Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Xây dựng hệ giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới.

 Xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là yếu tố then chốt trong chiến lược xây dựng tỉnh, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Trong đó, việc xây dựng giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới luôn phải đặt trong mối quan hệ với xây dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa bền vững. Bài viết làm rõ sự cần thiết, thực trạng và đề xuất một số giải pháp xây dựng hệ giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang hiện nay.

Các liền anh, liền chị biểu diễn hát quan họ truyền thống. Ảnh: bacgiangtourism.vn

1. Mở đầu

Bắc Giang đang trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ để trở thành một tỉnh phát triển toàn diện và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, xây dựng giá trị chuẩn mực con người là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của tỉnh, đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng xã hội phồn vinh, hạnh phúc, xây dựng hệ giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo đảm sự hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa.

2. Sự cần thiết xây dựng giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới

Một là, xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của văn hóa nói chung, của hệ giá trị chuẩn mực con người thời kỳ mới nói riêng

Trong xây dựng, phát triển văn hóa, con người của nước ta hiện nay, hệ giá trị chuẩn mực con người vừa là một trong những phạm trù trung tâm của khoa học văn hóa, vừa là một nội dung then chốt, có vai trò định hướng, đo lường việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người và xây dựng giá trị chuẩn mực con người thời kỳ mới. Đó là sự tìm kiếm một tổng thể các giá trị tin cậy với chuẩn mực lý tưởng về con người, nhằm khơi dậy ý chí phát triển, định hướng để từng con người và toàn xã hội phát triển lành mạnh, phát huy được tối đa tiềm năng con người. Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa văn hóa với với kinh tế, chính trị, xã hội, Người khẳng định: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”(1). Quan trọng hơn nữa, Người đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(2), và ngược lại, kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”.

Vận dụng tư tưởng của Người, trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với các định hướng: Gắn phát triển văn hóa với thực hiện chiến lược phát triển con người trong công cuộc đổi mới đất nước phải được coi là một định hướng có tầm quan trọng đặc biệt; gắn phát triển văn hóa với tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội vì “mục tiêu phát triển bền vững” phải được coi là định hướng mang tính chủ đạo; gắn việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với việc chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải được coi là định hướng cơ bản.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc xây dựng các giá trị cốt lõi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 “về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết này, rất nhiều vấn đề bất cập về con người và văn hóa đã được đặt ra. Do đó, Bộ Chính trị đã ra Kết luận số 76-KL/TW ngày 4-6-2020 “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Kết luận chỉ rõ, sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém; trong đó “Việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế chưa đạt được mục tiêu đề ra. Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại”(3).

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (ngày 24-11-2021), khi đề cập về các giá trị này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã coi một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa dân tộc là: “Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”(4).

Hai là, xuất phát từ mối quan hệ giữa môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa với việc hình thành và phát triển giá trị chuẩn mực con người thời kỳ mới

Xây dựng giá trị chuẩn mực con người có mối quan hệ biện chứng với xây dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa bền vững. Trong đó, môi trường kinh tế, chính trị và văn hóa đóng vai trò trọng yếu trong việc hình thành và phát triển hệ giá trị chuẩn mực của con người. Sự vận động, tương tác của những yếu tố này không chỉ tạo nền tảng cho sự phát triển xã hội, mà còn định hình bản chất tư tưởng, đạo đức và lối sống của từng cá nhân và cộng đồng.

Môi trường kinh tế có tác động to lớn đến quá trình phát triển hệ giá trị con người, nhất là con người thời kỳ mới. Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Với đường lối đúng đắn, phù hợp, nền kinh tế đất nước phát triển vượt bậc, tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống mọi mặt của các tầng lớp nhân dân. Những thành tựu về phát triển kinh tế, một mặt tác động tích cực, làm thay đổi nhận thức về giá trị lao động và trách nhiệm cá nhân, nhất là mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội. Đặc biệt, những giá trị về sự cần cù, năng động, sáng tạo trở thành chuẩn mực để thúc đẩy cá nhân vươn lên, góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, văn minh. Tuy nhiên, cùng với quá trình phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng kinh tế, đã nảy sinh các hiện tượng tiêu cực như: lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân, suy giảm tính cộng đồng và tính đoàn kết xã hội... Vì vậy, phát triển kinh tế cần phải đi đôi với tạo dựng và củng cố các giá trị nhân văn, bảo đảm phát triển bền vững, toàn diện.

Môi trường chính trị luôn giữ vai trò chỉ đạo và định hướng, quyết định sự hình thành các giá trị chuẩn mực đạo đức, đặc biệt là trong hệ thống chính trị và đạo đức công vụ. Một hệ thống chính trị vững mạnh, minh bạch sẽ tạo nền tảng cho những giá trị như: trung thực, liêm chính, tinh thần cống hiến vì tập thể, tinh thần “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung” của đội ngũ cán bộ, đảng viên,... ngày càng phát triển. Đồng thời, môi trường chính trị trong sạch giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, từ đó hình thành các giá trị chuẩn mực về trách nhiệm công dân, đạo đức xã hội. Ngược lại, nếu môi trường chính trị thiếu minh bạch, tồn tại các hiện tượng tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, lạm quyền, sẽ tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân, gây xói mòn hệ giá trị chuẩn mực, dẫn đến sự suy thoái đạo đức trong xã hội.

Môi trường văn hóa là yếu tố căn cốt góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và định hình các chuẩn mực mới trong bối cảnh xã hội hiện đại. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu trình độ phát triển của một dân tộc, mà còn là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ”, “còn những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bỉ ổi,… là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa”(5). Trước sự giao thoa văn hóa toàn cầu, môi trường văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị mai một. Nếu không có biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, sự phát triển của xã hội hiện đại sẽ dẫn đến nguy cơ mất cân bằng trong việc hình thành các giá trị chuẩn mực, làm xói mòn bản sắc và gây ra những tác động tiêu cực đến lối sống cộng đồng.

Như vậy, hệ giá trị chuẩn mực của con người không phải là yếu tố bất biến, mà luôn vận động, biến đổi theo sự phát triển của môi trường kinh tế, chính trị và văn hóa. Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, cần có sự hài hòa giữa các yếu tố này, từ đó hình thành một hệ giá trị chuẩn mực vững chắc, hướng tới mục tiêu xây dựng con người toàn diện, góp phần vào công cuộc phát triển chung của đất nước.

Đối với Bắc Giang, để trở thành một tỉnh phát triển toàn diện, việc nâng cao chuẩn mực con người phải được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc xây dựng môi trường kinh tế, chính trị và văn hóa bền vững của tỉnh. Đây không chỉ là một yêu cầu cấp thiết mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội phát triển bền vững, nơi con người được đặt lên hàng đầu, trung tâm của mọi hoạt động.

Mặt khác, với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng kinh tế, hiện nay tỉnh Bắc Giang đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để thu hút và duy trì các nguồn lực đầu tư, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho người dân, tỉnh cần chú trọng hơn nữa đến việc nâng cao giá trị chuẩn mực con người, bởi con người là chủ thể chính của quá trình phát triển.

Xây dựng chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới không chỉ dừng lại ở việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mà phải kết hợp chặt chẽ với việc xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh. Đây là nền tảng để tạo ra những người có tư duy đổi mới, sáng tạo, có đạo đức, trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Bắc Giang đang đẩy mạnh CNH, HĐH, với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của khu vực phía Bắc.

Ba là, xuất phát từ thực trạng xây dựng giá trị chuẩn mực con người

Sau gần 30 năm tái lập tỉnh (từ tháng 01-01-1997), Bắc Giang đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người và nền kinh tế. Bắc Giang đã có những bước đột phá trong phát triển kinh tế, năm 2023: “Bắc Giang có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) dẫn đầu của cả nước, cả năm ước đạt 13,45%. Quy mô nền kinh tế GRDP vươn lên vị trí thứ 12 cả nước, đạt 181,9 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 7,6 tỷ USD, tăng 01 bậc so với năm 2022, tiếp tục đứng đầu vùng trung du miền núi phía Bắc. Trong 6 tháng đầu năm 2024, Bắc Giang tiếp tục là tỉnh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng kinh tế; trở thành một trong những địa phương đứng thứ tư cả nước về thu hút vốn đầu tư, là tỉnh duy nhất của cả nước xuất siêu vào năm 2023...”(6).

Thành tựu đạt được về kinh tế là tiền đề vật chất để Bắc Giang quan tâm, chăm lo cải thiện về an sinh xã hội, giáo dục đào tạo, về văn hóa, thể thao, du lịch và quốc phòng an ninh. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, gia tăng lượng dân số nhập cư dẫn đến nhiều khu vực xung quanh các khu công nghiệp đang thiếu hụt nghiêm trọng nhà ở, trường học, bệnh viện, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là vấn đề quản lý văn hóa. Vì vậy, nếu không có sự kết nối chặt chẽ giữa việc phát triển kinh tế và các yếu tố về văn hóa, xã hội và con người, sự phát triển này có thể gây ra những bất cập lớn.

Tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử và nâng cao trách nhiệm, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, việc xây dựng một nền văn hóa chính trị trong sạch và hiệu quả vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao đạo đức công vụ và thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.

Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, văn nghệ sĩ và các tầng lớp nhân dân về xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được nâng lên. Tỉnh đã “Quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người hoàn thiện nhân cách. Đến nay, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 92,4% (vượt 7,4% so với mục tiêu Kế hoạch 61/KH-UBND); tỷ lệ các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt 78,9% (vượt 3,9% so với mục tiêu Kế hoạch 61/KH-UBND); tỷ lệ làng, bản, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa đạt 88,1% (vượt 23,1% so với mục tiêu Kế hoạch 61/KH-UBND); tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị đạt 92,59 % (vượt 57,5 % so với mục tiêu Kế hoạch 61/KH-UBND)”(7).

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Bắc Giang đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cấp bách về văn hóa và con người. Một số mặt đạo đức, lối sống của người dân có dấu hiệu suy giảm; môi trường văn hóa còn thiếu lành mạnh, cùng với nguy cơ mai một văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chưa đạt hiệu quả cao, trong khi đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa còn thiếu người có chuyên môn sâu. Môi trường văn hóa của tỉnh cũng chịu tác động tiêu cực từ các tệ nạn xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường và sự xâm nhập của văn hóa phẩm độc hại.

Trước bối cảnh đó, việc nâng cao giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang cần được tiến hành một cách toàn diện. Các chính sách phát triển cần đặt con người là trung tâm, hướng đến việc xây dựng một môi trường sống lành mạnh, đạo đức và chuẩn mực. Bắc Giang chỉ có thể đạt được sự phát triển bền vững khi con người được chú trọng trong mọi khía cạnh phát triển, từ kinh tế đến văn hóa, nhằm bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân ngày càng tốt hơn.

3. Một số giải pháp nâng cao giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới

Một là, gắn xây dựng chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới trong từng bước phát triển kinh tế

Đây là biện pháp rất quan trọng, tạo tiền đề vật chất, quyết định đến việc nâng cao giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới. Phát triển kinh tế bền vững là một trong những động lực quan trọng nhất để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc nâng cao chuẩn mực con người. Tại Bắc Giang, việc xây dựng một nền kinh tế bền vững phải dựa trên nền tảng của những con người có đạo đức, trình độ và tinh thần trách nhiệm cao. Để thực hiện tốt giải pháp trên, cần làm tốt một số nội dung, yêu cầu sau:

Tỉnh cần tiếp tục bám sát và hiện thực hóa những nội dung về phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế được đặt ra tại Nghị quyết số 355-NQ/TU ngày 01-8-2024 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Bắc Giang đến năm 2030, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, trong đó: “Chú trọng yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tinh thần khởi nghiệp, xây dựng đội ngũ doanh nhân giỏi, kinh doanh đúng pháp luật, đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng và xã hội”(8). Nội dung này cần được cụ thể hóa thành chủ trương, cơ chế, chính sách trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương, các tổ chức, các đơn vị kinh tế trong toàn tỉnh.

Trong quá trình phát triển kinh tế, Bắc Giang đã thu hút một lượng lớn lao động từ các địa phương khác, tạo ra áp lực lớn về hạ tầng và quản lý xã hội. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, chú trọng phát triển con người, tạo điều kiện để người lao động không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng thông qua các chương trình đào tạo. Đồng thời, cần khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo trong mọi lĩnh vực nhằm tạo ra nhiều giá trị kinh tế và đóng góp vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, nâng cao đời sống tinh thần. Điều này không chỉ giúp giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi sau giờ làm việc mà còn góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, tạo động lực cho người lao động cống hiến hết mình cho công việc.

Cần có các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Việc phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất nông sản sạch, du lịch sinh thái... không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.

Hai là, tập trung xây dựng môi trường chính trị lành mạnh

Đây là biện pháp rất quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển của con người nói chung, nâng cao giá trị chuẩn mực con người nói riêng tại tỉnh Bắc Giang. Trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng văn hóa trong lĩnh vực chính trị, bởi văn hóa chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là nền tảng để phát triển giá trị chuẩn mực con người trong thời kỳ mới.

Theo đó, Bắc Giang cần coi trọng xây dựng văn hóa từ trong tổ chức đảng và trong bộ máy chính quyền địa phương. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII của Đảng và các kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên.

Đặc biệt, cần quán triệt và tiếp tục thực hiện tốt phương hướng đã xác định trong Nghị quyết số 355-NQ/TU, định hướng đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong Đảng, trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trong đó, trọng tâm là phát huy sức mạnh, sự thống nhất, đoàn kết của cả hệ thống chính trị của tỉnh.

Chú trọng xây dựng văn hóa công sở dựa trên các giá trị như tôn trọng, đoàn kết và nhân văn. Phương châm “3 dám”, “3 hơn”, “5 rõ” theo Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 02-6-2023 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, nhằm xây dựng một môi trường công sở lành mạnh, dân chủ và hiệu quả. Việc quán triệt và thực hiện tốt các quy định về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên góp phần tạo ra một môi trường chính trị trong sạch, gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao chuẩn mực con người. Đây là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống chính trị, tạo động lực cho sự phát triển của toàn xã hội.

Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cũng là một trong những nội dung quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong lĩnh vực chính trị. Các chương trình giáo dục chính trị cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều này không chỉ góp phần nâng cao nhận thức chính trị mà còn giúp cán bộ, đảng viên và người dân có cái nhìn đúng đắn, khách quan về tình hình thế giới, trong nước và của địa phương; từ đó định hướng hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội.

Đảng viên, nhất là những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, cần thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương trong mọi lĩnh vực; phải thể hiện rõ vai trò nêu gương theo Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09-5-2024 của Bộ Chính trị “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Việc nêu gương phải được thấm nhuần trong nhận thức, không chỉ làm việc vì trách nhiệm mà còn vì lợi ích chung của cộng đồng. Cán bộ, đảng viên phải là những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và hiệu quả công việc. Việc thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương không chỉ giúp củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước mà còn góp phần nâng cao chuẩn mực con người trong xã hội, tạo động lực cho mọi người phấn đấu, cống hiến vì sự phát triển chung.

Ba là, phát huy vai trò của văn hóa trong việc nâng cao chuẩn mực con người

Đây là biện pháp có ý nghĩa rất quan trọng, tác động trực tiếp đến việc hình thành và phát triển chuẩn mực con người Bắc Giang thời kỳ mới. Bởi lẽ, văn hóa không chỉ là nền tảng cốt lõi của sự phát triển con người mà còn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết số 355-NQ/TW ngày 01-8-2024 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Bắc Giang đến năm 2030, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, đã đưa ra quan điểm: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, nguồn lực, động lực quan trọng để phát triển bền vững của tỉnh và của mỗi địa phương. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”(9).

Cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trong đó có văn hóa và con người Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa ứng xử; có thay đổi nhận thức, con người mới thay đổi hành vi để ứng xử đạt chuẩn mực văn hóa.

Đẩy mạnh xây dựng môi trường và đời sống văn hóa lành mạnh, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phát huy những giá trị tích cực về thuần phong mỹ tục của gia đình và xã hội; nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng nghĩa tình, trọng công lý và đạo lý xã hội. Tăng cường giáo dục thẩm mỹ, gắn với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng xã hội cho nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Có cơ chế phối hợp chặt chẽ, hài hòa giữa gia đình, nhà trường và xã hội; đề cao vai trò, trách nhiệm của gia đình trong việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, gia đình cùng với nhà trường giáo dục, hình thành nhân cách, đạo đức và kỹ năng ứng xử văn minh cho trẻ.

Tiếp tục phát huy hiệu quả việc thực hiện bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hoà thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc và vận dụng những truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình của người Việt Nam.

Ngoài ra, cần “Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế về văn hóa nhằm giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá về những giá trị văn hóa truyền thống, về hình ảnh vùng đất, con người Bắc Giang với bạn bè quốc tế”(10). Từng bước tạo dựng, hình thành các sản phẩm văn hóa, hoạt động văn hóa đặc trưng của Bắc Giang. Xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại và ngoại giao văn hóa của tỉnh; thúc đẩy gắn kết các hoạt động về ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại và ngoại giao kinh tế.

Coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Bắc Giang. Tăng cường đổi mới nội dung, hình thức quảng bá hình ảnh, các giá trị văn hóa, vùng đất, con người Bắc Giang, tiềm năng phát triển du lịch, các giá trị di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh thông qua các chương trình, sự kiện, lễ hội văn hóa, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động xúc tiến thương mại du lịch trong tỉnh, trong nước và quốc tế. Tăng cường tổ chức, đăng cai các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch với quy mô cấp quốc gia, quốc tế phù hợp với điều kiện, khả năng của tỉnh.

Cần ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, văn học, nghệ thuật. Tiếp tục thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích các nghệ nhân, những người am hiểu về di sản văn hóa tham gia công tác nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi, truyền dạy và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

4. Kết luận

Xây dựng hệ giá trị chuẩn mực con người Bắc Giang không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là chiến lược dài hạn, cần được thực hiện đồng bộ, con người phải được coi là trung tâm và động lực của mọi chính sách, từ đó thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường sức mạnh nội tại của tỉnh. Bên cạnh đó, việc xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện cho người dân phát huy tối đa năng lực và ý thức trách nhiệm là yếu tố quyết định để Bắc Giang không chỉ phát triển kinh tế mà còn duy trì ổn định chính trị, xã hội.

Sáng tạo, lan tỏa hình ảnh Việt Nam, giá trị Việt Nam, trí tuệ Việt Nam ra thế giới.

 Giải thưởng Thông tin đối ngoại không chỉ là một Giải thưởng Báo chí thông thường mà còn là diễn đàn để những người yêu Việt Nam, ủng hộ Việt Nam sáng tạo và lan tỏa hình ảnh Việt Nam, giá trị Việt Nam, trí tuệ Việt Nam ra thế giới.

 Đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin Đối ngoại Trung ương, Vụ trưởng Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác Quốc tế - Ban Tuyên giáo Trung ương. 

Với gần 1.300 tác phẩm dự thi ở 10 hạng mục, Ban Tổ chức Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X đã chọn ra những tác phẩm xuất sắc để trao tại Lễ trao giải vào tối 3/12 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Trước thềm Lễ trao giải, đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin Đối ngoại Trung ương, Vụ trưởng Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác Quốc tế - Ban Tuyên giáo Trung ương đã chia sẻ với báo chí về các nội dung xung quanh Giải thưởng năm nay.

Theo đồng chí Nguyễn Quế Lâm, năm 2024 đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát triển của Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại. Đến nay, Giải thưởng đã khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống các giải thưởng quốc gia uy tín của Việt Nam cũng như góp phần triển khai thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong từng giai đoạn. Giải thưởng Thông tin đối ngoại không chỉ là một Giải thưởng Báo chí thông thường mà còn là diễn đàn để những người yêu Việt Nam, ủng hộ Việt Nam sáng tạo và lan tỏa hình ảnh Việt Nam, giá trị Việt Nam, trí tuệ Việt Nam ra thế giới.

Với gần 1.300 tác phẩm dự thi ở 10 hạng mục, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X tiếp tục thu hút được sự quan tâm, tham gia từ các tác giả trong và ngoài nước. Điểm nổi bật là hình thức thể hiện tiếp tục cho thấy sự đa dạng, hiện đại, tích cực sử dụng các phương tiện truyền thông mới (đối với các sản phẩm/ tác phẩm hạng mục video clip). Các tác phẩm/ sản phẩm của người nước ngoài thể hiện được tầm nhìn sâu, đánh giá khách quan, tích cực về Việt Nam trên nhiều khía cạnh.

Đặc biệt, giải thưởng năm nay có các tác phẩm dự thi được thể hiện đa dạng ở nhiều ngôn ngữ, ngoài các ngôn ngữ quen thuộc như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, lần này có nhiều ngôn ngữ mới như: Arab, Uzbekistan, Sinhala (ngôn ngữ phổ biến ở Sri Lanka)... Việc thu nhận tác phẩm thông qua phương thức gửi thư điện tử cũng đã tạo thuận lợi cho các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài gửi tác phẩm/ sản phẩm tham dự Giải thưởng.

Một điểm nổi bật trong các tác phẩm đoạt giải năm nay là có nhiều tác phẩm có hình thức thể hiện đa dạng, hiện đại cũng như có nhiều tác phẩm của người nước ngoài phản ánh cái nhìn tích cực về Việt Nam. Trong đó có thể kể đến video âm nhạc được quay tại Hà Nội cho bản nhạc bất hủ “Going home”. Video này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của khán giả trong và ngoài nước, góp phần lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử, đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, hỗ trợ phát triển du lịch Hà Nội và Việt Nam. Những hình ảnh danh thắng nổi bật nhất của Thủ đô Hà Nội đã được lựa chọn cho từng góc máy quay trong bản video đặc biệt này.

Bên cạnh đó, sáng kiến, sản phẩm có giá trị thông tin đối ngoại có thể kể đến “Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội”, địa điểm ra đời Tờ báo đầu tiên của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam, đó là số nhà 248-250 phố Văn Minh, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại nơi này 100 năm trước, từ tháng 11/1924 đến tháng 5/1927, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam và thành lập tờ “Thanh niên" để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Những năm gần đây, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Quảng Đông đã triển khai tu tạo, sửa chữa, nâng cấp di tích và hiện nay, bất cứ ai khi đến đây đều như cảm thấy bước vào một "Bảo tàng Hồ Chí Minh thu nhỏ" tại Quảng Châu. Năm 2024, Khu di tích cũng vinh dự được đón tiếp các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước ta đến tham quan. Với cách làm sáng tạo và thể hiện sự trân trọng của bạn bè Trung Quốc đối với lãnh tụ cách mạng Việt Nam, Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được Hội đồng chung khảo Giải thưởng Toàn quốc về Thông tin Đối ngoại lần thứ X đánh giá cao là sáng kiến, sản phẩm có giá trị thông tin đối ngoại.

Chia sẻ về những kinh nghiệm đúc kết được sau 10 lần tổ chức giải, đồng chí Nguyễn Quế Lâm cho biết: Mặc dù đã đạt được những kết quả rất tích cực, song cùng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn mới, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại cần tiếp tục đổi mới để nâng cao chất lượng hơn, đóng góp hiệu quả hơn nữa vào công tác thông tin đối ngoại cũng như thực hiệc các mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra.

Sau 10 năm tổ chức, Giải thưởng thực sự đã tạo nên được một phong trào, động lực thúc đẩy mạnh mẽ những người làm thông tin đối ngoại không ngừng sáng tạo mang đến những tác phẩm chất lượng. Giờ đây, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lượng hơn nữa, lan tỏa rộng rãi ra ngoài nước, tác động mạnh mẽ hơn nữa để bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam hơn, yêu Việt Nam hơn và đồng hành cùng Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin Đối ngoại Trung ương, bên cạnh các loại hình báo chí, cũng cần có thêm nhiều hình thức thể hiện truyền thông hiện đại khác, sáng tạo hơn, xúc tích hơn, đa dạng hơn, phải thực sự kể được những câu chuyện hấp dẫn, giàu cảm xúc về Việt Nam.

Có thể nói, Giải thưởng Thông tin đối ngoại cũng như công tác thông tin đối ngoại trong thời gian tới cần hết sức nỗ lực và tập trung để tuyên truyền tốt hơn nữa về cơ đồ, vị thế đất nước, đặc biệt khi chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của giàu mạnh và hạnh phúc, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.


Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

 Chiều 3/12, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã đến thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Cùng đi có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Phạm Gia Túc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; lãnh đạo Văn phòng Tổng Bí thư; đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã đến thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. 

*Lưu giữ và phát huy các giá trị lịch sử quân sự của dân tộc

Tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nghe giới thiệu tại khu Tháp Chiến thắng; tham quan hiện vật trưng bày khối lớn ngoài trời; khu vực đại sảnh Tòa nhà chính; tham quan hiện vật trưng bày trong nhà.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong những bảo tàng quân sự lớn và lâu đời nhất tại Việt Nam, với vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và phát huy các giá trị lịch sử quân sự của dân tộc. Từ năm 2020, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã triển khai xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mới trên diện tích 38,66 ha, tại Km 6 + 500 Đại lộ Thăng Long, phường Tây Mỗ - Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.  

Từ ngày 1/11/2024, Bảo tàng đã cơ bản hoàn thành xong giai đoạn 1 và chính thức mở cửa đón khách tham quan. Với hàng vạn hình ảnh, hiện vật, kết hợp với nhiều giải pháp trưng bày hiện đại, khách tham quan được trải nghiệm sống động về lịch sử quân sự và truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc.

Tổng Bí thư làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nguồn: vtvgo.vn)

Về kiến trúc, tòa nhà Bảo tàng hình cánh cung với hệ cột xiên có góc nghiêng khác nhau. Tòa nhà chính có 4 tầng nổi và 1 tầng hầm, cao 34 mét, diện tích xây dựng 23.198 mét vuông, tổng diện tích sàn 64.640 mét vuông.

Điểm nhấn công trình là Tháp Chiến thắng, cao 45 mét, với ý nghĩa nước Việt Nam giành độc lập năm 1945. Tháp có hình các ngôi sao 5 cánh xếp chồng lên nhau.

Trưng bày chính bao gồm 6 chủ đề tổ chức theo tiến trình lịch sử: Chủ đề 1 - Buổi đầu dựng nước và giữ nước, từ năm 700 trước Công nguyên đến năm 938; chủ đề 2 - Bảo vệ độc lập dân tộc, từ năm 939 đến năm 1858; chủ đề 3 - Chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, từ năm 1858 đến năm 1945; chủ đề 4 - Kháng chiến chống thực dân Pháp, từ năm 1945 đến năm 1954; chủ đề 5 - Cuộc kháng chiến chống Mỹ 1954-1975; chủ đề 6 - Xây dựng và bảo vệ đất nước sau 1975 đến nay.

Đối với trưng bày ngoài trời, điểm đặc biệt chỉ có ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là sưu tập các hiện vật là vũ khí khối lớn. Các hiện vật khối lớn được sắp xếp có hệ thống ở hai bên tòa nhà.

 Tổng Bí thư Tô Lâm thăm Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Bên đối diện là các vũ khí từng là niềm tự hào của đối phương như: Các loại máy bay A37, F105, C130, trực thăng vận tải CH47, pháo 175 ly “Vua chiến trường” ... là những chiến lợi phẩm thu được của địch.

Báo cáo tại buổi làm việc cho thấy, trong giai đoạn 2, công trình tiếp tục triển khai trưng bày 8 chuyên đề, 7 sưu tập, 12 chuyên ngành quân sự; phục dựng công trình quân sự tiêu biểu; tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, không gian trải nghiệm ngoài trời; không gian sáng tạo; du lịch sinh thái; khu vui chơi trẻ em và khu dịch vụ cho khách tham quan.

Khi hoàn thành toàn bộ các hạng mục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một thiết chế văn hóa đa năng, tổng hợp, đặc biệt quan trọng, tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội và Quốc gia; có quy mô lớn, hiện đại, tiên tiến; phản ánh toàn diện, sâu sắc về di sản văn hóa quân sự Việt Nam qua các thời đại.

*"Địa chỉ đỏ" tìm hiểu, học tập truyền thống của quân đội

Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ ấn tượng về không gian Bảo tàng cùng các hiện vật phong phú, thể hiện rất sinh động sự trưởng thành của lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; minh chứng là đã có rất đông các tầng lớp nhân dân đến tham quan Bảo tàng.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, không gian Bảo tàng thể hiện sinh động sự trưởng thành của lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, đây chính là địa chỉ đỏ để học tập, nghiên cứu gắn liền với quá trình giữ nước vô cùng anh hùng của cha ông chúng ta, nhất là những chỉ đạo sáng suốt tài tình của Đảng ta trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư đề nghị, tiếp tục truyền tải thông điệp vai trò của nhân dân trong các cuộc kháng chiến và trong các đường lối quân sự quốc phòng vì quân đội của chúng ta là quân đội nhân dân. Bên cạnh đó, các hiện vật trưng bày cũng làm rõ và nhấn mạnh thêm trách nhiệm quốc tế của quân đội ta, bởi hiện nay Bảo tàng mới thể hiện được những vấn đề hợp tác quốc tế, công tác đối ngoại của quân đội, chiến lược của Đảng và Nhà nước ta là bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giải quyết tất cả những hậu họa nguy cơ từ trước không được để bị động bất ngờ.

Để hoàn thiện đồng bộ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam theo đúng chủ trương đầu tư, đề cương chính trị, nhiệm vụ thiết kế được phê duyệt và mục tiêu đầu tư đã được Thường vụ Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng xác định, Tổng Bí thư yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tạo điều kiện để Bộ Quốc phòng sớm hoàn thành các hạng mục đầu tư giai đoạn 2, phát huy hiệu quả giá trị của công trình lịch sử, văn hóa, là địa chỉ đỏ trong nghiên cứu, học tập, gìn giữ và phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm ghi sổ Vàng lưu niệm.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã ghi sổ Vàng lưu niệm với nội dung: “Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một biên niên sự kiện bằng tài liệu, hình ảnh, hiện vật xuyên suốt chiều dài lịch sử ra đời, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Thật xúc động, vinh dự, tự hào vì được sống lại với khung cảnh rừng Trần Hưng Đạo năm xưa; gặp lại những đoàn dân công thồ gạo trên khắp nẻo đường Tây Bắc, những tấm áo trấn thủ của người lính Điện Biên, những Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam; những khẩu đại bác cheo leo sườn núi để cùng toàn dân, toàn quân trút đạn vào đầu thù, làm nên chiến thắng "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"; gặp lại trùng trùng điệp điệp những đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thấy non sông Việt Nam liền một dải, thấy trời cao, biển rộng; thấy sự trưởng thành, lớn mạnh, hiện đại của Quân đội nhân dân Việt Nam; thấy sự tin tưởng, tự hào của Đảng, Chính phủ và Nhân dân đối với "Bộ đội cụ Hồ" và thấy "Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân" trên mọi nẻo đường đất nước.

Tôi tin tưởng rằng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là "địa chỉ đỏ", là không gian văn hóa đặc biệt để nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè khắp năm châu đến thăm quan, tìm hiểu, học tập về truyền thống của đội quân "Bách chiến, bách thắng" của dân tộc Việt Nam anh hùng"./.

Giới thiệu tài liệu lưu trữ quốc gia 80 năm Quân đội nhân dân Việt Nam.

 Ngày 4/12, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) tổ chức giới thiệu bộ tài liệu lưu trữ quốc gia với chủ đề "80 năm Quân đội nhân dân Việt Nam".

Bộ tài liệu được giới thiệu lần này phản ánh quá trình hình thành, xây dựng, chiến đấu và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào tháng 12/1944 dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, cho đến những chiến công vang dội trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hòa bình.

Theo đó, gần 150 tài liệu, hình ảnh giới thiệu lần này được lựa chọn từ các phông tài liệu hành chính (Phủ Thủ tướng, Quốc hội, Bộ Nội vụ, Chủ tịch nước/Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Thống nhất Chính phủ); khối tài liệu sưu tầm và các phông tài liệu (Bộ Ngoại giao, Thiếu tướng Hoàng Kiền, Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, Giáo sư Hoàng Minh Giám, Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp…); tài liệu của các nghệ sĩ sáng tác các tác phẩm về quân đội (nhạc sĩ Trọng Loan, Doãn Nho, Trọng Bằng...).

Quân giải phóng tiến vào giải phóng thị trấn Trảng Bom - Biên Hòa, năm 1975. 

Trong đó, các tài liệu liên quan tới nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước được chia thành nhiều chủ đề, như: Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam; Tổ chức bộ máy, cán bộ Bộ Quốc phòng và tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam; Từ toàn quốc kháng chiến đến Chiến dịch Điện Biên Phủ 1946-1954; Những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ 1954-1975; Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam; Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Quân đội nhân dân Việt Nam...

Ngoài ra, còn một số tài liệu về các chủ đề khác như: Những hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B, về những ca khúc được sáng tác trong thời chiến, phục vụ kháng chiến và ca ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo đại diện Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, những tài liệu lưu trữ được lựa chọn tại sự kiện là tài liệu gốc. Nhiều tài liệu lần đầu tiên đưa ra giới thiệu đến đông đảo công chúng, chứa đựng những thông tin tin cậy về quá trình thành lập, xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, chính sách quốc phòng và chặng đường dài phát triển của lực lượng Quân đội nhân đội nhân dân Việt Nam. Những tài liệu này không chỉ là minh chứng cho sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là nguồn tư liệu quý giá về các chiến công lịch sử, chính sách quốc phòng và sự cống hiến của Quân đội trong công cuộc bảo vệ đất nước./.

Đề xuất phát hành 100.000 tỷ đồng trái phiếu cho vay mua nhà ở xã hội.

 Bộ Xây dựng đề xuất phát hành 100.000 tỷ đồng trái phiếu cho vay nhà ở xã hội; Lật thuyền tại Trung Quốc làm 8 người tử vong; Tòa án Công lý Quốc tế bắt đầu phiên điều trần lớn nhất trong lịch sử; Liên hợp quốc kêu gọi hành động để giúp đỡ người dân Gaza… là những tin tức đáng chú ý trong ngày 2/12.

Đề xuất phát hành 100.000 tỷ đồng trái phiếu để cho vay mua nhà ở xã hội

Đây là lần đầu tiên Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng gói nhà ở xã hội bằng phát hành trái phiếu.

Theo đó, lãi vay gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng mua nhà ở xã hội bằng lãi vay đối với hộ nghèo do Thủ tướng quyết định trong từng thời kỳ. Thời gian giải ngân gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng cho đến khi giải ngân hết gói tín dụng này, nhưng không vượt quá ngày 31/12/2030. Việc phân bổ giải ngân gói tín dụng ưu đãi cho phát triển nhà ở xã hội dự kiến được thực hiện như sau: từ năm 2025 đến năm 2029 bố trí mỗi năm khoảng 16.500 tỷ đồng; năm 2030 bố trí khoảng 17.500 tỷ đồng.

Nhà ở xã hội CT08 mang tên HUD Rosa Garden trong Khu đô thị mới Thanh Lâm - Đại Thịnh II, Mê Linh (Hà Nội). Ảnh minh họa: Phan Tuấn Anh/TTXVN 

Để thực hiện gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đề xuất Chính phủ giao Bộ Tài chính rà soát, đánh giá kỹ lưỡng, cụ thể khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ để có vốn cấp cho Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay mua, thuê mua, xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà ở. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành liên quan phân bổ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho phát triển nhà ở xã hội.

Bộ Xây dựng đề xuất Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội rà soát, tháo gỡ khó khăn vướng mắc để triển khai hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội.

Cùng đó, các địa phương phải có cơ chế, giải pháp cụ thể, rút ngắn thủ tục hành chính về lập, phê duyệt dự án, giao đất, cho thuê đất, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư xây dựng… để hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp triển khai đầu tư xây dựng dự án, tạo nguồn cung cho thị trường và tận dụng được nguồn vốn ưu đãi phát triển nhà ở xã hội.

Mục tiêu của Nghị quyết nhằm đảm bảo nguồn vốn thực hiện đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030. Từ đó, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở, hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp, người nghèo gặp khó khăn về nhà ở, góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội.

Lật thuyền tại Trung Quốc làm 8 người tử vong

Ngày 2/12, nhà chức trách Trung Quốc cho biết 8 người đã thiệt mạng sau khi chiếc thuyền chở họ bị lật ở tỉnh Quý Châu, Tây Nam nước này.

Vụ tai nạn xảy ra trên sông Bình Trần, huyện Tòng Giang. Khi đó có 13 người trên thuyền. 5 người được cứu sống, hiện trong tình trạng ổn định.

Con thuyền bị lật được xác định do tư nhân điều hành.

Cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra vụ việc. 

Tòa án Công lý Quốc tế bắt đầu phiên điều trần lớn nhất trong lịch sử

Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) ngày 2/12 đã tiến hành phiên điều trần quy mô lớn nhất kể từ khi được thành lập cách đây gần 80 năm.

Phiên điều trần sẽ kéo dài 2 tuần nhằm thiết lập các hướng dẫn pháp lý về cách các quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và giúp những nước dễ bị tổn thương tăng cường năng lực chống đỡ trước các tác động tàn phá do thực trạng này gây ra.

Biểu tượng của Tòa án Công lý quốc tế (IJC). Ảnh: IRNA/TTXVN 

Từ nhiều năm qua, các quốc đảo ở Thái Bình Dương đã kêu gọi Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ LHQ) đặt ra vấn đề về nghĩa vụ pháp lý của các nước trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Trong nghị quyết thông qua vào năm ngoái, ĐHĐ LHQ cũng đã yêu cầu các thẩm phán quốc tế cho ý kiến tư vấn về vấn đề này.

Theo số liệu của LHQ, trong thập kỷ đến năm 2023, mực nước biển toàn cầu đã tăng trung bình khoảng 4,3 cm, với một số vùng ở Thái Bình Dương tăng nhiều hơn những nơi khác. Các quốc đảo từ lâu đã lo ngại nguy cơ sẽ bị biến mất do nước biển dâng cao. Ngoài ra, nhiệt độ toàn cầu cũng đã tăng 1,3 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp, do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch.

Theo kế hoạch, hơn 100 quốc gia và tổ chức sẽ nộp hồ sơ lên hội đồng thẩm phán gồm 15 thành viên để trình bày các ý kiến, tranh luận và bảo vệ quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình. Đây là số lượng thành phần tham dự cao nhất từ trước đến nay tại tòa án của LHQ có trụ sở tại La Hay (Hague, Hà Lan). ICJ sẽ tập trung giải đáp 2 câu hỏi: Các quốc gia có nghĩa vụ gì theo luật pháp quốc tế trong việc bảo vệ khí hậu và môi trường trước tác động của khí thải nhà kính do con người gây ra? Và sẽ có những hệ quả pháp lý gì đối với những chính phủ không hành động hoặc hành động không đủ, dẫn đến việc gây tổn hại đáng kể cho khí hậu và môi trường?

Mặc dù không mang tính ràng buộc pháp lý song nhiều ý kiến cho rằng phán quyết của ICJ sẽ tạo cơ sở cho các hành động tiếp theo và gây áp lực đối với các nước phát triển trong cuộc chiến đẩy lùi biến đổi khí hậu hiện nay.

Liên hợp quốc kêu gọi hành động để giúp đỡ người dân Gaza

Theo thông báo của Cơ quan Liên hợp quốc (LHQ) về người tị nạn Palestine (UNRWA) ngày 1/12, hiện có trên 415.000 người dân Gaza di tản đang trú ẩn tại các trường học của cơ quan này. UNRWA cũng cho biết hàng trăm nghìn người khác đang phải sống trong điều kiện tồi tệ hơn tại những nơi trú ẩn tạm thời.

Người dân Palestine nhận thức ăn cứu trợ tại Dải Gaza ngày 23/10/2024. Ảnh: THX/TTXVN 

UNRWA chia sẻ các phát biểu của nhân chứng tại Gaza, phản ánh tình trạng khó khăn mà người dân đang phải trải qua trong các khu trường học được chuyển thành trại tị nạn. Theo thống kê từ phía Palestine đã được LHQ kiểm chứng, xung đột giữa Israel và phong trào Hamas tại Gaza kể từ tháng 10/2023 đã khiến gần 44.400 người thiệt mạng, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, và trên 105.000 người bị thương.

Trên mạng xã hội X, người đứng đầu UNRWA Philippe Lazzarini thông báo cơ quan này đã tạm dừng việc cung cấp viện trợ thông qua cửa khẩu Kerem Shalom quan trọng giữa Israel và Gaza do lo ngại về vấn đề an toàn. Trong vài tháng trở lại đây, một số băng nhóm vũ trang đã chặn cướp xe tải chở hàng viện trợ qua tuyến đường trên. Ông Lazzarini cũng cảnh báo nạn đói đang tăng nhanh tại Gaza.

Một hội nghị cấp bộ trưởng dự kiến diễn ra tại thủ đô Cairo của Ai Cập trong ngày 2/12 nhằm tăng cường phản ứng nhân đạo quốc tế đối với cuộc khủng hoảng nhân đạo ở Dải Gaza cũng như huy động sự hỗ trợ của khu vực và toàn cầu để giảm bớt đau khổ của người dân Palestine ở dải đất ven Địa Trung Hải này…/.