Thứ Năm, 8 tháng 5, 2025

Quê hương thanh bình, đổi mới, sao mãi ôm hận thù, định kiến?

Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Bắc Nam thống nhất, non sông liền một dải, người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước vẫn luôn đoàn kết chung lòng dựng xây quê hương, đất nước. Dẫu vậy, một số người trước đây từng “bên kia chiến tuyến”, rời đất nước sau giải phóng, đến nay họ vẫn định kiến, giữ cách nhìn tiêu cực, thù hận về quê hương, cho rằng “bị phân biệt đối xử” nên không có khái niệm hòa hợp…

Khi tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi gắn kết giữa các tư liệu lịch sử với quan điểm của những người đã trải qua các cuộc kháng chiến, chính kiến của cả người “bên này và bên kia”, đánh giá hoàn cảnh lịch sử trước đây và bối cảnh, xu thế hôm nay… Từ đó, đưa ra cách luận giải khách quan với mong mỏi rằng, vết thương còn có ngày lành sẹo, bầu bí một giàn, lòng ái quốc chính là cội nguồn cho tinh thần hòa hợp dân tộc, hướng về đất mẹ, như lời khuyên bảo của Bác Hồ năm xưa: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta”… 

Tái diễn những luận điệu lạc lõng 

50 năm trong dòng chảy lịch sử chưa phải là quãng thời gian quá dài nhưng với một dân tộc, chừng đó đủ để đánh giá, nhìn nhận về các chặng đường, các mốc hoạch định chiến lược, đủ để thực hiện những lộ trình phát triển. 50 với một đời người lại là quãng thời gian dài, rất dài. Nhưng sau 50 năm, nếu một tư duy, một định kiến cho đến bây giờ vẫn không thay đổi, vẫn mang sự thù hận, nguyền rủa mảnh đất đã sinh ra mình chỉ vì ngày trước khác biệt tư duy vì “bên này, bên kia” chiến tuyến, thì đó là tư duy bảo thủ, cố chấp, là cách họ tự tách mình ra khỏi dòng chảy thời cuộc.

Thật đáng tiếc khi cho đến lúc này, đất nước đã giải phóng được nửa thế kỷ, đồng bào chung sức, chung lòng xây dựng từ đống đổ nát sau chiến tranh, từ đói kém và lạc hậu, tới nay đã tạo một Việt Nam với vị thế, hình ảnh mới trên bản đồ khu vực và thế giới thì một số người vẫn mang nặng tư duy thù hận năm xưa, vẫn có cái nhìn ác cảm, tiêu cực về quê hương, đất nước. 

Những ngày qua, trong khi đồng bào dù ở trong hay ngoài nước đều một lòng hướng về Tổ quốc, bằng những hoạt động khác nhau kỷ niệm ngày Bắc Nam thống nhất, núi sông liền một dải thì một bộ phận người Việt định cư tại Mỹ và một số nơi khác lại tiếp tục điệp khúc chống đối cực đoan, xới lại sự hận thù.

Trên một số trang mạng xã hội của các tổ chức, nhóm chống đối ở hải ngoại tiếp tục phê phán việc Nhà nước Việt Nam tổ chức diễu binh, diễu hành, cho rằng cần lựa chọn “cách im lặng” mới là giải pháp để hòa giải, hòa hợp. Một số người Việt tại Mỹ vẫn tái diễn điệp khúc “50 năm, triệu mảnh đời biệt xứ; 50 năm là 50 mùa quốc hận, đất nước còn quằn quại dưới cùm gông”… Họ lu loa rằng, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, thống nhất đất nước nhưng không thống nhất được lòng dân vì lãnh đạo không làm chuyện nhân nghĩa mà ngược lại chỉ làm chuyện bất nghĩa”; mỉa mai “diễu binh xong rồi, ăn mừng xong rồi, giờ đối diện với thực tế kinh tế chông chênh, biển đảo bị mất, luật pháp tệ hại…”.

Một số đối tượng lợi dụng vụ nổ súng liên quan người cha của cháu bé bị tai nạn giao thông ở Vĩnh Long (hiện cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra lại; Bộ Công an chỉ đạo Công an Vĩnh Long khẩn trương rà soát, xử lý nghiêm sai phạm nếu có) để bôi lem, quy chụp lên niềm tự hào trong lễ diễu binh, diễu hành, miệt thị “sự thối nát của hệ thống pháp luật”! 

Trang Việt Tân lại giở trò “hội luận về biến cố 30/4 trong ký ức ba thế hệ”, trực tuyến trên mạng xã hội vào sáng 3/5/2025. Với “khách mời” là những người có lịch sử chống phá Việt Nam, số này đã mượn diễn đàn hội luận để mỉa mai về lễ diễu binh, diễu hành, miệt thị các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tái diễn luận điệu coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là “nội chiến, huynh đệ tương tàn”… 

Một số nhóm nhỏ người Việt tại California (Mỹ) tụ tập dưới biểu ngữ “tưởng niệm ngày quốc hận”, nghe “diễn văn tưởng niệm” với lời lẽ nặng sự hận thù. Đây là hành động có tính thường niên của bộ phận người Việt rời đất nước sau 30/4/1975, tới nay vẫn ôm chặt tư tưởng thù hận, chống đối đất nước. Họ được cổ súy bởi những mắt xích vốn là người Việt cực đoan, số này lĩnh ấn tiên phong trong việc hô hào, kêu gọi tụ tập, tuần hành và các hành động thành lập, tham gia các tổ chức phản động tại hải ngoại. Cũng vì sự vận động của số chống đối này mà tháng 8/2009, tại thành phố Westminster, họ thông qua cái gọi là “nghị quyết 4257” về việc coi ngày thứ bảy cuối cùng mỗi tháng tư là “Ngày Thuyền nhân Việt Nam”. Ở cấp tiểu bang California thì đưa ra cái gọi là “Nghị quyết ACR-40”, công bố tháng tư là tháng của người Mỹ gốc Việt với 6 điểm, trong đó tung hô những khẩu hiệu như “nỗ lực tranh đấu vì lý tưởng tự do”, coi lá cờ vàng ba sọc đỏ là “biểu tượng của người Mỹ gốc Việt”; lấy tuần lễ từ 24 đến 30/4 hằng năm là “tuần tưởng niệm tháng tư đen, ngày quốc hận”… 

Theo lệ đó, năm nay, một nhóm người Việt ở hải ngoại được quay video phát lên mạng xã hội, tay cầm cờ vàng ba sọc đỏ, miệng hô những lời lẽ hướng về giới trẻ nhằm kích động chống phá: “Hỡi các bạn trẻ mang trong mình dòng máu Việt. Chúng tôi không chứng kiến cuộc chiến tranh Việt Nam, không sống dưới tiếng bom rơi đạn lạc nhưng chúng tôi lại lớn lên trong đất nước không tự do – một đất nước mà người dân bị buộc phải cúi đầu, phải im lặng và phải nhớ ơn một chế độ ngoại lai đã cưỡng chiếm miền Nam, nhân danh hai từ “giải phóng”. Đó là chế độ cộng sản”!

Với luận điệu kích động đó, các đối tượng xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “không mang lại sự hòa hợp dân tộc mà phát động các cuộc trả thù tàn bạo”, “không mang lại dân chủ mà áp đặt xã hội dưới chế độ độc tài”, “không giải phóng con người mà xiềng xích cả nước bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch và sự sợ hãi”…  

Đáng nói, dù được hô hào trước đó nhiều ngày thì thực tế số lượng người tụ tập với lời lẽ kích động trên chỉ lèo tèo, họ cố kéo theo cả phụ nữ, trẻ em để “tạo khí thế”. Điều đó cho thấy, số người bị dụ dỗ, kích động chống phá tại hải ngoại đang ngày càng thưa vắng, dù những thành phần cốt cán bằng nhiều cách kêu gọi tụ tập trên mạng xã hội. 

30/4 đã là ngày đại lễ của cộng đồng người Việt Nam ở bất cứ nơi đâu, ngày đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc, cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, đưa giang sơn thu về một mối. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Sau 50 năm, Việt-Mỹ từ hai bên chiến tuyến, từ đối đầu, đối súng đã trở thành đối tác, bình thường hóa quan hệ từ 1995 và tới nay đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.

Nửa thế kỷ đi qua, những người lính từng theo Mỹ, đứng “bên kia” chiến tuyến, giờ cũng đã ở sườn núi của cuộc đời hoặc khuất núi theo quy luật tự nhiên. Chừng đó thời gian là thêm một, hai thế hệ nữa sinh ra, trưởng thành, đủ để nhận thức về cuộc sống, chứng kiến những đổi thay của quê hương, của quan hệ Việt – Mỹ trong giai đoạn mới, đủ trải nghiệm, hiểu biết về quá khứ và hiện tại, về những điều nên làm và không nên làm.

Chúng tôi nghĩ rằng, nếu những luận điệu trên diễn ra cách đây mấy chục năm, dẫu biết như thế là sai lạc thì phần nào đó có thể hiểu được với tâm lý của những người rời đất nước ra hải ngoại, khi mà trạng thái hận thù sau chiến tranh vẫn còn nặng nề. Nhưng bây giờ, 50 năm với một đời người là quãng thời gian dài, rất dài, đủ làm thay đổi những nhận thức, tư duy.

Với bối cảnh mới, tại sao hiềm khích, hận thù vẫn còn, thậm chí vẫn dai dẳng trong một bộ phận người Việt ở hải ngoại? Tại sao chúng ta cùng đất mẹ, bầu bí một giàn lại chưa thể hòa hợp, lại mãi điệp khúc nguyền rủa quê hương? Nguyên nhân do đâu và làm thế nào để hòa hợp dân tộc là vấn đề không mới, đã được bàn luận nhiều. Điều quan trọng là phải gỡ bỏ định kiến, đưa đến cách nhìn khách quan cả trong quá khứ và hiện tại để thiện chí hướng đến ngày mai vì một quê hương thanh bình, ổn định và phát triển. 

Hiểu đúng một giai đoạn lịch sử

Người Việt Nam di cư sang Hoa Kỳ có thể chia thành ba đợt, bắt đầu lần đầu tiên vào năm 1975, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ dẫn đến việc sơ tán do Hoa Kỳ bảo trợ của khoảng 125.000 người Việt Nam, chủ yếu là số người làm việc cho chế độ cũ và thân nhân của họ. Trong cuối những năm 1970, làn sóng thứ hai của người Việt di cư vào Hoa Kỳđược gọi là nhóm di cư “thuyền nhân”. Đợt thứ ba di cư vào Hoa Kỳ trong suốt những năm 1980 đến 1990. 

Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ là một trong những cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài, vớihơn 2 triệu người Việtsinh sống và làm việc trên khắp nước Mỹ. Việc người Việt di cư sang Mỹ giai đoạn trước, sau 30/4/1975 do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân đầu tiên phải kể đến chính là hệ quả của chính sách tuyên truyền của chính quyền Sài Gòn cũ khi liên tiếp dội vào những người lính và người dân về nạn “tắm máu” khi chính quyền Sài Gòn sụp đổí.

Lo lắng điều này, nhiều người vội vàng di tản khỏi Sài Gòn trước 30/4/1975 cùng thân nhân của họ. Một bộ phận khác sau thời điểm trên cũng tìm cách bán, sang tên nhà cửa, tài sản để di tản. Cùng với đó, nhiều người dân thành thị có điều kiện kinh tế khá giả, họ cũng tìm cách sang Mỹ với hy vọng có điều kiện làm ăn hơn. Nhiều người khác đời sống khó khăn, do có người thân, bạn bè vận động, rủ rê cũng ra đi…

Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi thấy rằng, việc nhiều người Việt Nam di cư sang Mỹ trước, sau 30/4/1975 nằm trong bối cảnh lịch sử chịu nhiều tác động chi phối lúc bấy giờ. Chúng ta cũng cần thấy rằng, do sau giải phóng, đất nước bước vào giai đoạn tái thiết kinh tế từ đống đổ nát của chiến tranh, lại duy trì chế độ tập trung bao cấp trong thời gian dài nên nền kinh tế rơi vào trì trệ, đời sống người dân chật vật. Điều kiện đó diễn ra khi viễn cảnh nhiều người Việt sang Mỹ định cư sau 30/4/1075 đời sống khá giả đã tác động đến tâm lý, tư tưởng người ở lại, họ cũng muốn di cư tìm kiếm đời sống kinh tế tốt hơn. Một mặt, khi đó mặc dù chúng ta đã đề cập đến vấn đề hòa hợp dân tộc nhưng với tâm lý vẻ vang sau chiến thắng, chúng ta chưa thực sự làm tốt các giải pháp này một cách thực chất. Với số người làm việc cho chế độ cũ và người thân của họ, tâm lý “bên thua cuộc” khi đó còn nặng nề, lại bị tác động luận điệu tuyên truyền “tắm máu” trước đó và sự rủ rê ở bên ngoài nên nhiều người di tản cũng là dễ hiểu… 

Những diễn biến đó là một thực tế của lịch sử và hoàn toàn lý giải được trong bối cảnh lúc bấy giờ – đất nước vừa ra khỏi chiến tranh với bộn bề công việc tái thiết, ngổn ngang gian khó, lại bị bao vây cấm vận. Vì vậy, cần hiểu hoàn cảnh đó để chia sẻ với Đảng, Nhà nước trong giai đoạn lịch sử chứ không thể lấy thực trạng di cư như vậy để phán xét, quy chụp bôi nhọ. Trong lịch sử của nhiều quốc gia trên thế giới, việc một bộ phận người dân bên thua cuộc di tản sang nước khác sau khi kết thúc chiến tranh cũng là chuyện bình thường bởi bối cảnh hậu chiến đặt ra những vấn đề có tính quy luật khiến sự di tản khó tránh khỏi./.

Sưu tầm

Nhớ lời Bác dạy “khoan hồng đại độ”

Bác khuyên bảo: "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, 5 ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp ở nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác. Nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc."

Thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta

Hòa hợp dân tộc ở Việt Nam là một khái niệm để chỉ sự hòa giải những mâu thuẫn trong nội bộ người Việt phát sinh từ năm 1945 đến ngày nay, trong đó vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc được nhắc đến nhiều sau Hiệp định Paris và sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Việc nhiều người Việt Nam di cư sang Mỹ sau 30/4/1975 nằm trong bối cảnh lịch sử chịu nhiều tác động chi phối lúc bấy giờ nên không thể lấy việc di cư như vậy để phán xét, quy chụp qua lăng kính tiêu cực.  Trong lịch sử của nhiều quốc gia trên thế giới, việc một bộ phận người dân di tản sang nước khác sau khi kết thúc chiến tranh cũng là chuyện bình thường, bởi bối cảnh hậu chiến đặt ra những vấn đề có tính quy luật khiến sự di tản khó tránh khỏi.

Từ năm 1946, Bác Hồ đã chỉ ra những vấn đề khi chúng ta vừa giành chính quyền từ cuộc khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám, đó là khi chống Pháp, cũng có những người Việt đứng ở bên phía Pháp chống lại cách mạng. Bác khuyên bảo: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, 5 ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp ở nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác. Nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ, có như thế mới thành đoàn kết. Có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang”.  Trong thư chúc Tết kiều bào đầu năm 1946 - năm đầu tiên khi nước nhà vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tấm lòng yêu mến cố hương, luôn hướng về Tổ quốc của kiều bào và khẳng định: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà như thế”.

Khi nhìn lại thực tế lịch sử, một số thông tin hải ngoại đã bóp méo sự thực, quy chụp rằng do chúng ta đối xử “thậm tệ” với bên thua cuộc và không hề quan tâm việc hòa giải, hòa hợp dân tộc. Số này cũng ngụy biện khi áp đặt tâm lý “ăn thua” của người Việt, rằng tuy “cùng một mẹ” nhưng người Việt Nam mang nặng tư tưởng hận thù, không thể dung hòa và vu cáo Đảng, Nhà nước ta “bỏ rơi” kiều bào ở Mỹ cũng như ở nước ngoài nói chung. Đây là những quan điểm “mượn gió bẻ măng”, lộ rõ ý đồ chống phá đất nước, mượn cớ hiện tượng người Việt Nam di cư sang Mỹ nói riêng, ra nước ngoài định cư nói chung để phê phán, đả phá chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách tung tin hỏa mù, vu cáo để ly gián, gây chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân cũng như giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa người dân trong nước với kiều bào…

Thực chất, hòa hiếu, hòa hợp dân tộc chính là truyền thống nhân nghĩa, nhân văn có từ lâu đời của dân tộc ta. Sử cũ chép rằng, sau khi đánh thắng 3 đợt xâm lược của giặc Nguyên – Mông, nhà Trần họp các quan lại xem việc định công, xét tội. Số là khi quân Nguyên đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, theo giặc. Sau khi giặc thua chạy về phương Bắc, triều đình bắt được biểu hàng của các quan. Đình thần muốn lục ra để trị tội nhưng Thượng hoàng Nhân Tông nghĩ rằng, làm vậy là hạ sách bèn sai đốt tráp đi cho yên lòng mọi người, duy chỉ kẻ nào theo giặc, thực sự nguy hại thì mới xử lý. Quân dân cũng theo cách đó mà xử sự. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta thời kỳ nào cũng chứng kiến những kẻ hai lòng theo giặc, phản triều đình nhưng cách xử sự cũng căn cứ tính chất, mức độ, dựa trên nền tảng nhân nghĩa “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi khi hoà bình lập lại, đó là xây dựng một đất nước thái bình, bên trên vua thánh tôi hiền, bên dưới không còn tiếng giận oán sầu: “thánh tâm dục dữ dân hưu túc, văn trị chung tu trí thái bình” (lòng vua chỉ muốn dân yên ổn, xếp võ theo văn, nước trị bình).

Trên tinh thần đó, vấn đề hòa hợp dân tộc đã được Đảng ta đặt ra từ rất sớm. Hiệp định Paris nhấn mạnh vấn đề hòa giải và hòa hợp. Hiệp định 23 điều thì có 5 điều đề cập tới hòa giải, hòa hợp dân tộc. Điều 11, Hiệp định ghi: “Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia”. Chúng ta đã thực hiện Hiệp định, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, làm việc tích cực với các bên liên quan và đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nêu ở phần trước, do điều kiện sau giải phóng chúng ta phải kiến thiết từ đống đổ nát, tâm lý có lúc còn nóng vội cùng rất nhiều thách thức, thù trong, giặc ngoài sau chiến tranh nên vấn đề này chưa có điều kiện thực hiện tốt, ít nhiều còn tư tưởng định kiến với những người làm việc cho chế độ cũ và thân nhân của họ. 

Luôn đau đáu về một đất nước thống nhất, phồn vinh

Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 26/3/2004 xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Một trong những chủ trương được Đảng ta khẳng định rõ trong Nghị quyết này là: “Xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính toàn diện, cơ bản và lâu dài, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác kiều bào và là kim chỉ nam cho hành động của cả hệ thống chính trị. Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết, công tác người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) tạo những bước chuyển rất quan trọng. Trong 20 năm qua, sự trở về đầu tư, kinh doanh trong nước của các doanh nhân NVNONN ngày càng nổi bật hơn. Dòng kiều hối đổ về Việt Nam đã có sự dịch chuyển từ tiêu dùng, hỗ trợ gia đình sang đầu tư, kinh doanh trong nước. Tổng lượng kiều hối từ 1993 – 2023 đạt khoảng 230 tỷ USD, tương đương với nguồn vốn FDI đã giải ngân trong cùng kỳ. Về dự án đầu tư trực tiếp (FDI), đến hết 2023, kiều bào từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư 421 dự án tại 42/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 1,72 tỷ USD.

Phát biểu tại chương trình Xuân Quê hương 2025, Chủ tịch nước Lương Cường chia sẻ, dân tộc ta đã đi qua những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất. Khát khao và yêu chuộng hòa bình mãi nằm trong tim, trong máu của người Việt Nam. Vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước, toàn dân tộc theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ kính yêu, nhất tề vùng lên chiến đấu, đánh tan nhiều kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, lập nên những chiến công vang dội. Từ một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới, qua 80 năm ra đời và 50 năm thống nhất, vượt qua bao nỗi đau, tàn phá của chiến tranh và sự nghèo đói luôn hiện hữu khi xưa, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành một quốc gia độc lập, tự do, là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại. Trong thành tựu to lớn của dân tộc ta, luôn có sự chung tay, góp sức rất quan trọng của đồng bào ta ở nước ngoài. Chúng ta ghi nhớ hôm qua để trân trọng hôm nay, nuôi khát vọng ngày mai, khép lại những gì đã qua, cùng nhau giữ gìn, vun đắp cho khối đại đoàn kết toàn dân, hướng về tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Chiến thắng 30/4 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đề cập vấn đề hòa hợp dân tộc trong xu thế mới. Bài viết tạo dấu ấn mạnh mẽ, lan tỏa sâu rộng, được dư luận trong và ngoài nước đón nhận, hưởng ứng. Tổng Bí thư cho rằng, sau 50 năm đất nước thống nhất, chúng ta đã có đủ bản lĩnh, đủ niềm tin, sự tự hào và đủ bao dung để vượt qua đau thương cùng nhau nhìn về phía trước – để cuộc chiến tranh đã qua không còn là hố ngăn cách giữa những người con cùng một dòng máu Lạc Hồng. Trên hành trình phát triển ấy, chính sách hòa hợp dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định là lựa chọn chiến lược lâu dài, là trụ cột trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng ta hiểu rõ những nguyên nhân lịch sử dẫn đến chiến tranh – từ sự can thiệp, chia rẽ bên ngoài cho đến những âm mưu phá hoại tinh thần đoàn kết, gieo rắc thù hận vì mưu đồ chính trị. Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng: mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay ngoài nước, dù từng đứng ở phía nào của lịch sử, đều cùng mang một cội nguồn, một ngôn ngữ, một tình yêu dành cho quê hương, đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ, những năm qua, trong các chuyến công tác tới hầu khắp các châu lục, có nhiều dịp gặp gỡ hàng ngàn đồng bào Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài – từ những trí thức trẻ lập nghiệp tại châu Âu, châu Mỹ, châu Á, Châu Đại Dương đến những doanh nhân thành đạt, nghệ sĩ nổi tiếng, người lao động bình dị ở các "miền đất mới", kể cả nhiều người thuộc "phía bên kia" trước đây. Mỗi cuộc gặp đều để lại ấn tượng sâu sắc, dù có thể khác biệt về quan điểm chính trị, trải nghiệm lịch sử hay điều kiện sống, họ đều mang trong lòng niềm tự hào dân tộc, đều là "con dân đất Việt" và nỗi nhớ da diết với hai tiếng Quê hương. “Tôi từng chứng kiến nhiều cuộc gặp gỡ đầy cảm động giữa các cựu chiến binh Việt Nam và cựu binh Hoa Kỳ – những người từng đứng ở hai bên chiến tuyến, từng cầm súng đối đầu, nay có thể bắt tay, trò chuyện, chia sẻ với nhau bằng sự thấu hiểu chân thành và không còn mặc cảm. Ngày hôm nay, Việt Nam và Hoa Kỳ – từ cựu thù – đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện, cùng hợp tác vì hòa bình, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì an ninh và ổn định khu vực. Vậy thì không có lý do gì để những người Việt Nam – cùng chung huyết thống, cùng một mẹ Âu Cơ, luôn đau đáu về một đất nước thống nhất, phồn vinh – lại còn mang mãi trong lòng nỗi hận thù, chia rẽ và ngăn cách” – Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, hòa hợp dân tộc không có nghĩa là quên lãng lịch sử hay xóa nhòa sự khác biệt, mà là chấp nhận những góc nhìn khác nhau trong tinh thần bao dung và tôn trọng, để cùng hướng tới mục tiêu lớn hơn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hùng mạnh, văn minh, thịnh vượng, để các thế hệ mai sau không bao giờ phải chứng kiến chiến tranh, chia ly và hận thù, mất mát như cha ông từng đối mặt. Chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển.

Sưu tầm

Thiêng liêng hai tiếng Quê hương

Lịch sử không xoay vòng để những người di cư tìm lại câu hỏi nên đi hay ở của bối cảnh quá khứ. Điều quan trọng và mang tính thời sự hiện nay là làm thế nào để việc hòa hợp dân tộc được thực hiện thiết thực, người Việt dù ở bất cứ đâu trên thế giới, bất cứ thành phần, địa vị nào cũng đều hướng về Tổ quốc, đoàn kết vì sự phát triển của quê hương, đất nước.

Trải nghiệm để thay đổi nhận thức, quan điểm

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Bắc Nam thống nhất, non sông một dải, người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước vẫn luôn đoàn kết “bầu bí một giàn”, chung lòng dựng xây quê hương, đất nước. Dẫu vậy, một số người trước đây từng “bên kia chiến tuyến”, sau giải phóng thì ra nước ngoài, đến nay vẫn giữ cách nhìn thù hận về quê hương. Khi được vận động trở về, họ vẫn định kiến, cho rằng “bị phân biệt đối xử” nên không có khái niệm hòa hợp. Quan niệm đó là sai lầm, đi ngược với xu thế hội nhập cũng như truyền thống bao dung, ân nghĩa của người Việt Nam. Như Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ, người Việt dù ở đâu trên thế giới, dù trước đây có thuộc “phía bên kia”, có thể khác biệt về quan điểm chính trị, trải nghiệm lịch sử hay điều kiện sống song họ đều mang trong lòng niềm tự hào dân tộc, đều là "con dân đất Việt" và nỗi nhớ da diết với hai tiếng Quê hương! Và thực tế, rất nhiều người dù trước đây “thế này, thế khác” nhưng nay đã thay đổi quan điểm, nhận thức, về thăm quê hương, có cách nhìn đúng đắn và đóng góp sức mình cho quê hương.

Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 từng kể, khi ông sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh Việt Nam tại Đại học Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo sư và khoảng một ngàn sinh viên. Một sinh viên đã hỏi: “Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã chiến thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc nhưng tại sao lại có chuyện hàng triệu người bỏ nước ra đi?”.

Trước câu hỏi trên, Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh trả lời, việc có hàng triệu người rời Việt Nam sang Mỹ sau năm 1975 là sự thật lịch sử. Điều này có nhiều nguyên do. Trước hết là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền“nếu Việt Cộng giải phóng sẽ có “tắm máu””. Việc tuyên truyền như vậy khiến nhiều người lo lắng nên sau 30/4/1975 họ tìm cách ra đi càng nhanh càng tốt. Đồng thời, những người ra đi gồm người thuộc chính quyền Sài Gòn cũ, những người thấy ở lại làm ăn không thuận lợi, một số người giàu có và số khác không thuộc các thành phần trên cũng đi vì sợ “tắm máu”. Một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên cũng kiếm đường ra đi... “Nhưng, dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi đều coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi” - Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh giải thích.

Sau nửa thế kỷ, sự di cư của người Việt sang Mỹ đã là một vấn đề lịch sử và giờ đây cũng không phải là lúc ngồi soát xét lại tại sao có chuyện như vậy để đổ lỗi nguyên nhân, trách nhiệm của bên nào. Lịch sử không xoay vòng để những người di cư tìm lại câu hỏi nên đi hay ở của bối cảnh quá khứ. Điều quan trọng và mang tính thời sự hiện nay là làm thế nào để việc hòa hợp dân tộc được thực hiện thiết thực, người Việt dù ở bất cứ đâu trên thế giới, bất cứ thành phần, địa vị nào cũng đều hướng về Tổ quốc, đoàn kết vì sự phát triển của quê hương, đất nước. Dù đã có những chuyển biến trong nhận thức, hành động thì một sự thật là cho đến nay, sau 5 thập kỷ chấm dứt chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn còn đó những điều chưa được khỏa lấp trong một bộ phận kiều bào. Trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, vẫn còn đó những người chống đối sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước Việt Nam, thậm chí chống đối quyết liệt suốt gần nửa thế kỷ qua. Không thay đổi nhận thức với chính mình, họ lại truyền bá tư tưởng này cho con cái, định hình một cách nhìn lệch lạc, thù hận về nơi vốn là gốc gác, tổ tiên của mình, dòng họ mình.

Tổ quốc dang rộng vòng tay với cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới không chỉ là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc mà đã trở thành hành động chính trị của đất nước. Một trong những chủ trương được Đảng ta khẳng định rõ là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài).

Xúc động những chuyến trở về quê hương

Có phải mỗi người khi đã là hận thù, đã là chống đối thì không thay đổi? Đó là tư duy sai lầm. Xin kể câu chuyện dưới đây của luật sư Hoàng Duy Hùng - người Mỹ gốc Việt, có nhiều chuyến trở về Việt Nam với tư cách một du khách và có bài viết đăng trên Tạp chí Quê hương. Từng là thành viên cốt cán của tổ chức phản động đảng Đại Việt, năm 1992, luật sư Hoàng Duy Hùng về Việt Nam hoạt động, bị bắt giam rồi bị trục xuất về Mỹ. Năm 1998, thành lập đảng chính trị riêng tại Mỹ để chống cộng; năm 2001, xâm nhập về Việt Nam để đặt bom khủng bố... Nhưng theo thời gian, chính ông đã thay đổi. “Lần thứ tư tôi về Việt Nam là để tham dự Lễ Giáng sinh 2019 tại Hà Nội, đón Giao thừa Tết Dương lịch 2020 ở TP Hồ Chí Minh. Và tôi khẳng định rằng được trở về bên “Mẹ Việt Nam”, tôi đã tìm thấy chính bản thân mình, tôi hạnh phúc, sung sướng vô cùng. Nói cách khác, sau rất nhiều trăn trở, băn khoăn, thậm chí cả sai lầm, nay tôi mới tìm ra được chính tôi. Tôi không còn thù hận Đảng Cộng sản Việt Nam nữa mà trân quý lòng yêu nước của các đảng viên cộng sản” – ông Hùng chia sẻ.

Vậy tại sao lại có sự thay đổi trên? Câu trả lời đó là những suy nghĩ sau khi chứng kiến sự đổi thay của đất nước. Theo ông, cũng như những quốc gia đang phát triển khác, ở Việt Nam còn có một số tiêu cực, nhưng những mặt tích cực của Việt Nam là cơ bản, lớn hơn rất nhiều và Việt Nam hôm nay đã thay da đổi thịt thật sự. Vị luật sư bày tỏ: “Nghe một vị cắt nghĩa cho tôi về việc cần quan tâm đến chữ Tâm, cho rằng hòa hợp dân tộc phải xây dựng trên chữ Tâm, ai không có Tâm thì nhận ra ngay, tôi thật sự khâm phục, nhập tâm hướng dẫn của vị cựu lãnh đạo. Rồi những người bình thường như anh Ba Trí ở Bạc Liêu đã bán hai tấn lúa để có lộ phí từ Bạc Liêu lên TP Hồ Chí Minh, chờ hai ngày để tìm cách gặp tôi. Rồi bác Bảy lặn lội từ Bến Tre lên TP Hồ Chí Minh để dặn dò tôi làm nhiều việc tốt hơn nữa cho đất nước. Rồi những người tôi gặp ở Cao Bằng, Quảng Ninh... đã giúp tôi cảm nhận sâu xa về tình cảm của đồng bào mình. Sự chân tình của họ giúp tôi củng cố niềm tin về ý nguyện của mình. Vâng, sự phát triển của đất nước và cách tiếp đón đầy tình người đã làm cho lòng tôi thật sự tỉnh ngộ và trở nên ấm áp. Tôi tìm được chính bản thân tôi trong lòng “Mẹ Việt Nam”.

Trong lần về gần đây, ông dành thời gian đi nhiều nơi trên đất nước Việt Nam. Từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đến Hải Phòng, Cao Bằng... nơi nào cũng thấy hình ảnh một Việt Nam tươi đẹp, năng động và phát triển. “Đương nhiên vẫn còn có một số người còn khó khăn, đói nghèo, nhưng điều này không có gì lạ, nơi nào cũng có, ở Mỹ hay ở châu Âu cũng vậy. Vấn đề quan trọng là ở chỗ Đảng, Nhà nước Việt Nam rất chú trọng hỗ trợ những hộ dân còn đói nghèo, giúp họ thoát nghèo và vươn lên. Tôi đã quay phim và phát trên mạng những hình ảnh về sự phát triển của đất nước, đã đưa ra một số nhận xét, phát biểu lạc quan về sự phát triển đó, song một số người Việt Nam ở hải ngoại không tin, cho rằng tôi khen Việt Nam thái quá. Tôi chủ trương không trả lời cho những gì xuyên tạc, vì ai không tin, cứ việc về Việt Nam. Sự thật sẽ buộc họ phải suy nghĩ lại” – ông Hoàng Duy Hùng chia sẻ.

Nhiều việc làm thiết thực được các cơ quan chức năng Việt Nam thúc đẩy, trong đó có việc gặp gỡ, đối thoại với số người chống đối đang định cư tại Mỹ, nhất là tại bang Texas và quận Cam, bang Califonia. Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn là người trực tiếp đối thoại nhiều lần với những người này, trong đó có những người chống đối khét tiếng, được cho là “định kiến ăn vào máu”. Chia sẻ điều này, ông cho rằng, thuyết phục những người đó phải bằng tình cảm, đôi khi cần cả sự dũng cảm khi phải nói những điều rất thật với họ.“Họ nói thẳng với tôi rằng họ đã theo dõi quá trình hoạt động từ trước đến nay của tôi, thấy tôi là người có tấm lòng, có sự cởi mở chân thành nên họ mới đến gặp, để xem “sự chân thành của ông ra sao” - ông nói.

Một trong những hoạt động được kiều bào quan tâm, thể hiện ý nghĩa sâu sắc trong tiến trình hòa hợp dân tộc, đó là tổ chức gặp gỡ, đưa kiều bào đi thăm quần đảo Trường Sa. Chính họ qua thực tiễn mắt thấy tai nghe để kiểm nghiệm một thực tế là chúng ta đang bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, không như luận điệu xuyên tạc khi họ nghe ở nước ngoài. Đến Trường Sa, phu nhân của Hạm trưởng tàu Nhật Tảo, Trung tá Ngụy Văn Thà (người đã chỉ huy chiến hạm Nhật Tảo bảo vệ Hoàng Sa) và Hạm phó Nguyễn Thành Trí, hai người đã hy sinh ở Hoàng Sa ra Trường Sa và tự tay thắp nén nhang tưởng niệm những người thân, người chồng của mình đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa ngày trước. Ông Nguyễn Ngọc Lập, từng là Thiếu úy Thủy quân lục chiến dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa; luật sư David Nguyễn, trưởng ban vận động và tổ chức bầu cử hội đồng đại diện cộng đồng người Việt quốc gia Houston và vùng phụ cận hay nhà báo Lý Kiến Trúc, câu lạc bộ văn hóa và báo chí quận Cam… cũng đã được tạo điều kiện ra Trường Sa.

Để thuyết phục ông Lập về thăm đất nước, ra Trường Sa, ông Nguyễn Thanh Sơn phải qua ba lần gặp gỡ, phân tích thân tình. Khi thăm viếng ngôi mộ mang tên hạ sĩ Hà Hữu Lộc, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 43, ông Nguyễn Thanh Sơn nói với ông Nguyễn Ngọc Lập rằng: “Bia mộ vẫn còn nguyên phiên hiệu, đơn vị…Những ngôi mộ thế này xây từ ngày xưa có ai phá đâu. Chân lý ở đâu, sự thật ở chỗ nào khi các anh cứ hô hào, kêu gọi chống Cộng, nói rằng Cộng sản không làm gì cho nghĩa trang. Trong khi đồng đội quý vị nằm đây... Nếu đất nước không có đại đoàn kết thì những ngôi mộ kia có còn những tấm bia nguyên vẹn như vậy không?”. Lặng nhìn ngôi mộ từng là chiến sĩ đồng đội của mình, ông Lập thừa nhận “chúng tôi đến để đối diện với sự thật”. Còn nhà báo, Việt kiều Lý Kiến Trúc thừa nhận “trang sử Việt Nam đã bước qua trang mới, trang sử cũ khép lại. Quên đi những trang sử đau khổ của Việt Nam mà hãy phát triển Việt Nam, muốn vậy phải giải quyết khối đại đoàn kết của người Việt trong nước và người Việt ở hải ngoại, hòa giải, hòa hợp lẫn nhau”.

Rõ ràng, bằng sự chân tình, gần gũi giữa con người với con người, bằng hiện thực xã hội qua những chuyến đi như vậy đã giúp những người vốn có tư tưởng định kiến “thâm căn cố đế” có những trải nghiệm ý nghĩa. Chúng ta chưa đặt vấn đề họ thay đổi tư tưởng chống đối bằng hành động yêu nước bởi mọi thứ không dễ trong một sớm một chiều mà điều quan trọng là từ thực tiễn cuộc sống và tình cảm thân tình để giúp họ có cách nhìn đúng mực hơn, trước hết là giảm sự xa lánh, bớt đi hận thù. Thắp nén nhang trên vùng biển chủ quyền để tưởng niệm những người đã ngã xuống vì Tổ quốc, tận mắt thấy sự quyết tâm giữ vững chủ quyền biển đảo của những người con đất Việt, chắc hẳn mỗi người mang dòng máu Lạc Hồng đều cảm thấy tự hào, xúc động. Cái lạnh nhạt, thù hận mang ẵm trong lòng 50 năm ở bên kia bán cầu, được truyền bá bởi tư tưởng đối đầu hẳn sẽ lùi lại khi họ trở về trên biển cả quê hương, trên mảnh đất nguồn cội, nơi chôn rau cắt rốn, nơi các thế hệ con cháu vẫn vững chắc tay súng… Đó chính là những bước đi rõ ràng cho tiến trình hòa hợp, hiện thực sinh động thay cho những ngôn ngữ khô cứng.

Ông Vũ Trọng Kim, nguyên Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam kể rằng, nhiều năm tham gia công tác mặt trận, ông đã có các cuộc tiếp xúc với đồng bào ta ở nước ngoài. Trong số họ có nhiều người từng tham gia chính quyền cũ. Rất nhiều người như ông Trần Bá Phúc ở Australia đã từng cầm cờ ba que tới đại sứ quán để chống cộng quyết liệt, nhưng sau lại là người rất xuất sắc trong việc vận động kiều bào ủng hộ đất nước. Có những người trước đây rất bất mãn, vì lý do này khác hoặc vì chính sách thực hiện không tới nơi tới chốn thì bây giờ đều đã thay đổi. Họ đã gạt đi những gì là cá nhân vị kỷ, họ được giải thoát. Ông Vũ Trọng Kim thừa nhận, chính sự nghiệp đổi mới của chúng ta, chính sách rộng mở với kiều bào đã thuyết phục họ một cách sâu sắc nhất, đó chính là sự tự nhận thức. Sự thật, nhiều đồng bào ta ở nước ngoài, nhất là những người có tuổi thường nghĩ nhiều hơn và mong mỏi quay về quê hương.

Sự thật nói trên cho thấy, không có khái niệm gọi là hận thù vĩnh viễn, không có chuyện người Việt “không thể dung hòa” như luận điệu tuyên truyền của các thế lực xấu. Dẫu rằng còn đó bộ phận tới nay vẫn ôm hận, không về thăm quê, vẫn giữ quan điểm chống đối dù chúng ta đã rất chân thành song những gì thể hiện trên cho thấy chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc đã từng bước đạt thực chất hơn và số người còn hận thù, định kiến cũng ngày một thu hẹp./.

Sưu tầm

Những quan điểm thúc đẩy hòa hợp dân tộc trong bối cảnh mới

Chúng tôi, những người sinh ra sau 30/4/1975. Có người đặt vấn đề, nếu trưởng thành trong hoà bình thì sao hiểu được về chiến tranh, về chia cắt, về tình cảnh người bên này, bên kia để nói và viết hoà giải, hoà hợp dân tộc – một vấn đề thiết yếu nhưng tồn tại nhiều phức tạp, không dễ thống nhất nhận thức.

Tuy nhiên, điều quan trọng trong vấn đề này là sự tìm hiểu thấu đáo, với cách nhìn khách quan, đầy đủ, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết, phù hợp với bối cảnh, xu thế mới. Do đó, chúng tôi nhận thấy, để việc hoà hợp dân tộc đạt kết quả tốt hơn nữa trong thời gian tới, cần xây dựng dựa trên các cơ sở, quan điểm sau đây:

Thứ nhất, trân trọng giá trị của hoà bình, độc lập, thống nhất non sông. Nếu như nửa thế kỷ trước, còn nhiều quan điểm về bên này, bên kia, về thắng cuộc, thua cuộc thì ngày hôm nay, chúng ta tận hưởng hạnh phúc, tự do của một đất nước độc lập, chủ quyền, hoà bình, thống nhất, đó là giá trị thiêng liêng, cao quý nhất. Giá trị đó đất nước phải trải qua bao thăng trầm, bao hi sinh tổn thất, là quá trình đấu tranh lâu dài, khốc liệt mới có được thì hơn bao giờ hết, đã là người Việt Nam ở trong hay ngoài nước, đã mang dòng máu Lạc Hồng thì cần phải trân trọng, giữ gìn. Trong dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng 30/4, tôi tình cờ đọc được chia sẻ của nickname “Đinh Thoa”, một người từng có thời gian sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Chị cho biết, cách đây 12 năm khi lần đầu sang Hàn Quốc, các sếp trong công ty chồng có mở tiệc chào đón. Câu đầu tiên khi “sếp Lee” hỏi là “Bạn có biết Bác Hồ không”? Chị trả lời ngay, đã là người Việt Nam thì ai cũng biết Bác Hồ, nhân dân Việt Nam luôn kính yêu, nhớ ơn Bác. Không đợi người phụ nữ nói tiếp, “sếp Lee” trải lòng: “Hàn Quốc luôn khao khát có một lãnh tụ như Bác Hồ nhưng chúng tôi không bao giờ có được. Hai miền đất nước chúng tôi vẫn mãi chia cắt, đâu có được thống nhất, đoàn tụ như các bạn. Trên truyền hình Hàn Quốc thỉnh thoảng vẫn chiếu cảnh người thân trong gia đình giữa Nam Hàn và Bắc Hàn vội vã, đau đớn được gặp nhau ít phút ngắn ngủi rồi chia tay mỗi khi hai bên nối lại đàm phán”. Chị chia sẻ câu chuyện trên bởi hôm nay đọc được bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, chị cảm thấy niềm tự hào dân tộc trào dâng và càng trân quý giá trị của hoà bình, thống nhất non sông.

Chị cũng là người may mắn từng gặp được những người lính đầu tiên nối lại tuyến đường từ Bắc vào Nam sau ngày thống nhất, may mắn là con của một chính trị viên Tiểu đoàn 307 đã từng Nam tiến nên phần nào hiểu được những mất mát, hi sinh của các thế hệ ông cha. “Hoà bình hôm nay không chỉ là lời nhắc nhở chúng ta và các thế hệ mai sau về công lao của lớp lớp ông cha đi trước mà còn là trách nhiệm để chúng ta biết giữ gìn và phát huy, đúng như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm “Chúng ta không thể viết lại lịch sử nhưng chúng ta có thể hoạch định tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng và phát triển””… Thiết nghĩ, đó cũng chính là suy nghĩ của chúng ta, những người hôm nay được sống trong độc lập, hoà bình, thống nhất non sông, hãy biết gìn giữ giá trị thiêng liêng, cao quý.

Thứ hai, lấy đạo lý dân tộc, truyền thống quê hương làm gốc rễ. “Quê hương mỗi người chỉ một”, đó là mẫu số chung, là nguồn cội để mỗi chúng ta dù ở đâu, nơi nào trên địa cầu này cũng gắn kết, cũng mong mỏi trở về. Ca dao có câu “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, cùng là đồng bào, cùng đất mẹ, hãy đừng vì những lý do nào khác mà phân biệt, chia rẽ, mà “đá nhau”. Tổ quốc là mẹ hiền, người con có thể lúc này lúc khác có hành vi, nhận thức chưa đúng nhưng Tổ quốc luôn dang rộng vòng tay, đón các con trở lại, vì một dòng máu Lạc Hồng. Quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý. Người ta bảo “cáo chết quay đầu về núi”, làm sao có thể rời bỏ mẹ cha, ruồng bỏ quê hương. Làm sao có thể phỉ báng quê hương, đất mẹ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi dưỡng dục mình lớn lên. Dù ở đâu, bất cứ ai cũng có quyền về quê hương đất mẹ để thăm lại cố hương, nhớ lại tuổi thơ yên bình, gặp lại người thân, thắp nén nhang cho người thân đã khuất, không có gì cản trở những ý nguyện tốt đẹp của bất cứ ai đối với đất nước mình.

Gần đây, mỗi dịp 30/4, nhiều người lại nhắc tới bức ảnh “hai người lính” do nhà báo Chu Chí Thành - một phóng viên chiến trường chụp năm 1973. Nhà báo Chu Chí Thành cho biết, bức ảnh “hai người lính” được ông ghi lại tại vùng ranh giới Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Vào thời điểm đó, ông được cử đi chụp ảnh về cuộc trao trả tù binh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh tại Việt Nam. “Hai người lính” trong bức ảnh chính là chiến sĩ quân giải phóng Nguyễn Huy Tạo và người lính Việt Nam Cộng hòa Bùi Trọng Nghĩa. Đến năm 2018, sau rất nhiều kết nối, hai người lính đã tìm gặp lại nhau ngay tại điểm hẹn năm xưa: chốt Long Quang, xã Triệu Trạch, Quảng Trị. Lần này, họ lại khoác vai để ông Chu Chí Thành chụp ảnh trong cảm xúc khó tả. Ông chia sẻ: “Tấm ảnh ngày xưa chụp ngay nơi chiến trường vừa kịp lặng tiếng súng, tình cảm bột phát, trong sáng, vô tư. Tấm ảnh ngày nay chụp khi hai người đã trải qua cả chiến tranh lẫn hòa bình, tình cảm càng thân thiết, gắn bó. Chuyện phe này, phe kia trong tấm ảnh trước đã nhòa, trong tấm ảnh sau không hề hiện diện. Ý nghĩa của tấm ảnh là hạnh phúc của ba anh em chúng tôi và là của tất cả mọi người”…

Những người lính ra trận dù bên nào cũng luôn mong mỏi ngày hoà bình. Do hoàn cảnh lịch sử mà nhiều khi trong cùng một làng xã, một tập thể, thậm chí một gia đình, anh em lại người bên này, kẻ bên kia. Chiến tranh, họ hai bên chiến tuyến, hướng súng vào nhau. Nhưng hoà bình, họ cùng trở về mái nhà chung. Rõ ràng, lịch sử trải qua bao thăng trầm, lúc chiến tranh, lúc hoà bình song sự hận thù không phải là sự lựa chọn của người Việt.

Thứ ba, cần nhận thức hoà bình, hoà hợp trong xu thế mới của thời đại. Trong xu thế hợp tác toàn cầu, các quốc gia gắn kết với nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, sự hợp tác, gắn kết không phân biệt phạm vi địa lý, thể chế chính trị, những vấn đề xảy ra trong quá khứ. Đặc biệt, Hoa Kỳ từ cựu thù, tới nay đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Trong Tuyên bố chung giữa hai nước ký ngày 10/9/2023 khẳng định: “Kể từ khi bình thường hóa quan hệ song phương vào năm 1995, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, thực chất và hiệu quả. Chương mới này trong quan hệ giữa hai nước sẽ đưa quan hệ đối tác Việt Nam - Hoa Kỳ lên tầm cao mới. Cùng nhau, hai nước sẽ hiện thực hóa nguyện vọng của người dân về một tương lai tươi sáng và năng động, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực quan trọng này cũng như trên toàn thế giới”.

Chúng ta thấy rằng, sau chiến tranh, quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ trải qua những năm tháng khó khăn, khi Hoa Kỳ áp dụng lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Nhưng  giai đoạn “ảm đạm” đó đã qua, hai nước ngày càng tăng cường hợp tác sâu sắc, toàn diện, như câu Kiều mà cựu Tổng thống Bill Clinton lẩy ngày nào “Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân”… Những người Việt từng theo bên kia chiến tuyến, đứng về phía Hoa Kỳ, dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ. Nay tất cả đã sang trang mới, vậy lẽ nào những người mang dòng máu Việt lại vẫn ôm hận cũ, thù xưa, vẫn để ấm ức trong lòng hay thể hiện bằng các hành vi sai lệch với thời cuộc.

Thứ tư, cần tôn trọng sự thật khách quan, nhìn nhận đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong vấn đề hòa hợp dân tộc. Một số người vì thù hận, vì không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển nên luôn nhìn về quê hương với lăng kính màu đen, cái gì cũng trở nên xấu xa, cái gì cũng chê trách, thậm chí miệt thị, nguyền rủa lỗi do thế này, thế khác. Trong khi đó, thực tế phát triển của đất nước và chủ trương tích cực hòa hợp, đoàn kết dân tộc thì họ bỏ qua, không thừa nhận. Phải thấy rằng, vị thế của Việt Nam thể hiện qua đánh giá của các nước chứ đâu phải tự mình huyễn hoặc. Nếu không tin cậy, làm sao ngày nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc, xây dựng các mối quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới (trong đó có Hoa Kỳ)? Chỉ cần bỏ lăng kính tối màu, hãy nhìn cuộc sống như vốn có, bạn dù ở đâu trên thế giới này cũng nhìn nhận một Việt Nam với lẽ khách quan nhất. 

Thứ năm, tôn trọng lịch sử, lấy chân thành thu hẹp khoảng cách, xóa thù hận. Có cuộc chiến tranh nào mà không có đau thương, mất mát, không có chia ly kẻ đi, người ở. Nhưng tất cả khi đã là quá khứ, chúng ta phải biết để nó lại đằng sau, biết lấy đó làm bài học để tránh lặp lại. Việc những người Việt từng phải đối đầu giữa hai bên chiến tuyến, đó là một giai đoạn lịch sử mà dân tộc ta trải qua với bao biến cố để có được độc lập, thống nhất như ngày hôm nay.

Ngày nay, những khác biệt trong quan điểm giữa bộ phận người Việt ở nước ngoài, nhất là tại Mỹ với đất nước cần được giải quyết bằng sự chân tình. Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước, chúng ta đến với họ bằng sự thực tâm, chủ động mở rộng tiếp xúc cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ. Tất cả các hoạt động này đã tác động tích cực đến cộng đồng cũng như dư luận trong và ngoài nước, bà con dần hiểu hơn, tin tưởng hơn vào chính sách của Nhà nước ta. Bắc nhịp cầu qua ngăn cách đòi hỏi những nỗ lực to lớn cả từ phía Nhà nước cũng như từ phía cộng đồng người Việt trong và ngoài nước. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để thực hiện mục tiêu ấy bởi tinh thần dân tộc, sự bao dung và lòng yêu nước, truyền thống bền vững.

Thứ sáu, đấu tranh với những quan điểm cực đoan, lợi dụng vấn đề hòa giải, hòa hợp để chống phá đất nước. Đó là những quan điểm được bơm vá, bôi vẽ, xuyên tạc làm sai lệch bản chất như cho rằng, đối với người Việt Nam thì không thể có hòa giải, hòa hợp hay đặt ra điều kiện, muốn hòa giải, hòa hợp thì Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lê nin, phải từ bỏ CNXH… Hòa giải, hòa hợp là nguyện vọng chính đáng, xuất phát từ cội nguồn dân tộc và thực hiện trên cơ sở lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, do đó không thể có chuyện đặt ra yêu cầu, điều kiện để hòa hợp thì phải thế này, thế khác mà những điều kiện đó lại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Đòi xóa bỏ Đảng Cộng sản, đòi đa nguyên, đa đảng, đòi từ bỏ CNXH thực chất là sự xảo trá của những kẻ chống phá, lợi dụng chiêu bài hòa giải, hòa hợp để xuyên tạc, kích động, phá hoại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta cũng cần thấy rằng, hòa hợp dân tộc, xóa đau thương chiến tranh là đòi hỏi khách quan, mở ra cơ hội khép lại quá khứ, gạt bỏ hận thù, thành kiến, chân thành hòa giải, hòa hợp, đó là một chính sách lâu dài chứ không phải là “thủ đoạn chính trị” như luận điệu xuyên tạc của kẻ xấu. Hay như vừa qua, khi chúng ta long trọng kỷ niệm đại lễ 30/4 thì một số ý kiến ở hải ngoại nói rằng, Đảng muốn hòa hợp thì hãy để những ngày tháng tư trôi qua bình thường, phải thôi các hình thức mít tinh, kỷ niệm, thôi việc diễu binh, diễu hành, diễn văn… Đây là quan điểm sai lệch. Chúng ta tổ chức kỷ niệm, diễu binh, diễu hành không phải là “khoét sâu hận thù”, “xới lại nỗi đau” như một số luận điệu mà là dịp để tri ân, biết ơn công lao những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất non sông; là dịp để các thế hệ hôm nay phát huy tinh thần chiến thắng, đúc rút những bài học từ lịch sử để cùng đoàn kết, xây dựng đất nước phát triển vững mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh. Kỷ niệm đại lễ để thấy sức mạnh một Việt Nam thống nhất mà nếu bị chia cắt thì chúng ta không bao giờ có được điều đó, chia cắt sẽ khổ đau, tang thương, như những gì mà nhiều nước trên thế giới đang đối mặt. Nay Tổ quốc không còn phân biệt ai từng ở bên này, ai từng ở bên kia thì lý gì lại tự tách ra, tự mặc cảm để phản đối ngày đại lễ của dân tộc. 

Thứ bảy, các cơ quan chức trách cần tiếp tục phát huy thành quả đạt được, làm tốt hơn nữa chính sách hòa hợp dân tộc, cả về xây dựng các quy định pháp lý và triển khai trong thực tiễn. Đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, chủ động đến với kiều bào, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng để bà con kiều bào thấy Đảng và Nhà nước là chỗ dựa vững chắc trong quá trình hội nhập, ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc dân tộc. Phải thực sự coi trọng nguồn lực của cộng đồng, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho bà con về nước thăm thân, kinh doanh và đầu tư, tạo điều kiện cho bà con kiều bào đóng góp cho đất nước trong khả năng của mình bằng những hình thức phù hợp./.

Sưu tầm

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU PHÂN BIỆT VÙNG MIỀN KHI SÁP NHẬP TỈNH!

         Tên làng, xã, tỉnh không chỉ đơn thuần là một danh xưng hành chính mà còn mang trong mình chiều sâu văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc. Mỗi cái tên thường gắn liền với một sự kiện, địa danh, con người hay đặc điểm tự nhiên đặc trưng của vùng đất đó. Qua tên gọi, người ta có thể phần nào hiểu được cội nguồn, quá trình hình thành và phát triển của một cộng đồng cư dân!

Trong tiến trình xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước theo hướng bền vững, việc tổ chức lại đơn vị hành chính, trong đó có sáp nhập các tỉnh, thành phố là một bước đi cần thiết và mang tính chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, song hành với quá trình cải cách hành chính đó là sự xuất hiện của nhiều luận điệu xuyên tạc, mang tính chia rẽ, kích động kỳ thị và phân biệt vùng miền. Những âm mưu này không chỉ nhằm gây hoang mang trong dư luận mà còn đe dọa đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc – nền tảng vững chắc cho sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Những chiêu bài quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng sự khác biệt về văn hóa, phong tục, ngôn ngữ, trình độ phát triển giữa các địa phương để dựng lên luận điệu phân biệt vùng miền. Khi có thông tin sáp nhập tỉnh, thành phố, chúng lợi dụng tâm lý hoài nghi, e ngại của một bộ phận người dân để gieo rắc sự chia rẽ thông qua việc tạo ra sự so sánh giữa hai địa phương sắp sáp nhập, từ dân trí, văn hóa, lịch sử cho đến trình độ quản lý và phát triển kinh tế, rồi quy chụp giá trị của địa phương này cao hơn địa phương kia. Chúng thêu dệt rằng việc sáp nhập là để “xóa tên” một địa phương có bề dày lịch sử, nhằm “áp đặt” văn hóa của vùng khác, làm mất đi bản sắc, truyền thống địa phương. Những luận điệu như “tỉnh A sẽ mất bản sắc vì bị tỉnh B nuốt chửng” hay “người tỉnh này sẽ bị xem thường khi chung một đơn vị hành chính với tỉnh khác”. Một số đối tượng lợi dụng tinh thần yêu quê hương theo hướng tiêu cực, làm thơ, vè biến thành sự bài xích, kỳ thị người nơi khác, kỳ thị vùng miền với nội dung như “Cùng một tỉnh mà khác tình”, “Giọng quê tôi – Giọng quê anh”, “Một tỉnh hai lòng”… đăng tải trên các nền tảng mạng xã hội, tạo ra tâm lý khép kín, cục bộ, phản đối việc sáp nhập.

Tất cả những hành động đó đều nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình”, sử dụng các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội để làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Nếu các âm mưu chia rẽ, kích động kỳ thị vùng miền không được kịp thời phát hiện và xử lý, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng: Làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất đi tính thống nhất trong hành động và tư tưởng; những xung đột trên mạng có thể lan rộng ra ngoài đời thực, tạo ra các vụ việc gây rối trật tự công cộng, làm chậm trễ tiến độ thực hiện chủ trương sáp nhập.

Để nhận diện và đấu tranh với âm mưu kỳ thị, phân biệt vùng miền khi tổ chức sáp nhập tỉnh, thành phố, thiết nghĩ các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần chủ động tuyên truyền, giải thích rõ ràng, minh bạch về mục tiêu, lộ trình, lợi ích của việc sáp nhập, giúp người dân hiểu đúng và ủng hộ chủ trương này. Cùng đó là đẩy mạnh giáo dục về tinh thần đoàn kết, niềm tự hào dân tộc, loại bỏ tư tưởng cục bộ địa phương. Cơ quan chức năng cần làm tốt công tác quản lý, kịp thời xử lý các thông tin giả, xuyên tạc, gây chia rẽ vùng miền. Các cơ quan Tuyên giáo – Dân vận, báo chí truyền thông, thành viên Ban Chỉ đạo 35 từ Trung ương đến địa phương cần đi đầu trong việc vạch trần các âm mưu chia rẽ, thông qua các bài viết phân tích, phản biện có chiều sâu; xây dựng các kênh thông tin chính thống, đa dạng hình thức để định hướng dư luận xã hội một cách hiệu quả. Đặc biệt, khi triển khai chủ trương sáp nhập, cần tổ chức nhiều cuộc đối thoại công khai, minh bạch với sự tham gia của người dân, chuyên gia và chính quyền. Qua đó, tiếp nhận ý kiến đóng góp xây dựng, đồng thời giải tỏa tâm lý lo ngại, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Cần xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng tình hình để tuyên truyền thông tin sai lệch, kích động thù hằn vùng miền, chia rẽ dân tộc, qua đó không chỉ có tác dụng răn đe mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân vào pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Việc tổ chức lại đơn vị hành chính là một chủ trương lớn, đúng đắn, xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước bền vững và toàn diện. Tuy nhiên, để nhận diện và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu lợi dụng sự sáp nhập tỉnh, thành phố để kích động kỳ thị, phân biệt vùng miền là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, cảnh giác với các thông tin độc hại, đồng thời phát huy tinh thần đoàn kết, yêu nước, hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một đất nước giàu mạnh, văn minh, công bằng, dân chủ. Đoàn kết các vùng miền không chỉ là biểu hiện của bản sắc dân tộc mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam vững bước trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế./.
Khuyết danh ST.

Không thể xuyên tạc “Cái mốc chói lọi bằng vàng” của dân tộc Việt Nam năm 1975

Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Ðảng, ba “cái mốc chói lọi bằng vàng”: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Ðiện Biên Phủ và mùa Xuân năm 1975 đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách”. Nửa thế kỷ đã trôi qua, song giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn vang vọng mãi, in đậm trong tâm trí, là niềm tự hào của mỗi người dân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, chống phá. Vì vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Đại thắng mùa Xuân 1975 có giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc. Chiến thắng này đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam; phá vỡ “phòng tuyến” quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng và đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy.

Với mưu đồ xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng nền tảng mạng xã hội để xuyên tạc rằng, đây là một cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc. Họ cho rằng: “chẳng có chiến thắng nào cả”, “chỉ có nhân dân là chịu mất mát, đau thương”. Và họ hồ đồ kết luận: cuộc kháng chiến của nhân dân ta là “vô nghĩa”, “hoàn toàn có thể tránh khỏi”. Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc của một số phần tử chống phá được “khuếch đại” trên các diễn đàn truyền thông hải ngoại hòng xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Cần thấy rõ rằng: Việt Nam là đất nước bị xâm lược, nhân dân Việt Nam khát khao giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đế quốc Mỹ là thế lực xâm lược, hiếu chiến, chống chủ nghĩa xã hội. Đúng như Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống ngụy quyền tay sai Sài Gòn đã thừa nhận: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ. Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu làm “kép nhất”, và chúng tôi chỉ là “những kẻ đánh thuê”

Nhằm che đậy cho sự thất bại của đế quốc Mỹ, xuyên tạc giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Đại thắng mùa Xuân 1975, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng, không thể gọi đó là “chiến thắng vẻ vang” của Việt Nam trước Mỹ, vì khi đó Mỹ đã thay đổi chính sách, rút quân, cắt viện trợ, “bỏ rơi chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn”. Sự thật cho thấy, sau khi bị phá sản hàng loạt các chiến lược, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (ngày 27/01/1973) và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, với dã tâm xâm lược không thay đổi, Mỹ chỉ thực hiện rút quân trên danh nghĩa, thực tế vẫn để lại một lực lượng lớn cố vấn, chuyên gia, nhân viên quân sự. Bởi, khi tháo chạy khỏi Việt Nam cuối tháng 4/1975, “các máy bay trực thăng của thủy quân lục chiến đã bốc ra gần 8.000 nhân viên quân sự Hoa Kỳ, Nam Việt Nam, và gia đình của họ, vào khoảng 5.600 người từ sân bay Tân Sơn Nhất, 2.206 người khác từ mái nhà và sân vườn của Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn và hàng tá người nữa từ các địa điểm khác”

Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để phủ nhận, hạ thấp, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam nói chung, Đại thắng mùa Xuân 1975 nói riêng. Thậm chí, chúng còn cố tình xuyên tạc cho rằng Đảng ta đã gây ra mấy chục năm “binh đao, khói lửa”, “gây nên cảnh chết chóc đau thương” cho dân tộc mà “đáng lẽ là không xảy ra”. Cần thấy rằng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử có nhiều nguyên nhân; trong đó, sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định. Đúng như Đại hội IV của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta”.

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, tài tình của Đảng được thể hiện ở việc Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình, nắm vững thời cơ, kịp thời hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đảng đã lãnh đạo chọn đúng hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu, làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến trường theo hướng có lợi cho ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển tới đỉnh cao, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo đối phương. Cả nước đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhân dân và các lực lượng vũ trang đã phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một lòng đi theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để đấu tranh giành độc lập, nhất là liên minh chiến đấu với nhân dân Lào, Campuchia; tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Như vậy, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định làm nên “cái mốc chói lọi bằng vàng” của dân tộc Việt Nam năm 1975. Đồng thời, minh chứng thực tiễn thuyết phục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc./.

Sưu tầm

Không thể xuyên tạc vai trò quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít

Trong bối cảnh Liên bang Nga cùng với một số quốc gia đang chuẩn bị kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, một số thế lực cơ hội chính trị lại đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến vô cùng khốc liệt và anh dũng để đánh bại chủ nghĩa phát xít, thậm chí, họ đưa ra cáo buộc vô căn cứ rằng “Liên Xô hợp tác với Đức quốc xã để gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai”. Các luận điệu xuyên tạc đó đi ngược lại với sự thật lịch sử.

Đáng chú ý, có một số trang truyền thông, mạng xã hội đưa ra những nhận định không phản ánh đúng lịch sử, cho rằng từ năm 1922, nước Nga Xô viết đóng vai trò giúp Đức quốc xã phát triển tiềm lực quân sự.

Họ lập luận rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Đức bị cấm phát triển vũ khí hạng nặng. Vì thế, Berlin đã khéo léo lách luật này thông qua sự hợp tác bất hợp pháp với nước Nga Xô viết trên cơ sở Hiệp ước Rapallo được ký vào ngày 16-4-1922 để nhanh chóng củng cố tiềm lực quân sự nhằm chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.

Thông tin trên những trang truyền thông và mạng xã hội này đã xuyên tạc nội dung của Hiệp ước Rapallo giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và Cộng hòa Weimar-tên gọi của nước Đức vào thời điểm đó. Hiệp ước này bao gồm 6 điều khoản với nội dung chỉ nhằm giải quyết hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất như xử lý vấn đề tù binh của hai nước sau chiến tranh, việc nước Đức phải bồi thường chiến tranh theo Hiệp ước hòa bình Versailles, thiết lập quan hệ ngoại giao trong bối cảnh nước Nga Xô viết bị Mỹ và phương Tây cô lập sau cuộc Cách mạng Tháng Mười (ngày 7-11-1917), thiết lập quan hệ thương mại, tạo điều kiện sống bình thường cho công dân hai nước trên lãnh thổ của mỗi bên.

Sau Cách mạng Tháng Mười, giới lãnh đạo nước Nga Xô viết cũng nhận thấy rất rõ Hiệp ước hòa bình Versailles chỉ là “khoảng lặng” giữa hai cuộc đại chiến. Do đó, sau khi được thành lập vào năm 1922, Liên Xô quyết định thực hiện chương trình công nghiệp hóa để chuẩn bị đối phó với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tất yếu sẽ bùng nổ ở châu Âu. Chương trình công nghiệp hóa của Liên Xô hoàn tất vào năm 1937, tạo điều kiện để Liên Xô tiến hành thành công cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1941-1945). Vì vậy, tuyệt nhiên không thể có chuyện nước Nga Xô viết tạo điều kiện cho nước Đức nhanh chóng xây dựng lại tiềm lực quân sự để chuẩn bị phát động Chiến tranh thế giới thứ hai.

Lập luận này đã xuyên tạc bản chất và nội dung của Hiệp ước không tấn công lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức quốc xã. Hiệp ước này xác định Liên Xô và Đức cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau, giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào, đồng thời cam kết không tham gia các lực lượng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Giới lãnh đạo Liên Xô biết rõ rằng, ký hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Đức quốc xã không thể ngăn chặn được Chiến tranh thế giới thứ hai mà chỉ để làm chậm lại thời điểm Đức quốc xã tập trung lực lượng của toàn châu Âu để tấn công Liên Xô nhằm chuẩn bị đối phó.

Nhận định của giới lãnh đạo Liên Xô căn cứ vào một sự thật lịch sử khác. Đó là rất lâu trước khi Liên Xô ký với Đức hiệp ước không tấn công lẫn nhau, nhiều nước châu Âu cũng từng ký hiệp ước tương tự với Đức quốc xã.

Sau 80 năm, dù bị nhiều luận điệu xuyên tạc, với âm mưu hòng làm thay đổi bản chất cuộc chiến nhưng chiến thắng vĩ đại của nhân dân Xô viết vẫn được loài người tiến bộ ghi nhận, tôn vinh. Theo ghi nhận, nguyên thủ hoặc đại diện của hơn 20 quốc gia đã nhận lời mời tham dự lễ kỷ niệm và cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ ở Moscow vào Ngày Chiến thắng 9-5 năm nay. Ngoài ra, một số quốc gia còn cử lực lượng tham dự cuộc duyệt binh mừng chiến thắng này. Ở châu Âu, bất chấp nhiều áp lực, ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ và một số cá nhân vẫn tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 9-5.

Chiến thắng của Liên Xô trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại không chỉ góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít và quân phiệt mà còn tạo điều kiện cho nhiều nước giành được quyền độc lập, trong đó có Việt Nam. Hơn lúc nào hết, loài người tiến bộ cần tiếp tục ngăn chặn các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc vai trò có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Đây là hành động thiết thực bảo vệ các giá trị chân chính của lịch sử, của lương tri, đồng thời nhằm ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa phát xít./.

Sưu tầm


Cuốn phăng luận điệu xuyên tạc, sáng bừng hào khí Đại lễ

Đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 /30-4-2025) thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; kiều bào yêu nước và bạn bè yêu chuộng hòa bình khắp thế giới. Tầm ảnh hưởng tích cực và sức lan tỏa mạnh mẽ của các hoạt động kỷ niệm khiến các thế lực thù địch và những đối tượng phản động cay cú, tăng cường thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá.

Theo dõi những thông tin xuyên tạc trên các nền tảng mạng xã hội do các thế lực thù địch tung ra, lan truyền, nhắm vào xuyên tạc, phá hoại Đại lễ “Ngày hội non sông” 30-4, bằng tư duy logic, chúng ta thấy rõ, đó là một kiểu “nhai lại”, được ngụy trang, mị dân sau lớp vỏ công nghệ hiện đại. Thứ “nhai lại” ấy chính là nội dung, thông tin phản động. Sau 50 năm kể từ ngày non sông liền một dải, tư tưởng hận thù dân tộc vẫn được các đối tượng thù địch gặm nhấm, bấu víu nhằm đánh tráo khái niệm, đổi trắng thay đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những cái gọi là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen”, “khát vọng phục quốc”... chúng “nhai đi, nhai lại” một cách cay cú và ngày càng gia tăng tính chất, mức độ, phạm vi “phủ sóng”. Cứ mỗi dịp đất nước ta tổ chức các hoạt động kỷ niệm “Ngày hội non sông thống nhất đất nước” là truyền thông mang tư tưởng thù địch lại lập tức mang cái thứ tư tưởng, tư duy lỗi thời, lạc lõng này ra để rêu rao.

Gọi những thứ này là rác rưởi, trò lố bởi cái gọi là “lực lượng”, “đội quân” tham gia “tuần hành”, “diễu hành” ấy chỉ lèo tèo vài nhóm người, đa số đều là những đối tượng già cả, ốm yếu, thậm chí có nhiều đối tượng chân bước không vững, vừa đi vừa lết, thều thào hô khẩu hiệu. Phía dưới những video phản động, phản cảm này, rất nhiều người đã để lại những dòng bình luận phê phán, giễu cợt, kiểu như: “Để dành sức mà húp cháo”, “Răng rụng hết rồi, hô hào gì nữa”, “Bước không vững còn bày đặt “phục quốc”.

Cần phải nói ngay và luôn, các hoạt động truyền thông mang tính chất lừa bịp, xuyên tạc, kích động, chống phá thành quả cách mạng ở Việt Nam do các thế lực thù địch thực hiện, không phải là đề tài mới mẻ gì. Ngay sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 50 năm trước, trong lúc chúng ta nỗ lực tái thiết cuộc sống, thực hiện các chính sách hòa hợp dân tộc, chung tay xây dựng đất nước thì những thành phần chống đối cũng rắp tâm thực hiện âm mưu chống phá. Chúng thể hiện ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân, đạp đổ thành quả cách mạng, gây rối loạn an ninh chính trị trong nước. Một bộ phận người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài đã cấu kết, hình thành những tổ chức phản động, được sự "hà hơi", "tiếp sức" của các lực lượng quốc tế mang tư tưởng thù địch với cách mạng Việt Nam, tiến hành các hoạt động có tính chất khủng bố, bạo loạn. Bên cạnh các hoạt động vũ trang “chuyển lửa về quê nhà”, chúng tăng cường mạng lưới truyền thông, sử dụng các kênh phát sóng bằng tiếng Việt, chĩa “mũi dùi” về đất nước để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá. Mục tiêu của chúng là làm lung lay trận địa tư tưởng, gây mất lòng tin của nhân dân, gây rối ren trật tự xã hội để thừa cơ tiến hành bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Đặc biệt, sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, thoái trào, các chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch càng gia tăng cấp độ, phạm vi, tính chất. Tuy nhiên, hiện thực lịch sử và đời sống xã hội; cơ đồ, vị thế của đất nước đã chứng minh, không một thế lực nào, không một âm mưu nào có thể phá vỡ bức tường thành vững chắc của thế trận lòng dân ở Việt Nam. Chúng ta đã giữ vững thành quả cách mạng, đẩy lùi và từng bước làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, đưa đất nước phát triển bền vững.

Bằng thủ đoạn dân túy, được ngụy trang, che đậy dưới lớp vỏ ngôn ngữ bóng bẩy, sử dụng AI làm công cụ, những thông tin xuyên tạc, xấu độc của các thế lực thù địch đã dụ dỗ được một số người nhẹ dạ, cả tin, những thành phần cực đoan, cơ hội, non kém bản lĩnh và ý thức chính trị. Đáng tiếc là trong số đó có một số trường hợp cá biệt thuộc tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Trang cá nhân của họ trên các nền tảng mạng xã hội có lượng theo dõi, tương tác khá lớn. Trong quá khứ, những người này đã có đóng góp nhất định cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, vì non kém bản lĩnh và ý thức chính trị, họ đã suy thoái tư tưởng chính trị, được các thế lực thù địch tung hô như những “người hùng”, lên mạng xã hội phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và lợi ích dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thiết nghĩ, không cần bình luận gì thêm về những phát ngôn thẳng thắn, nhận thức rõ "đúng - sai" này, bởi nó đã góp phần lột trần sự thật và bản chất của những thành phần bất mãn, cơ hội, phản bội Tổ quốc. Nhắc lại điều này để một lần nữa giúp bạn đọc có những góc nhìn đa chiều, khách quan, có nhãn quan chính trị và phương pháp luận biện chứng khi tiếp cận, phân tích, đánh giá, bày tỏ thái độ trước những thông tin xấu độc đang xuất hiện tràn lan trên không gian mạng hiện nay.

Sưu tầm