, thực hiện theo Quy định 1390-QĐ/TU ngày 29/8/2024 của Tỉnh ủy Bắc Kạn về nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ lãnh đạo sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh theo dõi các xã, phường, thị trấn.
Theo đồng chí Hà Sỹ Thắng, việc theo dõi thực hiện thông qua dự các cuộc họp của Đảng ủy xã, trực tiếp đến nhiều thôn, bản trong xã để nắm tình hình, tư vấn cho xã. Ngược lại, đến với cơ sở cũng là hòa mình vào thực tế để tích lũy kinh nghiệm, học từ thực tiễn để phục vụ hiệu quả cho thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
Trước đó, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách, theo dõi các huyện; Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh dự sinh hoạt chi bộ cơ sở nhưng đây là lần đầu tiên, Bắc Kạn phân công 108 cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở, ngành phụ trách, theo dõi toàn bộ 108 xã, phường, thị trấn.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Phương Viên (Chợ Đồn) Ma Ngọc Tuyền, nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách mà cấp xã lúng túng trong thực hiện. Tuy nhiên, việc trao đổi qua văn bản nhiều khi không thể hiệu quả bằng việc được cán bộ cấp tỉnh giải đáp, hướng dẫn, giúp đỡ theo cách “cầm tay, chỉ việc”. Mặt khác, cán bộ là lãnh đạo cấp sở, ngành với chuyên môn sâu cũng giúp khơi mở, giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực sở, ngành đó quản lý.
“Chúng tôi đánh giá rất cao việc phân công cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh phụ trách, theo dõi xã. Việc cán bộ tỉnh thường xuyên dự họp, nắm tình hình cũng giúp cán bộ xã triển khai công việc kỷ luật, quy củ hơn”, Bí thư Đảng ủy xã Phương Viên Ma Ngọc Tuyền nói thêm.
Hiệu quả trong thực hiện Quy định 1390 là ở chỗ không chỉ phân công đơn thuần, chung chung mà quy định cụ thể những nội dung các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện. Quy định với 4 chương, 11 điều trong đó quy định rõ: Đối tượng, phạm vi áp dụng; Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo dõi địa bàn. Quy định rõ mối quan hệ công tác với Ban Thường vụ Tỉnh ủy; với các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách đảng bộ; với tập thể lãnh đạo cơ quan nơi công tác; với cấp ủy địa phương... Thời gian phân công theo dõi địa bàn xã theo nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp.
Ở chiều ngược lại, đây là cơ hội để cán bộ lãnh đạo tỉnh tiếp cận thực tế, tích lũy kinh nghiệm, từ đó nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Cán bộ theo dõi địa bàn cũng được trao quyền tham gia ý kiến, đề xuất trực tiếp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về những vấn đề phát sinh, khó khăn tại cơ sở. Điều này giúp nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả trong công tác quản lý, chỉ đạo, “rút ngắn” khoảng cách từ cơ sở tới Tỉnh ủy, đồng thời còn là kênh thông tin để Tỉnh ủy giám sát sự trung thực trong thực hiện nhiệm vụ của cấp huyện.
Theo Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Chợ Đồn Ma Thị Na, việc 20 xã trên địa bàn đều có cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh phụ trách, theo dõi là rất thuận lợi cho triển khai phát triển kinh tế-xã hội. Không chỉ giúp đỡ, hướng dẫn, đôn đốc mà các đồng chí này còn là “cánh tay nối dài” của Tỉnh ủy, UBND tỉnh với cơ sở. Cùng với các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy theo dõi và Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện dự sinh hoạt thì chắc chắn hiệu quả công việc sẽ nâng lên.
Để cán bộ vì dân.
Trong khi Quy định 1390 chỉ có phạm vi đối với các cán bộ lãnh đạo, quản lý thì việc phân công các sở, ngành giúp đỡ xã khó khăn xây dựng nông thôn mới đã huy động được toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan cấp tỉnh đến với nhân dân. Cách làm sáng tạo này đã được Tỉnh ủy Bắc Kạn chỉ đạo thực hiện từ năm 2015. Từ hiệu quả, Tỉnh ủy Bắc Kạn tiếp tục chỉ đạo thực hiện giai đoạn 2020-2025. Theo đó, Tỉnh ủy phân công 53 sở, ngành, đơn vị cấp tỉnh giúp đỡ 6 xã phấn đấu về đích và 47 xã khó khăn trong xây dựng nông thôn mới.
Thời gian này, đường quê tại Thôn 1A Nà Loạn và Thôn 2 Khau Cưởm ở xã khó khăn Sỹ Bình, huyện Bạch Thông luôn bừng sáng ánh điện mỗi khi đêm về, giúp người dân đi lại thuận lợi, trẻ con có điểm vui chơi. Công trình điện thắp sáng đường quê này là kết quả từ sự vận động, hỗ trợ của Ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn.
Được phân công giúp đỡ xã Sỹ Bình xây dựng nông thôn mới, năm 2023, Ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn đã thực hiện hai công trình thắp sáng đường quê; tặng 10 suất quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; tặng 56 xe đạp cho học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân.
Năm 2024, đơn vị hỗ trợ xây nhà mới cho một hộ nghèo; tặng 52 suất quà cho học sinh nghèo; cán bộ, công chức trong đơn vị đóng góp xây dựng công trình phụ trợ cho nhà họp thôn.
Theo Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Bắc Kạn Lường Đức Thắng, tập thể Ban Nội chính tích cực phổ biến giáo dục pháp luật, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, ứng dụng khoa học vào sản xuất, tham gia các mô hình liên kết sản xuất… Ban hỗ trợ bằng vật chất và ngày công lao động để cùng xây dựng các công trình dân sinh, nhà ở cho hộ nghèo…
Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động trong tham gia thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương, đơn vị; tăng cường gắn kết giữa đảng viên, cán bộ, công chức, người lao động ở các cơ quan, đơn vị với nhân dân ở các địa phương.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Bình Trung (Chợ Đồn) Bàn Văn Bình, xã được Sở Thông tin và Truyền thông giúp đỡ xây dựng nông thôn mới. Từng cán bộ của Sở đã đóng góp tiền để mua vật liệu và góp ngày công chung sức cùng nhân dân làm đường, kéo dây điện thắp sáng đường thôn… Việc cán bộ cấp tỉnh không ngại gian khổ xuống cùng lao động đã góp phần thúc đẩy tinh thần xây dựng nông thôn mới của cán bộ xã và nhân dân.
Theo đánh giá của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Kạn, các cơ quan, đơn vị xác định rõ việc giúp đỡ xã khó khăn trong xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào kết quả chung của toàn tỉnh. Hình thức giúp đỡ xã của các cơ quan, đơn vị phong phú, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và điều kiện thực tế của địa phương. Việc giúp đỡ các xã khó khăn xây dựng nông thôn mới đều được gắn với kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Một trong những yêu cầu của Tỉnh ủy Bắc Kạn đối với cán bộ được phân công theo dõi địa bàn là phải nắm chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và am hiểu nhiều lĩnh vực để kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền ở địa bàn được phân công. Định kỳ hằng năm, các đảng ủy xã có nhận xét, đánh giá bằng văn bản về kết quả công tác của cán bộ theo dõi địa bàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa phương gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Như vậy, việc thực hiện quy định phân công phụ trách xã đã được giám sát đa chiều, chặt chẽ. Cách làm này của Bắc Kạn đã và đang dần hình thành nếp nghĩ, cách làm gần dân, vì dân trong đội ngũ cán bộ từ lãnh đạo, quản lý cho tới công chức, viên chức, người lao động. Cùng với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ trọng dân, hòa mình với quần chúng của địa phương này sẽ có nhiều tiến bộ trong thời gian tới./.
St

 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - CHÌA KHÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Cũng nhờ đó, mà nền trưởng kinh tế luôn giữ tốc độ trên 6% mỗi năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 70%.

 

 

 

Tuy nhiên, để đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn cần một quyết tâm cao, nỗ lực lớn và cả các giải pháp mang tính đột phá.

 

 

 

Đây là lý do Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" - một Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Đầu tháng 2 năm nay, Tập đoàn Samsung đã đầu tư thêm gần 1 tỷ USD để mở rộng hoạt động sản xuất của Nhà máy tại Thái Nguyên. Như vậy, đến nay tổng vốn đầu tư của tập đoàn này vào Việt Nam đã lên hơn 19 tỷ USD.

 

 

 

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tiếp tục chọn Việt Nam là để mở rộng đầu tư đưa Việt Nam trở thành 1 trung tâm sản xuất mới nổi của toàn cầu.

 

 

 

Hiện Việt Nam là 1 trong 20 nước thu hút dòng vốn FDI lớn nhất thế giới vào các ngành sản xuất và dịch vụ. Riêng khu vực này đang đóng góp đến hơn 20% GDP và chiếm tới hơn 70% giá trị xuất khẩu.

 

 

 

Doanh nghiệp FDI phát triển sẽ là tiền đề để cho các khu vực doanh nghiệp khác phát triển. Tuy nhiên điều này dường như vẫn chưa đúng với Việt Nam.

 

 

 

Hiện ở nước ta khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm tỉ trọng khoảng 40% GDP và 85% lực lượng lao động nhưng lại chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

 

 

 

Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đủ điều kiện để tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI. Do lạc hậu về công nghệ, chất lượng nhân lực thấp và không đồng đều, hạn chế về năng lực quản trị, nên kết quả là hiện chỉ có khoảng 1/5 doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia một số chuỗi giá trị toàn cầu và chỉ 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài.

 

 

 

Thực trạng này, cũng đã được đưa ra để thảo luận tại Hội nghị lần thứ 6 khi Trung ương thảo luận về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, Trung ương cũng chỉ rõ, nội lực của nền kinh tế nước ta còn yếu, năng lực độc lập, tự chủ còn thấp và phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, công nghiệp phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

 

 

 

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ

 

 

 

Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% trong những năm gần đây.

 

 

 

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn nhiều điều kiện hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực, trình độ khoa học công nghệ. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trong nước còn thấp.

 

 

 

Bên cạnh phát huy nội lực về khoa học, công nghệ, một tư duy mới của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị về "Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư". Nếu theo tư duy cũ chỉ dựa vào năng lực nội sinh thì chắc chắn Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn về công nghệ so với khu vực và thế giới. Chính vì thế, cần có chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài.

 

 

 

10 năm qua, tăng trưởng kinh tế nước bình quân 6,17%/năm, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực với tỉ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào GDP đạt khoảng 72,7% năm 2020.

 

 

 

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Các đột phá chiến lược chưa có sự bứt phá. Nội lực của nền kinh tế còn yếu và quá trình đô thị hóa cũng chưa đồng bộ, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới.

 

 

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, nhất quán, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt những năm Đổi mới. Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng để lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

 

 

Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đánh giá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

 

 

 

Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ: Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 

 

 

Phấn đấu đến 2030, Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Xây dựng được nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn. Còn đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu Châu Á.

 

 

 

Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011 đề ra nhiệm vụ: "Đến giữa thế kỷ 21, xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội XIII cũng phấn đấu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao", đến năm 2045 "Trở thành nước phát triển, thu nhập cao".

 

 

 

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ là chìa khóa. Nghị quyết số 29 được ban hành sẽ là những định hướng lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở đường cho sự phát triển của đất nước trong thời gian tới.

 

 

 

Báo Điện tử VTV News

LỄ KỶ NIỆM 60 NĂM CHIẾN THẮNG BÌNH GIÃ

 Vào 19 giờ tối nay ngày 02/12/2024, tại Tượng đài Chiến thắng Bình Giã và khu vực Công viên Trung tâm hành Chính huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Bình Giã với chủ đề “60 năm bản hùng ca Chiến thắng Bình Giã”.Dự lễ kỷ niệm có lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương; Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các lão thành cách mạng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang nhân dân; nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cựu chiến binh tham gia Chiến dịch Bình Giã và tầng lớp Nhân dân.

Tại lễ kỷ niệm sẽ diễn ra chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “60 năm bản hùng ca Chiến thắng Bình Giã” gồm 3 chương: Tiếng gọi non sông; chiến thắng oai hùng; tự hào quê hương anh hùng.
Lễ kỷ niệm được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài truyền hình Việt Nam (VTV); Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (BRT) và trên sóng một số đài truyền hình địa phương khác./.
St

 “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG 1972”: THẮNG LỢI CỦA BẢN LĨNH VIỆT NAM!

 

 

 

Vào hồi 19 giờ 10 phút ngày 18/12/1972, hệ thống ra-đa của ta bắt được tín hiệu máy bay B-52 địch đầu tiên hướng về Hà Nội, mở đầu đòn tập kích chiến lược. 19 giờ 15 phút, Bộ Tổng tư lệnh phát lệnh báo động toàn miền Bắc. Cuộc chiến đấu chính thức bắt đầu.

 

 

 

Do phán đoán chính xác âm mưu, hành động của địch, có sự chuẩn bị sớm từ trước, quân dân ta ở Hà Nội và các địa phương bước vào chiến dịch phòng không với tinh thần chủ động, bình tĩnh, tự tin. Lúc 20 giờ 13 phút, bộ đội tên lửa của ta bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên của chiến dịch (rơi tại Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội). Tin chiến thắng lập tức được truyền đi khắp trận địa.

 

 

 

Với quyết tâm “bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái B-52, tiến đến đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của không quân Mỹ”, lực lượng phòng không của ta tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp đưa nghệ thuật tác chiến phòng không lên một bước phát triển cao. Các đơn vị rađa có nhiều sáng tạo về kỹ - chiến thuật kịp thời phát hiện cảnh báo sớm mục tiêu B-52. Bộ đội tên lửa thực hiện cách đánh trong nhiễu đạt hiệu suất cao, là lực lượng chủ yếu tiêu diệt B-52, tạo nên bất ngờ lớn đối với địch. Các đơn vị không quân tiêm kích phát huy cách đánh dũng cảm, mưu trí tiêu diệt nhiều máy bay cường kích, đồng thời bắn rơi cả máy bay B-52. Bộ đội pháo cao xạ tích cực đánh trả máy bay cường kích ném bom, bảo vệ an toàn cho trận địa tên lửa. Bộ đội địa phương, dân quân tự vệ triển khai hỏa lực chiến đấu trên địa bàn rộng lớn tạo nên hệ thống lưới lửa đánh máy bay tầm thấp rất lợi hại...

 

 

 

Ngay trong đêm đầu tiên (18/12), bộ đội ta đã lập chiến công to lớn: bắn rơi 7 máy bay địch, trong đó có 3 máy bay B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ), mở ra khả năng đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của địch. Những ngày tiếp theo, ta tiếp tục bắn rơi thêm nhiều B-52 (đêm 20/12 bắn rơi 7 chiếc; đêm 26/12 bắn rơi 8 chiếc,...) cùng các loại máy bay chiến thuật khác. Bị tổn thất nặng nề, đến sáng ngày 30/12/1972, Richard Nixon buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, chấp nhận nối lại đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.

 

 

 

Kết quả toàn chiến dịch, ta bắn rơi 81 máy bay các loại (trong đó có 34 B-52 và 5 F-111), diệt và bắt sống nhiều phi công Mỹ. Riêng ở Thủ đô Hà Nội, ta bắn rơi 30 máy bay (trong đó có 23 B-52 và 2 F-111). Dư luận phương Tây gọi chiến thắng này là trận “Điện Biên Phủ trên không”. Lần đầu tiên trong chiến tranh, quân dân Việt Nam đã tổ chức thực hiện thành công một chiến dịch phòng không quy mô lớn, bắn rơi tại chỗ số lượng nhiều nhất máy bay B-52, tạo sự bất ngờ lớn và nỗi kinh hoàng cho phía Mỹ, đồng thời làm chấn động dư luận thế giới. Bản thân Richard Nixon cũng thú nhận: “Mối lo lớn nhất của tôi không phải là làn sóng phê phán đến từ trong nước cũng như ngoài nước như đã dự kiến mà là tầm quan trọng của những tổn thất bằng B52” (trích Hồi ký Richard Nixon).

 

 

 

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972” đóng vai trò quyết định trực tiếp buộc chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân viễn chinh, quân đồng minh về nước, mở ra bước ngoặt mới cho toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc; đồng thời làm nức lòng bè bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, đẩy lùi “tâm lí sợ hãi” về cái gọi là “sức mạnh khủng khiếp của không quân chiến lược Mỹ”.

 

St.

 

 “KHÔNG CÓ HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM, CAMPUCHIA RẤT KHÓ LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ”

...

Ngày 2/12, phát biểu với báo giới nhân kỷ niệm 44 năm ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu quốc Campuchia (2/12/1978-2/12/2022), nay là Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, ông Sok Eysan, Ủy viên Trung ương kiêm người phát ngôn đảng Nhân dân Campuchia (CPP) nhấn mạnh, nếu không có sự kiện ngày 2/12/1978 thì cũng không có chiến thắng ngày 7/1/1979, và cũng không có hiệp định Paris về Campuchia và chúng ta cũng không có ngày nay. Ông nhấn mạnh, đây được coi là dấu mốc lịch sử quan trọng của Campuchia.

Ông Sok Aysan cho biết, dưới chế độ diệt chủng Khmer Đỏ thì người dân Campuchia đã chịu muôn vàn khổ cực và đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng. Đáp lời thỉnh cầu của người dân Campuchia, những người Campuchia yêu nước - thành viên của đảng Nhân dân Campuchia đã đứng lên tìm đường cứu lấy người dân.

Theo ông Sok Aysan, sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Campuchia trong công cuộc bảo vệ người dân, lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ khi đó vô cùng ý nghĩa. Đấy là sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình và người dân Campuchia mãi mãi khắc ghi: “Nếu như không có sự giúp đỡ, ủng hộ từ những người lính tình nguyện Việt Nam thì chúng ta rất khó có thể lật đổ được chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Chúng ta là những người theo đạo Phật, có đạo đức, vì vậy chúng ta không thể nào quên được công ơn to lớn này”.

Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia hôm nay, Thủ tướng Campuchia Hun Sen khẳng định: “Chiến thắng 7/1/1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2/12 và chiến thắng ngày 7/1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử”./.

Theo Văn Đỗ/VOV-Phnom Penh-CCTN

LTT/PĐT (st)

CƯƠNG QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết kêu gọi và sử dụng mọi biện pháp để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Chúng tính toán rằng, khi QĐND Việt Nam đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, chúng sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng” như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu trước đó.

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam chứng minh rõ: QĐND Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam cũng chứng minh rõ: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “phi chính trị hóa” quân đội, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi.
Trước các âm mưu thâm độc, nham hiểm ấy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và cương quyết đấu tranh, vạch trần thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Đặc biệt, cần giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; tăng cường công tác giáo dục chính trị nhằm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc của Quân đội; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cán bộ cấp cao, thực sự trong sạch, tin cậy, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có năng lực đặc biệt xuất sắc trong tham mưu và xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh; chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động./.
St

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VIỆC SỬA ĐỔI LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV đã xem xét, thông qua 15 luật, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân cơ hội này các thế lực thù địch, phản động, các phần tử xấu ra sức tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, trên trang Rfa, có bài: “Đại biểu quân đội so bì với nghành công an về cấp bậc”, trong đó có nhiều nội dung xấu độc, bôi nhọ kỳ họp thứ 8, quốc hội khóa XV trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng cho rằng “Quân đội và Công an đang cạnh tranh quyền lực thượng tầng” bộc lộ rõ ý đồ kích động, chia rẽ sự đoàn kết giữa Quân đội và Công an, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong Quốc hội.

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là rất cần thiết. Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua tại Kỳ họp thứ sáu ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 1/4/2000 và đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2008 và 2014. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã tạo động lực cho đội ngũ sĩ quan phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Luật Sĩ quan đã xuất hiện những vướng mắc, bất cập như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ; trần quân hàm cấp tướng; thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ và chính sách đối với sĩ quan. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để khắc phục những bất cập này. Điều này, nhằm bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Thứ hai, Quân đội là ngành lao động đặc biệt, cần có những chính sách đặc thù. Ngay trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro nhất định trong huấn luyện, trong tham gia phòng, chống lụt bão, thiên tai. Bất cứ lực lượng nào trong Quân đội cũng đều phải huấn luyện với chương trình nghiêm túc, gian khổ và khi có chiến tranh thì sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân...
Thứ ba, việc chất vấn của các đại biểu trong quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam … là thể hiện dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể và sự quan tâm của các đại biểu nhằm xây dựng luật có chất lượng, sát với thực tiễn, đi vào cuộc sống.
Trong thảo luận, một đại biểu Quốc hội đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu xem xét cân nhắc quân hàm cấp tướng giữa quân đội và công an ở các tỉnh, thành trọng điểm. "Với chỉ huy trưởng các thành phố lớn, cấp tướng không nói nhưng ở các thành phố còn lại cũng cần xem xét. Giám đốc công an là thiếu tướng thì chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cũng phải là thiếu tướng. Việc này cần xem xét và không phải so bì nhưng làm sao để tương xứng với nhau, công bằng".
Giải trình sau đó về nội dung trên, bộ trưởng Bộ Quốc phòng - cho hay việc này khó thực hiện. Bởi vì, “giám đốc công an tỉnh chỉ có một thiếu tướng nhưng chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại liên quan đến Chính ủy. Cùng với chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại còn chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh và Chính ủy. Bốn chức danh này giống chức nhau mà lại chọn phong một người thì khó cân. Hôm nay phong cho quân sự, ngày mai phong cho biên phòng sẽ khó. Nên chúng tôi xin thôi, vẫn cứ đại tá. Thêm vào đó, công an nhiệm vụ khác, quân đội nhiệm vụ khác, mặc dù lực lượng vũ trang trong giai đoạn thời bình nơi biên giới, hải đảo, đảo xa vất vả hơn rất nhiều các tỉnh nội địa. Trong khi đó, công an các tỉnh nội địa có khi việc trọng yếu hơn bởi có các việc khác nên giả sử xét cũng rất khó khăn", Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nêu rõ.
Nhận diện rõ các luận điệu xuyên tạc về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để chúng ta thấy được sự thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Chúng lợi dụng vào những vấn đề này để vu khống, dựng chuyện “biến không thành có”, “biến có thành không”, ra sức bóp méo, cho đó là sự tranh giành quyền lực, bè phái cục bộ. Cái đích chúng nhắm đến là chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, gây nên nghi kỵ, hiềm khích trong quan hệ, với mục đích gây mất ổn định trong nội bộ Quân đội và Công an, làm suy giảm, mất động lực, mục tiêu, lý tưởng của các lực lượng vũ trang nhân dân. Do vậy, chúng ta cần nêu cao tình thần cảnh giác cách mạng, không dao động tư tưởng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động./.
St

 NHỮNG CÂU NÓI ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM

1. Tha thứ cho Mông Cổ là việc của phật tổ. Tiễn Mông Cổ đi gặp tiên tổ là của trẫm. (Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

2. Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu thần trước đã. (Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn)

3. Không được để mất một thước núi, một tấc sông. (Vua Lê Thánh Tông)

4. Nơi nào ta mang quân tới nơi đó sẽ bị đánh tan tành. (Vua quang Trung)

5. Xin quan gia cho đánh, cho giặc mượn đường là mất nước. (Trần Quốc Toản)

6. Người Việt Nam thà chết chứ không làm nô lệ. (Hồ Chí Minh)

7. Dù phải đốt cháy cả dãy trường sơn cũng quyết giành cho được độc lập. (Hồ Chí Minh)

8. Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Hồ Chí Minh)

9. Tao chỉ biết đứng không biết quỳ. (Võ Thị Sáu)

10. Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự của Việt Nam. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

11. Lò đã nóng thì củi tươi cũng cháy. (Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng)

12. Nước Nam ta ai cũng có thể bơi lặn như cá ở dưới biển. Ta là kẻ kém nhất. (Thủy thần Yết Kiêu)

13. Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp nguồn sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, lấy lại giang sơn dựng nền độc lập. (Triệu Thị Trinh)

14. Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì Bệ hạ đừng lo gì hết. (Thái sư Trần Thủ Độ)

15. Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc. (Trần Bình Trọng)

16. Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo (Hồ Nguyên Trừng)

17. Bao giờ người tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh tây. (Nguyễn Trung Trực)

18. Người Mỹ có thể lên mặt trăng và trở về an toàn nhưng sang Việt Nam thì tôi không chắc. (Nguyễn Thị Bình)

 MỘT SỐ CÁI "ĐƯỢC" KHI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 🇻🇳

-----------***-----------

      - QUÂN ĐỘI LÀ TRƯỜNG HỌC LỚN, TRƯỜNG HỌC TỔNG HỢP MÀ MỖI NGƯỜI TRONG ĐÓ KHÔNG PHẢI ĐÓNG HỌC PHÍ, ĐƯỢC BẢO ĐẢM ĂN MẶC VÀ PHỤ CẤP HÀNG THÁNG, HOÀN THÀNH  " KHOÁ HỌC" QUÂN SỰ 2 NĂM SẼ ĐƯỢC THANH TOÁN CHẾ ĐỘ THEO QUY ĐỊNH.

     - Tham gia môi trường quân ngũ không những rèn luyện ý chí, kỷ luật mà còn có một thể lực khỏe mạnh nhờ việc tập thể dục, thể thao, tốt hơn nhiều so với việc cầm điện thoại đến 1-2h sáng sau đó ngủ dậy trễ mà không giúp ích cho việc học tập mà còn hại sức khỏe.

     - Từ môi trường kỷ luật, bạn sẽ sống trong nề nếp có nguyên tắc. Điều này làm giảm bớt một phần tính cách xuề xòa, không gọn gàng hiện tại của bản thân.

     - Trong quá trình tham gia quân ngũ, tư duy và cách suy nghĩ của bạn sẽ thay đổi theo hướng tích cực và trưởng thành hơn, từ đó bạn sẽ chọn cho mình một lối đi riêng, một kế hoạch sau khi xuất ngũ.

     - Đối với những người chưa có công việc ổn định thì sau khi xuất ngũ sẽ được tạo điều kiện học nghề, tìm kiếm việc làm… Điều này cũng làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong xã hội.

     Thực hiện NVQS vừa là quyền và là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân để bảo vệ Tổ quốc, cũng là bảo vệ cho bản thân, gia đình của mình./.

#HungGauKhua