Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Tinh gọn bộ máy, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển.

 Bài viết “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” của Tổng Bí thư Tô Lâm thể hiện thông điệp mạnh mẽ của người đứng đầu Đảng ta với quyết tâm thực hiện một cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Quang cảnh buổi trao đổi.  

Bài 1: Thông điệp mạnh mẽ, quyết tâm thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy

Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Trung ương về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, với sự nỗ lực, quyết tâm cao của Trung ương, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, việc tổ chức, thực hiện Nghị quyết số 18 đã đạt được một số kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy vẫn chưa đồng bộ, thiếu tổng thể, chưa gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, đầu mối; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa rõ ràng, còn trùng lặp, chồng chéo; phân cấp, phân quyền cho địa phương chưa mạnh, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới…

Và mới đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết quan trọng về xây dựng hệ thống chính trị với tiêu đề: “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”. Bài viết thể hiện thông điệp mạnh mẽ của người đứng đầu Đảng ta với quyết tâm thực hiện một cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Đó cũng là nội dung trao đổi của chúng tôi với các vị khách mời:

- Ông Vũ Trọng Kim, Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mt trận T quốc Việt Nam.

- Ông Nguyễn Tiến Dĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Phóng viên (PV): Thưa hai vị khách mời, bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” ra đời trong thời điểm hiện nay có ý nghĩa quan trọng như thế nào?

Ông Vũ Trọng KimBài viết của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm với điều kiện cụ thể hiện nay là một sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy. Có thể nói, đây là một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và thể hiện một điều rất quan trọng mà toàn dân, toàn quân, toàn đất nước Việt Nam rất phấn khởi. Giống như một thông điệp để thực hiện đổi mới lần thứ hai.

Nó thể hiện tinh thần đột phá vào vấn đề lớn của đất nước hiện nay. Đó là những điểm nghẽn của thể chế. Trong đó, vấn đề quan trọng là đột phá vào điểm nghẽn này để khơi luồng cho dòng chảy về các nguồn lực đưa vào cho phát triển. Đấy là điều quan trọng. Giống như những dòng sông được khơi thông để chảy về biển cả. Và không phải là một dòng sông mà nhiều con sông hợp thành sức mạnh để tuôn chảy những dòng nội lực kết hợp ngoại lực để đưa vào phát triển kinh tế, phát triển đất nước một cách toàn diện.

Đấy là ý nghĩa rất sâu sa, là cuộc cách mạng, là đổi mới tư duy, là điểm nhấn trong bước đi vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ông Nguyễn Tiến DĩnhTôi cũng thấy rằng, bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”  về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một sự chỉ đạo, định hướng rất quan trọng của Đảng ta, cũng như người đứng đầu của Đảng ta, để thời gian tới, toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị phải thực hiện đẩy mạnh, đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong toàn hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hơn.

Có thể nói, thời gian vừa qua, chúng ta đã thực hiện đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Mặc dù đạt được một số kết quả nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Trong khi đó, nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng đã khẳng định là đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như thế này. Nhưng để đạt được mục tiêu của Đảng đề ra đến năm 2030 trở thành một nước công nghiệp hiện đại và đến năm 2045 là một nước phát triển có thu nhập cao thì rõ ràng chúng ta phải có sự tăng tốc, bứt phá và quyết liệt hơn trong phát triển kinh tế - xã hội.

Như đồng chí Trần Trọng Kim đã nói, điểm nghẽn của chúng ta là vấn đề thể chế. Trong đó, thể chế về tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị là điểm nghẽn của điểm nghẽn. Cho nên, nếu muốn phát triển và đạt được mục tiêu của Đảng đã đề ra đến năm 2030 và năm 2045, thì không có cách nào khác là phải tạo ra một chuyển biến rất mạnh mẽ về việc đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Mà như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, đây là thực hiện một cuộc cách mạng trong việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Có như vậy, chúng ta mới đạt được mục tiêu đã đề ra.

Ông Vũ Trọng Kim: Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm giống như một thông điệp để thực hiện đổi mới lần thứ hai. 

PV: Trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra hàng loạt những Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận từ Đại hội VII của Đảng đến nay liên quan đến việc tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Ông Vũ Trọng Kim có thể phân tích sâu hơn về nội dung này?

Ông Vũ Trọng KimTrong bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, chúng ta nhìn thấy có nhiều vấn đề. Nhìn lại lịch sử thì thấy rằng, mô hình tổng thể của hệ thống chính trị nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị. Cơ bản từ năm 1945 đến nay vẫn giữ hệ thống như vậy.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta rất chú ý vấn đề đổi mới tổ chức cán bộ. Suốt chiều dài lịch sử đặt ra yêu cầu là phải đổi mới tổ chức bộ máy, hành động có hiệu lực, hiệu quả để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Thứ hai là phải chú ý tập trung nghiên cứu để xây dựng tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Hai việc đó thời gian vừa qua, chúng ta đã tập trung và làm có kết quả ở những công việc nhất định. Vì Đảng ta luôn luôn chú ý là tổng kết thực tế và đưa ra những nghị quyết như nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, rồi kết luận của Bộ Chính trị... Những vấn đề đó được triển khai liên tục trong những khóa gần đây.

Nhưng khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương chú ý đến tập trung vào một nghị quyết. Đó là Nghị quyết số 18 về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Nghị quyết đó đã nêu mục đích, yêu cầu và những nội dung, nhiệm vụ cũng như giải pháp tiến hành rất cụ thể. Nhưng đáng tiếc rằng, chúng ta thực hiện chưa quyết liệt và chưa nhận thức một cách sâu sắc, cũng chưa diễn ra một cách đồng bộ ở các cấp. Chính vì vậy, kết quả có những hạn chế nhất định.

Bây giờ, chúng ta tập trung vào vấn đề này thì chưa muộn nhưng phải rất kịp thời để đất nước bước vào một kỷ nguyên mới. Dân tộc chúng ta phải vươn lên để tiến kịp với thế giới, tức là sánh vai với các cường quốc năm châu. Chính vì thế, vấn đề đặt ra hiện nay vừa cấp bách, vừa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới đang đặt ra rất nặng nề, rất là trọng sự của đất nước.

Vấn đề này thể hiện trong nội dung của Nghị quyết 18 mà bây giờ phải được tổng kết, đánh giá lại, xem điều gì làm được và chưa làm được, để từ đó tổng kết, rút kinh nghiệm. Ví dụ như kết luận trước đây của Bộ Chính trị về thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020 chẳng hạn, phải xem là mình đã làm được chưa? Chiến lược đó tới đâu? Rồi những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ xây dựng cả hệ thống để có đủ đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới... Tất cả những vấn đề đó phải đặt ra trong hệ thống của chúng ta là toàn diện, từ Đảng, Nhà nước, tới Mặt trận và các đoàn thể. Từ đó, chúng ta soi rọi vào đội ngũ cán bộ đảm đương cho nhiệm vụ ngang tầm với yêu cầu mới. Đấy là vấn đề rất quan trọng.

PV: Như ông Vũ Trọng Kim đã trao đổi, trong rất nhiều các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận được đề cập trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm dành thời lượng khá dài để trao đổi về Nghị quyết số 18 ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Quan điểm của đồng chí Nguyễn Tiến Dĩnh về vấn đề này như thế nào?

Ông Nguyễn Tiến Dĩnh: Vâng, có thể nói rằng, Đảng ta từ trước tới nay vẫn rất quan tâm việc sắp xếp lại, đổi mới trong công tác tổ chức bộ máy cũng như công tác cán bộ. Ngay từ Đại hội VI, qua các đại hội tiếp theo, thì đều có các chủ trương, Nghị quyết và Kết luận đề cập với vấn đề đó. Tuy nhiên, Nghị quyết 18 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII vào năm 2017 là một Nghị quyết đề cập tới việc đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị một cách rất toàn diện, cụ thể và sâu sắc, từ việc đánh giá những kết quả đạt được, đưa ra những tồn tại, hạn chế, những nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Ông Nguyễn Tiến Dĩnh:  Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm về tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một sự chỉ đạo cũng như là định hướng rất quan trọng của Đảng ta cũng như người đứng đầu của Đảng ta trong việc thời gian tới, toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị phải thực hiện việc đẩy mạnh, đổi mới và sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong toàn hệ thống chính trị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hơn. 

Nghị quyết cũng đưa ra những quan điểm, mục tiêu, từ mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể từ năm 2021 - 2030 và các năm tiếp theo. Trong đó, Nghị quyết đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cho từng tổ chức trong hệ thống chính trị, từ tổ chức đảng cần phải sắp xếp bộ máy ra sao, phải cần đổi mới như thế nào. Rồi hệ thống tổ chức Nhà nước từ Quốc hội cho đến Chính phủ, các tổ chức chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc cũng như các tổ chức đoàn thể chính trị khác. Trong nghị quyết 18, có thể nói là nêu rất cụ thể. Nếu chúng ta thực hiện tốt Nghị quyết 18, chắc chắn là có sự chuyển biến mạnh. Tuy nhiên, đến nay, việc thực hiện Nghị quyết đã được 7 năm. Chúng ta nhìn lại còn có những tồn tại, hạn chế như là Tổng Bí thư đã nêu trong bài viết của mình. Chính vì vậy, Tổng Bí thư yêu cầu trong thời gian tới, phải tiến hành tổng kết một cách toàn diện, đồng bộ và sâu sắc với tinh thần hết sức khách quan, dân chủ, toàn diện và đảm bảo sát với thực tiễn và đánh giá đúng, đủ những vấn đề được và chưa được. Quan trọng hơn, tức là thông qua tổng kết Nghị quyết 18 để đưa ra các đề xuất, giải pháp, nhiệm vụ, trong đó Tổng Bí Thư cũng nêu rõ là đề xuất ra những mô hình tổ chức mới phù hợp trong thời gian tới, thông qua đó giúp Đảng ra những nghị quyết, chủ trương để tiếp tục thực hiện một cách tốt hơn.

PV: Trong bài viết, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra rất nhiều tồn tại, hạn chế như: Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển; một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Ông Vũ Trọng Kim có suy nghĩ như thế nào về vấn đề thực trạng cồng kềnh, thiếu tinh gọn trong bộ máy Nhà nước mà Tổng Bí thư nêu ra?

Ông Vũ Trọng Kim: Chúng ta thực hiện Nghị quyết 18 từ tháng 10/2017, đến nay được 7 năm. Tuy nhiên, trong việc làm, chúng ta chưa quyết liệt. Nếu quyết liệt thì đã cơ bản giải quyết được những nhiệm vụ lớn. Nhưng bây giờ tổ chức bộ máy của chúng ta nhìn lại là rất cồng kềnh. Sắp xếp bộ máy không gắn với việc tinh giản biên chế và chức năng, nhiệm vụ không được rõ ràng. Chính vì vậy cho nên tính thống nhất, tính đồng bộ không có và từ đó sinh ra những cơ cấu về các ngành chưa phải là khoa học. Nhiều nhiệm vụ không được phân công rõ ràng, có một số nhiệm vụ nhiều cơ quan cùng làm nên trách nhiệm không rõ. Trách nhiệm không rõ còn ảnh hưởng xuống địa phương, sự ôm đồm, làm thay, bao biện đó làm cho sự chủ động, sáng tạo của địa phương mất đi.

Chính vì thế, những việc đó cần phải phân cấp, phân quyền ở bộ, ngành, địa phương sao cho rõ, trách nhiệm tới đâu và ai phải chịu đến cùng công việc đó. Làm rõ được những vấn đề về khoa học, tổ chức bộ máy thì gắn với tinh giản bộ máy, biên chế. Từ biên chế đó, chúng ta thấy rằng ai là những người thực hiện tốt nhất công việc ở những vị trí việc làm, từ đó tăng cường, bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Qua đó, mới đánh giá được cán bộ, đưa vào quy hoạch để xứng tầm với vị trí công việc, tránh tình trạng như hiện nay là có những người làm không hết việc nhưng mà có những người cứ ngồi chơi xơi nước… 

PV: Thưa ông Nguyễn Tiến Dĩnh, ông có một thời gian rất dài và chắc chắn có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức nội vụ. Vậy ông có góc nhìn khác về thực trạng cng kềnh và thiếu tinh gọn cho bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay?

Ông Nguyễn Tiến Dĩnh: Vâng! Tất cả những tồn tại, hạn chế mà Nghị quyết 18 cũng như Tổng Bí thư Tô Lâm nêu trong bài viết của mình đã phản ánh rõ nét. Bộ máy tổ chức nhà nước của chúng ta hiện nay tạo ra một lực cản rất lớn trong việc phát triển đất nước. Nó cũng là một điểm nghẽn, tạo ra chi phí hết sức lớn, chi phí hành chính, từ đó dẫn đến năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng cũng hạn chế. Hệ quả của việc tồn tại, hạn chế của tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị như bài viết của đồng chí Tô Lâm nêu là vấn đề rất lớn. Cho nên, vấn đề cấp bách cần làm là cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, nếu không chúng ta không thể phát triển được khi bắt đầu bước vào kỉ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, để sánh vai với các nước.

Nếu tổ chức bộ máy cứ cồng kềnh như thế này thì hiệu quả cũng hạn chế, năng lực cầm quyền, năng lực lãnh đạo cũng như sức chiến đấu của tổ chức đảng cũng hạn chế thì khó có thể đạt được kết quả mà mục tiêu đến năm 2030 hay năm 2045 mà Đảng đã nêu ra. Chính vì vậy, đồng chí Tô Lâm đã thể hiện tinh thần rất quyết liệt, quyết tâm thể hiện thái độ, ý thức chính trị của mình để yêu cầu trong thời gian tới phải tiếp tục đổi mới và sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới.

PV: Những tồn tại, hạn chế đó ảnh hưởng như thế nào đến năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, cũng như là ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đến uy tín của Đảng, niềm tin của Nhân dân, thưa ông Vũ Trọng Kim?

Ông Vũ Trọng Kim: Như quý vị đã biết, Đảng ta không có mục đích nào khác ngoài việc đem lại lợi ích cho toàn dân tộc. Chính vì thế, cái gì mà Nhân dân còn mong đợi thì đó là điều Đảng cần phải trăn trở và hướng tới để thực hiện cho được yêu cầu mà Bác Hồ đã nói. Nếu việc đó có lợi cho dân thì hãy tập trung làm, nếu điều đó có hại cho dân thì kiên quyết không làm. Hiện chúng ta còn một số rào cản, một số việc phục vụ Nhân dân chưa tốt. Cho nên, những gì Nhân dân mong muốn thì chúng ta hãy hướng về, làm sao để Nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là mong muốn tột cùng của Bác Hồ.

Bây giờ, chúng ta phải tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế. Mà phát triển kinh tế với thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng như hiện nay là khó khăn. Doanh nghiệp cũng kêu than, đầu tư nước ngoài vào cũng có những cản trở, nhất là thủ tục hành chính quá rườm rà. Một việc mà qua rất nhiều cơ quan làm cho người ta ngán ngẩm, cho nên những việc này phải tháo gỡ, phải tập trung thể chế hóa. Làm việc này mà không tốt từ yêu cầu của Nhân dân, yêu cầu của doanh nghiệp, yêu cầu của phát triển thì ảnh hưởng tới sự lãnh đạo của Đảng.

Ông Nguyễn Tiến Dĩnh: Quyết tâm của Tổng Bí thư trong chỉ đạo và định hướng yêu cầu chúng ta phải làm một cách rất mạnh mẽ, tạo ra sự chuyển biến thực sự, có tính chất cách mạng trong cả tổ chức bộ máy để đáp ứng được yêu cầu gọn nhưng phải tinh.  

Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và tuyệt đối như trong Điều 4 của Hiến pháp. Đảng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo toàn xã hội. Trách nhiệm của Đảng như thế nào? Bây giờ, chúng ta bàn đến chuyện này là công việc cần kíp rồi, công việc mà Nhân dân mong đợi rồi. Chúng ta cũng thấy lòng mình tin tưởng vào việc làm hết sức có ý nghĩa này, cho nên phải quyết tâm làm. Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và trực tiếp thì Đảng phải có trách nhiệm làm.

PV: Ông Nguyễn Tiến Dĩnh nhìn nhận như thế nào về những tác động, ảnh hưởng của những tồn tại, hạn chế đến năng lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như tác động đến niềm tin của Nhân dân?

Ông Nguyễn Tiến Dĩnh: Có thể nói rằng, đối với bộ máy trong hệ thống chính trị của chúng ta còn rất cồng kềnh, nhiều tầng lớp trung gian. Nó không chỉ thể hiện số lượng đông mà chất lượng cũng chưa cao. Điều này dẫn đến khả năng thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước còn rất chậm và độ trễ lớn. Vì vậy, quá trình thực thi chủ trương, đường lối cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng rất hạn chế và có sự chồng chéo giữa các cơ quan với nhau. Rồi có sự né tránh, nể nang và không dám chịu trách nhiệm giữa các cơ quan. Rồi có những việc đáng lý không cần làm và có thể giao cho xã hội hoặc là phân cấp, phân quyền cho địa phương, mà cứ giữ lại, nhưng làm cũng không đến nơi đến chốn, nên gây cản trở rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, cũng ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm tư của Nhân dân.

Mọi hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, cũng như các tổ chức chính trị - xã hội phải lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Năng lực cũng như hiệu quả làm việc của các tổ chức đảng, tổ chức nhà nước cũng như tổ chức chính trị - xã hội, trong thời gian vừa qua, Nhân dân còn có nhiều điều chưa hài lòng, cho nên ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân, đến năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng…

Chính vì vậy, một lần nữa chúng ta thấy rằng, quyết tâm của Tổng Bí thư trong chỉ đạo và định hướng, chúng ta phải làm một cách rất mạnh mẽ, tạo ra sự chuyển biến thực sự, có tính chất cách mạng trong cả tổ chức bộ máy để đáp ứng được yêu cầu gọn nhưng phải tinh, tức là nâng cao chất lượng. Hiệu năng tức là nâng cao năng lực của tổ chức bộ máy cũng như từng con người. Xa hơn nữa, tức là năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng cũng như sự chiến đấu của Đảng. Và cuối cùng là phải đạt được hiệu lực hiệu quả, thông qua đó giảm được chi phí hành chính cho bộ máy trong cả nước./.

Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trên các lĩnh vực.

 Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng, những vấn đề mà Chính phủ Nhật Bản và Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) quan tâm cũng là những ưu tiên đột phá của Việt Nam trong thời gian tới, trong đó có hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ số.

 Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản Maeda Tadashi. Ảnh: (Thống Nhất/TTXVN)

Chiều ngày 4/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã tiếp ông Maeda Tadashi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), đang thăm và làm việc tại Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhiệt liệt chào mừng ông Maeda Tadashi và đoàn công tác tới thăm và làm việc tại Việt Nam; đánh giá cao những đóng góp tích cực của JBIC và cá nhân Chủ tịch Maeda Tadashi đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhất là thông qua các dự án trọng điểm về cơ sở hạ tầng, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ với Nhật Bản; cho rằng những vấn đề mà Chính phủ Nhật Bản và JBIC quan tâm cũng là những ưu tiên đột phá của Việt Nam trong thời gian tới, trong đó có hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ số.

 Quang cảnh buổi tiếp. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN).

Đồng chí Tổng Bí thư hoan nghênh sáng kiến Cộng đồng châu Á phát thải ròng bằng 0 (AZEC) do cựu Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio đề xuất và đang nỗ lực thực hiện lộ trình hướng tới mục tiêu năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết tại COP26. Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Nhật Bản và các nước trong các lĩnh vực nêu trên, đề nghị Nhật Bản và JBIC tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển của Việt Nam, đồng thời quan tâm thúc đẩy kết nối hạ tầng giữa các nước Đông Nam Á, Tiểu vùng Mê Công cả về hạ tầng giao thông, năng lượng, dữ liệu lớn.

Ông Maeda Tadashi trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư Tô Lâm đã dành thời gian tiếp Đoàn; khẳng định, Chính phủ Nhật Bản, trong đó có Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản, coi Việt Nam là đối tác quan trọng trong khu vực, sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực truyền thống như hạ tầng giao thông, ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực mới như chuyển đổi năng lượng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp..., qua đó tích cực đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Nhật Bản.

Tháo gỡ điểm nghẽn để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

 Ngày 4/12, chủ trì Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 11/2024 để xem xét 6 đề nghị xây dựng luật và 1 dự thảo pháp lệnh, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu tiếp tục rà soát, phát hiện những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ điểm nghẽn nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong thời gian tới.

Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 11 năm 2024. Ảnh: Dương Giang/TTXVN. 

Dự Phiên họp có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình; các Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Lê Thành Long, Hồ Đức Phớc, Bùi Thanh Sơn; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.

Tại Phiên họp, Chính phủ xem xét, thảo luận về 7 nội dung quan trọng gồm: Dự án Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và 6 đề nghị xây dựng các luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chính quyền địa phương; Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Đối với Dự án Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các ý kiến tán thành, đánh giá cao công tác chuẩn bị của Bộ Quốc phòng; đồng thời cho rằng dự thảo pháp lệnh đã thể chế hóa đầy đủ chủ trương, quan điểm của Đảng về nhiệm vụ chính trị đặc biệt giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh phục vụ thăm viếng và quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng.

Về đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các đại biểu nhất trí bổ sung quy định về quản lý năng lượng đối với mô hình tập đoàn, tổng công ty, đặc biệt trong lĩnh vực kiểm soát định mức hao hụt xăng dầu; xem xét điều chỉnh tăng cường trách nhiệm của địa phương trong việc kiểm tra tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức tiêu thụ năng lượng của các doanh nghiệp tại địa phương...

Cùng với đó, xây dựng công cụ quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bổ sung, làm rõ các quy định về hỗ trợ thuế, hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các dự án nâng cấp, cải tạo dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng.

Nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập của Luật Năng lượng nguyên tử hiện hành, Chính phủ xây dựng dự thảo Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) nhằm thúc đẩy phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử, coi trọng năng lượng hạt nhân, chế tạo thiết bị, hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực; bảo đảm an toàn, an ninh nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân và vật liệu hạt nhân; quản lý chất thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng…

Về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ, các thành viên Chính phủ thảo luận sôi nổi làm rõ mối quan hệ giữa Chính phủ với hệ thống chính trị; thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Trưởng ngành, các cơ quan trong hệ thống của Chính phủ và với chính quyền địa phương.

Trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chính quyền địa phương, các đại biểu đưa ra các mô hình tổ chức chính quyền đô thị, nông thôn, nhằm phát huy tính tự chủ, tính tự lực, tự cường, đảm bảo mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ngày càng ấm no và hạnh phúc…

Tham gia ý kiến thảo luận và kết luận đối với từng dự án pháp lệnh, đề nghị xây dựng các luật, phát biểu ý kiến kết luận Phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các thành viên Chính phủ và các đại biểu, hoàn thiện các đề nghị, dự án luật, pháp lệnh theo quy định; đồng thời tiếp tục rà soát, phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ “điểm nghẽn” nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong thời gian tới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các Bộ trưởng, Trưởng ngành trực tiếp lãnh đạo chỉ đạo, đầu tư thời gian, nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật một cách kịp thời, hiệu quả, chất lượng với tinh thần trách nhiệm cao nhất; tiếp tục tổng kết thực tiễn để xây dựng các chính sách, đánh giá tác động chính sách của các luật đảm bảo sát thực tiễn, tháo gỡ được các điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn.

Cho rằng, thể chế, cơ chế, chính sách cũng là động lực, nguồn lực cho sự phát triển, song chính thể chế đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn, Thủ tướng yêu cầu xây dựng các dự án luật, dự thảo nghị quyết phải thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng có liên quan đến các lĩnh vực, góp phần khơi thông và huy động nguồn lực cho phát triển đất nước, nhất là giai đoạn tới chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số để đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nhấn mạnh phải đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các dự án luật cần đảm bảo vừa có thể quản lý được nhưng cũng cần đảm bảo thông thoáng để huy động các nguồn lực trong xã hội, phục vụ cho yêu cầu phát triển đất nước. Trong đó, luật chỉ quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc, tiêu chuẩn, tiêu chí, quy trình, còn đối với những vấn đề cụ thể, phụ thuộc vào tình hình thực tế, có chuyển biến, diễn biến nhanh thì giao cho Chính phủ, các Bộ, ngành hướng dẫn để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới, mang lại hiệu quả trong quá trình tổ chức thực hiện thi hành luật pháp.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 11 năm 2024. Ảnh: Dương Giang/TTXVN 

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo rà soát lại, kiên quyết bỏ các cơ chế xin-cho, tránh tạo ra hệ sinh thái tiêu cực, đặc biệt chú trọng đến công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh; rà soát lại, không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, các quan hệ dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, của doanh nghiệp.

Đối với các dự án luật, dự thảo nghị quyết, Thủ tướng yêu cầu diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra, dễ giám sát, không miêu tả, quá dài dòng đảm bảo ngắn gọn, súc tích sắc sảo, rõ ý, rõ nghĩa, rõ quyền hạn, rõ trách nhiệm. Cùng với đó, tăng cường phân cấp, phân quyền, đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của các cấp, tăng cường công cụ giám sát, kiểm tra, tăng cường hậu kiểm, giảm tiền kiểm; Chính phủ, các Bộ, các ngành chỉ tập trung vào quản lý nhà nước, xây dựng chiến lược, quy hoạch.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng yêu cầu cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, giảm giao dịch trực tiếp bởi điều này dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng vặt. Bên cạnh đó, cần tiếp tục lấy ý kiến của các đối tượng bị tác động, các cơ quan có liên quan, các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, chuyên gia, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, làm tốt công tác truyền thông, chính sách, đặc biệt là với những vấn đề mới.

Cùng với xây dựng pháp luật, Thủ tướng đề nghị khẩn trương triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và một số luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7; tiếp tục rà soát các luật đã ban hành để hoàn thiện hệ thống pháp luật; tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật.

Thủ tướng chỉ rõ, các Bộ trưởng, Trưởng ngành không những cần dành thời gian xây dựng pháp luật của ngành mình mà còn góp ý cho ngành khác trong hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan trực thuộc Chính phủ; ưu tiên nguồn lực con người, cơ sở vật chất, sự lãnh đạo, chỉ đạo cho công tác này; quá trình thực thi cần phát hiện các điểm nghẽn, vướng mắc, “vướng mắc ở đâu, tháo gỡ ở đó”, “vướng ở cấp nào, cấp đó chủ động giải quyết, vượt thẩm quyền thi phải báo cáo”./.

Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí hiện nay

 

Tham nhũng được bắt đầu từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Văn kiện Đại XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xem là giải pháp trọng yếu ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần phải tăng cường công tác lý luận và giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo định hướng Đại hội XIII của Đảng đặt ra. Tích cực đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ. Tăng  cường vai trò quản lý của Nhà nước cùng với thực hiện dân chủ XHCN. Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong Đảng và Nhà nước, xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch.  Gắn chặt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền gắn với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược./.

 

 

 

 

KIÊN QUYẾT KHẮC PHỤC CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM, GIÁO ĐIỀU TRONG ĐẢNG HIỆN NAY

 

Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức và hành động với các yêu cầu cơ bản đó là: Phải nhận thức đúng vai trò của lý luận, nắm bắt hệ thống lý luận khoa học, đặc biệt là tinh thần và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc lý luận của các khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành. Phải vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo. Khi thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi theo. Phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện để có đủ các điều kiện về phẩm chất và năng lực để thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tích cực sơ, tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm, phát triển lý luận.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng đã thu được những thành tựu rất quan trọng. Song, tính chất khó khăn và phức tạp của sự nghiệp đổi mới đang đặt ra rất nhiều vấn đề lý luận, đòi hỏi phải được giải quyết. Muốn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đi đến thành công, Đảng ta cần phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, trước hết phải nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, kiên quyết khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều.

Khắc phục, ngăn ngừa bệnh kinh nghiệm, giáo điều ở cán bộ nước ta nói riêng và trong xã hội nói chung là nhiệm vụ tất yếu, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Để từng bước khắc phục, ngăn ngừa có hiệu quả chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó quán triệt sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực tư duy lý luận khoa học cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, xây dựng nền dân chủ XHCN có ý nghĩa cơ bản, trực tiếp quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Một số vấn đề hoạt động mạng xã hội và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam

 

Mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có thể phân thành hai loại: 

Thứ nhất, mạng xã hội của Việt Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số ít trường hợp để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và phản cảm.

Thứ hai, mạng xã hội của nước ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10 nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở Việt Nam.

Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân, đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết của tình hình.

Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.

Mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến với người dân. 

Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là không tránh khỏi.

Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", "dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp "diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”.

 

Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Vì vậy, chúng ta cần tăng cường đấu tranh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam./.

Lật tẩy thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta hiện nay

 

Nhận thấy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định chiều hướng đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch thường xuyên thực hiện thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với nhiều luận điệu tinh vi, thâm hiểm. Một mặt, họ thẳng thừng đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; mặt khác, họ khéo léo che đậy mục tiêu thực sự của mình khi lập luận rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; nhưng không có khả năng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa”. Họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, nhưng không có kỹ năng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội trong thời bình”. Từ đây, họ kết luận: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, do đó cần trao vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cho các lực lượng chính trị khác”.

Thực tế, nhờ thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn trong hơn 35 năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước thời kỳ đổi mới.

Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Đại hội XIII của Đảng đã xác định “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”3, xem đó là nhiệm vụ then chốt. Tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn liền với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là cách làm hiệu quả nhất để bác bỏ những mưu toan và hành động xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập./.

 

Hiểu rõ bản chất của các phần tử phản động, cơ hội chính trị

 

            Về quan điểm cơ hội chính trị, xét lại: Là quan điểm của phần tử phản động –những người không có quan điểm rõ ràng, luôn ngả nghiêng, giao động, không kiên định theo nguyên tắc, quy luật khoa học. Khi cách mạng thuận lợi thì họ tỏ ra cấp tiến, hăng hái. Khi cách mạng gặp khó khăn thì họ quay lại chê bai, thoái lui, thỏa hiệp với các thế lực thù địch để chống phá; đòi xét lại những vấn đề cơ bản của nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng.

          Về phần tử phản động, cơ hội chính trị, xét lại: Đó chính là những đối tượng đội lốt “yêu nước”, đội lốt các nhà đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự”…Thành phần của bọn cơ hội chính trị rất đa dạng, phức tạp, thường là: Đối tượng đã bị xử lý trong các vụ án chính trị trước đây, nay tiếp tục hoạt động chống đối trở lại, như số đối tượng trong các vụ án chống Đảng, Nhà nước XHCN, chính quyền nhân dân. Một số đối tượng là đảng viên trong bộ máy Nhà nước có quá trình tham gia cách mạng, có người từng giữ cương vị chủ chốt trong Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT. Nhận thức quan điểm chính trị của họ đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, phản bội lại mục tiêu, lý tưởng Cộng sản, phản bội Tổ quốc. Một bộ phận là trí thức, văn nghệ sỹ, cán bộ trẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bị mua chuộc, lôi kéo, bất mãn, trở cờ quy lưng lại với lợi ích quốc gia, dân tộc.

          Như vậy, đó là những cá nhân, tổ chức, có quan điểm, hành động, việc làm khác, đối lập với nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, có hoạt động đi ngược lại với lợi ích dân tộc, đất nước và nhân dân Việt Nam./.

 

Nhận diện về đối tượng, lực lượng chống phá cách mạng nước ta

 

“Thế lực thù địch”, là cá nhân, tổ chức có âm mưu, hành vi gây tổn hại đến chủ quyền, lãnh thổ và các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại vv… của Việt Nam, trái với những quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.

“Quan điểm thù địch”, là quan điểm của các thế lực luôn đối lập về lợi ích và lập trường với giai cấp công nhân (đối lập về lập trường tư tưởng, lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia, dân tộc). Chúng có động cơ chính trị rõ ràng, muốn xây dựng“ngọn cờ”, hình thành các tổ chức chính trị đối lập.Với đặc trưng: Về động cơ chính trị là chống Đảng, chống chế độ. Về nội dung quan điểm: Bác bỏ thẳng thừng những nội dung cốt lõi, then chốt trong đường lối, quan điểm cơ bản của Đảng như lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, con đường đi lên CNXH; phủ nhận đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN, phủ nhận thành quả cách mạng; đáng chú ý là chúng ra sức cổ súy xã hội dân sự, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thành phần những phần tử thù địch là: Những tổ chức, cá nhân có hoạt động chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xâm phạm đến độc lập, tự chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc…như các tổ chức Việt Tân, Triều đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Thanh niên dân chủ, Văn bút Việt Hải ngoại…Các đối tượng trong chế độ cũ hoạt động đối lập với sự lãnh đạo của Đảng ta và chế độ XHCN; những đối tượng tiêu cực, bất mãn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, lôi kéo vào hoạt động chống Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam; một số chức sắc núp bóng dưới những hình thức tôn giáo khác nhau lợi dụng vào tôn giáo để kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân xuyên tạc nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có những hoạt động chống Đảng, chống chế độ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận diện đúng âm mưu, bản  chất của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh./.

 

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch

 

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cánh mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại phải đi đôi với chống mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Hiện nay các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho quân đội  thoái hóa biến chất về chính trị. Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch là một đòi hỏi khách quan, bức thiết của sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Để chủ động và kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, trước hết đòi hỏi các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng và các tổ chức, lực lượng trong toàn quân phải quán triệt và thực hiện triệt để quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: tích cực, chủ động, liên tiếp tiến công, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chính trị của quân đội. Thường xuyên củng cố, tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng lý luận, trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong Quân đội, tạo dựng màng ngăn vững chắc để ngăn ngừa mọi sự thẩm thấu bởi các thủ đoạn tấn công của kẻ thù trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vào trong Quân đội. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao giác ngộ về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về chính trị của Quân đội và xây dựng Quân đội về chính trị, làm cơ sở tiền đề khoa học cho đấu tranh bác bỏ các quan điểm thù địch, phản động, phản khoa học.

Tích cực, chủ động đấu tranh vạch trần mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch; Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nhận rõ bản chất phản động, phản khoa học trong các luận thuyết của kẻ thù, đồng thời trang bị cho mọi quân nhân có đủ kiến thức toàn diện cần thiết, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp đấu tranh chống lại các luận thuyết của kẻ thù, bảo vệ chính trị của quân đội.

Đặc biệt, cần tiếp tục coi trọng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ chính ủy, chính trị viên, đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu lý luận khoa học xã hội và nhân văn quân sự, bảo đảm cho đội ngũ này thực sự là lực lượng cốt cán, đi đầu trong đấu tranh chống âm mưu, hành động chống phá của kẻ thù.

Đổi mới, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội, tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại./.

 

Kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Chúng ta cần phải khẳng định rằng: Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, đồng thời là bài học kinh nghiệm vô cùng quí báu của Đảng ta trong tổ chức, lãnh đạo và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Chính vì vậy, công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại phải kiên định nguyên tắc này. Bởi lẽ, chỉ giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng thì Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, thực sự là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sáng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam phải chấp hành nghiêm Nghị quyết số 51- NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.

Nâng cao chất lượng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

 

Đại hội XIII nêu rõ: "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"" là yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần tập trung vào những giải pháp cơ bản  sau:

          Một là, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch một cách chủ động, thiết thực, hiệu quả.

          Hai là, tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo, chỉ đạo trong bảo vệ và đấu tranh phù hợp và hiệu quả, sắc bén và thiết thực.

          Ba là, mỗi cấp ủy, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc phương hướng, nhiệm vụ, quan điểm, giải pháp trong công tác bảo vệ và đấu tranh, đảm bảo xây dựng, phát triển lực lượng luôn chủ động và kịp thời tham gia, thích ứng với công tác.

          Bốn là, huy động nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lực lượng, phương tiện tham gia thông qua cơ chế tổ chức, chỉ đạo, điều hành, phối hợp, hiệp đồng, phát huy sức mạnh của các lực lượng; theo hướng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, kịp thời từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo Trung ương tới các cấp bộ đảng của ban, bộ, ngành, địa phương và tạo sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các cấp, các ngành.

          Năm là, đẩy mạnh sử dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ để tiếp tục phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí và mạng xã hội không chỉ trong việc tuyên truyền và quán triệt chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước…

          Tóm lại,  “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”./.